I. “KẺ CHỐNG CHÚA” TRONG I VÀ II GIĂNG#
Một số nhận định khiêu khích và có ảnh hưởng nhất trong các thư I Giăng và II Giăng liên quan đến khái niệm kẻ chống Chúa. Những tác phẩm này chứa đựng những trường hợp xuất hiện sớm nhất được biết đến của thuật ngữ “kẻ chống Chúa” (hoặc ἀντίχριστος), và đã truyền lại ý niệm này cho các thế hệ tiếp theo. Đến cuối thế kỷ thứ hai và thứ ba, vấn đề về kẻ chống Chúa đã trở thành trọng tâm của nhiều suy đoán và bình luận trong một số cộng đồng Cơ Đốc, và sức mạnh của thuật ngữ này trong việc khơi gợi trí tưởng tượng vẫn còn tiếp diễn cho đến ngày nay. Công trình nghiên cứu toàn diện của Bernard McGinn (2000) về ý tưởng kẻ chống Chúa trong văn hóa phương Tây đã thể hiện điều này qua phụ đề của mình. Ông đặt tên cho tác phẩm là Antichrist: Two Thousand Years of the Human Fascination with Evil.
Hình ảnh thông thường về kẻ chống Chúa có nhiều khía cạnh khác nhau. Từ thời cổ đại cho đến nay, các tác giả đã hình dung kẻ chống Chúa như một nhân vật đơn độc - một con người hoàn toàn gian ác - làm tay sai cho Sa-tan trên đất. Người này thường được mô tả là một nhà lãnh đạo chính trị, sẽ cai trị trong những năm cuối của thời đại hiện nay và bách hại những ai từ chối thờ phượng hắn. Nhưng sau cùng sẽ có một trận chiến vũ trụ, trong đó Đấng Christ tái lâm sẽ hủy diệt kẻ chống Chúa và kết liễu hắn trong lửa thiêu.
Điều đáng chú ý là kịch bản truyền thống lại có rất ít liên hệ với I và II Giăng. Hai thư tín này có thể cung cấp thuật ngữ “kẻ chống Chúa,” nhưng phần lớn nội dung lại đến từ những nguồn khác. Người ta có thể tự hỏi liệu các thư tín này có đề cập quá ngắn gọn về kẻ chống Chúa là vì truyền thống về nhân vật này đã quá quen thuộc chăng. Dù sao đi nữa, I Giăng cho rằng độc giả đã nghe nói rằng kẻ chống Chúa đang đến (I Giăng 2:18; 4:3).
Hơn một thế kỷ trước, Wilhelm Bousset (1896) thuộc trường phái lịch sử các tôn giáo đã lập luận rằng có một truyền thống thống nhất về kẻ chống Chúa đã lưu hành trong các cộng đồng Do Thái từ lâu trước khi các thư tín được viết ra. Ông cho rằng truyền thống đó hình dung ra một kẻ chống Chúa khá giống với những gì các tác giả Cơ Đốc sau này vài thế kỷ đã mô tả. Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây cho thấy rằng niềm tin của người Do Thái về một đối thủ trong lai thế học thì đa dạng chứ không thống nhất, và ý niệm về một kẻ chống Đấng Mê-si dường như là do Cơ Đốc nhân phát triển nên.
Khi tôi suy xét I và II Giăng dưới ánh sáng của truyền thống trễ hơn, tôi không cho rằng các nguồn tài liệu sau này phản ánh những tư tưởng đã hình thành nên tác giả của các thư tín Giăng. Trái lại, chính truyền thống trễ hơn ấy đã định hình cách nhiều người đọc các thư tín này, và nó tiếp tục ảnh hưởng đến việc giải thích những phân đoạn này, đôi khi theo những cách rất tinh vi. Lịch sử dài lâu của việc suy đoán về kẻ chống Chúa cùng với cách sử dụng ngôn ngữ mang tính tranh luận liên quan đến nhân vật này thật khó mà bỏ qua, ngay cả khi các nhà giải kinh cố gắng giới hạn công việc của mình trong bối cảnh mà các tác phẩm theo trường phái Giăng được soạn thảo.
