Skip to main content

Chương 13: Tình Yêu Trọn Vẹn: I Giăng 4:11–18 và Sứ Mạng của Hội Thánh Tân Ước

·15240 words·72 mins·
Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God

Bài viết này tập trung vào cả việc dịch và hiểu động từ τελειόω trong mối liên hệ với tình yêu thương trong I Giăng 4. Tôi tin rằng cách mà τελειόω thường được dịch sang tiếng Anh đã phần nào che khuất một khía cạnh quan trọng trong thông điệp mà I Giăng 4 đang trình bày, và tôi hy vọng có thể góp phần giúp khía cạnh ấy được bày tỏ rõ ràng hơn.

Tôi xin bắt đầu bằng cách trình bày ngắn gọn cách hiểu của tôi về cấu trúc của I Giăng 4:11–18, điều này sẽ phần nào định hướng cho bài thảo luận. Lời xưng hô “Anh em yêu dấu” (Ἀγαπητοί) ở đầu câu 11 (song song với lời xưng hô tương tự ở câu 7) đánh dấu phần mở đầu của một đơn vị văn bản mới. Câu 11 nêu lên chủ đề tổng quát của đơn vị văn bản này; đó là mối liên hệ giữa tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho các tín hữu và tình yêu họ dành cho nhau: “Anh em yêu dấu, nếu Đức Chúa Trời đã yêu chúng ta như vậy, thì chúng ta cũng phải yêu thương nhau” (NRSV).

Hai mệnh đề trong câu 12 thiết lập hai tiểu chủ đề được triển khai trong đơn vị văn bản này: “Chẳng ai từng thấy Đức Chúa Trời bao giờ; nếu chúng ta yêu thương nhau thì Đức Chúa Trời ở trong chúng ta, và tình yêu của Ngài được trọn vẹn trong chúng ta” (NRSV). Mệnh đề “Đức Chúa Trời ở trong chúng ta” mở ra chủ đề “sự ở trong nhau giữa Đức Chúa Trời và chúng ta” (được nhận biết qua sự hiện diện của Thánh Linh, sự tuyên xưng Chúa Giê-xu cách đúng đắn, và tình yêu thương), được trình bày trong các câu 13–16. Mệnh đề “tình yêu của Ngài được trọn vẹn trong chúng ta” mở ra chủ đề về “tình yêu trọn vẹn” được khai triển trong các câu 17–18. Đơn vị văn bản này được tổ chức chặt chẽ và mạch lạc, một sự trình bày khá đáng khâm phục của tác giả. Trong hai tiểu chủ đề vừa nêu, bài thảo luận này sẽ tập trung vào tiểu chủ đề thứ hai: “nếu chúng ta yêu thương nhau … thì tình yêu của Ngài được trọn vẹn trong chúng ta.” Lời khẳng định này hàm ý điều gì?

I. CÓ PHẢI LÀ “TÌNH YÊU TRỌN VẸN” HAY KHÔNG?
#

Nhiệm vụ đầu tiên trong việc hiểu rõ hơn I Giăng 4:12 và các lời khẳng định trong 4:17–18 vốn dựa trên câu này, là loại bỏ ảnh hưởng của cách dịch truyền thống trong tâm trí độc giả Kinh Thánh tiếng Anh. Cách diễn đạt trong bản NRSV “tình yêu của Ngài được trọn vẹn trong chúng ta” ở câu 12 giống hệt với cách dùng trong bản KJV, cũng như cụm từ “tình yêu trọn vẹn” trong câu 18. Thật vậy, hầu hết các bản dịch hiện đại đều sử dụng từ “trọn vẹn” (perfect) và các từ liên hệ để dịch các hình thức của động từ Hy Lạp τελειόω trong I Giăng 4:12, 17–18. Tuy nhiên, theo quan điểm của tôi, τελειόω trong tiếng Hy Lạp Koine không mang ý nghĩa giống như từ “perfect” trong tiếng Anh hiện đại, và chúng ta không thể thật sự nắm được ý nghĩa của thông điệp trong I Giăng ở đây cho đến khi chúng ta thoát khỏi sự chi phối của cách dịch này.

Một bước để tiến đến mục tiêu này là xem xét cách bản dịch từ τελειόω là “trọn vẹn” đã hình thành và giữ vững vị trí của mình trong truyền thống dịch Kinh Thánh tiếng Anh như thế nào. Việc chọn từ “trọn vẹn” để dịch từ τελειόω trong I Giăng (bao gồm cả I Giăng 2:5 cũng như các câu trong chương 4) có thể được truy về tận John Wycliffe, hoặc ít nhất là bản dịch vào thế kỷ XIV gắn liền với tên ông. Wycliffe và các cộng sự không dịch từ bản văn Hy Lạp của Tân Ước, mà làm việc dựa trên bản Latin Vulgate. Cách dịch I Giăng 4:12 trong Vulgate là: “Deum nemo vidit umquam. si diligamus invicem deus in nobis manet et caritas eius in nobis perfecta est.” Rõ ràng bản dịch của Wycliffe - “no man say [= ‘saw’] euer god; if we louen togidre, god dwellith in vs, and the charite of hym is perfit in vs” - được dựa trên nguyên văn này. Vulgate cũng sử dụng cách diễn đạt tương tự trong các câu 4:17–18 và 2:5, và Wycliffe cũng làm như vậy.

BẢNG 1: CÁC BẢN DỊCH SỚM

Bản dịchĐịa chỉNội dung
VulgateI Giăng 2:5qui autem servat verbum eius vere in hoc caritas dei perfecta est in hoc scimus quoniam in ipso sumus
I Giăng 4:12deum nemo vidit umquam si diligamus invicem deus in nobis manet et caritas eius in nobis perfecta est
I Giăng 4:17in hoc perfecta est caritas nobiscum ut fiduciam habeamus in die iudicii quia sicut ille est et nos sumus in hoc mundo
I Giăng 4:18timor non est in caritate sed perfecta caritas foras mittit timorem quoniam timor poenam habet qui autem timet non est perfectus in caritate
Wycliffe (1380s)I Giăng 2:5But the charite of god is perfit verili in him, that kepith his word. In this thing we witen, that we ben in hym, if we ben perfit in hym.
I Giăng 4:12No man say euer god; if we louen togidre, god dwellith in vs, and the charite of hym is perfit in vs.
I Giăng 4:17In this thing is the perfit charite of god with vs, that we haue trist in the dai of doom; for as he is, also we ben in this world.
I Giăng 4:18Drede is not in charite, but perfit charite puttith out drede; for drede hath peyne; but he that dredith, is not perfit in charite.
Tyndale (1534)I Giăng 2:5Whosoever kepeth his worde in him is the love of god parfect in dede. And therby knowe we that we are in him.
I Giăng 4:12No man hath sene god at enytyme. Yf we love one another god dwelleth in vs and his love is parfect in vs.
I Giăng 4:17Herin is the love perfect in vs, that we shuld have trust in the daye of iudgement: For as he is even so are we in this worlde.
I Giăng 4:18Ther is no feare in love, but parfect love casteth out all feare, for feare hath paynfulnes. He that feareth, is not parfect in love.
Coverdale (1535)I Giăng 2:5But who so kepeth his worde, in him is the loue of God perfecte in dede. Hereby knowe we, that we are in him.
I Giăng 4:12No man hath sene God at eny tyme. Yf we loue one another, God dwelleth in vs, and his loue is perfecte in vs.
I Giăng 4:17Here in is the loue perfecte with vs, that we shulde haue a fre boldnesse in the daye of iudgment: for as he is, euen so are we in this worlde.
I Giăng 4:18Feare is not in loue, but perfecte loue casteth out feare: for feare hath paynefulnes. He that feareth, is not perfecte in loue.
Geneva (1560)I Giăng 2:5But hee that keepeth his worde, in him is the loue of God perfect in deede: hereby wee knowe that ye are in him.
I Giăng 4:12No man hath seene God at any time. If we loue one another, God dwelleth in vs, and his loue is perfect in vs.
I Giăng 4:17Herein is that loue perfect in vs, that we should haue boldnes in the day of iudgement: for as he is, euen so are we in this world.
I Giăng 4:18There is no feare in loue, but perfect loue casteth out feare: for feare hath painefulnesse: and he that feareth, is not perfect in loue.
Bishops (1568)I Giăng 2:5But who so kepeth his worde, in him is the loue of God perfect in deede. Hereby knowe we that we are in hym.
I Giăng 4:12No man hath seene God at any time. If we loue one another, God dwelleth in vs, and his loue is perfect in vs.
I Giăng 4:17Herein is the loue perfect in vs, that we shoulde haue boldnesse in the day of iudgement: For as he is, euen so are we in this worlde.
I Giăng 4:18There is no feare in loue, but perfect loue casteth out feare: for feare hath paynefulnesse. He that feareth, is not perfect in loue.
KJV (1611)I Giăng 2:5But whoso keepeth his word, in him verily is the love of God perfected: hereby know we that we are in him.
I Giăng 4:12No man hath seen God at any time. If we love one another, God dwelleth in us, and his love is perfected in us.
I Giăng 4:17Herein is our love made perfect, that we may have boldness in the day of judgment: because as he is, so are we in this world.
I Giăng 4:18There is no fear in love; but perfect love casteth out fear: because fear hath torment. He that feareth is not made perfect in love.
Douay-Rheims (1610)I Giăng 2:5But he that keepeth his word, in him in very deed the charity of God is perfected; and by this we know that we are in him.
I Giăng 4:12No man hath seen God at any time. If we love one another, God abideth in us, and his charity is perfected in us.
I Giăng 4:17In this is the charity of God perfected with us, that we may have confidence in the day of judgment: because as he is, we also are in this world
I Giăng 4:18Fear is not in charity: but perfect charity casteth out fear, because fear hath pain. And he that feareth, is not perfected in charity.

William Tyndale, dù là dựa theo bản dịch của Wycliffe hay trực tiếp theo bản Vulgate, đã dịch tương tự trong I Giăng 4:12, “no man hath sene god at enytyme. Yf we love one another god dwelleth in vs and his love is parfect in vs.” Cách diễn đạt này, với một số biến thể chính tả, tiếp tục xuất hiện trong các bản Kinh Thánh tiếng Anh kế tiếp, và bản KJV chỉ sửa đổi đôi chút, kết thúc với câu: “his love is perfected in us.” (Bản Douay-Rheims thì chỉ khác bằng cách dùng từ “abideth” thay vì “dwelleth” và từ La-tinh hóa “charity” thay cho “love.”) Các trường hợp khác của τελειόω trong I Giăng cũng được dịch tương tự từ Tyndale đến KJV. Điều đáng chú ý là cả bản KJV và Douay-Rheims đều chuyển từ tính từ “perfect” sang các động từ “perfected” và “made perfect” trong các câu này, có lẽ nhằm phản ánh chính xác hơn tính động từ trong cách diễn đạt nguyên ngữ Hy Lạp.

