Skip to main content

Chương 03: THỜI KỲ HẬU SỨ ĐỒ

Author
Khoa
Table of Contents

LỊCH SỬ HỘI THÁNH

Thế kỷ thứ hai từng được ví như một giai đoạn đường hầm trong lịch sử Hội Thánh, nhưng hình ảnh đó thực ra thích hợp để mô tả khoảng thời gian hơn ba mươi năm cuối của thế kỷ thứ nhất hơn. Việc không có một sử liệu tương tự như sách Công-vụ các Sứ-đồ tường thuật giai đoạn này đã để lại nhiều khoảng trống cho sự hiểu biết của chúng ta. Ngay cả những học giả cho rằng phần lớn các sách Tân Ước được viết vào cuối thế kỷ thứ nhất hoặc đầu thế kỷ thứ hai, thì họ vẫn phải dựa vào nhiều giả thuyết và lý thuyết xã hội học để mô tả sự phát triển của Hội Thánh trong giai đoạn này.

Các sứ đồ Phao-lô, Phi-e-rơ, và Gia-cơ (em của Chúa Giê-xu) - “ba trụ cột” của Hội Thánh thời các sứ đồ - đều bị giết trong vòng năm năm gần nhau, vào khoảng giữa thập niên sáu mươi. Gia-cơ bị giết bởi các lãnh đạo Do Thái tại thành Giê-ru-sa-lem trong thời kỳ quan tổng đốc La Mã phụ trách vùng Giu-đê qua đời trong khi người kế nhiệm chưa đến (khoảng năm 62); còn Phi-e-rơ và Phao-lô bị xử tử tại thành Rô-ma dưới thời hoàng đế La Mã Nero (có lẽ Phi-e-rơ tử đạo vào năm 64, còn Phao-lô tử đạo vào khoảng trước năm 68).

Việc ba nhân vật chủ chốt của thời kỳ các sứ đồ lần lượt qua đời, cùng với sự đàn áp cuộc nổi dậy của người Do Thái ở xứ Palestine chống lại sự cai trị của La Mã (66–70/73) dẫn đến sự hủy diệt thành Giê-ru-sa-lem, đã mang đến một tình thế mới quan trọng cho Hội Thánh trong ba thập niên cuối cùng của thế kỷ thứ nhất.

I. CÁC NHÁNH CƠ ĐỐC GIÁO DO THÁI
#

Vào cuối thế kỷ thứ nhất và đầu thế kỷ thứ hai, những người tin Chúa Giê-xu ngày càng rời xa các nhà hội Do Thái. Một hệ quả quan trọng từ chuỗi các sự kiện - cái chết của Gia-cơ, sự tàn phá Đền thờ vào năm 70, và việc người Do Thái bị trục xuất khỏi Giê-ru-sa-lem sau cuộc nổi dậy Bar Kokhba vào năm 135 - là việc Giê-ru-sa-lem không còn là trung tâm địa lý của phong trào Cơ Đốc nữa. Hệ quả này đi kèm với việc các Cơ Đốc nhân người Do Thái dần dần bị gạt ra bên lề so với số lượng ngày càng gia tăng của các tín hữu người ngoại.

Chính thuật ngữ “Cơ Đốc giáo Do Thái” (Jewish Christianity) cũng trở nên vô cùng phức tạp: đôi khi nó được sử dụng một cách rộng rãi để chỉ tất cả các ảnh hưởng đặc trưng của Do Thái đối với Cơ Đốc giáo, và đôi khi được dùng để chỉ Cơ Đốc giáo trong cộng đồng người Do Thái về mặt dân tộc. Trong các giáo phụ, cách dùng thứ hai còn được thu hẹp hơn nữa khi được sử dụng để chỉ các Cơ Đốc nhân người Do Thái mà Hội Thánh người ngoại xem là tà giáo, bởi vì các tín hữu này vẫn giữ các thực hành tôn giáo đặc thù của người Do Thái.

Sự từ chối lẫn nhau giữa đa số các tín hữu người ngoại và hầu hết các tín hữu người Do Thái đã thực sự loại bỏ khỏi lịch sử Hội Thánh một quan điểm Cơ Đốc giáo Do Thái - vốn có thể làm cầu nối, giúp duy trì sự giao tiếp giữa những người Do Thái không tin nhận Chúa Giê-xu và những người ngoại bang đã tin nhận Ngài. Hậu quả của những diễn biến này là có rất ít tài liệu về Cơ Đốc giáo Do Thái còn tồn tại, do đó lịch sử của nó chỉ có thể được phác thảo một cách khái quát.

Eusebius, sử gia Hội Thánh ở thế kỷ thứ tư, cho biết rằng trong cuộc Chiến tranh La Mã-Do Thái (từ năm 66 đến năm 70), các Cơ Đốc nhân ở Giê-ru-sa-lem đã chạy đến Pella - vùng bên kia sông Jordan. Tính xác thực của ghi chép này bị nghi vấn, và một số chi tiết trong đó có thể không chính xác; tuy nhiên, có lý do chính đáng để tin rằng đã có một cuộc di tản của các tín đồ Cơ Đốc khỏi Giê-ru-sa-lem và một số đã trở về sau chiến tranh.

Hình 1: Sự vây hãm và phá hủy thành Giê-ru-sa-lem, David Roberts (1850).