Việc lưu tâm đến lịch sử tiếp nhận ý niệm về kẻ chống Chúa có thể giúp chúng ta ý thức rõ hơn về những giả định thường được mang theo khi đọc I và II Giăng. Bằng cách so sánh những mô tả về kẻ chống Chúa trong giai đoạn trễ hơn cùng với các phân đoạn trong những thư tín này, chúng ta có thể nhận diện rõ hơn đâu là những giả định diễn giải - và có thể tự hỏi liệu mình có nên chấp nhận những giả định ấy hay không. Khi đó, việc nghiên cứu lịch sử tiếp nhận trở nên trọn vẹn, vì nó đưa mỗi nhà giải kinh quay trở lại với sự dấn thân mới đối với chính văn bản Kinh Thánh.
Vì vậy, khi chú ý đến lịch sử tiếp nhận, tôi muốn suy xét ba câu hỏi:
- Thứ nhất, các thư tín theo trường phái Giăng mô tả kẻ chống Chúa như thế nào?
- Thứ hai, các thư tín ấy trình bày trận chiến lai thế học ra sao? và
- Thứ ba, các thư tín ấy khuyến khích hay làm suy yếu việc sử dụng ngôn ngữ tranh luận liên quan đến kẻ chống Chúa?
II. BỨC CHÂN DUNG CỦA KẺ CHỐNG CHÚA#
Hai trong số những người đóng vai trò chính trong việc định hình truyền thống về kẻ chống Chúa là Irenaeus và Hippolytus, những người đã viết về kẻ chống Chúa vào cuối thế kỷ thứ hai và đầu thế kỷ thứ ba. Cách tiếp cận của họ là tạo nên một chân dung thống nhất về kẻ chống Chúa bằng cách tổng hợp các yếu tố từ nhiều phân đoạn Kinh Thánh khác nhau.
Thuật ngữ “kẻ chống Chúa” được lấy từ các thư tín theo trường phái Giăng và kết hợp với mô tả trong sách Khải huyền về nhà cai trị chuyên chế, được hình dung như một con thú có bảy đầu. Theo Khải huyền 13, con thú này là tay sai của Sa-tan, trỗi lên từ biển, để cai trị muôn dân trên đất. Nó trở thành trung tâm của một hình thức sùng bái nhà cai trị, đến nỗi chính nó trở nên đối tượng của sự thờ phượng. Con thú này gây chiến với các thánh đồ, trong khi một nhân vật thứ hai - được biết đến là tiên tri giả hay con thú từ đất - thúc đẩy sự sùng bái nhà cai trị bằng cách thi hành các phép lạ, giết hại kẻ chống đối và đóng dấu cho người ta bằng danh và số của con thú lớn, tức là sáu trăm sáu mươi sáu.
Khải tượng này trong sách Khải huyền đã được kết hợp với II Tê-sa-lô-ni-ca 2:8, là nơi cảnh báo về “người gian ác,” là kẻ sẽ xuất hiện với những dấu lạ và phép mầu. Trong viễn cảnh này, “người gian ác” không những tự biến mình thành đối tượng thờ phượng mà còn ngồi vào đền thờ của Đức Chúa Trời. Điều này đã dẫn đến suy đoán rằng kẻ chống Chúa có thể sẽ tái xây dựng đền thờ, vì đền thờ đã bị người La Mã phá hủy hơn một thế kỷ trước thời điểm Irenaeus và Hippolytus viết các tác phẩm của mình.
Tuy nhiên, khi quay lại với các thư tín theo trường phái Giăng, thật đáng kinh ngạc là hầu như tất cả những điều đó đều biến mất. Không có dấu kỳ phép lạ. Không có cuộc bách hại dữ dội nào nhắm vào các thánh đồ. Và điều quan trọng nhất, kẻ chống Chúa theo trường phái Giăng không phải là một nhân vật tự biến mình thành đối tượng của sự thờ phượng. Thay vào đó, kẻ chống Chúa hành động qua sự phủ nhận.