Các dịch giả người Anh và Mỹ thế kỷ XIX, dù đã đưa vào một số thay đổi nhỏ trong các câu này nhằm phản ánh những tiến bộ trong việc hiểu văn bản Hy Lạp, vẫn giữ lại hình thức “trọn vẹn” để dịch các hình thức của τελειόω (xem bảng 2). Các bản RSV và NRSV tiếp tục theo truyền thống này, mặc dù bản NRSV đã chuyển từ cách diễn đạt của RSV, “người nào sợ hãi thì không được trọn vẹn trong tình yêu thương,” ở cuối câu 4:18 (KJV: “He that feareth is not made perfect in love”) sang “ai sợ hãi thì chưa đạt đến sự trọn vẹn trong tình yêu thương.” Thật ra, cách diễn đạt này dường như còn nâng chuẩn mực của tình yêu lên cao hơn nữa và làm tăng cảm giác rằng chính tín hữu phải có trách nhiệm đạt đến chuẩn mực ấy.

BẢNG 2: CÁC BẢN DỊCH HIỆN ĐẠI THEO PHƯƠNG PHÁP TƯƠNG ĐƯƠNG HÌNH THỨC

Bản dịchĐịa chỉNội dung
ERV (1885)I Giăng 2:5but whoso keepeth his word, in him verily hath the love of God been perfected. Hereby know we that we are in him:
I Giăng 4:12No man hath beheld God at any time: if we love one another, God abideth in us, and his love is perfected in us:
I Giăng 4:17Herein is love made perfect with us, that we may have boldness in the day of judgment; because as he is, even so are we in this world.
I Giăng 4:18There is no fear in love: but perfect love casteth out fear, because fear hath punishment; and he that feareth is not made perfect in love.
ASV (1901)I Giăng 2:5but whoso keepeth his word, in him verily hath the love of God been perfected. Hereby we know that we are in him:
I Giăng 4:12No man hath beheld God at any time: if we love one another, God abideth in us, and his love is perfected in us:
I Giăng 4:17Herein is love made perfect with us, that we may have boldness in the day of judgment; because as he is, even so are we in this world.
I Giăng 4:18There is no fear in love: but perfect love casteth out fear, because fear hath punishment; and he that feareth is not made perfect in love.
RSV (1952, 2nd edition 1971)I Giăng 2:5but whoever keeps his word, in him truly love for God is perfected. By this we may be sure that we are in him:
I Giăng 4:12No man has ever seen God; if we love one another, God abides in us and his love is perfected in us.
I Giăng 4:17In this is love perfected with us, that we may have confidence for the day of judgment, because as he is so are we in this world.
I Giăng 4:18There is no fear in love, but perfect love casts out fear. For fear has to do with punishment, and he who fears is not perfected in love.
NKJV (1982)I Giăng 2:5But whoever keeps His word, truly the love of God is perfected in him. By this we know that we are in Him.
I Giăng 4:12No one has seen God at any time. If we love one another, God abides in us, and His love has been perfected in us.
I Giăng 4:17Love has been perfected among us in this: that we may have boldness in the day of judgment; because as He is, so are we in this world.
I Giăng 4:18There is no fear in love; but perfect love casts out fear, because fear involves torment. But he who fears has not been made perfect in love.
NRSV (1989)I Giăng 2:5but whoever obeys his word, truly in this person the love of God has reached perfection. By this we may be sure that we are in him:
I Giăng 4:12No one has ever seen God; if we love one another, God lives in us, and his love is perfected in us.
I Giăng 4:17Love has been perfected among us in this: that we may have boldness on the day of judgment, because as he is, so are we in this world.
I Giăng 4:18There is no fear in love, but perfect love casts out fear; for fear has to do with punishment, and whoever fears has not reached perfection in love.
NIV (1973; 1984)I Giăng 2:5But if anyone obeys his word, God’s love is truly made complete in him. This is how we know we are in him:
I Giăng 4:12No one has ever seen God; but if we love one another, God lives in us and his love is made complete in us.
I Giăng 4:17In this way, love is made complete among us so that we will have confidence on the day of judgment, because in this world we are like him.
I Giăng 4:18There is no fear in love. But perfect love drives out fear, because fear has to do with punishment. The one who fears is not made perfect in love.
NIV (2011)I Giăng 2:5But if anyone obeys his word, love for God is truly made complete in them. This is how we know we are in him:
I Giăng 4:12No one has ever seen God; but if we love one another, God lives in us and his love is made complete in us.
I Giăng 4:17This is how love is made complete among us so that we will have confidence on the day of judgment: In this world we are like Jesus.
I Giăng 4:18There is no fear in love. But perfect love drives out fear, because fear has to do with punishment. The one who fears is not made perfect in love.
NAB (1991; revised edition 2011)I Giăng 2:5But whoever keeps his word, the love of God is truly perfected in him. This is the way we may know that we are in union with him:
I Giăng 4:12No one has ever seen God. Yet, if we love one another, God remains in us, and his love is brought to perfection in us.
I Giăng 4:17In this is love brought to perfection among us, that we have confidence on the day of judgment because as he is, so are we in this world.
I Giăng 4:18In this is love brought to perfection among us, that we have confidence on the day of judgment because as he is, so are we in this world.
NASB, updated edition (1995)I Giăng 2:5but whoever keeps His word, in him the love of God has truly been perfected. By this we know that we are in Him:
I Giăng 4:12No one has seen God at any time; if we love one another, God abides in us, and His love is perfected in us.
I Giăng 4:17By this, love is perfected with us, so that we may have confidence in the day of judgment; because as He is, so also are we in this world.
I Giăng 4:18There is no fear in love; but perfect love casts out fear, because fear involves punishment, and the one who fears is not perfected in love.
ESV (2001)I Giăng 2:5but whoever keeps his word, in him truly the love of God is perfected. By this we may know that we are in him:
I Giăng 4:12No one has ever seen God; if we love one another, God abides in us and his love is perfected in us.
I Giăng 4:17By this is love perfected with us, so that we may have confidence for the day of judgment, because as he is so also are we in this world.
I Giăng 4:18There is no fear in love, but perfect love casts out fear. For fear has to do with punishment, and whoever fears has not been perfected in love.
Holman Christian Standard Bible (2009)I Giăng 2:5But whoever keeps His word, truly in him the love of God is perfected. This is how we know we are in Him:
I Giăng 4:12No one has ever seen God. If we love one another, God remains in us and His love is perfected in us.
I Giăng 4:17In this, love is perfected with us so that we may have confidence in the day of judgment, for we are as He is in this world.
I Giăng 4:18There is no fear in love; instead, perfect love drives out fear, because fear involves punishment. So the one who fears has not reached perfection in love.
CEB (2010)I Giăng 2:5But the love of God is truly perfected in whoever keeps his word. This is how we know we are in him.
I Giăng 4:12No one has ever seen God. If we love each other, God remains in us and his love is made perfect in us.
I Giăng 4:17This is how love has been perfected in us, so that we can have confidence on the Judgment Day, because we are exactly the same as God is in this world.
I Giăng 4:18There is no fear in love, but perfect love drives out fear, because fear expects punishment. The person who is afraid has not been made perfect in love.

Các bản dịch lớn khác trong suốt thế kỷ XX và sang thế kỷ XXI hiếm khi rời khỏi truyền thống này. Điều này đúng với các bản dịch theo phương pháp tương đương hình thức vốn đi theo dòng KJV-ASV, như NKJV, NASB, và các bản gần đây hơn như ESV và Holman Christian Standard Bible. Điều này cũng đúng với bản dịch Roman Catholic NAB (bao gồm cả phiên bản hiệu đính vừa được phát hành gần đây). Bản dịch mới nhất tại thời điểm viết tác phẩm này, CEB (có vẻ như tìm cách dung hòa giữa hai phương pháp dịch tương đương hình thức và tương đương chức năng), cũng sử dụng các hình thức của từ “trọn vẹn”. Tình trạng tương tự cũng xuất hiện trong nhiều bản dịch theo phương pháp tương đương chức năng, nơi mà người ta có thể kỳ vọng có sự sáng tạo hơn khi các dịch giả tìm cách chuyển tải ý tưởng thay vì chỉ đơn thuần là từ vựng và ngữ pháp. Một phổ rộng các bản dịch theo trường phái này vẫn tiếp tục sử dụng các hình thức của “trọn vẹn” để dịch từ τελειόω trong hầu hết các trường hợp xuất hiện của nó trong I Giăng (xem bảng 3).

