Skip to main content

Chương 09: Thần Học Được Đức Thánh Linh Cảm Hứng và Sự Sửa Dạy Trong Hội Thánh

·3801 words·18 mins·
Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God

Công trình nghiên cứu của Raymond Brown về các tác phẩm Giăng thật sự đáng kinh ngạc. Khi ông qua đời vào năm 1998, nhiều người trong chúng ta cảm thấy một ánh sáng lớn đã rời khỏi hội thánh và giới học thuật. Brown đã khiến cho việc nghiên cứu các tác phẩm Giăng trở nên hấp dẫn, và theo một góc nhìn cá nhân, tôi có thể nói rằng công trình của ông đã truyền cảm hứng cho chính sự nghiệp của tôi cũng như cho nhiều người khác.

Urban von Wahlde và Paul Anderson đã đưa ra một đánh giá hữu ích về giả thuyết “Cộng đồng Giăng” của Brown. Như chúng ta đã biết, cuộc thảo luận này kéo dài trong suốt thập niên 1980 và 1990 đã cân nhắc kỹ lưỡng giả thuyết này. Brown (1979) gọi nỗ lực ấy là “công việc thám tử” và hy vọng rằng nếu chỉ cần sáu mươi phần trăm trong đó là chính xác, ông cũng sẽ hài lòng. Riêng tôi, tôi nghĩ rằng ông đã đạt được mục tiêu của mình.

Tôi quan tâm đến một khía cạnh trong giả thuyết của ông ấy mà tôi tin rằng đã vượt qua được thách thách của sự phân tích. Brown lần đầu đưa ra ý tưởng này trong Festschrift (tập sách vinh danh) dành cho Matthew Black vào năm 1979, và sau đó đã trình bày đầy đủ trong tác phẩm nổi tiếng Community of the Beloved Disciple. Ông cũng đưa ra sự hỗ trợ giải nghĩa kỹ lưỡng cho ý tưởng này trong tập chú giải Kinh Thánh (Bible Anchor Commentary) về các thư tín Giăng ba năm sau đó. Ngày nay, nhiều nhà chú giải bỏ qua điều này, nhưng theo tôi, đây là một trong những manh mối quan trọng để hiểu I Giăng.

Brown tin rằng một số đề tài thần học được tìm thấy trong sách Phúc Âm Giăng đã trở thành nguồn gốc cho những chia rẽ thần học đáng kể trong những giai đoạn sau của đời sống cộng đồng, và rằng I Giăng cung cấp bằng chứng quan trọng về vấn đề này. Chẳng hạn, ông cho rằng thẩm quyền tối cao về Đấng Christ trong sách Phúc Âm Giăng có thể đã góp phần vào cuộc tranh luận xoay quanh chủ nghĩa ảo hình (Docetism) và sự chối bỏ về sự nhập thể trọn vẹn. Ông cũng cho rằng ngôn ngữ nhị nguyên (dualism) trong sách Phúc Âm, cùng với sự xung khắc với “thế gian”, đã đặt nền tảng cho một lối sống đạo đức mang tính nhị nguyên, điều này có thể đã gây chia rẽ trong cộng đồng. Ông nổi tiếng với lời nhận định rằng những khí giới của sự xung đột mà sách Phúc Âm nhắm vào thế gian, về sau đã được chính các thành viên trong cộng đồng dùng để chống lại nhau.

Trong I Giăng 4, tác giả (tôi sẽ đơn giản gọi là “Giăng”) cảnh báo về các giáo sư giả dối. “Hỡi kẻ rất yêu dấu, chớ tin mọi thần, nhưng hãy thử các thần xem có phải đến từ Đức Chúa Trời chăng; vì có nhiều tiên tri giả đã xuất hiện trong thế gian” (I Giăng 4:1). Trong các câu liền sau đó, chúng ta biết được rằng tiêu chuẩn để nhận biết một thần đến từ Đức Chúa Trời là thần ấy chấp nhận một tín lý đúng đắn về Đấng Christ: “Bởi điều này, anh em nhận biết Thần của Đức Chúa Trời: phàm thần nào xưng nhận Chúa Giê-xu Christ đã đến trong xác thịt, thì thần đó đến từ Đức Chúa Trời; còn thần nào không xưng nhận Chúa Giê-xu, thì không đến từ Đức Chúa Trời” (I Giăng 4:2–3a).