Trong các thư tín, lời xưng nhận đã được thiết lập của cộng đồng là: Chúa Giê-xu là Đấng Christ, đã đến trong xác thịt. Công việc của kẻ chống Chúa là phủ nhận điều này. Tác giả thư I Giăng có thể hỏi: “Ai là kẻ nói dối nếu không phải là kẻ chối rằng Chúa Giê-xu là Đấng Christ? Ấy là kẻ chống Chúa, là kẻ chối Cha và Con” (I Giăng 2:22). Và II Giăng thì nhấn mạnh rằng “kẻ lừa dối và kẻ chống Chúa” là người “không xưng nhận Chúa Giê-xu Christ đã đến trong xác thịt” (II Giăng 7).
Nếu lời xưng nhận rằng Chúa Giê-xu là Đấng Christ được xem là tiêu chuẩn, thì kẻ chống Chúa làm trống rỗng lời xưng nhận này bằng cách rút khỏi đó một vài nội dung trọng yếu; tuy nhiên, các thư tín không cho thấy rằng kẻ chống Chúa tự đặt mình làm đối tượng đức tin thay thế như trong những kịch bản đã nêu trên. Quả thật, một số người đã lưu ý rằng từ “kẻ chống Chúa” bắt đầu bằng tiền tố tiếng Hy Lạp anti-, vốn mang nhiều nghĩa. Gần như chắc chắn rằng nhân vật này là kẻ “chống lại” Đấng Christ, nhưng tiền tố này cũng có thể gợi ý rằng hắn là “kẻ thay thế” cho Đấng Christ, vì anti- cũng có thể mang ý nghĩa thay thế hoặc thế chỗ.
Các sách Phúc Âm Cộng Quan có cảnh báo rằng trong thời kỳ cuối cùng sẽ có nhiều đấng Mê-si giả (ψευδόχριστοι), họ sẽ đến nhân danh Chúa Giê-xu và nói: “Ta là Đấng ấy” (Ma-thi-ơ 24:24; Mác 13:6). Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là các thư tín theo trường phái Giăng không mô tả một kẻ chống Chúa nói rằng: “Hãy tin rằng ta là Đấng Christ còn Chúa Giê-xu thì không.”
Thay vào đó, theo các thư tín, điều mà kẻ chống Chúa thực hiện là đưa ra một hình thức đức tin thay thế bằng cách phủ nhận một số tuyên bố về Chúa Giê-xu. Các nhà giải kinh đã cố gắng xác định rõ hơn ý nghĩa của sự phủ nhận này. Khi được đọc dưới ánh sáng của thần học ảo hình (docetism) về Đấng Christ trong giai đoạn sau, điều này có thể được hiểu là sự phủ nhận rằng Chúa Giê-xu thật sự là con người. Ý tưởng ở đây là: Chúa Giê-xu dường như là con người, nhưng trên thực tế thì không phải; hoặc có thể bản tính thần linh của Ngài chỉ ngự tạm thời trong thân thể, mà không thật sự kết hợp với thân thể đó. Vấn đề là chưa rõ liệu những quan điểm về sau này có thể được áp dụng cho bối cảnh của các thư tín hay không.
Bản chất công việc của kẻ chống Chúa, theo các thư tín, là cắt đứt mối liên hệ giữa danh xưng “Đấng Christ” và con người có tên là Giê-xu. Tác giả của I và II Giăng đôi khi dùng từ “Đấng Christ” như một danh hiệu, gọi Chúa Giê-xu là “Đấng Christ,” nghĩa là “Đấng được xức dầu” (I Giăng 2:22; 5:1). Ông cũng dùng danh hiệu này như một phần của danh xưng “Chúa Giê-xu Christ” (ví dụ: I Giăng 2:1; 5:6; II Giăng 7), và gắn liền thuật ngữ đó với bản thể của Chúa Giê-xu là “Con Đức Chúa Trời” (I Giăng 1:3; 2:22; 3:23; II Giăng 3). Theo truyền thống, ý tưởng rằng Chúa Giê-xu là Đấng Christ và là Con Đức Chúa Trời bắt nguồn từ niềm hy vọng Mê-si của người Do Thái, mặc dù trong truyền thống theo trường phái Giăng, những danh hiệu đó mang ý nghĩa mở rộng hơn, hàm ý sự hiệp nhất của Chúa Giê-xu với Đức Chúa Cha của Ngài.