Vào khoảng thời gian trước khi kết thúc thế kỷ thứ nhất, mặc dù chi tiết hiện nay không thể xác định được, nhiều nhà hội Do Thái đã thực hiện các hành động khiến sự hiện diện của các Cơ Đốc nhân trong nhà hội bị loại bỏ hoàn toàn. Các Cơ Đốc nhân người Do Thái nhận thấy mình bị loại trừ khỏi nhà hội, đồng thời cũng không được các Hội Thánh dân ngoại chấp nhận - những Hội Thánh này đang tách biệt khỏi các tập tục Do Thái trong khi đồng thời tuyên bố di sản Kinh Thánh Do Thái là của riêng họ. Khi chính quyền La Mã cấm người Do Thái vào Giê-ru-sa-lem sau năm 135, thì chính Hội Thánh tại Palestine cũng trở nên bao gồm phần lớn là các tín hữu dân ngoại.

Ba nhánh của Cơ Đốc giáo Do Thái được ghi nhận trong các tác phẩm của giáo phụ; tất cả đều chỉ được biết đến một cách rời rạc và cuối cùng đều biến mất:

A. Nhánh Ebionites
#

Nhóm tín hữu Do Thái, được các tác giả Cơ Đốc người ngoại đề cập nhiều nhất và bị xem là tà giáo, được gọi là Ebionites. Nhân vật anh hùng của nhánh này là Gia-cơ Công Bình (James the Just), và họ có thái độ đối nghịch mạnh mẽ với Phao-lô. Họ giữ lập trường cho rằng những người ngoại tin Chúa Giê-xu vẫn phải tuân giữ luật pháp Môi-se.

Sự nhấn mạnh vào chủ nghĩa độc thần nghiêm ngặt đã khiến nhánh Ebionites xem Chúa Giê-xu chỉ là một con người và bác bỏ sự sinh ra từ một trinh nữ (virgin birth), trong khi vẫn khẳng định Ngài là một tiên tri thật, Môi-se mới, và là Đấng Mê-si bởi đời sống công chính của Ngài. Theo họ, sứ mệnh của Chúa Giê-xu là hủy bỏ hệ thống chuộc tội gắn liền với Đền thờ và các nghi lễ của nó, và mang đến một phương cách mới để con người được tha tội bằng cách dìm mình trong nước “sống” (tức dòng nước “chảy”).

Cùng với việc bác bỏ các của lễ bằng vật chất, người Ebionites cũng bác bỏ chế độ quân chủ, một số khía cạnh của tiên tri, và những phân đoạn gây tranh cãi trong Cựu Ước (họ xem chúng là những đoạn văn giả mạo, tức những bổ sung sau này vào văn bản Kinh Thánh).

Các đặc điểm khác bao gồm việc cấm ăn thịt, nhấn mạnh sự nghèo khó, và quan tâm đến sự tinh sạch theo nghi lễ (liên quan đến các nghi thức tẩy rửa ngoài phép Báp-têm ban đầu). Họ tiếp tục giữ các tập tục Do Thái như phép cắt bì, ngày Sa-bát (nhưng cũng giữ Ngày của Chúa), và các luật về ăn uống. Sách Phúc Âm của họ là Ma-thi-ơ, nhưng họ cũng tạo ra các sách Phúc Âm và Công-vụ khác của riêng mình.

Các giáo phụ đưa ra nhiều cách giải thích khác nhau về cái tên Ebionites, một số suy đoán (dựa trên sự tương đồng với các phong trào khác) rằng họ đi theo một người tên là Ebion. Origen đủ thông thạo tiếng Hê-bơ-rơ để nhận ra rằng tên gọi này xuất phát từ một từ trong tiếng Hê-bơ-rơ có nghĩa là “nghèo”, và ông cho rằng nó phù hợp với sự “nghèo nàn” trong thần học của họ - vốn có quan điểm rất thấp về bản chất của Chúa Giê-xu (xem Ngài chỉ là con người).

Lời giải thích chính xác dường như là vì nhánh Ebionites tiếp tục sử dụng thuật ngữ “người nghèo” trong Cựu Ước, cũng được biết đến qua văn học Qumran và các sách Phúc Âm, để chỉ những người khiêm nhường tin cậy nơi Đức Chúa Trời.

B. Nhánh Nazoraeans
#

Có một số Cơ Đốc nhân người Do Thái khác, đôi khi được gọi là Nazoraeans hay Nazaraeans, là những người mặc dù tuân giữ luật pháp Môi-se, nhưng vẫn chấp nhận các tín hữu người ngoại mà không đòi hỏi họ phải tuân theo luật pháp Môi-se. Vị trí trung lập này, mặc dù không nhận được nhiều sự chú ý từ các tác giả Cơ Đốc người ngoại, đã chứng tỏ là quá bất ổn để tồn tại lâu dài.

C. Nhánh Elkesaites
#

Một số tín hữu Do Thái khác đã tiếp thu các khuynh hướng Ngộ Đạo (Gnostic, xem chương 5), được phản ánh qua nhánh gọi là Elkesaites. Có một tiên tri tên là Elkesai, được liên kết với một sách khải thị xuất hiện vào những năm đầu thế kỷ thứ hai. Bản Codex Cologne Mani thuật lại rằng Mani, là người sáng lập Manichaeism vào thế kỷ thứ ba, đã lớn lên trong một cộng đồng Elkesaite, qua đó cho thấy mối liên hệ giữa các tư tưởng của họ với sự phát triển sau này của Ngộ Đạo gắn với Mani.