Tại đây, có hai ý tưởng có vẻ rõ ràng: (1) Chúng ta có thể hợp lý suy đoán rằng những giáo sư giả này là các tiên tri, những người tự nhận có thẩm quyền thuộc linh để dẫn dắt Hội Thánh theo những hướng thần học mới; và (2) chúng ta có thể giả định rằng họ đã thành công.

Trong I Giăng 4:5, bức thư nói với một chút u sầu rằng “thế gian nghe theo họ.” Hội chúng đang lắng nghe những người giảng dạy mới lạ ấy, họ bắt đầu nghi ngờ điều mình đã nghe “từ ban đầu,” và giờ đây họ sẵn sàng tuyên bố rằng Thánh Linh của Đức Chúa Trời đã ban cho họ những hiểu biết mới về đời sống và đức tin. Đây chính là một trong những mối quan ngại đã thúc đẩy sự ra đời của thư I Giăng. Những người nhận thư đang bị giằng co giữa điều đã được dạy dỗ trong truyền thống và điều đang được bày tỏ qua các giáo sư mới này.

Câu hỏi đơn giản là thế này: môi trường giáo hội và thần học nào đã tạo điều kiện cho một khủng hoảng chăm sóc mục vụ như vậy nảy sinh? Và chính tại điểm này, luận đề của Brown trở thành một công cụ hữu ích. (Xin nói thêm, khi tôi giải thích những vấn đề như thế này với các mục sư thuộc hệ phái Ân tứ - Ngũ tuần và quen thuộc với văn chương Giăng, họ cảm thấy rất quen thuộc. Họ có ngay một câu trả lời, và điều họ phản ánh rất gần với đề xuất của Brown].

Luận đề của Brown thì đơn giản: thần học về Đức Thánh Linh trong sách Phúc Âm Giăng đã dẫn đến khủng hoảng mục vụ mà chúng ta thấy sau này trong các thư tín. Nói cách khác, một cộng đồng được đong đầy bằng trải nghiệm Thánh Linh đã rơi vào hiểm họa chính vì cường độ thuộc linh mà họ đã hết lòng cổ xúy.

Tầm quan trọng của Đức Thánh Linh trong tường thuật của sách Phúc Âm Thứ Tư là điều đã được biết đến rộng rãi. Chính danh tính của Chúa Giê-xu được trình bày trong mối liên hệ với Đức Thánh Linh (Giăng 1:34; 3:34; 6:27; 7:37–39; v.v.), và trong sách Phúc Âm này, chúng ta không những nghe Chúa Giê-xu hứa ban và mô tả Đức Thánh Linh - Đấng An Ủi - cho các môn đồ (Giăng 14:17, 26; 15:26; 16:13), mà còn chứng kiến Ngài ban Thánh Linh vào ngày Phục Sinh (Giăng 20:22).

Có lẽ hình ảnh ẩn dụ thú vị nhất về Đức Thánh Linh được tìm thấy trong biểu tượng “nước sống” của sách Phúc Âm. Người phụ nữ Sa-ma-ri được Chúa ban nước ấy (Giăng 4:10), những người đến thờ phượng trong lễ Lều Tạm nghe về “nước hằng sống” (Giăng 7:37–38), và dòng nước lạ lùng chảy ra từ sườn Chúa Giê-xu trên thập tự giá (Giăng 19:34). Giăng cho chúng ta biết rằng đó chính là Đức Thánh Linh (Giăng 7:39), và điều này đánh dấu món quà mà Chúa Giê-xu đang ban cho Hội thánh. Đối với một số nhà giải kinh, cuộc đối thoại với Ni-cô-đem trong chương 3 là khuôn mẫu cho ý nghĩa của việc thuộc về cộng đồng được hình thành quanh Giăng.