Đối với tác giả (hoặc các tác giả) của những thư tín này, Đấng Christ là Con Đức Chúa Trời, là Đấng mà qua đó Đức Chúa Trời hành động. Chính bởi tình yêu mà Đức Chúa Trời đã sai Ngài đến để đem lại sự chuộc tội, sự sống và sự cứu rỗi cho thế gian (I Giăng 4:7–14). Và Chúa Giê-xu đã thi hành điều đó trong xác thịt, để bày tỏ lẽ thật và tình yêu của Đức Chúa Trời theo cách có thể được nghe, được thấy và được chạm đến (I Giăng 1:1–2). Điều mà kẻ chống Chúa thực hiện là phủ nhận ý tưởng rằng việc là Đấng được sai từ Đức Chúa Trời có liên hệ gì đến xác thịt của Chúa Giê-xu - tức là phủ nhận rằng nhân tính của Chúa Giê-xu có bất kỳ ý nghĩa cứu rỗi nào.
Khía cạnh này mang lại những hàm ý đáng chú ý cho cách các thư tín theo trường phái Giăng mô tả kẻ chống Chúa. Điều đó có nghĩa là kẻ chống Chúa - nếu đúng với bản chất của hắn - sẽ không có một thân xác nhập thể riêng. Truyền thống trễ hơn về sau mô tả đối thủ trong lai thế học như một con người cụ thể - hiện thân của sự gian ác. Nhưng kẻ chống Chúa theo trường phái Giăng thì không có xác thịt của riêng mình. Kẻ phủ nhận xác thịt của Chúa Giê-xu cũng không tự nhận nó cho bản thân - ít nhất là không một cách trực tiếp. Thay vào đó, hắn cư ngụ trong những người cất tiếng ủng hộ những niềm tin mà hắn cổ súy. Đó là lý do vì sao tác giả cảnh báo rằng: “Có nhiều kẻ lừa dối đã ra vào thế gian, tức là những kẻ không xưng nhận Chúa Giê-xu Christ đã đến trong xác thịt. Ấy là kẻ lừa dối và là kẻ chống Chúa” (II Giăng 7; xem thêm I Giăng 2:22–23).
Các thư tín theo trường phái Giăng không cho phép người đọc có sự dễ dãi trong việc đồng hóa kẻ chống Chúa với một bạo chúa cụ thể, người trở thành trung tâm của mọi điều ác. Thay vào đó, các thư tín sử dụng thuật ngữ “kẻ chống Chúa” ở hình thức số ít để chỉ bất kỳ ai phủ nhận giá trị của nhân tính Chúa Giê-xu - và điều này có nghĩa là từ một người trở thành nhiều người. Kẻ chống Chúa trở thành nhiều kẻ chống Chúa.
Tác giả của I Giăng viết rằng người đọc “đã nghe rằng kẻ chống Chúa đang đến,” nhưng rồi ông nói thêm rằng hiện nay “nhiều kẻ chống Chúa đã đến” trong hình dạng của những con người bình thường - những người đã lìa bỏ cộng đồng đức tin của tác giả (I Giăng 2:18–19). Những ai đang tìm kiếm một bạo chúa có khả năng làm phép lạ có thể sẽ cảm thấy hoang mang, vì trong các thư tín theo trường phái Giăng, kẻ chống Chúa không được nhận biết qua các dấu lạ và phép mầu hay những cảnh tượng kinh hoàng của cuộc bách hại. Thay vào đó, kẻ chống Chúa được nhận biết qua những lời lẽ phủ nhận tầm quan trọng của nhân tính Chúa Giê-xu - những lời được thốt ra từ những người mà độc giả có thể gặp bất cứ nơi đâu, bao gồm cả những người mà trước đây họ từng xem là anh chị em trong đức tin.
