Vì R. Alan Culpepper đã trình bày một cách thích hợp phần tóm lược các bài luận trong phần giới thiệu của tuyển tập hiện tại, nên một bản tổng quan như vậy sẽ không cần thiết trong bài luận kết này. Thay vào đó, nhiệm vụ của tôi là nhận định về cách các bài luận nêu trên đã thúc đẩy những cuộc đối thoại học thuật mang tính bình luận, đồng thời ghi nhận những hướng đi mới và những câu hỏi còn bỏ ngỏ liên quan đến nhận thức tân tiến về các thư tín Giăng. Do đó, bài luận này sẽ tiến triển theo những diễn tiến đạt được trong ba phần của tuyển tập này, nhưng sau đó sẽ quay trở lại theo thứ tự ngược lại, từ phần thứ ba đến phần thứ nhất, nhằm xem xét các câu hỏi còn bỏ ngỏ và những hướng đi mới được bày tỏ.
Urban von Wahlde đã đúng. Không có lĩnh vực nào trong ngành nghiên cứu Tân Ước (và tôi muốn mở rộng ra toàn bộ ngành nghiên cứu Kinh Thánh) lại đầy những bất đồng quan điểm - ngay cả giữa các học giả bình luận hàng đầu - như các tác phẩm Giăng. Và, trọng tâm trong những cuộc tranh luận đó chính là nguồn gốc, đặc điểm, và ý nghĩa của ba thư tín Giăng. Một hoặc hai thế hệ trước đây, cách hiểu phổ biến của giới học giả (dù vẫn có một vài ngoại lệ) có thể bao gồm những nhận định sau về các thư tín Giăng:
- Được viết trước hoặc sau sách Phúc âm Giăng;
- Phản ánh Cơ Đốc giáo Hy-lạp hoá không liên hệ gì đến Do Thái giáo và nằm ngoài dòng chính của phong trào Cơ Đốc đang phát triển;
- Được viết dưới ánh sáng của thuyết Ngộ Đạo (Gnosticism) mới nổi, khi những tuyên bố đã đạt đến sự trọn lành khiến cho các tín hữu nhiệt thành trở nên không thể bị sửa trị;
- Chủ yếu phản ánh các vấn đề thần học trọng yếu, như sự xem nhẹ sự chuộc tội hoặc các khía cạnh của Cơ Đốc luận;
- Vạch trần những người ly khai ở khắp nơi; và
- Phản ánh những đặc điểm biệt phái và do đó thiếu vắng nội dung hay chỉ dẫn đạo đức có ý nghĩa.
Tuy nhiên, xét dưới ánh sáng của tuyển tập hiện tại, không có quan điểm nào trong số đó là thuyết phục. Thay vào đó:
- Có thể rằng các thư tín Giăng được viết trong tiến trình hoàn thiện sách Phúc âm, và mang sự liên kết với cả phần đầu lẫn phần sau của tác phẩm ấy.
- Sự tương tác với những người láng giềng Do Thái và các đối tác khác trong cuộc đối thoại, trong bối cảnh Hy-lạp, là một suy luận hợp lý hơn đối với cả năm tác phẩm Giăng (so sánh với các thư tín của Ignatius); và sự hiện diện của các tín hữu Cơ Đốc Hy-lạp không loại trừ các đối tác đối thoại thuộc Do Thái giáo hoặc nhóm khác.
- Khuynh hướng thuộc thuyết Ảo hình (Doceticism) không nhất thiết hàm ý thuyết Ngộ đạo (Gnosticism); sách Phúc âm và các thư tín Giăng có thể đã ảnh hưởng đến thuyết Ngộ đạo vào giữa thế kỷ thứ hai, nhưng không phải mọi người theo thuyết Ảo hình đều là người theo thuyết Ngộ đạo. Các tham chiếu đến Thánh Linh cũng mang tính hùng biện và không ám chỉ rằng thuyết thần linh (pneumatism) là nguồn gốc của sự chia rẽ.
- Nhiều mối quan tâm mà các cộng đồng phải đối diện mang tính thực tiễn hơn là thần học; việc nhấn mạnh đến công tác chuộc tội của Đấng Christ không nhất thiết có nghĩa là phe đối lập đánh giá thấp điều đó, và các lập trường cũng như khẳng định về Đấng Christ học có thể đã hỗ trợ cho những tiếp cận mang tính thường nhật hơn.
- Việc ly khai là một vấn đề, nhưng không phải là vấn đề duy nhất mà cộng đồng Giăng phải đối diện; điều đáng lo ngại hơn chính là các sự dạy dỗ của những tiên tri giả - các giáo sĩ lưu động - với những giáo lý về đức tin và thực hành mà ban lãnh đạo theo truyền thống Giăng không đồng thuận.
- Thật vậy, nhiều bất đồng gay gắt nhất dường như xoay quanh các quan điểm khác nhau về các vấn đề đạo đức và luân lý, cũng như cách ứng xử đối với các vấn đề đó; vì vậy, việc xem xét nội dung của chính các thư tín là hữu ích trong việc suy luận về bối cảnh của chúng.
Do đó, sự thống nhất giữa các bài luận trên đã thúc đẩy cuộc thảo luận tiến triển trên nhiều phương diện.
I. KHÍA CẠNH VĂN CHƯƠNG VÀ BIÊN SOẠN CỦA CÁC THƯ TÍN GIĂNG#
Liên quan đến việc biên soạn các thư tín Giăng và mối liên hệ của chúng với sách Phúc âm Giăng, một số điểm hội tụ thú vị đã xuất hiện, phản ánh các lý thuyết cấu trúc của von Wahlde, chính tôi, và Culpepper.
1️⃣ Thay vì xem các thư tín Giăng là được viết trước hay sau sách Phúc âm Giăng, một sự hội tụ quan điểm cho thấy rằng các thư tín này có thể đã được viết trong tiến trình biên soạn sách Phúc âm Giăng - ở khoảng thời gian giữa các phiên bản đầu tiên và cuối cùng của tác phẩm ấy. Điều này hợp lý vì nhiều lý do, bởi chính sách Phúc âm Giăng dường như cũng đã trải qua giai đoạn phát triển ban đầu và sau đó. Do đó, một số nội dung trong sách Phúc âm Giăng có vẻ đã được triển khai trong I và II Giăng, đặc biệt là (các điều răn về tình yêu thương, việc Chúa Giê-xu là Đấng Christ, những điều đã được thấy và nghe từ ban đầu, những xung đột với thế gian, v.v.); trong khi một số vấn đề được đề cập trong các thư tín (sự hiệp nhất trong Hội Thánh, sự chịu khổ bằng thân xác của Chúa Giê-xu với tư cách là Đấng Christ, những vấn đề liên quan đến việc lãnh đạo Hội thánh, sự tiếp nhận ánh sáng và sự sống từ Ngôi Lời, v.v.) dường như đã được triển khai trong phần tài liệu Giăng về sau. Raymond Brown đã từng đi theo hướng này, nhưng một số người khác đã triển khai các cách tiếp cận riêng vượt xa quan điểm của ông.