Không có sách Phúc Âm nào khác sánh được với điều này. Hơn nữa, trong Bài Diễn Văn Từ Biệt (Farewell Discourse), chúng ta học được rằng Thánh Linh được hứa ban sẽ duy trì sự hiện diện của Chúa Giê-xu trong các môn đồ. Trong Giăng 14:17, Thánh Linh ấy đang ở với họ (có thể hiểu là trong sự hiện diện của Chúa Giê-xu) và sẽ ở trong họ (có thể hiểu là qua sự đến của Thánh Linh - Đấng An Ủi).

Lẽ thật này thậm chí còn giải quyết được khủng hoảng lai thế học: Chúa Giê-xu sẽ trở lại với họ nhưng theo một cách mà họ cần học để hiểu - sự trở lại qua sự phục sinh chính là sự ban cho Thánh Linh của Ngài, được hà hơi vào họ. Đó là lý do vì sao họ không phải là kẻ mồ côi (Giăng 14:18). Chúa Giê-xu không bao giờ lìa xa họ. Như nhiều người đã chỉ ra, các công tác của Đấng An Ủi tương ứng với chức vụ của Chúa Giê-xu, bày tỏ rằng sự ngự trị của Thánh Linh sẽ duy trì chính sự sống của Chúa Giê-xu trong thế gian. Điều này hoàn toàn phù hợp với cách mà mối tương giao môn đồ được mô tả trong I Giăng 4:13: “Chúng ta biết rằng mình ở trong Ngài và Ngài ở trong chúng ta, vì Ngài đã ban cho chúng ta chính Thánh Linh của Ngài.”

Chúa Thánh Linh - Đấng An Ủi - sẽ làm gì? Ngài sẽ ở trong họ (Giăng 14:17), dạy dỗ họ mọi sự (Giăng 14:26), và dẫn dắt họ vào những lẽ thật mà họ chưa từng được nghe (Giăng 16:13). Nói cách đơn giản, Đấng An Ủi là sự tiếp nối sự sống của Chúa Giê-xu trong Hội thánh, tiếp tục công tác mặc khải mà Chúa Giê-xu đã mang đến cho thế gian. Như Chúa Giê-xu đã đến để bày tỏ Đức Chúa Cha (Giăng 17:6), thì nay Chúa Giê-xu qua Đức Thánh Linh sẽ tiếp tục bày tỏ những lẽ thật sâu nhiệm về Đức Chúa Trời mà cộng đồng cần phải nghe.

Vì vậy, đây là điều chúng ta thấy: những người theo Giăng được hình thành bởi nền thần học của sách Phúc Âm Giăng và có một nhận thức sâu sắc về sự ngự trị của Thánh Linh. Và dù điều này góp phần tạo nên một cộng đồng sống động và cấp thiết (Giăng 3:3; 4:23–24), nó cũng dẫn đến sự xuất hiện của những tiên tri - giáo sư, là những người dùng chính cảm hứng thuộc linh đó để biện minh cho các giáo huấn mới lạ của mình. Bởi họ có thể tuyên bố rằng Thánh Linh của Chúa Giê-xu đang ở trong họ, họ có thể bày tỏ cho Hội thánh những điều về một Đấng Christ theo hướng ảo hình (Docetism) mà trước đó không ai từng nghĩ tới. Những lời dạy gây tranh cãi này nằm trong số những điều mà Chúa Giê-xu chưa thể nói ra trước kia nhưng nay sẵn sàng bày tỏ (Giăng 16:12–13). Và với tư cách là các tiên tri, họ sẵn lòng trở thành tiếng nói cho Ngài. Nếu bị thách thức, họ thậm chí có thể nâng cao lập luận: Đức Cha và Đức Con đang ngự trong họ, cùng nhau xác chứng cho sự mặc khải từ Thánh Linh này (Giăng 14:23).

Brown không bao giờ xem những tiên tri này là các nhà huyền nhiệm, những người được cảm hứng bởi sự xuất thần thuộc linh. Ông xem họ là những tiên tri - giáo sư và đã chứng minh vai trò này trong tác phẩm Didache, nơi mà sự phân biệt giữa tiên tri và giáo sư rất mơ hồ (Did. 11–13; cũng xem Ê-phê-sô 4:11).