Vậy thì, khi sự hiện diện của kẻ chống Chúa trở nên phân tán như thế, điều đó có ý nghĩa gì cho trận chiến lai thế học?
III. TRẬN CHIẾN LAI THẾ HỌC#
Truyền thống Cơ Đốc thường mô tả trận chiến lớn bằng những hình ảnh đầy kịch tính. Các tác giả thường dựa vào II Tê-sa-lô-ni-ca, nơi Chúa Giê-xu từ trời hiện đến với các thiên sứ quyền năng của Ngài trong lửa hừng, để báo thù những kẻ vô tín và tiêu diệt người vô luật pháp bằng hơi thở từ miệng Ngài. Các chi tiết khác đến từ sách Khải huyền, mô tả trận chiến lớn trong đó con thú và tiên tri giả dụ dỗ các vua trên đất mở một cuộc tấn công vô ích chống lại Chúa Giê-xu khi Ngài tái lâm trong trận A-ma-ghê-đôn. Chính tại đó, con thú bị đánh bại và quăng vào hồ lửa, trong khi xác của những đồng minh bị giết của nó trở thành bữa tiệc kinh khiếp cho chim trời, ăn xác chết còn vương vãi trên chiến trường (Khải huyền 16:12–16; 19:11–21).
Ban đầu, các thư tín Giăng dường như cũng mang lại một viễn cảnh kịch tính. Chúng mô tả một cuộc chiến vũ trụ giữa Đức Chúa Trời và ma quỷ, là kẻ đã phạm tội từ buổi ban đầu. Với tư cách là độc giả, chúng ta bước vào giữa câu chuyện, bởi Đức Chúa Trời đã hành động bằng cách sai Con Ngài đến chiến đấu. Theo I Giăng, Con Đức Chúa Trời đã đảm nhận vai trò chiến binh bằng việc đến để hủy phá công việc của ma quỷ (I Giăng 3:8).
Tuy nhiên, mặc dù Chúa Giê-xu đã tấn công vào lãnh địa của ma quỷ, thế gian vẫn nằm dưới quyền của kẻ ác (I Giăng 5:19). Tình trạng này khiến cho thế gian (κόσμος) trở thành chiến trường cho cuộc chiến thuộc linh đang tiếp diễn. Tác giả nói đến hai loại thần linh: Thần của lẽ thật và thần của sự lừa dối, đang hoạt động trong thế gian (I Giăng 4:6). Và thần của sự lừa dối chính là thần của kẻ chống Đấng Christ (I Giăng 4:3). Độc giả được cảnh báo về các hoạt động ngấm ngầm của kẻ chống Đấng Christ, vì tay sai của hắn bao gồm nhiều tiên tri tự xưng, những người đã ra đi vào thế gian để dối gạt người ta chối bỏ ý nghĩa của sự nhập thể trong xác thịt của Chúa Giê-xu (I Giăng 4:1).
Đây là chiến tranh - nhưng là một cuộc chiến bằng lời. Vũ khí trong cuộc xung đột này là lời tuyên xưng và lời phản bác: lời xưng nhận rằng con người tên là Giê-xu chính là Đấng Christ, đối lập với niềm tin cho rằng nhân tính của Chúa Giê-xu không hề có chỗ trong kế hoạch của Đức Chúa Trời. Đối với tác giả I Giăng, đây không chỉ là màn dạo đầu cho trận chiến sau cùng, mà là trận chiến vĩ đại với kẻ chống Đấng Christ.
Các chiến binh không phải là một chiến sĩ thiên thượng cưỡi ngựa trắng và một con thú bảy đầu; trái lại, các chiến binh là những người như chính độc giả - những người đang ở giữa cuộc xung đột và được kêu gọi để phân biệt lẽ thật với điều giả dối. Kẻ chống Đấng Christ không còn là một cá nhân duy nhất, mà trở thành nhiều kẻ chống Đấng Christ, và tương lai trở thành hiện tại. Tác giả quả quyết rằng: “ấy là giờ sau rốt”, và chính sự xuất hiện của nhiều kẻ chống Đấng Christ đã khiến độc giả “biết rằng ấy là giờ sau rốt” (I Giăng 2:18; xem thêm 4:3).