D. Các Ảnh Hưởng Do Thái Khác
#

Các khái niệm và mối quan tâm của người Do Thái tiếp tục giữ vị trí nổi bật trong một số phần của Hội Thánh, góp phần vào dòng chính của nó. Điều này đặc biệt được thể hiện rõ trong tác phẩm được gọi là Didache (Giáo Huấn của Mười Hai Sứ Đồ), sẽ được thảo luận chi tiết hơn ở phần dưới. Hơn nữa, ngày nay, người ta đang công nhận nhiều hơn các yếu tố Do Thái trong các suy đoán về Ngộ Đạo (sẽ được trình bày chi tiết hơn trong chương 5). Một số tư tưởng Cơ Đốc giáo Do Thái nhưng không phải là tà giáo được tìm thấy trong những phần bổ sung mang tính Cơ Đốc trong các tác phẩm Ngoại Kinh Cựu Ước (Old Testament Pseudepigrapha), chẳng hạn như 2 Esdras (còn gọi là 4 Ezra5 Ezra), Giao Ước của Mười Hai Tổ phụ (Testaments of the 12 Patriarchs), và Sự thăng thiên của Ê-sai (Ascension of Isaiah).

Ngoài những trích dẫn rời rạc từ các tác phẩm Cơ Đốc giáo Do Thái, nguồn tư liệu chính còn sót lại của văn học Cơ Đốc Do Thái là bộ tác phẩm mạo danh Clement (Pseudo-Clementine literature). Bộ tác phẩm này gồm hai nhóm lớn: các bài Giảng Luận (Homilies) bằng tiếng Hy Lạp và các bài Công Nhận (Recognitions) bằng tiếng La-tinh có từ thế kỷ thứ tư, được gán cho Clement ở thành Rô-ma (Pseudo-Clementines), bắt nguồn từ một nguồn chung có vào thế kỷ thứ ba, và nguồn này lại được kết hợp từ các tác phẩm có trước nó, bao gồm một số văn bản “Cơ Đốc Do Thái” (của nhánh Ebionite?). Các tác phẩm thuộc phần Giảng Luận có mở đầu là những bức thư được gán cho là của Phi-e-rơ gửi cho Gia-cơ và của Clement gửi cho Gia-cơ (trong bức thư sau, Gia-cơ được gọi là “giám mục của các giám mục”).

Như có thể dự đoán được từ vị trí địa lý gần gũi, Cơ Đốc giáo Do Thái và các biến thể của nó đã gây ảnh hưởng mạnh mẽ nhất tại Syria. Sự phát triển sớm của một khái niệm về chức vụ tư tế tại đây có thể là một sự kế thừa trực tiếp từ Do Thái giáo (Judaism). Chủ nghĩa khổ hạnh của Hội Thánh Syriac, thoạt nhìn có vẻ không mang tính Do Thái, nhưng có lẽ đã được truyền lại từ các nhóm giáo phái Do Thái (Jewish sectarian groups), như nhóm được nhắc đến trong sách Cô-lô-se, hoặc được đại diện bởi nhóm Essenes và các nhóm Cơ Đốc giáo Do Thái.

“Ví bằng anh em chết với Đấng Christ về sự sơ học của thế gian, thì làm sao lại để cho những thể lệ nầy ép buộc mình, như anh em còn sống trong thế gian: Chớ lấy, chớ nếm, chớ rờ? Cả sự đó hễ dùng đến thì hư nát, theo qui tắc và đạo lý loài người, dầu bề ngoài có vẻ khôn ngoan, là bởi thờ lạy theo ý riêng, cách khiêm nhượng và khắc khổ thân thể mình; nhưng không ích gì để chống cự lòng dục của xác thịt.” (Cô-lô-se 2:20-23)

Về sau, Muhammad dường như đã có tiếp xúc và thu nhận một số hiểu biết về Cơ Đốc giáo từ các nhóm Cơ Đốc giáo Do Thái. Lịch sử sau này của Cơ Đốc giáo Do Thái tại Trung Đông thậm chí còn ít được biết đến hơn so với giai đoạn đầu, nhưng phần lớn bị tách biệt khỏi dòng chính của Hội Thánh, nó không tạo được ảnh hưởng quan trọng hay mang tính xây dựng nào đối với lịch sử Cơ Đốc giáo.

II. CÁC TÁC PHẨM VÀ NAN ĐỀ CỦA CƠ ĐỐC GIÁO NGOẠI BANG
#

Trái ngược với số lượng ít ỏi các tác phẩm còn sót lại từ Cơ Đốc giáo Do Thái, các tác phẩm phong phú của Cơ Đốc giáo ngoại bang từ cuối thế kỷ thứ nhất đến giữa thế kỷ thứ hai cho phép chúng ta thấy được những bước phát triển về tổ chức và giáo lý của Hội Thánh khi thích ứng với hoàn cảnh mới. Văn liệu này, đặc biệt là nhóm thường được gọi là Các Tác Phẩm của Giáo Phụ (Apostolic Fathers), cũng phản ánh những mối quan tâm và nan đề muôn thuở của Cơ Đốc giáo, và nhờ đó, chuẩn bị cho sự phát triển tiếp theo của câu chuyện Hội Thánh trong các thế kỷ sau.

Các tác phẩm không thuộc kinh điển của thời kỳ này có thể được phân loại thành: Các Tác Phẩm của Các Giáo Phụ, Ngoại Kinh Tân Ước (kéo dài qua thế kỷ thứ hai và sau đó), và một số tác phẩm khác. Các tác phẩm tính từ thời kỳ này về sau bị coi là tà giáo sẽ được đề cập trong chương 5.