2️⃣ Thay vì xem sách Phúc âm Giăng phụ thuộc vào các nguồn ngoại lai hoặc các sách Phúc âm Cộng quan, các mô hình do các học giả này đề xuất xem truyền thống Giăng là một truyền thống tự chủ và mang bản sắc riêng, phát triển song song với các truyền thống khác chứ không phải phát sinh từ chúng. Theo nghĩa đó, cách tiếp cận của Brown về nguồn gốc và sự hình thành của truyền thống Giăng đã phần lớn giành được sự thừa nhận, mặc dù trường phái Leuven và hướng đi của Barrett trong một số học giả người Anh vẫn tiếp tục suy luận các mức độ lệ thuộc khác nhau vào các sách Cộng quan.
Để xem xét hai ví dụ tiêu biểu về việc biên soạn nhiều phiên bản của sách Giăng, độc giả nên theo lời khuyên của von Wahlde và xem lại tập đầu tiên trong bộ chú giải ba tập của ông (2010), nơi ông trình bày nền tảng cho lý thuyết ba phiên bản trong quá trình biên soạn, mỗi phiên bản mang quan điểm riêng biệt về mười một vấn đề khác nhau. Dù người đọc có thể không đồng tình với toàn bộ các khía cạnh của lý thuyết này, việc nhận thức rõ những căng thẳng thần học mà ông nêu bật sẽ là một hỗ trợ đáng kể trong việc giải thích thần học của sách Phúc âm Giăng và các thư tín.
Tuy nhiên, theo Lindars và Brown thì có vẻ đơn giản hơn: một phiên bản đầu cơ bản được theo sau bởi những tài liệu bổ sung, có thể được thêm vào cùng lúc hoặc vào những thời điểm khác nhau, với các nhận định chủ yếu dựa trên những sự phức tạp văn chương hơn là xu hướng thần học. Lý thuyết như vậy được trình bày rõ ràng ở nhiều nơi, đặc biệt trong phần giới thiệu về sách Giăng (2011) của tôi.
3️⃣ Một tập hợp hội tụ thú vị xuất hiện tại đây, khi các tác giả của những mô hình này đưa ra giả định rằng có nhiều người tham gia vào quá trình hình thành sách Phúc âm Giăng và các thư tín Giăng - dù theo những cách khác nhau.
Von Wahlde cho rằng có ba tác giả khác nhau tham gia vào việc biên soạn ba phiên bản của sách Phúc âm Giăng, và mặc dù tác giả của các thư tín đồng tình với những chủ đề trọng tâm của Phúc âm Giăng, ông cũng tìm cách điều chỉnh một số điểm một cách tinh tế. Do đó, tác giả các thư tín vận hành theo kiểu “vâng… nhưng,” vừa xác nhận công tác bày tỏ lẽ thật của Thánh Linh của Đấng Christ, vừa nhấn mạnh sự trung tín đối với các lời dạy của Chúa Giê-xu và mạng lệnh yêu thương lẫn nhau. Trong ý nghĩa đó, sự phê bình mang tính đối thoại của I Giăng đối với sách Phúc âm Giăng mở ra khả năng tồn tại những yếu tố đối thoại hiệu đính trong chính bản cuối cùng của sách Phúc âm.
Tuy nhiên, cách tiếp cận của tôi xử lý những căng thẳng này khác đi. Tôi xem công việc của người biên tập sau cùng là mang tính bảo tồn chứ không thêm vào sự căng thẳng thần học cho tác phẩm của nhà viết sách Phúc âm (ở điểm này tôi đồng quan điểm với Brown hơn là với Rudolf Bultmann). Thay vào đó, những căng thẳng thần học trong sách Giăng nảy sinh từ các yếu tố khác:
- Bản thân nhà viết sách Phúc âm là một người tư duy biện chứng (cùng với C. K. Barrett và Judith Lieu), thường nhìn nhận sự việc từ nhiều phía;
- Chúng ta đang có một bối cảnh đầy tính đối thoại, trong đó nhà viết sách Phúc âm tương tác với các cộng đồng độc giả theo nhu cầu đa dạng của họ;
- Trọng tâm của Đấng Christ học trong sách Giăng là mô hình “người được sai phái theo kiểu tiên tri như Môi-se” (cùng với Peder Borgen và cả von Wahlde), nhấn mạnh vai trò được sai phái của Con, Thánh Linh và các tín hữu;
- Chức năng đối thoại của thể văn tự sự lôi cuốn độc giả qua nghệ thuật mỉa mai, nghĩa kép và các thủ pháp tu từ.
Culpepper nêu nghi vấn về giả định của tôi rằng tác giả các thư tín có thể là người biên tập cuối cùng (cùng với Bultmann), dựa trên những khác biệt về phong cách văn chương (dù vị này có thể đã thêm vào cả tác phẩm của nhà truyền giáo lẫn tác phẩm của chính mình, và việc sử dụng đặc trưng chữ οὖν trong phần tường thuật của sách Giăng - vốn vắng mặt trong các thư tín - cũng không xuất hiện trong lời tựa và chỉ có ba lần trong Giăng 15–17). Tuy nhiên, cả ba chúng tôi đều suy luận rằng có sự tham gia của nhiều bàn tay trong quá trình hình thành tác phẩm Giăng, mặc dù Andreas Köstenberger thì xem sứ đồ Giăng là tác giả của sách Phúc âm và các thư tín Giăng.