Trong mắt nhiều người, tình hình dường như là một thất bại. Bởi vì nhiều tay sai của kẻ chống Đấng Christ - tức các tiên tri giả - đã ra đi vào thế gian, nơi họ dễ dàng được chấp nhận với các quan điểm của mình. Tác giả nói: “Chúng nó thuộc về thế gian; vì đó mà nói những lời thuộc về thế gian, và thế gian nghe theo chúng nó” (I Giăng 4:5). Tuy nhiên, giữa bóng tối tưởng chừng như thất bại ấy, tác giả I Giăng công bố chiến thắng - một chiến thắng không được bày tỏ bởi lửa từ trời, nhưng bởi đức tin trên đất. Ông quả quyết rằng nơi nào Thánh Linh của Đức Chúa Trời cảm động con người để xưng nhận rằng Chúa Giê-xu Christ đã đến trong xác thịt, thì tại đó có chiến thắng thật. Ông nói với độc giả rằng: “Các con cái đã thắng hơn chúng nó” (I Giăng 4:4). Bởi “hãy hễ chi sanh bởi Đức Chúa Trời thì thắng hơn thế gian; và sự thắng hơn thế gian, ấy là đức tin của chúng ta. Ai là người thắng hơn thế gian? Há chẳng phải là kẻ tin Chúa Giê-xu là Con Đức Chúa Trời sao?” (I Giăng 5:4–5; cũng xem 2:13–14).
Đối với tác giả I Giăng, cuộc chiến vũ trụ giữa Đấng Christ và kẻ chống Đấng Christ đang diễn ra và đang được chiến thắng trong hiện tại. Tác giả không xem độc giả như những khán giả đứng ngoài, mà đặt họ vào vai trò của những người tham chiến - những người được kêu gọi chống lại sự xâm nhập của điều giả dối và chiến thắng nó bằng lẽ thật nuôi dưỡng đức tin.
Theo I Giăng, Đức Chúa Trời đã sai Chúa Giê-xu đến để hủy phá công việc của ma quỷ, và những công việc đó bao gồm sự vô tín cùng các hình thức của tội lỗi phát sinh từ đó. Những điều này được đánh dấu bởi sự thù ghét và sự chết (I Giăng 3:8, 12–15). Cuộc chiến chống lại niềm tin sai lạc được chiến thắng khi đức tin chân thật được phát sinh, và từ góc nhìn của tác giả, đức tin ấy được thể hiện qua tình yêu thương và mang đặc điểm của sự sống (I Giăng 4:7–21; 5:11).
Đây là một cuộc chiến rất khác biệt, vì sự chiến thắng kẻ chống Đấng Christ không đến từ việc hủy diệt những kẻ theo hắn, mà đến từ việc gây dựng sự sống qua những lời đã được bày tỏ và tạo nên đức tin.
IV. CÁCH SỬ DỤNG NGÔN NGỮ KẺ CHỐNG CHÚA CHO MỤC ĐÍCH BÚT CHIẾN#
Điều này đưa chúng ta đến câu hỏi sau cùng, xoay quanh tính chất luận chiến trong ngôn ngữ mà tác giả dùng để nói về kẻ chống Đấng Christ. Dù Đấng Christ là Đấng ban sự sống và là Cứu Chúa của thế gian, nhưng cách mà tác giả chỉ trích những người đối lập như là những kẻ chống Đấng Christ dường như gây khó xử khi đặt cạnh các lời nhắc về tầm quan trọng của tình yêu thương. Hơn nữa, thuật ngữ “kẻ chống Đấng Christ” đã thường được các tác giả thế hệ sau sử dụng như một biệt danh nhằm bêu xấu các nhân vật chính trị và tôn giáo đương thời của họ. Vì vậy, khi chúng ta cân nhắc vai trò của kẻ chống Đấng Christ trong các thư tín Giăng, điều quan trọng là phải xem xét cách thức mà sự luận chiến ấy vận hành.