BẢNG 3: CÁC BẢN DỊCH HIỆN ĐẠI THEO PHƯƠNG PHÁP TƯƠNG ĐƯƠNG CHỨC NĂNG

Bản dịchĐịa chỉNội dung
BBE (1965)I Giăng 2:5But in every man who keeps his word, the love of God is made complete. By this we may be certain that we are in him:
I Giăng 4:12No man has ever seen God: if we have love for one another, God is in us and his love is made complete in us:
I Giăng 4:17In this way love is made complete in us, so that we may be without fear on the day of judging, because as he is, so are we in this world.
I Giăng 4:18There is no fear in love: true love has no room for fear, because where fear is, there is pain; and he who is not free from fear is not complete in love.
JB (1966)I Giăng 2:5But when anyone does obey what he has said, God’s love comes to perfection in him. We can be sire that we are in God.
I Giăng 4:12No one has ever seen God; but as long as we love one another God will live in us and his love will be complete in us.
I Giăng 4:17Love will come to its perfection in us when we can face the Day of Judgment without fear; because even in this world we have become as he is.
I Giăng 4:18Love will come to its perfection in us when we can face the Day of Judgment without fear; because even in this world we have become as he is.
NJB (1985)I Giăng 2:5But anyone who does keep his word, in such a one God’s love truly reaches its perfection. This is the proof that we are in God.
I Giăng 4:12No one has ever seen God, but as long as we love one another God remains in us and his love comes to its perfection in us.
I Giăng 4:17Love comes to its perfection in us when we can face the Day of Judgement fearlessly, because even in this world we have become as he is.
I Giăng 4:18Love comes to its perfection in us when we can face the Day of Judgement fearlessly, because even in this world we have become as he is.
TEV, 3rd edition (1971)I Giăng 2:5But whoever obeys is word is the one whose love for God has really been made perfect. This is how we can be sure that we live in God:
I Giăng 4:12No one has ever seen God; if we love one another, God lives in us and his love is made perfect in us.
I Giăng 4:17The purpose of love being made perfect in us is that we may have courage on Judgment Day; and we will have it because our life in this world is the same as Christ’s.
I Giăng 4:18There is no fear in love; perfect love drives out all fear. So then, love has not been made perfect in the one who fears, because fear has to do with punishment.
GNT, 2nd edition (1992)I Giăng 2:5But if we obey his word, we are the ones whose love for God has really been made perfect. This is how we can be sure that we are in union with God:
I Giăng 4:12No one has ever seen God, but if we love one another, God lives in union with us, and his love is made perfect in us.
I Giăng 4:17No one has ever seen God, but if we love one another, God lives in union with us, and his love is made perfect in us.
I Giăng 4:18There is no fear in love; perfect love drives out all fear. So then, love has not been made perfect in anyone who is afraid, because fear has to do with punishment.
NEB (1970)I Giăng 2:5but in the man who is obedient to his word, the divine love has indeed come to its perfection. Here is the test by which we can make sure that we are in him:
I Giăng 4:12Though God has never been seen by any man, God himself dwells in us if we love one another; his love is brought to perfection within us.
I Giăng 4:17This is for us the perfection of love, to have confidence on the day of judgement, and this we can have, because even in this world we are as he is.
I Giăng 4:18There is no room for fear in love; perfect love banishes fear. For fear brings with it the pains of judgement, and anyone who is afraid has not attained to love in its perfection.
REB (1989)I Giăng 2:5but whoever is obedient to his word, in him the love of God is truly made perfect. This is how we can be sure that we are in him:
I Giăng 4:12God has never been seen by anyone, but if we love one another, he himself dwells in us; his love is brought to perfection within us.
I Giăng 4:17This is how love has reached its perfection among us, so that we may have confidence on the day of judgement; and this we can have, because in this world we are as he is.
I Giăng 4:18In love there is no room for fear; indeed perfect love banishes fear. For fear has to do with punishment, and anyone who is afraid has not attained to love in its perfection.
CEV (1995)I Giăng 2:5We truly love God only when we obey him as we should, and then we know that we belong to him.
I Giăng 4:12No one has ever seen God. But if we love each other, God lives in us, and his love is truly in our hearts.
I Giăng 4:17If we truly love others and live as Christ did in this world, we won’t be worried about the day of judgment.
I Giăng 4:18A real love for others will chase those worries away. The thought of being punished is what makes us afraid. It shows that we have not really learned to love.
God’s Word (1995)I Giăng 2:5But whoever obeys what Christ says is the kind of person in whom God’s love is perfected. That’s how we know we are in Christ.
I Giăng 4:12No one has ever seen God. If we love each other, God lives in us, and his love is perfected in us.
I Giăng 4:17God’s love has reached its goal in us. So we look ahead with confidence to the day of judgment. While we are in this world, we are exactly like him with regard to love.
I Giăng 4:18No fear exists where his love is. Rather, perfect love gets rid of fear, because fear involves punishment. The person who lives in fear doesn’t have perfect love.
NLT, 2nd edition (2004)I Giăng 2:5But those who obey God’s word truly show how completely they love him. That is how we know we are living in him.
I Giăng 4:12No one has ever seen God. But if we love each other, God lives in us, and his love is brought to full expression in us.
I Giăng 4:17And as we live in God, our love grows more perfect. So we will not be afraid on the day of judgment, but we can face him with confidence because we live like Jesus here in this world.
I Giăng 4:18Such love has no fear, because perfect love expels all fear. If we are afraid, it is for fear of punishment, and this shows that we have not fully experienced his perfect love.
NCV, revised edition (2005)I Giăng 2:5But if someone obeys God’s teaching, then in that person God’s love has truly reached its goal. This is how we can be sure we are living in God:
I Giăng 4:12No one has ever seen God, but if we love each other, God lives in us, and his love is made perfect in us.
I Giăng 4:17This is how love is made perfect in us: that we can be without fear on the day God judges us, because in this world we are like him.
I Giăng 4:18Where God’s love is, there is no fear, because God’s perfect love drives out fear. It is punishment that makes a person fear, so love is not made perfect in the person who fears.
NET (2005)I Giăng 2:5But whoever obeys his word, truly in this person the love of God has been perfected. By this we know that we are in him.
I Giăng 4:12No one has seen God at any time. If we love one another, God resides in us, and his love is perfected in us.
I Giăng 4:17By this love is perfected with us, so that we may have confidence in the day of judgment, because just as Jesus is, so also are we in this world.
I Giăng 4:18There is no fear in love, but perfect love drives out fear, because fear has to do with punishment. The one who fears punishment has not been perfected in love.

Việc các bản dịch truyền thống này vẫn tiếp tục tồn tại, ngay cả trong những bản dịch không chịu ảnh hưởng bởi di sản truyền thống hoặc chủ ý sử dụng ngôn ngữ mới hơn, dễ tiếp cận hơn, có lẽ có thể được giải thích đơn giản là do “trọn vẹn” được xem là cách dịch tốt nhất trong tiếng Anh hiện đại cho các hình thức của từ τελειόω. Dù sao đi nữa, chúng ta phải cho rằng đó là quan điểm của các dịch giả ấy. Tuy nhiên, tôi sẽ trình bày những lý do để nghi ngờ quan điểm đó, và thực tế là một số bản dịch hiện đại khác đã tiếp cận theo hướng khác, cho thấy rằng các dịch giả ấy đã nhận ra những khó khăn khi giữ cách dịch truyền thống.

Việc rời khỏi cách dịch truyền thống cho τελειόω là “trọn vẹn” lần đầu tiên xuất hiện trong các bản dịch tư nhân (ý tôi là những bản dịch được thực hiện chủ yếu bởi cá nhân, không có sự hỗ trợ đáng kể từ các tổ chức hay cơ quan). Dù một số dịch giả tư nhân thời kỳ đầu (gồm một vài bản dịch vào thế kỷ XIX, cũng như Richard Francis Weymouth và Edgar J. Goodspeed trong thế kỷ XX) vẫn giữ cách dịch “trọn vẹn”, nhiều người trong số họ đã tìm cách diễn đạt khác để truyền tải ý nghĩa của τελειόω (xem bảng 4).

BẢNG 4: CÁC BẢN DỊCH TƯ NHÂN

Bản dịchĐịa chỉNội dung
Webster (1833)I Giăng 2:5But whoever keepeth his word, in him verily is the love of God perfected: by this we know that we are in him.
I Giăng 4:12No man hath seen God at any time. If we love one another, God dwelleth in us, and his love is perfected in us.
I Giăng 4:17In this is our love made perfect, that we may have boldness in the day of judgment: because as he is, so are we in this world.
I Giăng 4:18There is no fear in love; but perfect love casteth out fear: because fear hath torment. He that feareth, is not made perfect in love.
Darby (1890)I Giăng 2:5but whoever keeps his word, in him verily the love of God is perfected. Hereby we know that we are in him.
I Giăng 4:12No one has seen God at any time: if we love one another, God abides in us, and his love is perfected in us.
I Giăng 4:17Herein has love been perfected with us that we may have boldness in the day of judgment, that even as he is, we also are in this world.
I Giăng 4:18: There is no fear in love, but perfect love casts out fear; for fear has torment, and he that fears has not been made perfect in love.
Young, 3rd edition (1898)I Giăng 2;:5and whoever may keep his word, truly in him the love of God hath been perfected; in this we know that in him we are.
I Giăng 4:12God no one hath ever seen; if we may love one another, God in us doth remain, and His love is having been perfected in us;
I Giăng 4:17In this made perfect hath been the love with us, that boldness we may have in the day of the judgment, because even as He is, we - we also are in this world.
I Giăng 4:18fear is not in the love, but the perfect love doth cast out the fear, because the fear hath punishment, and he who is fearing hath not been made perfect in the love;
Weymouth (1912)I Giăng 2:5But whoever obeys His Message, in him love for God has in very deed reached perfection. By this we can know that we are in Him.
I Giăng 4:12No one has ever yet seen God. If we love one another, God continues in union with us, and His love in all its perfection is in our hearts.
I Giăng 4:17Our love will be manifested in all its perfection by our having complete confidence on the day of the Judgement; because just what He is, we also are in the world.
I Giăng 4:18Love has in it no element of fear; but perfect love drives away fear, because fear involves pain, and if a man gives way to fear, there is something imperfect in his love.
Moffatt (1913; 1926)I Giăng 2:5but whoever obeys his word, in him love to God is really complete. This is how we may be sure we are in him:
I Giăng 4:12God no one has ever seen; but if we love one another, then God remains within us, and love for him is complete in us.
I Giăng 4:17Love is complete with us when we have absolute confidence about the day of judgment, since in this world we are living as He lives.
I Giăng 4:18Love has no dread in it; no, love in its fulness drives all dread away, for dread has to do with punishment - anyone who has dread, has not reached the fulness of love.
Goodspeed (1939)I Giăng 2:5but whoever obeys his message really has the love of God in perfection in his heart. This is the way we can be sure that we are in union with him;
I Giăng 4:12No one has ever seen God; yet if we love one another, God keeps in union with us and love for him attains perfection in our hearts.
I Giăng 4:17Love attains perfection in us, when we have perfect confidence about the Day of Judgment, because here in this world we are living as he lives.
I Giăng 4:18There is no fear in love, but perfect love drives out fear. For fear suggests punishment and no one who feels fear has attained perfect love.
Wuest (1961)I Giăng 2:5But whoever habitually with a solicitous care is keeping His word, truly, in this one the love of God has been brought to its completion with the present result that it is in that state of completion. In this we have an experiential knowledge that in Him we are.
I Giăng 4:12God in His [invisible] essence no one has ever yet beheld, with the result that no one has the capacity to behold Him. If we habitually are loving one another, God in us is abiding, and His love has been brought to its fullness in us and exists in that state of fullness.
I Giăng 4:17In this has been brought to completion the aforementioned love which is in us [produced by the Holy Spirit], which love exists in its completed state, resulting in our having unreservedness of speech at the day of the judgment, because just as that One is, also, as for us, we are in this world.
I Giăng 4:18Fear does not exist in the sphere of the aforementioned love. Certainly, this aforementioned love which exists in its completed state throws fear outside, because this fear has a penalty, and the one who fears has not been brought to completion in the sphere of this love, and is not in that state at present.
Phillips (1962)I Giăng 2:5In practice, the more a man learns to obey God’s laws the more truly and fully does he express his love for him. Obedience is the test of whether we really live “in God” or not.
I Giăng 4:12It is true that no human being has ever had a direct vision of God. Yet if we love each other God does actually live within us, and his love grows in us towards perfection.
I Giăng 4:17So our love for him grows more and more, filling us with complete confidence for the day when he shall judge all men - for we realise that our life in this world is actually his life lived in us.
I Giăng 4:18Love contains no fear - indeed fully-developed love expels every particle of fear, for fear always contains some of the torture of feeling guilty. This means that the man who lives in fear has not yet had his love perfected.
Beck (1963)I Giăng 2:5But if you do what He says, God’s love has in you really accomplished what He wants. That’s how we know we’re in Him.
I Giăng 4:12Nobody has ever seen God. If we love one another, God lives in us, and His love has accomplished in us what He wants.
I Giăng 4:17His love has accomplished what He wants when we can look ahead confidently to the day of judgment because we are what He is in this world.
I Giăng 4:18Such love isn’t terrified, but the finest love throws out terror. We are terrified by punishment, and if we’re terrified, our love isn’t at its best.
AMP (1965; 1987)I Giăng 2:5But he who keeps (treasures) His Word [who bears in mind His precepts, who observes His message in its entirety], truly in him has the love of and for God been perfected (com￾pleted, reached maturity). By this we may perceive (know, recognize, and be sure) that we are in Him:
I Giăng 4:12No man has at any time [yet] seen God. But if we love one another, God abides (lives and remains) in us and His love (that love which is essentially His) is brought to comple￾tion (to its full maturity, runs its full course, is perfected) in us!
I Giăng 4:17In this [union and communion with Him] love is brought to completion and attains perfection with us, that we may have confidence for the day of judgment [with assurance and boldness to face Him], because as He is, so are we in this world.
I Giăng 4:18There is no fear in love [dread does not exist], but full￾grown (complete, perfect) love turns fear out of doors and expels every trace of terror! For fear brings with it the thought of punishment, and [so] he who is afraid has not reached the full maturity of love [is not yet grown into love’s complete per￾fection].
LB (1971)I Giăng 2:5But those who do what Christ tells them to will learn to love God more and more. That is the way to know whether or not you are a Christian.
I Giăng 4:12For though we have never yet seen God, when we love each other God lives in us and his love within us grows ever stronger.
I Giăng 4:17And as we live with Christ, our love grows more perfect and complete; so we will not be ashamed and embarrassed at the day of judgment, but can face him with confidence and joy, because he loves us and we love him too.
I Giăng 4:18We need have no fear of someone who loves us perfectly; his perfect love for us eliminates all dread of what he might do to us. If we are afraid, it is for fear of what he might do to us, and shows that we are not fully convinced that he really loves us.
The Message (2002)I Giăng 2:5But the one who keeps God’s word is the person in whom we see God’s mature love. This is the only way to be sure we’re in God.
I Giăng 4:12No one has seen God, ever. But if we love one another, God dwells deeply within us, and his love becomes complete in us - perfect love!
I Giăng 4:17This way, love has the run of the house, becomes at home and mature in us, so that we’re free of worry on Judgment Day - our standing in the world is identical with Christ’s.
I Giăng 4:18There is no room in love for fear. Well-formed love banishes fear. Since fear is crippling, a fearful life-fear of death, fear of judgment - is one not yet fully formed in love.