4️⃣ Tuyển tập hiện tại cũng đạt được những tiến bộ đáng kể khi xem xét sự khác biệt về chức năng văn chương giữa ba thư tín Giăng, và đặc biệt là công trình của Lieu về chủ đề này vẫn tiếp tục mạnh mẽ. Vì I Giăng không chứa các đặc điểm rõ ràng của thể thư tín - chẳng hạn như lời chào gửi đến người nhận, lời nhắn riêng đến cá nhân, hay những ghi chú cá nhân ở phần đầu hoặc cuối của tác phẩm - nên nhiều khả năng đây là một thư chung được đọc trong nhiều bối cảnh khác nhau, chứ không phải dành riêng cho một nhóm độc giả cụ thể nào đó. Tuy nhiên, II Giăng được gửi từ một cộng đồng đến một cộng đồng khác, còn III Giăng thì là thư cá nhân giữa hai cá nhân.
Với điều đó, việc hiểu thông điệp chung của I Giăng sau khi đã cân nhắc những mối quan tâm mang tính bối cảnh được phản ánh trong II và III Giăng sẽ mang lại nhiều lợi ích đáng kể. Và điểm này thật đáng lưu ý: những suy diễn rộng hơn về tình hình bên trong một cộng đồng - vốn phát sinh từ các lý thuyết và cách giải thích tổng quát về các tác phẩm Giăng khác - thậm chí có thể làm sai lệch sự hiểu biết của người đọc về điều đang được truyền đạt trong II hoặc III Giăng, đặc biệt là trong III Giăng, nơi mà trải nghiệm của Trưởng lão là yếu tố duy nhất được ngụ ý trong quá trình biên soạn.
Tuy vậy, mối liên hệ giữa I và II Giăng đủ gần gũi để mỗi tác phẩm này không thể bỏ qua tác phẩm kia. Vì vậy, qua công trình của Lieu, chúng ta thấy được giá trị của việc tập trung giải thích một văn bản một cách độc lập mà không bị chi phối quá mức bởi các suy luận về cộng đồng và đặc điểm của nó - dù rằng những mối liên hệ như thế giữa thư I Giăng và các tác phẩm Giăng khác và hệ quả từ những mối liên hệ đó là điều không thể tránh khỏi.
II. KHÍA CẠNH LỊCH SỬ VÀ BỐI CẢNH CỦA CÁC THƯ TÍN GIĂNG#
Về bối cảnh lịch sử của các thư tín Giăng, ảnh hưởng của Brown vẫn còn hiện hữu, mặc dù mức độ tiếp nhận và phát triển ảnh hưởng đó đã khác nhau theo thời gian.
1️⃣ Trước hết, tiếp nối Brown và đối lập với cách tiếp cận của J. Louis Martyn, có thể thấy rõ rằng bối cảnh lịch sử của cộng đồng Giăng bị ảnh hưởng bởi nhiều khủng hoảng, điều cho thấy Trưởng lão không chỉ đối diện một vấn đề mà là nhiều vấn đề trải dài trong vòng một hoặc hai thập kỷ. Ngoài mô hình của Brown - trong đó ông nhận định rằng các tín hữu Giăng đã tương tác một cách biện chứng với nhiều cuộc khủng hoảng trong giai đoạn hai và ba của bối cảnh Giăng - các mối quan tâm cụ thể khác cũng xuất hiện trong tuyển tập hiện tại, vốn không hề mâu thuẫn với những suy luận của ông. Những điều này bao gồm:
- (a) Các cuộc đối thoại với cộng đồng Do Thái địa phương trong bối cảnh Hy-lạp - rõ ràng có liên quan đến việc một số người quay trở lại nhà hội;
- (b) Các cuộc đối đầu khá căng thẳng với chính quyền La Mã trong thời kỳ trị vì của Domitian (81–96 CN), có khả năng liên quan đến việc tái khẳng định quyền lực của hoàng đế và các vấn đề liên đới;
- (c) Những thách thức đến từ các giáo sĩ lưu động gốc dân ngoại thuộc Cơ Đốc giáo, những người giảng dạy một cách đồng hóa với hình ảnh Chúa Giê-xu là Con Đức Chúa Trời nhưng không chịu khổ (theo lối trình bày mang tính ảo hình);
- (d) Những tương tác mang tính đối thoại với Đi-ô-trép (Diotrephes) và những người cùng phe với ông - đại diện cho cách tiếp cận kỷ luật và trật tự theo mô hình cấp bậc lãnh đạo tiên khởi, giống như Ignatius.
2️⃣ Một luận điểm thứ hai như sau: Thuyết Ngộ đạo (Gnosticism) hiện đang hình thành không còn được xem là vấn đề trọng yếu trong bối cảnh Giăng -dù là từ phía nhà viết sách Phúc âm hay tác giả của các thư tín, và cũng không phải từ phía đối lập.
Theo quan điểm của von Wahlde, sứ mạng của Con trong sách Phúc âm và các thư tín Giăng hoàn toàn mang tính Do Thái - bắt nguồn từ mô-típ sứ giả theo luật Môi-se trong Phục truyền Luật lệ ký 18:15–22 và được xác chứng qua lời của Con trở thành hiện thực và Ngài trở về cùng Cha là Đấng đã sai Ngài. Do đó, sách Phúc âm và các thư tín Giăng (đặc biệt là I Giăng) khẳng định rằng Chúa Giê-xu chính là Đấng Mê-si của người Do Thái, và kêu gọi người nghe đặt lòng tin nơi Ngài là Con Đức Chúa Trời.
Những người rời bỏ cộng đồng (bị gọi là “kẻ chống Đấng Christ” trong I Giăng 2:18–25) từ chối thừa nhận Chúa Giê-xu là Đấng Mê-si trong khi vẫn cho rằng mình gắn bó với Đức Chúa Cha. Tuy nhiên, vì Con được Cha sai đến, nên khi khước từ Đấng mà Cha đã sai, họ đánh mất mục tiêu độc thần mà họ mong đạt được.
Các đoạn đề cập đến “kẻ chống Đấng Christ” lần thứ hai và thứ ba nói đến một khủng hoảng khác: đó là, những kẻ chối bỏ việc Chúa Giê-xu đã đến trong xác thịt (I Giăng 4:1–3; II Giăng 7), nhưng đó là những giáo sĩ Cơ Đốc gốc dân ngoại theo khuynh hướng ảo hình, chứ không phải là những người theo thuyết Ngộ đạo của giữa thế kỷ thứ hai. Phân tích sâu sắc của David Rensberger về những suy luận sai lạc liên quan đến chủ nghĩa hoàn hảo (perfectionism) trong bối cảnh Giăng càng làm rõ điều này.