Về mặt hùng biện, tác giả cáo buộc những người đã rời khỏi cộng đồng của ông là kẻ chống Đấng Christ. Ông nói: “Chúng nó ra từ giữa chúng ta, nhưng thật ra chẳng thuộc về chúng ta; vì nếu thuộc về chúng ta, thì chắc đã ở lại với chúng ta. Song điều đó xảy ra để tỏ rõ rằng chẳng có ai trong chúng thuộc về chúng ta hết” (I Giăng 2:19). Trong hoàn cảnh đầy mâu thuẫn này, tác giả vạch ra một ranh giới rõ ràng giữa hai nhóm: những người thuộc về Đấng Christ và những người thuộc về kẻ chống Đấng Christ.
Có vẻ như tác giả nhận ra rằng lý do chính để người ta ở lại với cộng đồng là vì họ thấy lời xưng nhận đức tin và lối sống của cộng đồng là đáng tin cậy. Nhưng đồng thời, việc gán nhóm đối lập với kẻ chống Đấng Christ là một thủ pháp hùng biện mạnh mẽ, vì nó gia tăng rào cản đối với việc rời bỏ cộng đồng. Tác giả quả quyết rằng gia nhập phe bên kia không chỉ là chấp nhận một tín lý khác về Đấng Christ, mà còn là gia nhập với các tay sai của điều ác.
Ngôn ngữ này dường như để lại cho chúng ta một bức tranh đơn giản “chúng ta đối lập với họ”, trong đó nhóm của tác giả thuộc về Đấng Christ, còn nhóm kia đã trở nên kẻ chống Đấng Christ. Tuy nhiên, sau khi xác lập sự phân biệt rõ ràng ấy, tác giả cũng làm lu mờ ranh giới đó. Cuộc chiến chống lại kẻ chống Đấng Christ không thể bị giản lược thành một cuộc đối đầu giữa hai nhóm người. Đó là một cuộc chiến đang diễn ra ngay trong chính cộng đồng của tác giả, và rộng hơn nữa, trong từng thành viên thuộc cộng đồng ấy.
Các thư tín Giăng gắn liền kẻ chống Đấng Christ với sự phủ nhận lời xưng nhận của cộng đồng về Chúa Giê-xu, và chúng cũng thừa nhận rằng sự phủ nhận này có thể xảy ra không chỉ bằng lời nói mà còn bằng hành động. Tác giả giả định rằng nếu Đấng Christ đã mặc lấy thân xác, thì đức tin cũng phải được thể hiện một cách xác thực qua những việc làm phù hợp với lời xưng nhận.
I Giăng chỉ ra nghịch lý rằng những người tự tin xưng nhận đức tin bằng môi miệng mình lại có thể chối bỏ đức tin ấy qua đời sống họ - và khi họ làm như vậy, ngay cả những người thuộc về cộng đồng cũng mang những đặc điểm của kẻ chống Đấng Christ. Hãy lưu ý cách các thư tín sử dụng từ “kẻ nói dối.”
- Tác giả có thể nói: “Kẻ nào là kẻ nói dối [ψεύστης], nếu chẳng phải là kẻ chối rằng Chúa Giê-xu là Đấng Christ? Ấy là kẻ chống Đấng Christ” (I Giăng 2:22).
- Nhưng ông cũng có thể nói: “Kẻ nào nói: ‘ta biết Ngài,’ mà không vâng giữ các điều răn Ngài, thì là kẻ nói dối [ψεύστης]” - nghĩa là người ấy mang đặc điểm của kẻ chống Đấng Christ (I Giăng 2:4; cũng xem 4:20).
Điều này cũng đúng với khái niệm “kẻ dối gạt.” II Giăng chép rằng nếu ai “không xưng nhận Chúa Giê-xu Christ đã đến trong xác thịt,” thì người ấy “là kẻ dối gạt [πλάνος] và là kẻ chống Đấng Christ” (II Giăng 7). Nhưng I Giăng cũng nói: “Nếu chúng ta nói rằng mình không có tội, thì chúng ta tự dối mình [πλανῶμεν], và lẽ thật không ở trong chúng ta” (I Giăng 1:8).