A. CÁC TÁC PHẨM CỦA GIÁO PHỤ (Apostolic Fathers)
#

Các Tác Phẩm của Giáo Phụ (Apostolic Fathers) là tên gọi để chỉ những tác phẩm Cơ Đốc chính thống ra đời sớm nhất và không thuộc Tân Ước. Tên gọi này xuất phát từ giả định cho rằng các môn đồ trực tiếp của các sứ đồ đã viết những tác phẩm này - một giả định sai lầm trong hầu hết, nếu không muốn nói là tất cả, các trường hợp. Danh mục này là một cách phân loại mang tính ước lệ do các nhà nghiên cứu sau này đặt ra, áp dụng cho một nhóm các tác phẩm thuộc nhiều thể loại văn học khác nhau, và chồng chéo lên các cách phân loại khác:

  • Didache và 1 Clement có niên đại đồng thời với các sách Tân Ước muộn.
  • Niên đại của Các Tác Phẩm của Giáo Phụ trùng lặp với một số sách Ngoại Kinh Tân Ước (New Testament ApocryphaPseudepigrapha) - chẳng hạn như Phúc Âm theo Thô-ma, Phúc Âm theo Phi-e-rơ, và có lẽ là cả Những Bài ca của Sa-lô-môn (Odes of Solomon). Hơn nữa, có lẽ Thư của Ba-na-ba (Epistle of Barnabas) cũng là một tác phẩm ngoại kinh (pseudonymous).
  • Những nhà biện giáo thời kỳ đầu - như Quadratus và Aristides - xuất hiện cùng thời với một số giáo phụ, và tác phẩm biện giáo được biết đến dưới tên gọi “Thư gửi Diognetus” (Epistle to Diognetus) đôi khi cũng được xếp vào nhóm Các Tác Phẩm của Giáo Phụ (xem chương 4).
  • Cũng có sự chồng lấn giữa hai danh mục - danh mục Các Tác Phẩm của Giáo Phụ và danh mục Các Tường Thuật về Sự Tử Đạo - điển hình là tác phẩm “Sự Tử Đạo của Polycarp” (Martyrdom of Polycarp) (xem chương 4), đề cập đến một giáo phụ thuộc thời kỳ này.

Bảng 1: Danh Sách Các Tác Phẩm của Giáo Phụ:

Tác phẩmNiên đạiNơi viếtThể loại văn học
Giáo Huấn của Mười Hai Sứ Đồ (Didache)khoảng năm 100SyriaGiáo luật Hội Thánh
Thư của Ba-na-ba (Epistle of Barnabas)năm 97/135?Alexandria?Thư tín – luận giải
Thư Thứ Nhất của Clement (1 Clement)năm 96?Rô-maThư tín – luận giải
Thư Thứ Hai của Clement (2 Clement)năm 100/150Cô-rinh-tô?Bài giảng
Người Chăn Chiên của Hermas (Shepherd of Hermas)100–155Rô-maKhải Huyền
Các Thư của Ignatiuskhoảng năm 117An-ti-ốt (Syria)Thư tín
Thư của Polycarpnăm 115/135SmyrnaThư tín
Các Sách của Papiaskhoảng năm 130HierapolisGiải nghĩa

1. Giáo Huấn của Mười Hai Sứ Đồ (Didache)
#

Didache là một cẩm nang về đời sống Hội Thánh gồm ba phần: (1) “Hai Con Đường” của sự sống và sự chết, trình bày các giáo huấn đạo đức dành cho tân tín hữu; (2) những chỉ dẫn về Báp-têm, sự kiêng ăn, sự cầu nguyện, lễ Tiệc Thánh, cách đối xử với các tiên tri và giáo sư lưu động, các buổi nhóm Chúa nhật, và việc chọn lựa các lãnh đạo địa phương; và (3) phần kết luận mang tính lai thế học.

Tên đầy đủ của Didache là “Sự Dạy Dỗ của Chúa qua Mười Hai Sứ Đồ cho Muôn Dân” (Teaching of the Lord through the Twelve Apostles to the Nations). Đây là một đặc điểm chung của các tác phẩm thuộc thể loại “giáo luật Hội Thánh” - thường được quy gán cho các sứ đồ nhằm thiết lập thẩm quyền cho những chỉ dẫn liên quan đến tổ chức và sinh hoạt thực tiễn của Hội Thánh.

Didache được các học giả xác định niên đại một cách khác nhau, từ khoảng năm 70 (hoặc sớm hơn) hoặc muộn hơn đến tận năm 180. Vấn đề niên đại trở nên phức tạp bởi vì người biên soạn Didache đã sử dụng những tài liệu có từ trước đó. Một đặc điểm khác của dòng văn học này là khi các thực hành trong Hội Thánh thay đổi, tài liệu cũng được cập nhật; vì vậy, chúng ta không thể loại trừ khả năng có những đoạn đã được chèn vào sau này trong văn bản cơ bản mà chúng ta có ngày nay.

Mặc dù có thể lập luận cho rằng Didache có nguồn gốc từ Ai Cập, nhưng vùng nông thôn Syria vẫn là nơi khả dĩ nhất cho việc biên soạn tác phẩm này. Bối cảnh Do Thái của Cơ Đốc giáo sơ khai là khá rõ ràng trong toàn bộ văn bản - thể hiện qua các giáo huấn đạo đức và khuôn khổ của chúng trong phần về “Hai Con Đường”, ngôn ngữ của những lời cầu nguyện, các chỉ dẫn về việc chu cấp cho những người thi hành mục vụ, và ngôn ngữ lai thế học được sử dụng.

Didache phản ánh mối quan tâm thường trực trong lịch sử Cơ Đốc giáo về việc làm thế nào để điều hành đúng đắn các công việc Hội Thánh - làm thế nào để điều chỉnh đời sống đạo đức, sự thờ phượng và thể chế Hội Thánh.