Thêm vào đó, nếu cách phân tích của Loader về các vấn đề đạo đức tình dục – một vấn đề then chốt trong sự giao thoa giữa văn hóa Do Thái và Hy Lạp - La Mã vào cuối thế kỷ thứ nhất – cho thấy bất kỳ dấu hiệu nào về những thách thức mà những người theo Chúa Giê-xu phải đối mặt khi bị loại khỏi sinh hoạt của nhà hội Do Thái, thì sự đồng hóa với thế gian rõ ràng là một vấn đề nghiêm trọng hơn nhiều so với những gì các học giả gần đây thừa nhận.
3️⃣ Một điểm thứ ba đáng lưu ý là những yếu tố thường nhật trong bối cảnh Giăng lại giúp chúng ta hiểu rõ điều mà Trưởng lão Giăng đang đề cập, hơn là phác họa những suy đoán mang tính giả định về các đối thủ tưởng tượng - chẳng hạn như Cerinthus và những người theo ông ta, hay học thuyết về Chúa Cứu Thế mang màu sắc Sa-ma-ri được suy diễn ra (trái ngược với giả thuyết của Brown).
Những đóng góp của Lieu và Jones giúp chúng ta xem xét những khả năng thực tế như việc các nhà truyền giáo lưu động gây ra căng thẳng do cách họ đòi hỏi nơi chủ nhà và lạm dụng lòng hiếu khách, đặc biệt nếu những hoạt động của họ có thể mang tính chất truyền giáo. Quan điểm của Jones cho rằng những người lìa bỏ cộng đồng ra đi vì lý do truyền giáo thì ít thuyết phục hơn, mặc dù các môn đồ của Chúa Giê-xu trong các sách Phúc âm cũng đã ra đi trong các chuyến đi truyền giáo. Trưởng lão rõ ràng xem việc họ rời bỏ là một hành động từ bỏ cộng đồng, qua đó cũng đặt nghi vấn về sự chân thành của họ ngay từ ban đầu.
Tuy nhiên, nhận định của Jones rằng lời khuyên của Trưởng lão trong II Giăng dường như mang hình thức và ngôn ngữ giống như giới lãnh đạo giám mục mà ông đang phê phán trong III Giăng là điều đáng được lưu tâm. Thật vậy, có thể thấy nhiều điểm tương đồng giữa vai trò lãnh đạo mà Trưởng lão và Đi-ô-trép (Diotrephes) thể hiện, và sự tranh chấp lãnh thổ thường gay gắt nhất giữa các cá thể đồng loại (đặc biệt là cùng giới), nên những căng thẳng ấy không hẳn chỉ do khác biệt lập trường.
Thêm vào đó, các tác phẩm của van der Watt, Loader và Rensberger nhắc nhở chúng ta rằng đôi khi căng thẳng trong cộng đồng xuất phát từ những nhu cầu xã hội thực tiễn (như chăm sóc người đói khổ và người thiếu thốn về kinh tế), vì vậy những yếu tố này cần được quan tâm, bên cạnh những mối quan tâm lớn hơn về truyền giáo.
4️⃣ Những đóng góp của Köstenberger và Craig Koester làm sáng tỏ một trong những yếu tố bối cảnh bị bỏ sót nghiêm trọng nhất trong các mô hình học thuật vài thập niên trước (bao gồm cả Brown và Bultmann), đó là các yếu tố thuộc về đế quốc đã đóng vai trò trọng yếu trong giai đoạn sau của bối cảnh Giăng.
Từ Koester, chúng ta được dẫn dắt đến sự thật văn bản rằng các từ ἀντίχριστος và ἀντίχριστοι không hề xuất hiện trong sách Khải huyền; chúng chỉ có mặt trong I và II Giăng. Và, các tham chiếu này không mang tính lai thế học; chúng ám chỉ các mối đe dọa gần đây và đang cận kề, xác định “các kẻ chống Đấng Christ” là những tín hữu cùng một hội chúng, hoặc đã rời khỏi cộng đồng Giăng vì từ chối tin rằng Chúa Giê-xu là Đấng Mê-si, hoặc đe dọa sẽ đến thăm các cộng đồng Giăng để truyền bá giáo lý về một Chúa Giê-xu không chịu khổ hình, mang tính xác thịt. Do đó, những suy đoán mang tính khải huyền của Papias, Irenaeus và Hippolytus đã làm lệch hướng thông điệp tiên tri của các thư tín Giăng, vốn nhằm thách thức các tín hữu sống trung tín cách chân thật trong bối cảnh Hy Lạp - La Mã của họ. Theo Koester thì hãy cẩn thận: chúng ta đã thấy kẻ chống Đấng Christ… và đó chính là chúng ta!
Tương tự, bài viết của Köstenberger cho thấy rằng trong phiên tòa mang tính vũ trụ nhằm đối chất các dân tộc, thì tình yêu thương, lẽ thật và ánh sáng của Đức Chúa Trời rốt cuộc sẽ chiến thắng, kêu gọi các tín hữu hoàn toàn yên nghỉ trong công tác của Đấng Christ là Con Đức Chúa Trời, và nhờ đó nắm lấy lời hứa sự sống trong danh Ngài. Đức Chúa Trời chiến thắng - đó chính là sứ điệp của các thư tín Giăng, sách Khải huyền, và cũng là của sách Phúc âm Giăng.
III. ĐẶC ĐIỂM THẦN HỌC VÀ ĐẠO ĐỨC CỦA CÁC THƯ TÍN GIĂNG#
Việc đánh giá đúng các khía cạnh bối cảnh của các thư tín Giăng giúp soi sáng sự hiểu biết về nội dung của chúng, và một trong những giá trị lớn nhất của tập hợp tác phẩm hiện tại là những bước tiến đạt được qua sáu bài nghiên cứu liên quan đến trọng tâm thần học và đạo đức của các thư này.
1️⃣ Theo von Wahlde, Culpepper, Köstenberger và những người khác, trọng tâm thần học và hùng biện của sách Phúc âm Giăng tiếp diễn trong các thư tín - với mục đích thuyết phục người nghe tin vào Chúa Giê-xu là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời - và hơn thế, các thư tín còn mở rộng thêm về những hệ quả của sự cam kết đức tin ấy.