Điều này cũng giải thích một điều khác mà bạn bè tôi trong giới Ân tứ - Ngũ tuần nghĩ rằng tôi (hoặc ít ra là những người Trưởng Lão hoặc Báp-tít) không hiểu. Trong một môi trường mục vụ có những giáo sư giả được xức dầu bởi Thánh Linh, có những điều bạn đơn giản không thể làm. Nói cách khác, bạn không thể có lập trường giống như Phao-lô - nghĩa là không thể đơn thuần dựa vào thẩm quyền bản thân và tin rằng sức nặng của chức vụ hay kinh nghiệm của mình sẽ mang lại chiến thắng. Việc sửa dạy trong một cộng đồng đầy dẫy Thánh Linh đòi hỏi những chiến lược khác; bạn có thể hỏi bất kỳ ai từng tham dự Hội Nghiên Cứu Ngũ Tuần (Society of Pentecostal studies).

1️⃣ - Trước hết, hãy lưu ý rằng trong I Giăng, tác giả không hề kêu gọi thẩm quyền sứ đồ, cũng không nêu lên uy quyền của một người mang giáo huấn không thể bị bác bỏ.

Ông không bao giờ sử dụng lời lẽ mệnh lệnh với đại từ “tôi” đầy uy quyền. Hãy so sánh với cách tiếp cận của Phao-lô trong thư Ga-la-ti. Ngay từ đầu, lời của ông vang dội: “Tôi lấy làm ngạc nhiên vì anh em vội bỏ Đấng đã gọi anh em…” (Ga-la-ti 1:6), hoặc “như chúng tôi đã nói trước, nay tôi lại nói nữa: nếu ai rao giảng một Tin Lành khác với Tin Lành anh em đã nhận lấy, thì người ấy đáng bị rủa sả!” (Ga-la-ti 1:9) - những chỗ cho thấy Phao-lô có một thẩm quyền không thể nhầm lẫn, và ông tận dụng điều đó cách khôn ngoan. Phao-lô viện dẫn truyền thống (Tin Lành “mà anh em đã nhận lấy”), nhưng ông tự xem mình là người giải nghĩa truyền thống đó.

Giăng không thể làm điều đó. Ông không sử dụng uy quyền mục vụ hay sức mạnh gắn liền với chức vụ. (Nếu đây là một tác giả sứ đồ, có thể chúng ta sẽ mong đợi một lời kêu gọi như vậy.) Ông không thể chỉ về các sứ đồ tại Giê-ru-sa-lem như thể họ chứng thực cho mình (như Phao-lô đã làm trong Ga-la-ti 2). Giăng sống trong một bối cảnh mà việc thiết lập quyền bính tổ chức còn rất sơ khai, vì vậy việc sửa sai các giáo sư lầm lạc là điều không dễ thực hiện.

2️⃣ - Điều thứ hai cần lưu ý là Giăng đã làm gì.

Ông phải kêu gọi sự phân định các thần như một chiến lược chủ đạo. Ông không thể trực tiếp phủ nhận sự xức dầu của những giáo sư kia - vì họ chỉ việc đáp trả tương tự. Nhưng ông có thể nhắc Hội thánh rằng chính Đấng An Ủi ấy cũng đang ngự trong họ, như Ngài đang ngự trong các giáo sư ấy. Ông không muốn họ bị khuất phục trước bất kỳ ai tuyên bố mình có sự mặc khải dồi dào hơn.

“Nhưng anh em đã được xức dầu bởi Đấng Thánh, và tất cả đều biết” (I Giăng 2:20). “Và sự xức dầu mà anh em đã nhận từ Ngài vẫn ở trong anh em, và anh em chẳng cần ai dạy mình; nhưng sự xức dầu ấy dạy anh em mọi điều, là thật chứ không phải dối trá; và như sự xức dầu ấy đã dạy anh em, hãy ở trong Ngài” (I Giăng 2:27). Nói cách khác, mỗi người trong họ đều được trang bị như những kẻ ly khai kia, và sự hiểu biết cũng như sự cảm thúc thuộc linh của họ chẳng thua kém gì các giáo sư mới ấy. Họ không cần phải sợ hãi hay ngần ngại.