Người tiên phong, từ rất sớm, là James Moffatt, người đã sử dụng từ “hoàn tất” (complete) thay vì “trọn vẹn” (perfect) trong bản dịch Tân Ước năm 1913 (và dùng từ “sự trọn đầy” ở I Giăng 4:18). Đây là một bước chuyển quan trọng: đối với các độc giả quen thuộc với tiếng Anh hiện đại, nói một điều gì đó là “hoàn tất” không hề đồng nghĩa với việc nó là “trọn vẹn”. Sự đổi mới của Moffatt đã chứng minh được tính hiệu quả, đặc biệt trong các bản dịch theo phương pháp tương đương chức năng. Chẳng hạn, bản JB dùng từ “complete” trong I Giăng 4:12, trong khi vẫn giữ các hình thức “perfect” ở những trường hợp khác (mặc dù bản NJB lại quay trở lại với cách dịch “perfection” ngay cả trong 4:12).

Hai bản dịch được thiết kế đặc biệt cho độc giả có khả năng đọc hạn chế còn đi xa hơn nữa. Bản BBE dùng “complete” trong tất cả các trường hợp, ngoại trừ phần đầu của I Giăng 4:18. Bản CEV, rất tự do, chọn các từ như “thật sự” (truly) hoặc (trong 4:18) “thật” (real[ly]). Gần đây hơn, bản NLT đã chọn cách dịch “completely” trong I Giăng 2:5 và “bày tỏ trọn vẹn” (brought to full expression) trong 4:12, nhưng lại quay về với “perfect” trong 4:17–18.

Trong nhóm các bản dịch theo phương pháp tương đương hình thức, bản NIV đã theo bước Moffatt, dùng “made complete” trong I Giăng 2:5 cũng như trong 4:12, 17, dù lại bất ngờ quay lại dùng “perfect” trong 4:18; các bản hiệu đính sau đó vẫn giữ lại những lựa chọn này.

Các bản dịch tư nhân gần đây có xu hướng diễn giải tự do hơn (xem bảng 4). (Tôi không cố gắng khảo sát đầy đủ tất cả các bản dịch tư nhân, mà chỉ tập trung vào những bản tôi đã xem qua và có sự khác biệt đáng kể so với cách dịch “trọn vẹn.”) J. B. Phillips đã dịch theo hướng nhấn mạnh sự tăng trưởng trong tình yêu thương, liên hệ sự tăng trưởng này với “sự trọn vẹn,” và trong I Giăng 4:18a, ông dùng cụm “tình yêu được phát triển đầy đủ.” Bản The Living Bible (LB), một biểu tượng của phong trào Tin Lành những năm 1970 bất chấp việc Kenneth Taylor đôi khi diễn giải mang tính định hướng thần học, cũng dịch tương tự - ngoại trừ trong câu 4:18, nơi ông giải thích theo quan điểm tình yêu của Đức Chúa Trời, chứ không phải tình yêu của tín hữu. Bản dịch tư nhân gần đây nhất, The Message của Eugene Peterson - một tác phẩm có thể đang trên đường trở thành biểu tượng riêng - sử dụng nhiều cách diễn đạt khá đa dạng và không đồng đều về mặt phong cách: từ “hoàn tất” (complete) và “trọn vẹn” (perfect), đến “trưởng thành” (mature), “được hình thành tốt” (well-formed), hay thậm chí “tình yêu chiếm trọn không gian sống” (love that has the run of the house).

Hai bản dịch tư nhân mang tính đại diện của giữa thế kỷ XX đã tiếp cận công việc dịch Kinh Thánh theo hướng mở rộng. Bản AMP, do Frances Siewert biên soạn (với sự hỗ trợ của Lockman Foundation), luân phiên sử dụng các hình thức của các từ như “trọn vẹn,” “hoàn tất,” “trưởng thành” và các thuật ngữ khác, cả bên trong lẫn bên ngoài ngoặc đơn và ngoặc vuông, để chuyển dịch các từ τελειόωτέλειος trong I Giăng. Dù khá cồng kềnh, cách tiếp cận này thật sự giúp trình bày một cách tương đối toàn diện cách mà người dịch hiểu về thông điệp của I Giăng. Bản dịch mở rộng của Kenneth Wuest - học thuật nhưng cực kỳ tường minh đến mức rườm rà - thiên về cách dịch là “hoàn tất” (completion) (nhưng dùng từ “sự trọn đầy” trong I Giăng 4:12), kèm theo nhiều chú thích nhằm giúp độc giả không biết tiếng Hy Lạp cảm nhận được toàn bộ ý nghĩa của thì hoàn thành trong nguyên ngữ.

Tôi để dành phần cuối cùng này cho một trong những bản dịch tư nhân Tân Ước thú vị nhất cho mục đích khảo sát của chúng ta. William Beck là một mục sư Lutheran, biên tập viên, và giáo sư, người đã thực hiện một bản dịch Tân Ước “bằng ngôn ngữ đương đại” nhằm giúp độc giả phổ thông dễ tiếp cận (Beck 1963). Dù bản dịch của ông có những giá trị riêng, cách ông chuyển ngữ các câu Kinh Thánh liên quan đến nghiên cứu của chúng ta thật đáng chú ý. Thay vì dùng các biến thể của “trọn vẹn,” “hoàn tất,” hay “trưởng thành,” Beck đã dịch I Giăng 4:12 như sau: “nếu chúng ta yêu thương nhau, thì Đức Chúa Trời sống trong chúng ta, và tình yêu của Ngài đã hoàn thành nơi chúng ta điều Ngài mong muốn” (cách dịch tương tự cũng được dùng trong 2:5 và 4:17).

Khi không chỉ đề cập đến trạng thái cuối cùng của tình yêu, mà còn nhấn mạnh đến mục đích của Đức Chúa Trời, Beck đã mở ra một góc nhìn mới mẻ đối với ý nghĩa của phân đoạn này (cho dù chính ông có nhận ra điều đó hay không - các cụm “tình yêu cao quý nhất” và “tình yêu… ở mức tốt nhất” trong 4:18 thì kém rõ ràng hơn). Đáng tiếc là nhận định sâu sắc đó của ông lại không được các dịch giả khác tiếp nhận. Thật vậy, ngay cả trong các bản hiệu đính kế tiếp của tác phẩm này - mà về sau trở thành bản dịch God’s Word - thì những cách dịch độc đáo của Beck trong các câu này hầu như đã bị loại bỏ hoàn toàn. Chỉ riêng trong 4:17, chúng ta mới thấy lại ý nghĩa tương tự: “Tình yêu của Đức Chúa Trời đã đạt đến mục đích nơi chúng ta.” Cách dịch này cũng được tìm thấy trong I Giăng 2:5 trong bản NCV: “Nhưng nếu ai vâng theo lời dạy của Đức Chúa Trời, thì tình yêu của Ngài trong người ấy thật đã đạt đến mục đích”; tuy nhiên, bản dịch này cũng tiếp tục dùng hình thức “trọn vẹn” trong tất cả các trường hợp ở chương 4.

Việc liên tục sử dụng các hình thức của từ “trọn vẹn” để dịch τελειόω trong I Giăng không phải điều gì đáng ngạc nhiên. “Tình yêu trọn vẹn” là một cụm từ gần như không thể cưỡng lại trong tiếng Anh hiện đại, và khái niệm trọn vẹn (perfection) là một khái niệm thần học quen thuộc - dù đôi khi gây bối rối - đối với các học giả, giảng sư, và cả những độc giả Kinh Thánh bình thường. Nhưng chính điều đó lại là vấn đề: từ “trọn vẹn” khơi dậy vô số sắc thái, ám chỉ và hàm ý đối với người dùng Kinh Thánh ngày nay, mà phần lớn hoàn toàn không liên quan đến từ Hy Lạp mà I Giăng thật sự sử dụng.