Hình 2: Một bản sao chép của Didache

2. Thư của Ba-na-ba (Epistle of Barnabas)
#

Thư của Ba-na-ba (Epistle of Barnabas) tương tự như Didache khi cũng có một phần bao gồm các hướng dẫn đạo đức theo “Hai Con Đường”. Sự khác biệt giữa hai tác phẩm này là trong Thư của Ba-na-ba, “Hai Con Đường” được đặt ở cuối thay vì ngay từ đầu thư, và sử dụng thuật ngữ “con đường sự sáng” và “con đường tối tăm” (hoặc “con đường của Kẻ Đen Tối”). Đây là một luận giải được viết dưới hình thức một bức thư.

“Có hai con đường, một là sự sống và một là sự chết, và có sự khác biệt lớn giữa hai con đường ấy. Đường sự sống là như vầy: trước hết, ngươi phải yêu mến Đức Chúa Trời là Đấng dựng nên ngươi; thứ hai, yêu người lân cận như chính mình ngươi” (Didache 1:1–2).

Thư của Ba-na-ba thường được xác định niên đại vào khoảng năm 135. Điều này có thể đúng, mặc dù các lập luận ủng hộ cho niên đại này (hay bất cứ niên đại nào khác) đều có nan đề. Việc không rõ danh tính tác giả, và cả niên đại lẫn nội dung đều loại trừ khả năng tác giả của bức thư này là Ba-na-ba - bạn đồng hành của Phao-lô.

Cái tên Ba-na-ba (Barnabas) xuất hiện trong các bản sao chép nhưng không hề có trong chính tác phẩm. Điều này có thể được lý giải theo nhiều cách: (1) tác giả thật sự tên là Ba-na-ba, nhưng về sau bị lẫn lộn với sứ đồ Ba-na-ba (bạn đồng hành của Phao-lô); (2) việc gán tên Ba-na-ba cho tác phẩm là một phỏng đoán không chính xác sau này; (3) tác giả đã công bố tác phẩm của mình một cách mạo danh. Nơi tác phẩm được viết ra, dù chưa chắc chắn, có thể là khu vực xung quanh thành phố Alexandria. Tác giả tuyên bố rằng mình không viết với tư cách một giáo sư, nhưng chính những lời tuyên bố ấy lại cho thấy điều ngược lại, rằng ông thật sự đang giữ vị trí đó.

Mối quan tâm chính của Thư của Ba-na-ba là cuộc tranh luận với người Do Thái về Cựu Ước: “Giao ước thuộc về ai?” Tác giả trả lời rằng giao ước ấy thuộc về dân mới (tức Cơ Đốc nhân) và không còn thuộc về người Do Thái nữa.

Khi người Do Thái phản nghịch cùng Đức Chúa Trời trong sự kiện con bò vàng, Thư của Ba-na-ba lập luận thêm rằng các thể chế và tập tục của Do Thái giáo vốn không hề được định để được tuân giữ theo nghĩa đen, nhưng được các Cơ Đốc nhân giữ theo nghĩa thuộc linh: của tế lễ (sự chuộc tội của Chúa Giê-xu Christ), phép cắt bì (sự nghe Lời Chúa bằng cả tấm lòng và tai), các nghi thức tẩy rửa (phép Báp-têm), các luật ăn uống (sự tránh xa tội nhân), ngày Sa-bát (ngày thứ tám, tức “ngày thứ nhất” như một hình bóng của thế giới sẽ đến), Đền thờ (tấm lòng và dân sự).

Tác giả dường như đặc biệt tự hào về lối giải nghĩa theo phương pháp biểu tượng (allegorical interpretation) mà ông đưa ra về sự cắt bì của 318 đầy tớ của Áp-ra-ham (Sáng-thế Ký 14:14). Bởi vì số 318 trong tiếng Hy Lạp được biểu thị bằng các chữ cái iota (i), eta (e), và tau (t); hai chữ cái đầu là hai chữ cái đầu tiên của tên Giê-xu, còn chữ cái cuối có hình dáng giống thập tự giá; cho nên ông đã giải thích rằng sự cắt bì của những người này ám chỉ đến sự hy sinh của Chúa Giê-xu trên thập tự giá.

Lập trường cực đoan của tác giả khi tâm linh hóa (spiritualizing) Cựu Ước và phủ nhận Cựu Ước là dành cho dân Do Thái không được bất kỳ tác giả đương thời nào khác (mà chúng ta biết đến) ủng hộ. Tuy vậy, Thư của Ba-na-ba đại diện cho một cách giải quyết nan đề dai dẳng do Cựu Ước đặt ra: thẩm quyền của Cựu Ước được Hội Thánh tiếp nhận, nhưng đồng thời Hội Thánh lại không còn thấy cần thiết phải tiếp tục duy trì các thể chế tôn giáo của nó.

Hình 3: Codex Sinaiticus chứa Thư của Ba-na-ba (nguyên ngữ: ΒΑΡΝΑΒΑ ΕΠΙΣΤΟΛΗ) (bắt đầu tại Quire 91, folio 2r, col. 2).