Trong khi sách Phúc âm trình bày sứ mạng của Con đến từ Cha theo cách hiểu Do Thái, thì I Giăng 1:1–4 giải bày những hệ quả đó theo ngôn ngữ thân thiện với bối cảnh Hy-lạp hóa, có thể soi sáng thêm về nguồn gốc đa văn hóa của lời tựa Phúc âm. Thật thú vị, khi xem xét bối cảnh của các thư tín Giăng, người ta cũng thấy rõ bản chất và hệ quả của những căng thẳng trong thần học về Đấng Christ của sách Phúc âm Giăng. Để thuyết phục cả người Do Thái và dân ngoại rằng Chúa Giê-xu thật sự là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời, người viết sách Phúc âm và Trưởng lão đều khao khát cho thấy sự liên kết và đồng nhất trong sứ mạng giữa Chúa Giê-xu và Đức Chúa Cha như là một phương diện của sứ mạng ấy (theo Jones). Điều này giải thích cho những lời tuyên xưng và khẳng định có tính cao trong thần học về Đấng Christ của cả sách Phúc âm lẫn các thư tín. Ngược lại, khi nhấn mạnh rằng Chúa Giê-xu thật sự đã chịu khổ và chịu chết trên thập tự giá (được chứng minh qua nước, huyết và Thánh Linh), thì các thư tín cũng khẳng định mạnh mẽ nhân tính chịu khổ của Ngài (theo van der Watt).
Vì vậy, thay vì phản ánh các nguồn khác nhau với các mức độ nhấn mạnh thần học về Đấng Christ khác nhau, sách Phúc âm và các thư tín Giăng phản ánh nỗ lực phối hợp của các lãnh đạo trong cộng đồng Giăng nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau trong bối cảnh Giăng, qua đó góp phần tạo nên câu chuyện Phúc âm thần học đa chiều và thiết kế đối thoại sâu sắc của các thư tín. Theo nghĩa đó, nội dung được định hình bởi bối cảnh trong các thư tín chính là chìa khóa để hiểu thần học của sách Phúc âm Giăng.
2️⃣ Thứ hai, vì đức tin bao hàm sự trung tín, nên lời mời gọi tin nơi Chúa Giê-xu trong bối cảnh Giăng cũng là lời mời gọi ở lại - ở lại trong mối tương giao với Chúa Giê-xu và cộng đồng những người theo Ngài, bất chấp những thách thức đến từ thế gian.
Theo van der Watt, Loader và Koester, những thách thức ấy chủ yếu mang tính đạo đức, thậm chí còn vượt lên trên cả những vấn đề thần học, và rõ ràng đã có nhiều bất đồng trong phong trào Cơ Đốc ban đầu về việc lòng trung tín với Đấng Christ đòi hỏi những gì và không đòi hỏi những gì. Điều này đặc biệt đúng giữa những tín hữu xuất thân Do Thái và những tín hữu gốc dân ngoại. Trong bối cảnh ấy, việc tuyên bố rằng mình “không có tội” nhiều khả năng (theo bài viết then chốt của Rensberger về việc “được hoàn tất trong tình yêu” - trái ngược với chủ nghĩa hoàn hảo) liên quan đến sự khác biệt quan điểm về các hành động đúng và sai trong thế hệ thứ hai và thứ ba của phong trào theo Chúa Giê-xu.
Cũng như sứ mạng của Phao-lô đến với dân ngoại từng kêu gọi tín hữu Do Thái tin Chúa Giê-xu cần phân biệt điều nào là bản chất niềm tin và điều nào chỉ mang tính biểu tượng (xem Công vụ 15), trong khi tín hữu dân ngoại thì không nên lạm dụng sự tự do trong ân điển (I Cô-rinh-tô 6:12), thì giới lãnh đạo trong cộng đồng Giăng cũng tìm cách công bố lời hứa giao ước của Áp-ra-ham và Môi-se cho các dân tộc, đồng thời vẫn kêu gọi giữ gìn những đặc điểm cốt lõi của đức tin và thực hành Do Thái.
Nếu lời cuối cùng trong I Giăng (5:21) - “hỡi các con bé mọn, hãy tránh xa hình tượng” - là lời nhấn mạnh chứ không phải một câu nói thêm vu vơ, thì lời cảnh báo này có thể làm sáng tỏ cụm vấn đề mà cộng đồng Giăng ở giai đoạn sau đang đối diện. Khi mà hoàng đế Domitian (81–96 CN) cổ vũ các hình thức thờ phượng ngoại giáo ở địa phương và vùng miền - miễn là cũng có sự tôn vinh hoàng đế và thêm các lễ hội La Mã vào tập tục truyền thống - thì những lễ hội ấy đã ràng buộc các dục vọng và cơ cấu xã hội của con người để phục vụ cho sự hiện diện cai trị của đế quốc, đồng thời tưởng thưởng hoặc trừng phạt sự trung thành công khai. Vì vậy, theo Rensberger, Loader, van der Watt, Koester và Köstenberger, yêu kính Đức Chúa Trời và cộng đồng đức tin hàm ý phải nói “không” với “thế gian” và mọi lôi cuốn của nó - ngay cả khi con đường thập tự đồng nghĩa với sự môn đồ hóa đầy hy sinh. Đây có lẽ chính là điều mà các giáo sĩ lưu hành, vốn muốn giảm nhẹ ý nghĩa về một Chúa chịu khổ trong xác thịt, đã tìm cách tránh né.
3️⃣ Khi nhìn từ góc độ này - phản ánh các cuộc tranh luận đạo đức về điều gì là tội lỗi và điều gì có thể không, đặc biệt giữa những tín hữu có nguồn gốc Do Thái và dân ngoại - thì các lời kêu gọi về sự vô tội và sự hướng dẫn thuộc linh được làm sáng tỏ cả về bản chất lẫn hệ quả của chúng.
Theo von Wahlde, yếu tố Do Thái trong sự hướng dẫn bởi Đức Thánh Linh được bày tỏ cách rõ ràng ở đây. Chiều hướng đó dẫn tới bối cảnh của thuyết Ngộ đạo thế kỷ thứ hai, chứ không đòi hỏi một xuất xứ Ngộ giáo để hiểu được nó.
Tuy nhiên, nếu Burge đúng khi phác họa xã hội học của các cộng đồng sống theo Thánh Linh và các phương tiện hợp thức hóa của họ, thì có ít khả năng rằng chủ nghĩa thần linh (pneumatism) là nguyên nhân cốt lõi của sự bất đồng - qua đó củng cố cho các tiếp cận mang tính cơ cấu đối với vai trò lãnh đạo trong Hội thánh thay vì lấy Thánh Linh làm trung tâm. Thay vào đó, thẩm quyền bởi Thánh Linh dường như mang tính hùng biện cả về nguồn gốc lẫn mục đích. Quả thật, vị Trưởng lão trong cộng đồng Giăng lên tiếng thách thức các mô hình lãnh đạo có cơ cấu và giám mục, nhưng điều này được thực hiện nhân danh ký ức của các sứ đồ, chứ không phải chống lại nó; vì vậy, suy luận của Brown cho rằng chủ nghĩa thần linh là sự xúc phạm đối với lãnh đạo sứ đồ (và theo đó là lãnh đạo cơ cấu) cần được hiệu chỉnh tại điểm này.