Trong bản Vulgate, việc dùng các hình thức của từ perfectus để dịch các thể bị động hoàn thành của τελειόω trong I Giăng là điều dễ hiểu. Là phân từ bị động của động từ perficio, perfectus có nghĩa:

  • “đã hoàn tất,” “đầy đủ,” “trọn vẹn,” “tốt đẹp” (Lewis và Short, 1879, từ mục “perficio”);
  • “trưởng thành,” “được thực hiện đầy đủ,” “phát triển hoặc hoàn thành để có đầy đủ các phẩm chất mong muốn” (Glare 1982, mục từ “perfectus”).

Còn từ perficio có nghĩa:

  • “đạt được,” “thi hành,” “thực hiện,” “hoàn thành,” “làm xong,” “hoàn tất,” “làm cho trọn vẹn” (Lewis và Short 1879, mục từ “perficio”); hoặc
  • “đưa đến mức độ phát triển cao nhất,” “làm cho trưởng thành,” “thiết lập,” “ổn định” (Glare 1982, mục từ “perficio”).

Như chúng ta sẽ thấy bên dưới, các nghĩa này rất gần với phổ ngữ nghĩa của τελειόω; và điều đáng chú ý là một số từ tiếng Anh vừa nêu cũng được các bản dịch hiện đại sử dụng để chuyển ngữ τελειόω trong Phúc Âm Giăng. Rất có thể các từ phát sinh từ perfectus cũng từng là lựa chọn hợp lý khi dùng để chuyển ngữ τελειόω trong tiếng Anh thế kỷ XIV–XVII. Tuy nhiên, ngày nay từ “trọn vẹn” (perfect) trong tiếng Anh không còn mang ý nghĩa giống với perficioperfectus trong tiếng La-tinh, và cũng không đồng nghĩa với τελειόωτέλειος trong tiếng Hy Lạp.

Từ điển Webster định nghĩa “perfect” trong cách dùng đương đại với các nghĩa như: “hoàn toàn không có lỗi hay khuyết điểm; đạt chuẩn mực cao nhất của sự xuất sắc: không tì vết”; “đáp ứng mọi yêu cầu”; “không pha trộn hay giới hạn: thuần túy, toàn diện”; “không thiếu yếu tố nào; phát triển đầy đủ: hoàn tất, trọn vẹn”; “không có điều kiện kèm theo: tuyệt đối, dứt khoát” (Gove 2002, từ mục “perfect”). Dĩ nhiên có một số điểm giao nhau giữa vài nghĩa vừa kể và ý nghĩa của perfectus cũng như τελειόω. Nhưng trong Webster không hề có (hoặc hàm ý) các nghĩa như “đã hoàn tất,” “được đưa đến kết thúc,” hay “được thực hiện đầy đủ.” Nhìn chung, các nét nghĩa thông dụng của “perfect” trong tiếng Anh hiện đại thật sự không phù hợp để chuyển ngữ τελειόωτέλειος một cách chính xác.

Chúng ta đã tiếp tục sử dụng từ “trọn vẹn” để dịch các hình thức của τελειόω, không chỉ trong Kinh Thánh mà cả trong các tác phẩm kinh điển, mà không nhận ra rằng ý nghĩa của từ “trọn vẹn” trong tiếng Anh đã trượt xa đáng kể khỏi ý nghĩa của perfectus trong tiếng La-tinh - đến mức có thể khiến chúng ta hiểu sai những gì các văn bản cổ đang thực sự truyền đạt. Cụ thể, từ “trọn vẹn” đã và vẫn đang được sử dụng để chuyển ngữ các hình thức của τελειόω trong thư I Giăng, trong phần lớn truyền thống Kinh Thánh tiếng Anh, từ Wycliffe cho đến CEB. Tôi nghi ngờ tính phù hợp của việc tiếp tục dùng từ “trọn vẹn” trong I Giăng, nhưng sự nghi ngờ này chỉ có thể được xác minh khi ta khảo sát τελειόω thật sự có nghĩa gì và được sử dụng như thế nào, đặc biệt trong các tác phẩm thuộc văn chương Giăng.

II. Ý NGHĨA CỦA TỪ ΤΕΛΕΙΟΩ
#

2.1 Ý nghĩa của từ “τελειόω” trong tiếng Hy Lạp
#

Dĩ nhiên, ý nghĩa cơ bản của từ τελειόω là “làm cho τέλειος”, trong đó τέλειος là một tính từ thường được dịch là “trọn vẹn” hoặc “hoàn hảo.” Đây không phải là những từ xuất hiện phổ biến trong Tân Ước. Động từ này được dùng hai mươi ba lần, trong đó có chín lần trong thư Hê-bơ-rơ, năm lần trong sách Phúc Âm Giăng, và bốn lần trong thư I Giăng. Tính từ τέλειος xuất hiện mười chín lần và phân bố rộng hơn một chút, nhưng trong văn chương Giăng thì chỉ thấy một lần duy nhất, ở I Giăng 4:18.

Phân tích trong tự điển Hy Lạp - Anh của Bauer và Danker (BDAG, ấn bản thứ ba, năm 2000) đưa ra hai định nghĩa chính cho từ τελειόω.

  • Định nghĩa thứ nhất khá rõ ràng: “hoàn tất một hành động; hoàn thành; kết thúc; làm trọn.” Phần lớn các trường hợp sử dụng trong sách Phúc Âm Giăng được xếp vào định nghĩa này.
  • Định nghĩa thứ hai thì mơ hồ hơn: “vượt qua hoặc thay thế một tình trạng chưa hoàn chỉnh bằng một điều gì đó không thể bị phản đối; làm thành tựu; đưa đến chỗ hoàn tất/mục tiêu” (BDAG, mục từ τελειόω). Các chỗ dùng τελειόω trong thư Hê-bơ-rơ được phân loại vào các tiểu mục khác nhau trong nhóm định nghĩa này, và tất cả các chỗ dùng trong I Giăng được xếp vào tiểu mục e: “làm cho trọn vẹn.”

Nhưng nếu chúng ta không còn chắc chắn rằng “trọn vẹn” thật sự diễn đạt đúng ý nghĩa của τελειόω, thì sự phân tích này lại gợi lên một câu hỏi khác: “Vậy ‘làm cho trọn vẹn’ trong những phân đoạn này thật sự hàm ý điều gì?” Liệu nó có khác biệt thật sự với “hoàn thành, kết thúc, làm xong, hoàn tất” - nhất là khi “làm cho trọn vẹn” được xem là một tiểu mục nằm trong định nghĩa “đưa đến chỗ kết thúc, thành tựu mục tiêu”?

Đặc biệt đáng chú ý là các chỗ dùng từ τελειόω liên quan đến tình yêu thương trong I Giăng lại được xếp bên cạnh Gia-cơ 2:22 (βλέπεις ὅτι ἡ πίστις συνήργει τοῖς ἔργοις αὐτοῦ καὶ ἐκ τῶν ἔργων ἡ πίστις ἐτελειώθη), mà bản dịch NRSV chép: “Anh em thấy đấy, đức tin của [Áp-ra-ham] cùng tác động với các việc làm, và nhờ các việc làm đó, đức tin được làm cho trọn vẹn.”

Cách hiểu này cho thấy một điểm yếu trong hệ thống phân loại của BDAG. Câu văn trong sách Gia-cơ rõ ràng mang ý rằng đức tin của Áp-ra-ham được hoàn tất, được đưa đến chỗ thành toàn và thực hiện trọn vẹn qua các hành động của ông. Điều này có thể bao hàm việc vượt qua một tình trạng chưa hoàn chỉnh, nhưng thật khó để thấy làm sao có thể dịch điều đó là “được làm cho trọn vẹn” theo nghĩa đương đại của tiếng Anh; và thật vậy, phần lớn (dù không phải tất cả) các bản dịch tiếng Anh hiện nay đều dịch giống như NRSV. Vậy thì, nếu τελειόω trong sách Gia-cơ có nghĩa là đức tin được đưa đến chỗ thành toàn, tại sao τελειόω trong I Giăng lại được nói là tình yêu thương “được làm cho trọn vẹn”?

Các từ điển khác cũng xác nhận tầm quan trọng của những câu hỏi này. Dù Liddell-Scott-Jones (1996, mục từ τελειόω) có thể sử dụng “trọn vẹn” hoặc “sự trọn vẹn” ở đầu định nghĩa cho τελειόω, thì điều này lập tức được mở rộng với những từ như “hoàn tất,” “thi hành,” hoặc “thành tựu.” Những ví dụ được trích dẫn tại đó liên quan đến việc hoàn thành hay kết thúc hoặc thành công của một hành động, một hoạt động, một giai đoạn thời gian, một tác phẩm, v.v.; hoặc cũng có thể nói đến sự trưởng thành.

Bài viết của Gerhard Delling về τελειόω ghi nhận những nghĩa tổng quát trong tiếng Hy Lạp ngoài Kinh Thánh như là “đưa đến chỗ đầy đủ, viên mãn,” “hoàn tất,” hoặc “thi hành trọn vẹn.” Về những phân đoạn trong I Giăng 4, Delling đề xuất rằng τελειόω “chỉ về sự đầy đủ hoặc sự trọn vẹn” của tình yêu thương, và trong I Giăng 2:5, ông nhìn thấy tình yêu thương của Đức Chúa Trời đã “đến hồi trọn vẹn” nơi những người vâng giữ điều răn. Theo cách này, “tình yêu thương của Đức Chúa Trời đạt đến sự trọn vẹn trong đời sống của các tín hữu.” Ông cũng lưu ý rằng τελέωτελειόω “trùng lặp nhau trong Tân Ước, đặc biệt trong nghĩa ‘thi hành trọn vẹn,’ ‘hoàn tất.’” Trong Phúc Âm Giăng, như chúng ta sẽ thấy, điều này thực sự đúng, và sẽ ảnh hưởng đáng kể đến cách hiểu của chúng ta về thư I Giăng.

Delling đề cập đến hai văn bản quá dài để khảo sát chi tiết tại đây, nhưng vẫn đáng lưu ý một cách ngắn gọn.

  • Văn bản đầu tiên là một cuộc thảo luận về ý nghĩa của τέλειος do Aristotle trình bày trong tác phẩm Metaphysics. Aristotle định nghĩa τέλειον là điều gì đó có đầy đủ mọi phần thích hợp trong chính nó, hoặc không thiếu điều gì mà nó cần phải có, hoặc không bị điều nào cùng loại vượt trội, hoặc đã đạt đến tận cùng của nó - tức là τέλος (Metaph. 5.1021b). Ý tưởng cơ bản ở đây là sự trọn vẹn, đầy đủ, và đạt đến mức độ tối ưu nhất có thể.