3. Thư Thứ Nhất của Clement (1 Clement)
#

Thư thứ nhất của Clement (1 Clement) là tên được đặt cho bức thư từ “Hội Thánh của Đức Chúa Trời tạm trú tại Rô-ma gửi đến Hội Thánh của Đức Chúa Trời tạm trú tại Cô-rinh-tô.” Bức thư này được gán cho Clement trong các bản sao chép và bởi Dionysius ở thành Cô-rinh-tô vào khoảng năm 170 (Eusebius, Church History 4.23.11). Hermas đề cập đến một Clement ở Rô-ma có nhiệm vụ liên lạc với các Hội Thánh khác (Visions 2.4.3). Tuy nhiên, Clement không viết dưới danh nghĩa cá nhân. Thay vào đó, với tư cách một Trưởng lão - Giám mục, ông viết với tư cách là người phát ngôn của Hội Thánh Rô-ma. Vì vậy, bức thư mang thẩm quyền của cộng đồng (không phải thẩm quyền của một sứ đồ hay giám mục).

Thời điểm bức thư được viết thường được cho là vào triều đại của hoàng đế Domitian, tức khoảng năm 96, nhưng điều này không hoàn toàn chắc chắn, và một số người lập luận rằng bức thư có thể đã được viết sớm hơn, vào khoảng năm 70.

Theo Irenaeus, Clement là người kế vị thứ ba của Phi-e-rơ trong vai trò là giám mục tại Rô-ma, sau Linus và Anacletus (Aganist Heresies 3.3.3; Eusebius, Church History 3.15.34). Một truyền thống đối lập khác cho rằng Clement là người kế vị trực tiếp của Phi-e-rơ (Pseudo Clement, Epistle to James 2; Tertullian, Prescription against Heretics 32). Về sau, Epiphanius tìm cách dung hòa các ghi chép này bằng cách nói rằng Phi-e-rơ đã phong chức cho Clement, nhưng Clement đã nhường cho những người khác, mãi về sau Clement mới chính thức đảm nhiệm vị trí này (Panarion 27.6).

Nhiều sử gia Tin Lành (Protestant) và một số sử gia Công Giáo La Mã đã nhận thấy mâu thuẫn giữa hai truyền thống nảy sinh là do vào thời ấy trong Hội Thánh tại Rô-ma tồn tại một tập thể các trưởng lão - giám mục (presbyter-bishops); trong khi, Irenaeus và những người khác áp dụng cơ cấu tổ chức Hội Thánh sau này (chỉ có một giám mục trong một Hội Thánh) để thuật lại chức vụ của Clement.

Tác giả của 1 Clement có lẽ là một người thuộc tầng lớp tự do thuộc gia đình nguyên lão Clemens ở Rô-ma, có khả năng là một người ngoại quốc cải đạo sang Do Thái giáo trước khi tiếp nhận Cơ Đốc giáo, hoặc một người Do Thái có học thức theo văn hóa Hy Lạp.

Hoàn cảnh của bức thư là do sự chia rẽ trong Hội Thánh tại Cô-rinh-tô (một lần nữa, người Cô-rinh-tô lại chia bè phái). Một số trưởng lão trong Hội Thánh đã bị phế chức. Đây có phải là một cuộc nổi loạn của những người trẻ tuổi chống lại các thành viên lớn tuổi hơn, hay là một cuộc nổi dậy của những người có ân tứ chống lại thẩm quyền theo thể chế của Hội Thánh? Nhiều cách giải thích như vậy đã được đưa ra, nhưng chính bức thư chủ yếu đề cập đến sự ganh đua và ghen tị cá nhân.

Việc bức thư thường xuyên nhắc đến phụ nữ trong các ví dụ và lời dạy được trích dẫn khiến người ta tự hỏi liệu phụ nữ có đóng vai trò nổi bật trong số những người dẫn đầu cuộc nổi loạn hay không. Sự can thiệp của Hội Thánh Rô-ma là một nỗ lực nhằm xoa dịu sự bất hòa trong Hội Thánh tại Cô-rinh-tô.

1 Clement có thể được chia thành hai phần chính: những xem xét đạo đức chung áp dụng cho tình hình tại Cô-rinh-tô (chương 1–38) và những đề nghị thực tế để giải quyết vấn đề (chương 39–65). Có lẽ chúng ta có thể nhận thấy các phương pháp rao giảng và dạy dỗ điển hình của tác giả qua cách ông tập hợp các phân đoạn Kinh Thánh và các ví dụ về các chủ đề như sự ghen tị, sự ăn năn, sự vâng phục và sự khiêm nhường. Mặc dù chủ yếu dựa vào các nguồn tư liệu Do Thái, tác giả cũng sử dụng các nguồn tư liệu ngoại giáo để làm rõ luận điểm của mình.

Một số nội dung đáng chú ý trong bức thư:

  1. Khẳng định Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa, với việc sử dụng hình ảnh của trường phái Khắc kỷ về các luật tự nhiên, nhằm khuyến khích sự vâng phục như một đáp ứng của con người.
  2. Trình bày Chúa Giê-xu như là “Đầy tớ của Đức Chúa Trời” và là thầy tế lễ thượng phẩm.
  3. Khẳng định giáo lý xưng công bình bởi đức tin của Phao-lô, và trích dẫn lời dạy của ông về tình yêu thương trong 1 Cô-rinh-tô.
  4. Mô tả cơ cấu tổ chức của Hội Thánh với các giám mục và chấp sự như đã được các sứ đồ thiết lập, với sự sắp đặt để duy trì trật tự này (các thuật ngữ “trưởng lão” và “giám mục” được sử dụng thay thế cho nhau).
  5. Lần đầu tiên trình bày sự phân biệt giữa giáo phẩm và tín hữu (clergy-laity distinction), đồng thời áp dụng thuật ngữ tế lễ cho các chức vụ trong Hội Thánh (tham chiếu các thể chế trong Cựu Ước, nhưng như là một sự tương đồng để đáp ứng cho nhu cầu cần có trật tự kỷ cương trong Hội Thánh).
  6. Viện dẫn thần thoại về chim phượng hoàng để hỗ trợ cho giáo lý về sự sống lại.
  7. Hàm ý Phi-e-rơ và Phao-lô chịu tử đạo tại Rô-ma dưới thời hoàng đế Nero, sau khi Phao-lô giảng đạo “đến tận cùng phương tây” (Tây Ban Nha?).
  8. Có một lời cầu nguyện dài ở cuối thư, bao gồm cả những lời cầu chúc tích cực cho chính quyền La Mã.