Vì vậy, Giăng phải đề nghị họ học cách thử nghiệm các thần. Có những thần của lẽ thật và những thần của sự sai lạc (I Giăng 4:6); thậm chí thần của kẻ chống Đấng Christ hiện đang có trong thế gian (I Giăng 4:3). Đây chính là chiến lược chủ đạo của ông. Giăng không thể phủ nhận vai trò của Thánh Linh, nhưng ông có thể dạy về sự phân định các thần và kêu gọi con dân Chúa cân nhắc kỹ những lời tuyên bố của các tiên tri-giáo sư.

Nhưng trong một bối cảnh giáo hội đặc thù như vậy, câu hỏi cấp thiết là: tiêu chuẩn nào để phân định các thần bày tỏ mặc khải? Giăng đưa ra câu trả lời - dù mong manh nhưng không thể thiếu: Tính xác thực của Thánh Linh chân thật đến từ Đức Chúa Trời được nhận biết qua đời sống đạo đức và niềm tin đúng đắn (I Giăng 4:13–21). Nói ngắn gọn, ông kêu gọi quay về với truyền thống.

Bài thử giáo lý của Giăng về các linh thật cần được neo chặt, và tại đây ông đưa ra một lập luận cuối cùng - dù mang tính mạo hiểm và có thể không mấy hiệu quả. Giăng kêu gọi người nghe quay về với điều đã được truyền dạy theo truyền thống trong ký thuật của các sứ đồ. Có đến mười lần ông nhắc đến “ban đầu” hoặc “điều anh em đã nghe từ ban đầu” và chỉ dẫn tín hữu mình trở về với truyền thống sứ đồ, chắc chắn được trình bày trong tác phẩm Phúc Âm của ông.

Tuy nhiên, nan đề đối với Giăng là điều này: chính tác phẩm Phúc Âm ấy lưu giữ truyền thống chính thống đã khai sinh ra nếp sống tâm linh mà ông cần phải kiềm chế. Vì vậy, thay vì mở đầu I Giăng bằng việc liệt kê thẩm quyền của mình (như Phao-lô đã làm trong Ga-la-ti 1:1), ông quay về nền tảng của đức tin Cơ Đốc: sự nhập thể đã được nghe, được chạm, được nhìn thấy - và được công bố ngay từ ban đầu. Nói cách khác, điều mà Thánh Linh của Đấng Christ đang phán ngày nay phải phù hợp với điều chúng ta hiểu rằng Ngài đã phán trong thời kỳ Ngài sống trong xác thịt.

I Giăng có thể đại diện cho giai đoạn khởi đầu của một tiến trình rõ ràng trong Tân Ước. Các tiên tri rõ ràng được quý trọng trong những giai đoạn đầu của Hội thánh (I Cô-rinh-tô 12:28; Ê-phê-sô 3:5; 4:11; I Ti-mô-thê 4:14), nhưng những nỗ lực của họ đã dẫn đến việc lệch khỏi truyền thống sứ đồ và điều đó cần được ngăn chặn (Mác 13:32; Ma-thi-ơ 24:11; I Cô-rinh-tô 14:29, 32; II Phi-e-rơ 2:1, 16; Khải huyền 2:20). Giăng thể hiện sự dè dặt hay thận trọng tương tự đối với lời tiên tri như chúng ta thấy, chẳng hạn, trong II Phi-e-rơ.

Tôi từng phát biểu tại Hội Nghiên Cứu Ngũ Tuần và đã đề cập đến nan đề thần học của I Giăng với một người bạn trong Hội Thánh Assemblies of God. “Tôi hiểu hoàn toàn,” anh ấy nói, “và đó là lý do vì sao chúng tôi hiện yêu cầu các Mục sư phải học thần học viện.”