  • Văn bản thứ hai là một đoạn trích từ tác phẩm On Agriculture của Philo (147–165). Philo đang bàn về Phục truyền 20:5–7 - luật pháp cho phép miễn chiến đấu đối với những người vừa xây nhà, trồng vườn nho, hoặc mới đính hôn. Ông giải nghĩa ba hạng người này theo lối biểu tượng (theo thứ tự ngược lại) là tượng trưng cho sự khởi đầu (ἀρχαί), sự tiến triển (προκοπαί), và sự hoàn tất (τελειότητες) trong triết học. Rõ ràng ở đây, τελειόω mang nghĩa là đưa một điều gì đó đến hồi kết thúc, sau khi đã khởi sự và tiến triển trong đó.

Như vậy, đối với cả Aristotle và Philo, τελειωθῆναι - trở nên τέλειος trong điều gì đó - nghĩa là đạt đến mức độ cao nhất, đầy đủ nhất. Điều đáng chú ý là đối với cả hai người, điều này cũng bao hàm việc tiếp tục thực hành ἀρετή - tức đức hạnh: Philo nói rằng nhà triết học τέλειος vẫn cần không ngừng luyện tập (Agr. 160), và Aristotle cũng thừa nhận khả năng không chỉ có y sĩ trọn vẹn mà cả kẻ trộm trọn vẹn - cả hai đều rõ ràng là vẫn tiếp tục thực hành nghề nghiệp của mình (Metaph. 5, 1021b 15–19).

2.2 Ý nghĩa của từ “τελειόω” trong các tác phẩm của Giăng
#

a. “τελειόω” trong Phúc Âm Giăng
#

τελειόω trong các tác phẩm của Giăng: Bối cảnh văn chương và tư tưởng gần gũi nhất của các thư tín Giăng chính là sách Phúc Âm Giăng. Tại đây, chúng ta thấy từ τελειόω được dùng trong một mối liên hệ đặc biệt, có nhiều điểm tương đồng quan trọng với cách dùng trong thư I Giăng. Ba lần trong Phúc Âm này, Chúa Giê-xu nói về việc hoàn tất công việc - ἔργον hay ἔργα - mà Cha đã giao cho Ngài thực hiện (Giăng 4:34; 5:36; 17:4). Đây là một phần trong chủ đề lớn của sách, rằng Chúa Giê-xu làm và nói theo điều Đức Chúa Trời truyền dạy, qua đó bày tỏ chính Ngài (xem, chẳng hạn, Giăng 5:19–30; 8:28–29; 9:1–5; 10:37–38; 12:44–50; 14:9–14). Khi nói đến sự hoàn tất công tác mặc khải và cứu chuộc này, Chúa Giê-xu dùng động từ τελειόω, hiển nhiên theo nghĩa đưa một sự sai phái đến chỗ kết thúc trọn vẹn và hoàn tất.

Trong tất cả những trường hợp này, các bản dịch Kinh Thánh tiếng Anh không dùng các hình thức của từ “perfect” để diễn đạt τελειόω, mà thường chọn các từ như “hoàn tất,” “hoàn thành,” hay “thi hành trọn vẹn.” Điều này xác nhận nhận định của Delling rằng τελειόω mang ý nghĩa tương tự với τελέω khi nói đến việc hoàn tất hay thi hành trọn vẹn một điều gì đó. Điều này càng rõ ràng hơn trong cảnh tượng Chúa Giê-xu chịu đóng đinh, nơi mà công tác ban sự sống đời đời bằng cách bày tỏ Đức Chúa Trời đạt đến đỉnh điểm. Trong Giăng 19:28, 30, cả người tường thuật và chính Chúa Giê-xu không còn dùng hình thức nào của τελειόω, mà chuyển sang hình thức của τελέω: τετέλεσται - “mọi sự đã được hoàn tất!” hay có lẽ chính xác hơn, “mọi sự đã được thành tựu!”

➡ Như vậy, Phúc Âm Giăng thường dùng động từ τελειόω không phải theo nghĩa làm cho điều gì đó trở nên “trọn vẹn” (tức không có khiếm khuyết hay lỗi lầm), mà là theo nghĩa đưa điều đó đến chỗ hoàn tất, thành tựu mục tiêu đã định. Thật ra, không dễ tìm thấy những tương đồng chính xác ở nơi khác cho chủ đề cụ thể mà sách Giăng dùng τελειόω trong các phân đoạn này. Phúc Âm này không bàn đến việc hoàn thiện các phẩm chất hoặc tư cách của con người, mà trình bày một hoạt động đến từ Đức Chúa Trời được can thiệp vào đời sống con người và được đưa đến kết cuộc thành công nhờ hành động và lời phán của Chúa Giê-xu. Cách sử dụng này đối với các ἔργα (“công việc”) của Đức Chúa Trời trong Phúc Âm Giăng, theo tôi, có ý nghĩa vô cùng quan trọng - gần như là yếu tố then chốt - trong mối liên hệ với điều được nói về ἀγάπη (“tình yêu thương”) của Đức Chúa Trời trong thư I Giăng. Việc sử dụng cùng một động từ trong các tác phẩm có liên hệ mật thiết này, và liên quan đến hai điều do Đức Chúa Trời ban cho để được thực thi trong đời sống con người, cho thấy có một ý định tương đồng rất gần gũi.

b. “τελειόω” trong thư I Giăng
#

🔎 I Giăng 2:5

Giờ đây, chúng ta hãy xem xét kỹ hơn các cách dùng từ τελειόω trong thư I Giăng - đặc biệt là trong chương 4 - bắt đầu với một cái nhìn khái quát về cách dùng trong I Giăng 2:5. Câu này có một số điểm không chắc chắn về mặt ngữ pháp và ngữ nghĩa.

Đoạn văn đề cập đến người “giữ lời Ngài” - có lẽ là lời của Đức Chúa Trời (mặc dù cũng có thể là lời của Chúa Giê-xu) - và trong bối cảnh xung quanh, có thể hiểu là điều răn yêu thương. Văn bản tiếp tục nói về người này rằng: ἐν τούτῳ ἡ ἀγάπη τοῦ θεοῦ τετελείωται - “trong người ấy, tình yêu thương của Đức Chúa Trời đã được làm cho trọn vẹn,” dù chúng ta dịch từ τετελείωται“đã được làm cho trọn vẹn” theo cách của bản NRSV, hay là “đã được hoàn tất” như bản NIV, hoặc theo cách nào khác. Ngoài ý nghĩa của từ τετελείωται, vấn đề chính khác trong mệnh đề này là phải hiểu cụm từ ἡ ἀγάπη τοῦ θεοῦ - “tình yêu thương của Đức Chúa Trời” - là ở dạng sở hữu chủ thể (subjective genitive) hay sở hữu khách thể (objective genitive): nghĩa là, nó nói về tình yêu thương mà Đức Chúa Trời dành cho nhân loại, hay tình yêu thương của con người dành cho Đức Chúa Trời?

Các nhà chú giải Kinh Thánh có những quan điểm khác nhau về điều này, cũng như đối với các câu hỏi khác trong đoạn văn. Tuy nhiên, khuynh hướng của tôi là xem đây là ý nghĩa khách thể - tình yêu thương của con người đối với Đức Chúa Trời - bởi vì trong toàn bộ ngữ cảnh xung quanh, Đức Chúa Trời thường xuất hiện như là đối tượng hơn là chủ thể. Vậy, điều đó có nghĩa gì khi nói rằng tình yêu thương của con người dành cho Đức Chúa Trời được làm cho τέλειος nơi người giữ lời phán của Ngài - tức điều răn phải yêu thương lẫn nhau?

Có lẽ điều này tương tự như điều được nói sau đó, trong I Giăng 4:20–5:3, rằng những ai xưng mình yêu kính Đức Chúa Trời thì cũng phải yêu thương anh chị em mình, bởi đó là điều răn của Đức Chúa Trời; và yêu Đức Chúa Trời tức là vâng giữ các điều răn của Ngài. Như vậy, tình yêu của con người đối với Đức Chúa Trời đạt đến sự trọn vẹn tối hậu - thật sự được nên trọn - khi những người yêu mến Ngài bày tỏ sự vâng phục bằng cách yêu thương nhau.

Nếu thật sự ἀγάπη τοῦ θεοῦ mang nghĩa sở hữu khách thể, thì cách dùng τελειόω ở đây giống với các trường hợp khác bàn đến việc đưa các phẩm chất và hành động của con người đến mức thành toàn tốt đẹp nhất. Đây là một kiểu sử dụng khác với trong Phúc Âm Giăng đã thảo luận trước đó, và cũng khác với trong I Giăng chương 4, nên có phần ít liên hệ hơn đến trọng tâm thảo luận của chúng ta.

🔎 I Giăng 4:12

Trong I Giăng chương 4, bắt đầu từ câu 7, phân đoạn nói rõ về tình yêu thương đến từ Đức Chúa Trời - không phải tình yêu của chúng ta dành cho Đức Chúa Trời, mà là tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta - tình yêu được bày tỏ qua việc sai Chúa Giê-xu đến, tình yêu chính là bản thể của Đức Chúa Trời. Câu I Giăng 4:12 chép:

  • θεὸν οὐδεὶς πώποτε τεθέαται· ἐὰν ἀγαπῶμεν ἀλλήλους, ὁ θεὸς ἐν ἡμῖν μένει καὶ ἡ ἀγάπη αὐτοῦ ἐν ἡμῖν τετελειωμένη ἐστίν.
  • “Chẳng ai từng thấy Đức Chúa Trời bao giờ. Nếu chúng ta yêu thương nhau, thì Đức Chúa Trời ở trong chúng ta, và tình yêu thương của Ngài được nên trọn trong chúng ta.”

Trong ngữ cảnh này, ἡ ἀγάπη αὐτοῦ - “tình yêu thương của Ngài” - rõ ràng là thể sở hữu chủ thể, tức là tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho nhân loại. Việc sử dụng thì hoàn thành bị động của động từ τελειόω liên quan đến tình yêu này đưa chúng ta theo một hướng khác so với cách dùng liên quan đến tình yêu của con người dành cho Đức Chúa Trời trong I Giăng 2:5. Chủ đề ở đây không còn là tình yêu của con người đạt đến sự trọn vẹn, mà là chính tình yêu thương của Đức Chúa Trời trở nên τέλειος. Vậy điều gì có nghĩa là tình yêu thương của Đức Chúa Trời “đã được nên trọn”? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần quay lại với phạm trù ngôn ngữ khá đặc thù mà chúng ta từng thấy trong sách Phúc Âm Giăng.

Trong sách Giăng, như chúng ta đã thấy, τελειόω không mang ý nghĩa làm cho điều gì đó trở nên hoàn hảo hay không tì vết, mà là đưa một nhiệm vụ đến chỗ hoàn tất, thành tựu đúng mục đích được định sẵn. Sách Phúc Âm sử dụng τελειόω để nói về việc Chúa Giê-xu hoàn tất trọn vẹn công việc mà Đức Chúa Trời đã giao phó cho Ngài - một công việc không chỉ do Đức Chúa Trời chỉ định, mà chính là công việc thuộc về Ngài, công việc bày tỏ bản chất của Ngài và đem vinh hiển cho Ngài qua việc bày tỏ chính Ngài. Đức Chúa Trời sai Chúa Giê-xu vào thế gian không chỉ để thi hành một sứ mạng được giao, mà để hoàn thành công việc vốn là công việc thiêng liêng, phản ánh bản tính thần thượng. Công việc của Đức Chúa Trời, hành động của Đức Chúa Trời, thực tại của Đức Chúa Trời đã nhập thể vào thế gian trong con người, lời phán, và việc làm của Chúa Giê-xu.

Khi so sánh điều này với những gì chúng ta đọc trong I Giăng 4:12 và bối cảnh xung quanh, điểm tương đồng thật đáng kinh ngạc. Ở đây cũng vậy, một hành động đặc trưng của Đức Chúa Trời nhập thể vào thế giới loài người, nhưng hành động ấy không được mô tả là ἔργα - tức “các việc làm” theo nghĩa rộng - mà được xác định cách cụ thể là tình yêu thương. Đức Chúa Trời là tình yêu, và tình yêu thương mà Ngài chính là đã được bày tỏ khi Con Đức Chúa Trời được sai đến thế gian để làm sinh tế chuộc tội, đem lại sự sống đời đời cho loài người. Tình yêu của Đức Chúa Trời đã bước vào thế gian và được bày tỏ qua con người của Chúa Giê-xu và qua sự hy sinh bản thân của Ngài. Những lời khẳng định trong I Giăng 4:7–10 là một sự song song rõ ràng với việc Chúa Giê-xu bước vào thế gian trong Phúc Âm Giăng để bày tỏ Đức Chúa Trời - và đỉnh điểm là qua việc Ngài phó sự sống mình vì sự sống của thế gian.

Nhưng rồi câu 4:12 mang đến một khúc quanh mới. Trước hết, có một giai đoạn mới và tiếp diễn trong tiến trình bày tỏ tình yêu thương và bản thể của Đức Chúa Trời. Giai đoạn này hiện nay được đặt trong tay những người tin hữu bình thường. Tất cả những gì họ cần làm là yêu thương nhau - và Đức Chúa Trời, Đấng chưa từng có ai thấy được, sẽ ở trong họ và nhờ đó trở nên hiển nhiên. Cũng như Chúa Giê-xu đã bày tỏ Đức Chúa Trời như là tình yêu thương, thì nay các tín hữu được giao phó nhiệm vụ tiếp nối sự bày tỏ ấy; nói một cách nào đó, họ cũng trở nên những người bày tỏ Đức Chúa Trời.

Như thể chưa đủ, tác giả còn nói rằng khi các tín hữu yêu thương lẫn nhau, “tình yêu thương của Ngài… đã được trọn vẹn” — tức là tình yêu thương của Đức Chúa Trời đã trở nên toàn hảo. Khi tình yêu thương hỗ tương ấy mở ra một giai đoạn mới trong sự bày tỏ chính mình của Đức Chúa Trời, thì nó cũng đánh dấu một giai đoạn mới trong việc thi hành chương trình của Ngài. Trong sách Phúc Âm Giăng, Chúa Giê-xu đã hoàn tất công việc thiên thượng mà Đức Chúa Trời giao phó cho Ngài - Ngài đã đem công việc ấy đến chỗ hoàn thành theo đúng mục đích. Khi thư I Giăng dùng cùng một động từ để nói về điều cũng được Đức Chúa Trời ban cho và được bày tỏ ra trong thế gian qua con người, chắc chắn động từ ấy phải mang cùng ý nghĩa như trong Phúc Âm: không phải là “làm cho hoàn hảo” mà là “hoàn thành đúng theo mục đích đã định”.

Khi thử áp dụng điều đó vào bản dịch I Giăng 4:12, chúng ta sẽ có kết quả đại khái như sau:

  • θεὸν οὐδεὶς πώποτε τεθέαται. ἐὰν ἀγαπῶμεν ἀλλήλους, ὁ θεὸς ἐν ἡμῖν μένει καὶ ἡ ἀγάπη αὐτοῦ ἐν ἡμῖν τετελειωμένη ἐστίν.
  • “Chẳng ai từng thấy Đức Chúa Trời bao giờ. Nếu chúng ta yêu thương lẫn nhau, thì Đức Chúa Trời ở trong chúng ta, và tình yêu thương của Ngài đã được hoàn tất trong chúng ta.”

Vấn đề không nằm ở chỗ tình yêu thương của Đức Chúa Trời đã được “làm cho hoàn hảo,” như thể được giải cứu khỏi một trạng thái khiếm khuyết. Đúng hơn, tình yêu ấy đã được hoàn tất, được thi hành, và đạt đến mục đích đã định. Giống như các công việc của Đức Chúa Trời trong sách Phúc Âm, tình yêu của Ngài trong thư I Giăng cũng được hoàn thành cách thành công qua con người mà Ngài đã giao phó. Chúa Giê-xu đã thi hành công việc mà Đức Chúa Trời giao cho Ngài, và bây giờ các tín hữu, khi yêu thương lẫn nhau, đang hoàn tất tình yêu mà Đức Chúa Trời đã ban cho họ — đúng theo mục đích Ngài định sẵn.

Sự khác biệt trong cách diễn giải từ τελειόω mang một ý nghĩa quan trọng. Phân từ bị động “được hoàn hảo” và tính từ “hoàn hảo” (chưa kể đến danh từ “sự hoàn hảo”) tập trung vào trạng thái cuối cùng của một sự vật — tức tình trạng của nó sau một quá trình hành động. Trái lại, khi nói đến điều gì đó “được hoàn tất”, “được đưa đến chỗ trọn vẹn”, hay “được hoàn thành”, thì không chỉ nhằm mô tả tình trạng cuối cùng mà còn làm nổi bật mối liên hệ giữa tình trạng ấy với một ý định ban đầu.

Télos không đơn thuần là một trạng thái cuối cùng bất định nào đó, mà là một mục tiêu - kết quả của một mục đích được hoạch định kỹ càng. Nếu τελειόω có nghĩa là đưa một điều gì đó đến mục tiêu như vậy (như trong cách dùng của văn chương Giăng), thì điều đó ngụ ý rằng đã có một mục đích hoặc ý định dành cho điều ấy. Nói rằng tình yêu thương của Đức Chúa Trời đạt đến télos tức là nhìn nhận rằng tình yêu đó được ban ra nhằm thực hiện một mục đích thiên thượng.

➡ Khi dịch I Giăng 4:12 rằng trong sự yêu thương lẫn nhau của các tín hữu, tình yêu của Đức Chúa Trời đã “được hoàn tất” (thay vì “được làm cho hoàn hảo”), chúng ta đang tái định hướng sự hiểu biết về bản văn — hướng về ý định tiềm ẩn của Đức Chúa Trời trong việc bày tỏ tình yêu Ngài qua sự sai phái Chúa Giê-xu và qua tình yêu thương hỗ tương của những người tin Ngài.

🔎 I Giăng 4:17-18

Chuyển sang I Giăng 4:17–18, nơi mà “tình yêu trọn vẹn” (hē teleía agápē) lại trở thành đề tài, thì chúng ta khó có thể nghi ngờ rằng điều đang được bàn đến chính là tình yêu của Đức Chúa Trời - vì theo câu 12, tình yêu ấy là tình yêu “đã được hoàn tất” (teteleiōménē) - nghĩa là đã trở nên trọn vẹn (téleios). Dù có một số câu hỏi khó về mặt ngữ pháp và văn phong trong các câu 17–18, nhưng chúng ta không cần bàn đến chúng ở đây. Điểm cốt lõi của những câu này là: vì tình yêu của Đức Chúa Trời đã được hoàn tất giữa vòng các tín hữu, nên họ - ngay trong đời này - đã được nên giống như Chúa Giê-xu, và do đó không còn sợ hãi trước cuộc phán xét sau cùng.

➡ Tôi tin rằng điểm then chốt này nên được hiểu như sau: dưới ánh sáng của I Giăng 4:12, sự hoàn tất của tình yêu thương Đức Chúa Trời giữa vòng các tín hữu hiển nhiên được thể hiện qua việc họ yêu thương lẫn nhau. Như vậy, I Giăng 4:17 hài hòa với lời khuyên trong 3:16 rằng chúng ta phải sống giống như Chúa Giê-xu - bằng tình yêu hy sinh cho nhau. Chính vì các tín hữu yêu thương lẫn nhau, như là sự hoàn tất của tình yêu Đức Chúa Trời, mà họ “giống như Ngài … trong thế gian này.” Nhưng nếu các tín hữu giống như Đấng Mê-si, Đấng Cứu Thế lai thế, thì sự phán xét lai thế học không còn là điều khiến họ sợ hãi - vì họ đã ở đó rồi, ở phía bên kia của sự phán xét ấy.

➡ Tình yêu thương (agapē) trọn vẹn (teleía) - tức tình yêu thiên thượng đã đạt đến sự hoàn tất, đến đích, qua tình yêu thương của họ dành cho nhau - cho thấy rằng chương trình và ước muốn sau cùng của Đức Chúa Trời dành cho thế gian đã được thực hiện nơi họ. Tình yêu đạt đến mục tiêu của mình thì xua tan sự sợ hãi trước sự phán xét lai thế, bởi vì các tín hữu hiện đã sống trong công trình sáng tạo mới và thế giới mới của Đức Chúa Trời: họ “giống như Chúa Giê-xu là,” đã được chuyển từ sự chết sang sự sống đời đời — như được minh chứng trong I Giăng 3:14 qua tình yêu thương họ dành cho nhau — tình yêu ấy chính là sự hoàn tất, và (ít nhất cách tiên nghiệm) là sự kết thúc của khải tượng sáng tạo (đầu tiên) và lai thế học (cuối cùng) của Đức Chúa Trời.

III. TÌNH YÊU ĐÃ ĐƯỢC HOÀN TẤT VÀ SỨ MẠNG CỦA HỘI THÁNH THỜI KỲ TÂN ƯỚC
#

Điều rõ ràng cần được lưu ý về động từ τελειόω, tính từ τέλειος, và các từ liên hệ của chúng là: chúng thường diễn đạt những điều mang tính mục đích (telic). Chúng hướng đến những mục tiêu — hoặc ít nhất là những điểm kết thúc. Dù trong cách dùng tiếng Hy Lạp phổ thông, τελειόω có thể liên quan đến sự trọn vẹn cũng như việc đạt đến một mục tiêu, thì nó vẫn hàm ý một điểm kết thúc — một điểm mà từ đó không thể tiến xa hơn được nữa; và thật vậy, từ này thường nói đến việc đưa một điều gì đó đến sự hoàn tất tự nhiên hoặc như mong muốn.

Trong các tác phẩm văn chương Giăng, τελειόω đặc biệt được dùng để chỉ việc một người thực hiện trọn vẹn một sứ mạng do Đức Chúa Trời giao phó - cho đến cùng, đúng theo mục đích và ý định của Ngài. Nói rằng tình yêu của Đức Chúa Trời đã được hoàn tất qua tình yêu thương của các tín hữu dành cho nhau tức là xác nhận rằng chính trong tình yêu thương hỗ tương ấy, mục tiêu mà tình yêu Đức Chúa Trời nhắm đến đã được ứng nghiệm.

Đây không phải là một điểm đã được các nhà chú giải ghi nhận rộng rãi, mặc dù họ có thể bàn luận nhiều khía cạnh khác nhau về sự “trọn vẹn” của tình yêu Đức Chúa Trời mà không đặt vấn đề về chính khái niệm “trọn vẹn”. Tuy nhiên, một số nhà chú giải gần đây đã khảo sát ý nghĩa của từ τελειόω và các từ cùng gốc, và nhìn chung kết luận rằng các từ này không mang nghĩa “không có lỗi”, mà đúng hơn là mang ý nghĩa “hoàn tất”, “trưởng thành”, “thành tựu” hay “đạt đến mục tiêu”. Tuy vậy, họ không đưa ra những kết luận sâu xa hơn về ý nghĩa của việc tình yêu Đức Chúa Trời có một mục tiêu - một điều có thể hàm ý rằng đằng sau hành động yêu thương ấy là một chủ ý nhất định.

Từ lâu, Brooke Foss Westcott (1892) đã nói về “sự phát triển trọn vẹn của ân tứ yêu thương đến từ Đức Chúa Trời” dẫn đến sự vâng lời, tình yêu thương hành động, và lòng vững lòng được mô tả trong I Giăng 2:5; 4:12, 17–18, dù ông hiểu τελειόω không phải là đạt đến một mục tiêu, mà là “tình yêu được trọn vẹn trong mọi khía cạnh của nó, tình yêu đã đạt đến sự phát triển hoàn mãn.” Robert Kysar (1986) đã triển khai tư tưởng này và, theo quan điểm của tôi, đã làm nổi bật ý nghĩa khi nói rằng khi các tín hữu yêu thương lẫn nhau, họ “làm trọn hành động yêu thương của Đức Chúa Trời trong Chúa Giê-xu,” và như thế “kế hoạch cứu chuộc đó được hoàn tất.” Gần đây nhất, Urban von Wahlde (2010) ghi nhận rằng trong tình yêu thương giữa các tín hữu, tình yêu Đức Chúa Trời “đã đạt đến sự trọn vẹn (tức là đạt được hiệu quả tối hậu),” vì nó “đã được nhận biết và noi theo (theo như Đức Chúa Trời đã mong đợi).”

Và theo tôi, đó chính là câu hỏi đáng chú ý nhất. Tư tưởng trong I Giăng 4 không cho rằng tình yêu của Đức Chúa Trời từng “chưa trọn vẹn,” mà là tình yêu ấy chỉ thực sự đạt đến sự hoàn tất theo mục đích định sẵn khi được bày tỏ trong cộng đồng đức tin - nơi hành động yêu thương lẫn nhau là điều cần thiết để tình yêu của Đức Chúa Trời thực hiện điều Ngài mong muốn. Hàm ý ở đây là quả thật đã có một kế hoạch - một điều mà Đức Chúa Trời muốn tình yêu của Ngài hoàn thành. Việc bày tỏ tình yêu của Ngài, và theo đó là bày tỏ bản tính của Đức Chúa Trời, qua việc sai Chúa Giê-xu đến ban sự sống qua cái chết của Ngài, đã được thực hiện với một mục đích rõ ràng. Và mục đích ấy không kết thúc chỉ nơi sự chết và sự sống lại của Đấng Mê-si. Trái lại, mục đích của tình yêu Đức Chúa Trời “từ ban đầu” là thiết lập một cộng đồng yêu thương lẫn nhau giữa những người tin và tiếp nhận sự sống do Đấng Mê-si ban cho. Đó chính là luận điểm khi Kinh Thánh nói rằng tình yêu của Đức Chúa Trời được hoàn tất trong những người tin yêu thương lẫn nhau.

Khi đặt song song Phúc Âm Giăng và I Giăng, chúng ta có thể nói rằng tiếng kêu của Chúa Giê-xu trên thập tự, τετέλεσται - “Mọi sự đã được hoàn tất!” (Giăng 19:30) - là lời xác nhận Ngài đã hoàn tất công việc Đức Chúa Trời giao cho mình, chứ chưa phải là việc đạt đến mục tiêu sau cùng của Đức Chúa Trời. Mục tiêu ấy chỉ được hoàn tất khi chính tình yêu của Đức Chúa Trời trở nên τέλειος trong tình yêu thương lẫn nhau của những người tin Ngài.

Từ những suy xét này, chúng ta đang dần tiến đến ngôn ngữ của sứ mạng. Thật vậy, Phúc Âm Giăng trình bày Chúa Giê-xu như một Đấng được sai phái với một sứ mạng cụ thể - một người được Đức Chúa Trời sai đến với một mục đích rõ ràng. Tôi đã cố gắng cho thấy rằng thư I Giăng cũng trình bày các tín hữu theo cách tương tự, như những người được giao phó và ủy thác để thực thi ý định của Đức Chúa Trời trong việc bày tỏ tình yêu thiên thượng cho thế gian và giữa thế gian. Ý nghĩa này trong I Giăng rõ ràng là mang tính lai thế học: cũng như trong Phúc Âm thứ tư, tại đây Đấng Mê-si - Đấng ban sự sống trong thời kỳ cuối cùng - đã đến và thiết lập cộng đồng lai thế học gồm những người yêu thương nhau như Ngài đã yêu thương họ (Giăng 13:34–35). Hiện thực lai thế học (realized eschatology) của Phúc Âm Giăng vẫn hiện diện trong I Giăng, ít nhất là ở điểm này: mục đích tối hậu của Đức Chúa Trời hiện đang được thực thi - thật ra, đã được thực thi giữa vòng những người đang sống trong tình yêu thương ấy. Sứ mạng của tình yêu Đức Chúa Trời và mục tiêu của hành động lai thế học của Ngài là khơi nguồn tình yêu thương giữa loài người - không theo cách trừu tượng, mà bằng cách tạo ra những mối quan hệ và thực hành yêu thương cụ thể trong một cộng đồng nhân loại (I Giăng 3:16–18). Sứ mạng này được xem là thành công (ít nhất theo quan điểm của I Giăng) khi nó sinh ra những cộng đồng gồm những người tin Chúa Giê-xu là Con Đức Chúa Trời và yêu thương nhau (I Giăng 3:23; 4:7–18).

Theo quan điểm của tôi, các thư tín Giăng đại diện cho một giai đoạn khá muộn trong tiến trình phát triển của Cơ Đốc giáo Tân Ước. Theo cách riêng của mình, chúng làm chứng về sứ mạng của Hội Thánh vào cuối thế kỷ thứ nhất, có lẽ thậm chí cả đầu thế kỷ thứ hai. Thư II và III Giăng - với hình ảnh những giáo sư lưu động được hỗ trợ bởi lòng hiếu khách của các cộng đồng tín hữu địa phương, cùng với những tranh luận xoay quanh tính xác thực của những người rao giảng ấy và sự nâng đỡ (hoặc thiếu nâng đỡ) mà họ nhận được - có vẻ phản ánh một giai đoạn trong hoạt động của Hội Thánh tương tự (về mặt này) với những gì được thấy trong tác phẩm Didache (xem Did. 11–12).

Do đó, hoàn toàn có khả năng rằng các cộng đồng Giăng này đã có phần nào tham gia vào hoạt động truyền giáo. Thật vậy, một cách để hiểu cuộc tranh luận phía sau thư I Giăng là xem đó như một vấn đề về sự hội nhập văn hóa trong sứ mạng - liệu những người đối lập với tác giả đã đi quá xa trong việc điều chỉnh sứ điệp Phúc Âm sao cho phù hợp với các mô hình văn hóa và tôn giáo đang phổ biến trong khu vực của họ nhằm thu hút thêm tín hữu mới hay không.

Điều có lẽ đáng chú ý nhất về cảm nhận sứ mạng trong các thư tín Giăng không phải là sự xuất hiện của các vấn đề liên quan đến tổ chức (vì ở một giai đoạn muộn như vậy, điều này là điều dễ hiểu), mà là ngay cả trong thời kỳ đó, mục tiêu của sứ mạng không được xem là để thiết lập Hội Thánh dựa trên một nền tảng cơ cấu vững chắc (trái ngược với các thư tín mục vụ), mà là để hình thành nên các cộng đồng yêu thương.

Đối với người viết những bức thư này, sứ mạng Cơ Đốc chắc chắn bao gồm điều mà chúng ta có thể gọi là “sự cải đạo” để tin nơi Chúa Giê-xu là Đấng Mê-si và Con Đức Chúa Trời - một đức tin cần được hiểu rõ trong mối tương quan với nhân tính thật bằng xương bằng thịt của Đấng Cứu Thế (I Giăng 4:1–6; II Giăng 7–10). Nhưng sứ mạng không kết thúc với việc dẫn đến đức tin đúng đắn. Tình yêu thiên thượng đã sai Con đến thế gian có mục tiêu không chỉ là tạo nên các cá nhân có đức tin, mà là uốn nắn họ thành một cộng đồng yêu thương lẫn nhau. Chỉ khi nào cộng đồng ấy hiện hữu và duy trì tình yêu trong nếp sống hằng ngày cụ thể, thì sứ mạng của Đức Chúa Trời - và do đó là sứ mạng của Hội Thánh - mới đạt đến mục tiêu trọn vẹn.

Vì mục tiêu này vẫn được nhìn qua lăng kính lai thế học - như là sự can thiệp đỉnh điểm của Đức Chúa Trời vào dòng lịch sử và xã hội loài người (“thế gian”) - nên việc tạo dựng và duy trì cộng đồng yêu thương này qua sự quan tâm và chăm sóc lẫn nhau của các thành viên chính là đỉnh cao trong kế hoạch của Đức Chúa Trời cho nhân loại. Để cộng đồng ấy sống trong sứ mạng có nghĩa là cùng cộng tác với Đức Chúa Trời trong việc hình thành thêm nhiều cộng đồng mới, gồm những người tin và yêu thương nhau. Tình yêu thiên thượng đạt được mục tiêu khi tình yêu giữa con người được bày tỏ trọn vẹn và sống động - vì đó chính là điều Đức Chúa Trời đã định sẵn cho nhân loại ngay từ đầu.


CHUYÊN ĐỀ VỀ GIĂNG