1 Clement phản ánh vấn đề nan giải xuyên suốt lịch sử Cơ Đốc giáo về sự chia rẽ trong Hội thánh, và do đó là nhu cầu thúc đẩy sự hiệp nhất và hòa thuận.

Hình 4: Clement ở thành Rô-ma. Tranh khảm đá tại Thánh đường Thánh Sophia ở Kyiv, thế kỷ XI.

Hình 5: Irenaeus ở thành Lyon. Kính màu của Lucien Bégule (1901), Nhà thờ St. Irenaeus.

4. Thư Thứ Hai của Clement (2 Clement)
#

Thư Thứ Hai của Clement (2 Clement) là một bài giảng khuyên dạy về đạo đức. Dù được gắn liền với 1 Clement theo truyền thống sao chép, nhưng 2 Clement được viết bởi một tác giả khác, không rõ danh tính. Có rất ít manh mối để xác định niên đại của bức thư này, song nhiều khả năng nó được viết trong giai đoạn đầu đến giữa thế kỷ thứ hai, và có thể là từ thành Rô-ma, hoặc Alexandria, hoặc (với khả năng cao hơn một chút) Cô-rinh-tô. Bài giảng này được trình bày bởi một giáo sư hoặc người đọc Kinh Thánh trong Hội Thánh về chủ đề sự ăn năn.

Một điểm thần học đáng chú ý của 2 Clement là sự khẳng định Hội Thánh thuộc linh như là thân thể hiện hữu của Chúa Giê-xu Christ. Bài giảng phản ánh mối bận tâm liên tục của Cơ Đốc nhân về hành vi đạo đức, làm thế nào “sống một đời sống thánh khiết và công chính” (2 Clement 5).

5. Người Chăn Chiên (The Shepherd)
#

Tác phẩm dài nhất trong số các tác phẩm của các giáo phụ là Người Chăn Chiên (The Shepherd hay Pastor) của Hermas - một tuyển tập gồm các Khải tượng (Visions), Ẩn dụ (Similitudes), và Mệnh lệnh (Mandates). Tính thống nhất của tác phẩm đã bị nghi ngờ, nhưng có lẽ lời giải thích tốt nhất cho những dữ liệu đôi khi mâu thuẫn nhau là tác phẩm đến từ một tác giả duy nhất hoạt động tại Rô-ma trong khoảng ba đến bốn thập kỷ vào nửa đầu thế kỷ thứ hai (và do đó phản ánh các tình huống khác nhau trong các phần khác nhau của nó).

“Các sứ đồ đã rao giảng Phúc Âm cho chúng ta từ Chúa Giê-xu Christ; Chúa Giê-xu Christ được Đức Chúa Trời sai đến … [Các sứ đồ] đã rao giảng từ vùng này sang vùng khác, từ thành phố này sang thành phố khác, và bổ nhiệm những người đầu tiên tin theo, sau khi đã được Đức Thánh Linh thử thách, làm giám mục và chấp sự cho những ai sẽ tin … Sau đó, họ đã ban hành quy định rằng nếu [những người được bổ nhiệm] qua đời, những người khác đã được thử thách sẽ tiếp tục chức vụ của họ” (1 Clement 42,44)

Hermas đề cập đến tư tưởng tin rằng Hội Thánh là đời đời và cung cấp thông tin về cơ cấu tổ chức đương thời của nó. Tài liệu đôi khi gây nhàm chán này có giá trị ở bức tranh nó mô tả về một cộng đồng Cơ Đốc vào thế hệ thứ ba. Các thành viên đều tham gia vào những công việc thường nhật của cuộc sống, và thế gian đe dọa sẽ nhấn chìm lối sống Cơ Đốc của họ.

Điểm đặc biệt đáng chú ý của tác phẩm liên quan đến việc nên làm gì với tội lỗi sau khi đã nhận Báp-têm. Mặc dù lý tưởng là gìn giữ ân điển của Báp-têm không vướng bùn nhơ, Hermas trấn an rằng có một sự “ăn năn” dành cho những ai sa ngã sau khi đã cải đạo, nhưng đồng thời cảnh báo chống lại quan điểm cho rằng sự ăn năn này luôn có sẵn, bởi vì kỳ tận thế đã gần kề.

Người Chăn Chiên của Hermas phản ánh vấn đề thường trực của các Cơ Đốc nhân khi sống trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian, và làm thế nào để khích lệ một đời sống trung tín giữa vòng những người mà tình yêu ban đầu của họ đã nguội lạnh.

Hình 6: “Người Chăn Chiên của Hermas” hay “Người Chăn Hiền Lành”, có từ thế kỷ 3, trong hầm mộ tại Rô-ma.