Sự căng thẳng giữa cảm hứng và truyền thống trong thần học và mục vụ là điều vượt thời gian. Brown đã thành công trong việc chứng minh rằng nếu chúng ta kết nối cách cẩn trọng giữa sách Phúc Âm Giăng và các thư tín, thì bỗng nhiên ánh sáng mới soi rọi những gì đang diễn ra đằng sau hậu trường trong I Giăng. Ông cũng cho thấy sự căng thẳng này tiếp diễn cho đến tận thế kỷ thứ hai. Những người chống đối Ignatius, phong trào Ngộ Đạo (Gnosticism) thế kỷ thứ hai được phản ánh trong các bản văn tìm thấy ở Nag Hammadi (đặc biệt là tác phẩm Hypostasis of the Archons), và những gì ít ỏi mà chúng ta biết về Cerinthus — tất cả đều cho thấy sự cám dỗ không thể cưỡng lại đối với một cảm hứng nào đó vốn làm đảo lộn truyền thống và rất khó bị bác bỏ.

Người ta có thể nghĩ rằng đây là một vấn đề xưa cũ hoặc chỉ giới hạn trong các bối cảnh Ngũ Tuần, vốn có thể xa lạ với mỗi chúng ta, nhưng xin cho tôi nêu một ví dụ thật xa khỏi những môi trường ấy. Dù vậy, việc kể lại ví dụ này có nguy cơ khơi dậy chính nỗi bất mãn được nói đến trong I Giăng, nên xin bạn hãy nhớ đến những lời khuyên dạy về tình yêu thương trong I Giăng khi đọc phần này.

Tại một Hội thánh theo trào lưu bảo thủ lớn ở Hoa Kỳ, một Mục sư gần đây đã giảng dạy trước hội chúng gồm mười lăm ngàn người về điều Đức Chúa Trời đã mặc khải cho ông liên quan đến sự tận thế. Ông trích dẫn các phân đoạn liên quan đến Thánh Linh trong sách Phúc Âm Giăng (chẳng hạn Giăng 16:12) và tuyên bố rằng Đấng Yên ủi là Đức Thánh Linh đang bày tỏ cho Hội thánh những điều mà Chúa Giê-xu không thể phán trong thời Ngài còn tại thế.

Mặc khải của ông là: chiến tranh sẽ sớm nổ ra tại Trung Đông; rằng sự ủng hộ chính trị dành cho Y-sơ-ra-ên là bài kiểm tra về lòng trung tín đối với Đức Chúa Trời trong thời đại chúng ta; và rằng mọi tín hữu cần tích cực dấn thân chính trị, thúc giục Hoa Kỳ vũ trang cho đồng minh của mình và sẵn sàng cho một cuộc tấn công phủ đầu vào Iran. Đó thật là một bài giảng ấn tượng!

Điều đáng chú ý ở đây không phải là chủ đề (cụ thể là Chủ nghĩa phục quốc Cơ Đốc), mà là cách nó được trình bày. Thần học không còn là việc tranh đấu với truyền thống hay bản văn; nó được đặt nền tảng nơi kinh nghiệm tự xác chứng của điều mà một người tin là đến từ Đấng Yên ủi là Đức Thánh Linh. Diễn giả ấy thậm chí không cố gắng tuân theo nguyên tắc thần học: ông chỉ tạm thời đi theo Montanus, lấy danh của Đức Thánh Linh để đưa ra lời tuyên bố.

Hiện nay, những người theo truyền thống trong Hội thánh ấy đang đối diện với một nan đề thú vị, không khác mấy với tác giả của I Giăng - và đó là lý do tại sao đây là một trường hợp nghiên cứu đáng chú ý, phản ánh nhiều hình thức khác nhau trong các Hội thánh ngày nay. Khi bản văn và truyền thống không còn là nền tảng cho các cuộc đối thoại thần học, khi những mặc khải chưa từng có được trình bày một cách quả quyết, làm sao người ta có thể phản biện một giáo lý thần học mới?

Có lẽ một đề nghị hợp lý là Hội thánh nên chuyển nan đề này cho Hội Nghiên Cứu Ngũ Tuần. Họ dường như biết cách đối phó với những người tuyên bố rằng mình nói nhân danh Đấng Yên ủi, nhờ vào kinh nghiệm lâu dài sống trong thế giới của Giăng. Giăng 16:12 là lãnh vực quen thuộc với họ, và họ (như Giăng) biết cách sửa dạy những giáo sư truyền dạy những điều mà Chúa Giê-xu chưa từng phán.


CHUYÊN ĐỀ VỀ GIĂNG