Nói cách khác, việc xác nhận thẩm quyền bởi Thánh Linh có thể được viện dẫn dễ dàng bởi cả hai phe: (1) để ủng hộ các giá trị Do Thái bảo thủ của vị Trưởng lão, (2) cũng như để củng cố cho giáo lý phóng khoáng, đồng hóa của các nhà tiên tri chống Đấng Christ - những người chối bỏ con đường thập tự và có khuynh hướng thần học về một Đấng Christ ảo ảnh.
Một lần nữa, sự nhấn mạnh của Rensberger về tính được hoàn tất và trưởng thành của tình yêu trong cộng đồng Giăng giúp làm sáng tỏ cách thức tình yêu ấy vận hành trong cộng đồng. Như van der Watt đã lập luận, yêu thương nhau trong cộng đồng là sự tiếp nối trực tiếp các mạng lệnh yêu thương của Chúa Giê-xu trong cả bốn sách Phúc âm (các mạng lệnh yêu kính Đức Chúa Trời, yêu người lân cận, yêu kẻ thù và - gây kinh ngạc thay! -yêu thương lẫn nhau).
Do đó, lời kêu gọi sống trong tình yêu trưởng thành trở thành một nguyên tắc tổng quát để giải quyết nhiều vấn đề trong bối cảnh Giăng: hiệp một thay vì rời bỏ, quan tâm thay vì vị kỷ, trung tín thuộc linh thay vì thờ hình tượng, liêm chính tình dục thay vì buông thả, và bình đẳng trong địa vị thay vì phân biệt thứ bậc. Như vậy, trong một bối cảnh đa văn hóa, các tín hữu Do Thái và dân ngoại theo Chúa Giê-xu ở đây được nhìn thấy đang chật vật để hiểu thế nào là nhận lãnh ân điển bởi đức tin, đồng thời cũng giữ lòng trung tín nhờ ân điển. Đó chính là hai đặc điểm chủ chốt của việc đón nhận và làm chứng về món quà yêu thương biến đổi từ Đức Chúa Trời.
4️⃣ Trong bối cảnh những vấn đề và khủng hoảng như đã nêu, vị Trưởng lão trong cộng đồng Giăng khẳng định rằng một mô hình lãnh đạo nhấn mạnh đến sự phân định là chìa khóa để tiến bước, và điều này bao gồm một số đặc điểm.
Trước hết, ông đặt nền tảng cho sự dạy dỗ của mình trên truyền thống lịch sử - những điều đã được thấy và nghe từ ban đầu - ông không bịa ra điều gì mới mà tiếp nối điều đã được các nhân chứng tận mắt và các tín hữu khác giảng dạy và truyền rao.
Thứ hai, ông kêu gọi sự đáp ứng trung tín đối với sứ mạng của Con đến từ Cha, ý muốn của Ngài cũng được bày tỏ qua Đức Thánh Linh, và được các tín hữu tiếp nhận, làm chứng giữa thế gian. Tính liên tục trong sứ mạng ấy mời gọi các tín hữu bước vào sự cộng tác trong công cuộc cứu chuộc của Đấng Christ, để làm chứng cho Ngài trong lẽ thật và tình yêu thương.
Thứ ba, vị trưởng lão đặt trách nhiệm lên các nhà giảng dạy về Đấng Christ sau này, yêu cầu họ trung tín với ký ức về Chúa Giê-xu ở Na-xa-rét - Đấng đã đến trong xác thịt - Đấng đã chịu khổ và chết, như là trung tâm vinh hiển đầy nghịch lý của sứ mạng Ngài thi hành. Các môn đồ về sau cần dấn thân đồng hành với Chúa Giê-xu và cộng đồng Ngài, dù điều đó kéo theo gian khổ; ấy chính là con đường thập tự và lời hứa về sự phục sinh.
Thứ tư, vị Trưởng lão kêu gọi lấy tình yêu thương của Đức Chúa Trời làm mục tiêu và tiêu chuẩn cho mọi nỗ lực và hành động của con người. Vì Đức Chúa Trời đã yêu chúng ta trước, nên chúng ta phải đáp lại tình yêu ấy bằng lòng biết ơn trung tín; nhưng nếu chúng ta nói rằng mình yêu Đức Chúa Trời, thì cũng phải sẵn lòng yêu thương nhau (I Giăng 4:19). Dựa vào lời Chúa trong sách Phúc âm (Giăng 13:35), tình yêu giữa các tín hữu chính là dấu hiệu rõ ràng nhất cho thấy họ đã đón nhận và sống trong tình yêu của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ.
Thứ năm, vì lẽ thật và sự phân định lẽ thật là chìa khóa cho sự lãnh đạo Cơ Đốc hiệu quả, nên cả các giáo sĩ lưu hành lẫn những nhà lãnh đạo trong Hội thánh đều phải sống trong lẽ thật và giúp người khác làm điều tương tự, thay vì tìm cách hòa nhập với xã hội hoặc dựa vào quyền lực địa vị. Nếu quả thật Đức Thánh Linh có thể được tin cậy để dẫn dắt các tín hữu bước vào lẽ thật, thì sự lãnh đạo Cơ Đốc đích thực phải dựa trên tính chân thực và sự xác tín, chứ không phải trên sự quyến dụ hay cưỡng ép.
IV. NHỮNG CÂU HỎI CÒN BỎ NGỎ VÀ NHỮNG HƯỚNG ĐI MỚI#
Bên cạnh việc thúc đẩy cuộc đối thoại bằng nhiều tiến bộ trong học thuật về các thư tín Giăng, cách tiếp cận này cũng mở ra những câu hỏi và hướng đi mới. Bắt đầu từ những bước tiến đạt được trong các nghiên cứu thần học và đạo đức về các thư tín Giăng, những câu hỏi mới nảy sinh liên quan đến cách hiểu về bối cảnh Giăng cũng như tiến trình biên soạn các tác phẩm Giăng.