6. Các Thư của Ignatius
#

Ignatius - giám mục tại An-ti-ốt xứ Sy-ri - đã viết bảy bức thư (đã được xác định ông là tác giả) còn tồn tại đến ngày nay. Trong số bảy thư này, có một thư gửi Hội Thánh tại Rô-ma, khẩn cầu các Cơ Đốc nhân ở đó đừng cố can thiệp để cứu ông khỏi việc tử đạo. Ignatius bị bắt dưới thời hoàng đế Trajan (98–117), và có lẽ vào cuối triều đại này, ông đã bị áp giải về Rô-ma để xử tử, có lẽ là một trong số các tù nhân bị đem ra làm nạn nhân cho thú dữ trong các trận đấu tại đấu trường La Mã để mua vui cho dân chúng.

Trên đường đi ngang qua Tiểu Á, Ignatius viết bốn bức thư tại Smyrna (gửi các Hội Thánh Ephesus, Magnesia, Tralles ở vùng Tiểu Á, và cho Hội Thánh tại Rô-ma) và ba thư tại Troas (gửi cho các Hội Thánh Philadelphia, Smyrna, và cho Polycarp – giám mục của Smyrna). Những bức thư này đã bị người đời sau chèn thêm nội dung và kèm thêm sáu bức thư khác vào thế kỷ thứ tư. Phiên bản mở rộng này đã từng là hình thức mà Ignatius được biết đến cho đến khi các học giả hiện đại phục hồi nguyên bản gốc.

Con số bảy rất quan trọng trong các tập thư tín thời Cơ Đốc giáo sơ khai (ví dụ, người ta cho rằng Phao-lô đã viết thư gửi đến bảy Hội Thánh - tổng cộng có chín thư gửi đến các Hội Thánh cộng với bốn bức gửi cho các cá nhân - và có bảy Hội Thánh được đề cập trong sách Khải-huyền, trong đó: Ephesus, Smyrna, và Philadelphia trùng với các Hội Thánh được Ignatius viết thư gửi cho).

Ignatius tự gọi mình là Theophorus (nghĩa là “Người mang Đức Chúa Trời”). Theo truyền thống, ông là giám mục thứ ba của An-ti-ốt, sau sứ đồ Phi-e-rơ và một người tên là Evodius (không có thông tin gì về người này ngoại trừ cái tên). Việc chỉ có một tên được nhớ đến giữa ông và thời điểm sứ đồ Phi-e-rơ có mặt tại An-ti-ốt cho thấy đến cuối thế kỷ thứ nhất, mô hình một giám mục duy nhất lãnh đạo Hội Thánh mới được hình thành tại An-ti-ốt.

Phong cách nhiệt huyết, giàu trí tưởng tượng của Ignatius tương phản với tính thực tế điềm tĩnh của 1 Clement. Hai tác giả có ảnh hưởng nhất trong số các giáo phụ thời kỳ này có thể được xem là đại diện cho các khuynh hướng khác nhau của giáo hội Tây phương và Đông phương - Clement đại diện cho mối quan tâm về trật tự và sự hiệp nhất thực tiễn, đặc trưng của giáo hội Công giáo, còn Ignatius đại diện cho lòng sùng kính gần như thần bí và sự hiệp nhất thuộc linh, đặc trưng của giáo hội Chính Thống giáo.

Để hiểu các bức thư của Ignatius, điều quan trọng cần nhớ là ông đang trên đường đến chỗ chịu tử đạo và chuyến đi đầy gian khổ. Tính cách giàu tưởng tượng của chính ông được tăng cường bởi hoàn cảnh để tạo ra những hình ảnh tu từ hoa mỹ và những ẩn dụ hỗn hợp đôi khi chồng chất lên nhau. Tuy nhiên, Ignatius vẫn có những mối quan tâm thực tế đối với các nan đề cấp bách mà ông biết được trong các Hội Thánh nằm trên lộ trình của mình.

Ignatius đặc biệt quan tâm đến sự chia rẽ trong các Hội Thánh, gây ra bởi những giáo lý sai lầm của phe ủng hộ thuyết Ảo hình (Docetists) - những người nói rằng Chúa Giê-xu Christ chỉ “dường như” hoặc “có vẻ bề ngoài” là con người, và phe Do Thái hóa (Judaizers) - những người yêu cầu người ngoại tin Chúa Giê-xu cũng phải giữ các thực hành của người Do Thái. Hai loại giáo lý sai lầm này có thể xuất phát từ cùng một nhóm theo quan điểm Ảo hình (Docetic) về Đấng Christ - những người cho rằng quan điểm này có thể giải quyết được một số nan đề của những tín hữu người Do Thái trong việc chấp nhận nghịch lý về một Đấng Mê-si bị đóng đinh.

“Chỉ có một Thầy thuốc, vừa là xác thịt vừa là thần linh, được sinh ra nhưng lại không được sinh ra, là Đức Chúa Trời trong con người, là sự sống thật trong sự chết, sinh bởi Ma-ri mà cũng bởi Đức Chúa Trời, trước chịu khổ sau không thể chịu khổ, ấy là Chúa Giê-xu Christ, Chúa chúng ta.” (Ignatius, Ephesians 7.2)

Phản ứng của Ignatius đối với tình trạng chia rẽ trong Hội Thánh là nhấn mạnh đến sự vâng phục của các Cơ Đốc nhân đối với những người lãnh đạo của họ - giám mục (thay mặt Đức Chúa Trời), các trưởng lão (biểu tượng cho các sứ đồ) và các chấp sự (đại diện cho Đấng Christ là đầy tớ). Ignatius là tác giả đầu tiên xác nhận sự hiện diện của ba chức vụ này trong mỗi Hội Thánh địa phương.

Mọi sinh hoạt (Tiệc Thánh, