Các thư tín của Giăng chỉ gồm bảy chương trong Tân Ước, nhưng chúng mở ra một cửa sổ đầy thú vị về đời sống của Hội Thánh ban đầu, với nhiều ý nghĩa sâu rộng cho việc hiểu đúng (hoặc hiểu sai) hàng loạt vấn đề về giải nghĩa. Thư I Giăng không xác định đối tượng nhận thư, và tác giả không tự giới thiệu về mình. Tác giả của II Giăng và III Giăng xưng mình là “trưởng lão” (ὁ πρεσβύτερος trong tiếng Hy Lạp). Cả ba bức thư này có phải do cùng một tác giả viết hay không? Nếu đúng, vậy tại sao có sự khác biệt trong cách tác giả tự xưng về mình? Đối tượng nhận thư của II Giăng và III Giăng cũng được xác định khác nhau: “Bà được chọn cùng các con cái bà” (II Giăng 1) và “Gai-út yêu dấu” (III Giăng 1). Vì sao có sự khác biệt trong việc nêu rõ đối tượng nhận thư? Thêm vào đó, có sự chênh lệch đáng kể về độ dài giữa các bức thư: năm chương của I Giăng dài gấp năm lần tổng độ dài của II và III Giăng cộng lại. Những dữ kiện này phải được hiểu và giải thích như thế nào?
Một loạt vấn đề khác cũng xuất hiện ngay từ đầu: mối liên hệ giữa các thư tín Giăng với sách Phúc Âm Giăng và sách Khải Huyền. Dù Khải Huyền là tác phẩm đặc biệt nhất trong năm tác phẩm của Giăng (và là tác phẩm duy nhất xác nhận tên của tác giả một cách trực tiếp và gián tiếp: “Giăng”, Khải Huyền 1:1, 4, 9; 22:8), nhưng văn phong và thể loại của nó lại rất khác so với các tác phẩm còn lại của Giăng. Đó là lý do hầu hết các học giả cảm thấy tốt hơn hết nên loại nó ra khỏi các cuộc thảo luận liên quan đến Phúc Âm và các thư tín của Giăng, dù có một số điểm tương đồng theo phong cách Giăng.
Tuy nhiên, mối liên hệ giữa Phúc Âm Giăng và các thư tín của Giăng thì không thể bỏ qua, và các câu hỏi đặt ra xoay quanh việc tác phẩm nào có trước, tác phẩm nào có sau, liệu chúng có cùng một bối cảnh không, liệu chúng có cùng một tác giả hay không, và liệu mục đích của chúng có giống nhau hay khác nhau. Thậm chí, cũng có thể có sự tham gia của nhiều tác giả và biên tập viên trong quá trình hình thành tập hợp tác phẩm Giăng (the Johannine corpus), và khả năng này được củng cố bởi việc sử dụng các đại từ số nhiều ngôi thứ nhất (“chúng ta,” “chúng tôi,” và “của chúng ta” trong Phúc Âm Giăng và các thư tín), làm dấy lên nghi vấn rằng liệu một cá nhân đơn lẻ có thực sự chịu trách nhiệm cho tất cả các tác phẩm này không, hoặc liệu chúng có được viết cho cùng một hoàn cảnh không.
Do đó, việc hiểu nội dung của các thư tín Giăng phụ thuộc trực tiếp vào những suy luận vững chắc về bối cảnh mà chúng được viết, những mối bận tâm của các tác giả và biên tập viên, mối liên hệ của những tác phẩm này với các tài liệu cùng thời (đặc biệt là các tác phẩm Giăng), cũng như các đặc điểm văn chương của từng tác phẩm. Như Raymond Brown đã giúp chúng ta nhận ra, nếu “chim đại bàng Giăng” tượng trưng cho góc nhìn cao sâu của Phúc Âm Giăng đang lướt bay trên toàn cảnh mà nó quan sát, thì các thư tín Giăng lại phản ánh một bầy chim con đang tranh giành vị trí trong tổ, với những sự chia rẽ, chối bỏ, chấp nhận, và ngôn ngữ công kích - tất cả đều vẽ nên một bức tranh về Cơ Đốc giáo thời kỳ đầu ít gọn gàng hơn so với những góc nhìn lãng mạn đã từng cho thấy.
Nếu sự lãnh đạo của Giăng và những đối thủ của ông phản ánh các cộng đồng đang có tranh luận, vậy còn nghiên cứu Giăng trong vài thập kỷ qua thì sao? Thật vậy, như tập hợp các bài luận sắc bén của những học giả hàng đầu về Giăng cho thấy, có một số điểm hội tụ rõ ràng, nhưng các học giả danh tiếng cũng có những bất đồng về cách tài liệu này được hình thành, những gì đang diễn ra trong bối cảnh Giăng, và nội dung của nó có ý nghĩa gì đối với cả sự diễn giải thần học lẫn đạo đức trong Tân Ước. Do đó, “trường phái Giăng” hiện nay - cộng đồng học giả quốc tế nghiên cứu về Giăng - cũng đang tranh luận về những vấn đề quan trọng, chứ không chỉ là những điểm thứ yếu, và tập hợp các bài luận này giúp làm sáng tỏ một số điểm tương đồng cũng như khác biệt.
Những bài nghiên cứu này được mời viết và trình bày tại hội thảo về các thư tín Giăng tại Trường Thần học McAfee thuộc Đại học Mercer ở Atlanta, Georgia, từ ngày 17–19 tháng 11 năm 2010, và chúng được tập hợp thành ba phần trong cuốn sách này. Phần 1 thảo luận về “Mối quan hệ giữa Phúc Âm và các thư tín”; phần 2 đề cập đến “Hội Thánh trong các thư tín Giăng”; và phần 3 kết thúc với “Thần học và đạo đức của các thư tín.” Alan Culpepper mở đầu cuốn sách bằng cách đặt nền tảng cho cuộc thảo luận, tóm tắt ngắn gọn những đóng góp của các bài luận, và Paul Anderson giới thiệu từng phần bằng cách nêu ra một số vấn đề trọng yếu, đồng thời kết luận với cái nhìn tổng quan về tập hợp này - giúp thúc đẩy cuộc thảo luận về những khía cạnh đồng thuận đang hình thành cũng như những câu hỏi vẫn còn bỏ ngỏ.
Vậy, trong bối cảnh các cuộc tranh luận hiện đại về những cộng đồng sơ khai và các văn bản giúp soi sáng chúng … hãy để cuộc đối thoại bắt đầu!