1️⃣ Dựa trên những bước tiến trong việc hiểu ý nghĩa của sự trọn vẹn trong tình yêu thương (Rensberger, van der Watt, Lieu, von Wahlde), chúng ta sẽ giải nghĩa các tác phẩm Giăng như thế nào nếu xem mối quan tâm sâu sắc của họ là nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và xã hội của người nghe, thay vì cho rằng đó là phản ứng trước chủ nghĩa hoàn hảo của thuyết Ngộ đạo (gnostic perfectionism) hay khuynh hướng thần linh cực đoan (incorrigible pneumatism) (I Giăng 3:17–18)?
Quả thật, chính vị Trưởng lão cũng có thể bị cho là đã tuyên bố rằng người nào ở trong Đấng Christ thì không thể phạm tội, nhưng điều đó không có nghĩa rằng ông theo thuyết Ngộ đạo hay ông tin rằng mình đã đạt đến sự hoàn hảo. Trái lại, niềm xác tín Do Thái rằng Đức Thánh Linh có thể và thực sự hướng dẫn những người trung tín (theo von Wahlde) là nền tảng vững chắc cho sự tin quyết của Trưởng lão, cũng như cho việc ông kêu gọi người nghe thuận phục sự hướng dẫn của Thánh Linh như là phương tiện để không phạm tội.
2️⃣ Một câu hỏi thứ hai được đặt ra: nếu những vấn đề được tranh luận giữa vị Trưởng lão trong cộng đồng Giăng và người nghe của ông liên quan đến lời kêu gọi áp dụng các phương diện đức tin và thực hành mang tính tuân thủ Do Thái hơn, đối lập với khuynh hướng đồng hóa của những tín hữu gốc dân ngoại, thì lập trường này sẽ thách thức mạnh mẽ những suy diễn gần đây về tính bè phái trong cộng đồng Giăng.
Theo Loader và Köstenberger, nếu lời cảnh báo của Trưởng lão rằng “đừng yêu thế gian” (bao gồm các dục vọng xác thịt và sự dấn thân vào các giá trị vật chất) liên hệ đến những vấn đề đạo đức cụ thể, thì điều đó cho thấy các tín hữu đang có sự tham gia sâu rộng vào văn hóa và môi trường xã hội Hy Lạp - La Mã, thay vì tìm cách rút lui khỏi thế gian. Nói cách khác, Cơ Đốc giáo trong cộng đồng Giăng phản ánh những căng thẳng xuất phát từ nỗ lực gìn giữ các giá trị Do Thái trong một bối cảnh đa văn hóa, chứ không phải một chủ nghĩa biệt lập phản thế tục như cộng đồng tu viện Qumran trong hoang mạc.
Vì vậy, thay vì xem Cơ Đốc giáo theo truyền thống Giăng như một nhóm bè phái khép kín, tách biệt khỏi thế gian và các cộng đồng Cơ Đốc khác, chỉ quan tâm đến việc yêu thương lẫn nhau mà không yêu thương người lân cận và kẻ thù - như Chúa Giê-xu ở Na-xa-rét đã dạy - thì sao chúng ta không xem vai trò lãnh đạo trong cộng đồng Giăng như đang tiếp nối mạng lệnh yêu thương của Chúa Giê-xu theo hướng truyền giáo (theo van der Watt và Jones), và qua đó làm chứng một cách đầy ý nghĩa về tình yêu của Đức Chúa Trời giữa thế gian?
Những cách tiếp cận như vậy đối với các tác phẩm Giăng nói chung (bao gồm sách Phúc âm và Khải huyền) có thể giúp chúng ta nhìn thấy rằng Cơ Đốc giáo trong cộng đồng Giăng chính là một tác nhân trọng yếu trong sứ mạng rộng lớn hơn đối với dân ngoại - thậm chí có thể là trong chính trung tâm của sứ mạng Phao-lô về sau?
Nếu đúng như vậy, thì các thư tín Giăng xứng đáng được xem xét như chìa khóa để hiểu rõ cốt lõi của phong trào Cơ Đốc sơ khai, chứ không phải chỉ là phần ngoại vi.
3️⃣ Một nhóm câu hỏi thứ ba vượt ra ngoài các bài viết trong tập sách hiện tại, nhằm khảo sát những hệ quả đối với lịch sử diễn giải và ảnh hưởng đến thần học Cơ Đốc nói chung. Giữa hai đường chân trời là giải kinh Kinh Thánh và thần học Cơ Đốc, cần phải có một sự tương tác lâu dài và chuyên sâu hơn. Quá dễ dàng để các nhà thần học cho rằng họ đang theo kịp các phương pháp giải kinh tân tiến, trong khi thực chất lại trình bày những nhận thức đã lỗi thời từ hàng thập kỷ hoặc hàng thế kỷ, còn các nhà giải kinh thì thực hiện công việc của mình mà ít có sự nhạy bén thần học. Hai lĩnh vực này sẽ mạnh mẽ hơn nếu được gắn kết đối thoại với nhau - và điều này đặc biệt quan trọng trong việc diễn giải các thư tín Giăng.
Là người đang hoàn tất bộ chú giải “The Two Horizons” về các thư tín Giăng (dự kiến phát hành năm 2015), đây là một mối quan tâm sâu sắc của tôi - và tôi không phải là người duy nhất. Chẳng hạn, Koester đã đưa chúng ta trở lại lối đi đúng bằng cách thách thức sự đồng nhất sai lầm trong cách giải kinh lâu đời giữa các “kẻ chống Chúa” trong thư tín Giăng với “các con thú” trong sách Khải huyền và “người vô luật pháp” trong II Tê-sa-lô-ni-ca. Những phân đoạn này, xét theo văn mạch, không mang ý nghĩa lai thế học mà mang tính đương thời đối với bối cảnh thế kỷ thứ nhất. Hơn nữa, chúng cũng không nói đến cùng một cuộc khủng hoảng giống nhau hay những con người giống nhau. Vì vậy, việc hiểu rõ hơn về ý nghĩa bối cảnh và giải kinh của những lời quở trách trong Kinh Thánh sẽ giúp điều chỉnh những suy diễn sai lệch nơi các nhà diễn giải, đồng thời mang lại nhận thức xác tín và hữu ích hơn cho đời sống của các tín hữu thuộc những thế hệ sau.
Thêm vào đó, nếu ba phân đoạn về “chống Chúa” trong thư tín Giăng đang nói đến hai mối đe dọa riêng biệt - một là sự ly khai của những thành viên trong cộng đồng và một là sự xuất hiện của những giáo sư giả - thì vấn đề cốt lõi đang được xử lý trong thư sẽ trở nên rõ ràng hơn cho người đọc hậu thế. Mối đe dọa đầu tiên liên quan đến sự kêu gọi của sự chắc chắn tôn giáo; mối đe dọa thứ hai là sự hoà nhập dễ dãi với văn hóa đương thời. Trong cả hai trường hợp, sự trung tín với Đấng Christ là con đường hiện sinh dẫn tới phía trước.
Những vấn đề khác cũng cần được khảo sát bao gồm việc phân biệt giữa tội dẫn đến sự chết và tội nhẹ. Nếu các yếu tố của sự sùng bái hoàng đế đã là một vấn đề trong bối cảnh cuối thế kỷ thứ nhất dưới triều đại của Domitian, thì điều đó mang lại những hệ quả sâu rộng cho việc sống trung tín trong những hoàn cảnh bị đế quyền áp bức trong các thế hệ sau. Tương tự, nếu vị trưởng lão trong cộng đồng Giăng đang phản đối hậu quả tiêu cực của thể chế hóa đột ngột như được thực thi bởi Đi-ô-trép (Diotrephes) và những người cùng chí hướng, thì đó trở thành một lời chỉnh sửa không chỉ cho các mô hình lãnh đạo Cơ Đốc mang tính cơ cấu, mà còn cho các biểu hiện quá độ của chủ nghĩa thần linh.
4️⃣ Một nhóm câu hỏi cuối cùng liên quan đến vị trí của toàn bộ tác phẩm Giăng so với các tác phẩm khác trong Tân Ước. Dù các bài tiểu luận hiện tại giúp mở rộng sự hiểu biết của chúng ta về các tác phẩm Giăng khi so sánh với nhau, nhưng còn mối liên hệ giữa sách Phúc âm Giăng với những tường thuật Phúc âm khác thì sao? Và mối liên hệ giữa các thư tín Giăng với các thư tín khác trong phong trào Cơ Đốc thế kỷ thứ nhất thì thế nào?
Dù Brown đã không phát triển một phương pháp tiếp cận tổng thể đối với các vấn đề này, người ta tự hỏi liệu các tài liệu Giăng thời kỳ đầu có nhằm bổ sung cho Mác hay không; và liệu các tài liệu Giăng thời kỳ sau có tìm cách hài hòa tường thuật của Giăng với các sách Phúc âm cộng quan (theo Bultmann) hay không. Hơn nữa, liệu truyền thống Giăng có đóng vai trò hình thành đối với Lu-ca và Q, cũng như có sự đối thoại qua lại với truyền thống Mác thời kỳ đầu và truyền thống Ma-thi-ơ thời kỳ sau hay không?
Nếu một vài yếu tố liên truyền thống này thực sự hiện diện trong ý thức của truyền thống Giăng, điều đó có thể lý giải việc vị Trưởng lão bắt đầu thư tín đầu tiên bằng cách hồi tưởng về điều “đã được thấy và được nghe từ ban đầu” liên quan đến “lời sự sống”. Nếu quả đúng như vậy, mặc dù truyền thống Giăng có tính thần học sâu sắc, thì nó cũng tràn đầy ý thức lịch sử, điều này có hệ quả đối với những nỗ lực tìm kiếm lịch sử về Chúa Giê-xu cũng như phong trào được hình thành để tưởng nhớ đến Ngài.
Cũng đáng chú ý là những liên hệ rõ ràng giữa các các thư tín Giăng với các thư tín Phao-lô, các thư tín Phi-e-rơ, và thư Hê-bơ-rơ. Do đó, lịch sử Hội thánh Cơ Đốc ban đầu sẽ không thể được hiểu cách trọn vẹn nếu không nắm rõ bối cảnh và nội dung của các thư tín Giăng, vì chúng cung cấp một bộ chìa khóa thiết yếu để hiểu được đặc điểm và bản sắc của Cơ Đốc giáo trong bối cảnh cuối thế kỷ thứ nhất.
➡ Dựa trên lý thuyết tổng quát của Brown, tuyển tập này tương tác với những đóng góp của ông qua các học giả hàng đầu về văn chương Giăng - những người cũng trình bày các lý thuyết tổng thể của riêng mình về tác phẩm Giăng một cách ngắn gọn nhưng sâu sắc. Nhờ đó, độc giả có thể tiếp cận nhiều lăng kính khác nhau để khám phá tiến trình hình thành, đặc điểm, và ý nghĩa của các thư tín Giăng, đồng thời được giúp đỡ để tập trung vào sứ điệp của các thư tín ấy như chính chúng vốn có - không cần đến (hay bị giới hạn bởi?) một phương pháp luận tổng thể nào.
➡ Từ nền tảng đó, những trình bày thần học và đạo đức về nội dung các thư tín Giăng giúp độc giả nhận biết điều mà các bản văn có thể đang nói, cũng như điều chúng có thể không nói - để phục vụ cho một cách đọc đầy đủ hơn đối với bảy chương của ba bức thư đầy cuốn hút này. Bên cạnh việc các mô hình lớn giúp giải nghĩa văn bản kỹ hơn, điều ngược lại cũng đúng: sự hiểu biết đầy đủ hơn về các vấn đề văn bản sẽ làm sáng tỏ các mô hình và lý thuyết tổng thể - đặc biệt là trong việc xác định điều gì là bế tắc thực sự và điều gì không phải.
➡ Khi các cuộc tranh luận đã diễn ra trong bối cảnh cuối thế kỷ thứ nhất, gắn liền với cộng đồng Cơ Đốc theo truyền thống Giăng, thì ngày nay những tranh luận đó vẫn đang tiếp tục giữa các học giả hàng đầu. Nếu tuyển tập hiện tại có thể mở ra hướng đi phía trước, thì tại đây chúng ta chứng kiến một số điểm hội tụ và các nhóm câu hỏi mới đang xuất hiện. Khi độc giả thêm vào hiểu biết và góc nhìn của mình cho các đóng góp này, cuộc đối thoại vẫn tiếp diễn. Và, nếu hai thiên niên kỷ vừa qua là bằng chứng cho thấy những tranh luận và câu hỏi mà các tác phẩm kích thích này đã gợi lên, thì sự cuốn hút và quá trình tìm hiểu chỉ vừa mới bắt đầu!