Khi những lời cảnh báo về tính chất lừa dối của kẻ chống Đấng Christ được đọc dưới ánh sáng của những lời cảnh báo về xu hướng tự dối mình nơi chính độc giả, thì kẻ chống Đấng Christ không còn có thể dễ dàng bị gán cho như là một thế lực hoàn toàn bên ngoài, chỉ hiện diện trong một nhóm khác. Khi mối nguy của việc chối bỏ Đấng Christ được mở rộng để bao gồm không chỉ lời nói mà còn cả những hành động không nhất quán với lời xưng nhận, thì điều đó trở thành một lời mời gọi để tự xét tấm lòng trong chính cộng đồng của tác giả.
Cách đọc hiểu này về các phân đoạn liên quan đến kẻ chống Đấng Christ có thể đã bị lu mờ trong truyền thống trễ hơn, nhưng không hề bị lãng quên. Nó xuất hiện, chẳng hạn, trong các bài giảng của Augustine về I Giăng. Ông lưu ý rằng theo bức thư này, những người được gọi là “kẻ chống Đấng Christ” đã ra khỏi cộng đồng - nhưng điều này cũng có nghĩa là trước khi họ ra đi, họ đã từng hiện diện trong đó. Kẻ chống Đấng Christ không phải là một thực thể hoàn toàn bên ngoài. Đó là một thế lực đang hoạt động ngay trong cộng đồng đức tin.
Do vậy, Augustine nhận xét rằng các thành viên trong cộng đồng cần tự hỏi liệu chính họ có thể là kẻ chống Đấng Christ hay không. Và tiêu chuẩn mà Augustine đề xuất? “Ai trong hành động mình chối bỏ Đấng Christ thì là kẻ chống Đấng Christ” (Tract. ep. Jo. 3.4, 8). Và những hành động chối bỏ Đấng Christ cách rõ rệt nhất chính là những hành động vi phạm điều răn về tình yêu thương.
Các thư tín Giăng đã góp phần vào việc sử dụng ngôn ngữ về kẻ chống Đấng Christ một cách đầy căng thẳng trong văn hóa Tây phương. Tuy nhiên, khi ngôn ngữ ấy được đọc trong bối cảnh rộng hơn, các thư tín ấy cũng đóng vai trò đặc thù và mang tính phản biện, là điều khiến chúng khác biệt so với một số yếu tố trong truyền thống trễ hơn. Trong các thư tín, (1) kẻ chống Đấng Christ không còn là một nhân vật đơn lẻ, mà trở thành nhiều người; (2) tương lai trở thành hiện tại; và (3) kẻ thù không còn dễ dàng bị quy cho là một thế lực bên ngoài, mà là một quyền lực có thể hoạt động ngay trong cộng đồng đức tin.
Theo các thư tín, Đấng Christ chân thật đã được bày tỏ cách cụ thể trong Chúa Giê-xu, và đức tin chân thật được thể hiện cách cụ thể qua tình yêu thương. Thuật ngữ “kẻ chống Đấng Christ” được dùng để chỉ điều trái ngược lại với điều đó. Các thư tín kêu gọi độc giả tích cực nhận biết nơi nào thần của kẻ chống Đấng Christ đang hoạt động trong thế gian và trong các cộng đồng khác với cộng đồng của chính họ.
Nhưng chính những văn bản đó cũng kêu gọi độc giả nhận biết xu hướng tự dối mình nơi bản thân, cùng những cách mà họ vô hiệu hóa công việc của Đấng Christ qua những hành động thù ghét, vốn làm giảm thiểu sự sống. Các thư tín có thể thực hiện công việc phản biện sâu sắc nhất khi chúng khiến độc giả phải thốt lên: “Chúng ta đã thấy kẻ chống Đấng Christ, và chính là chúng ta vậy.”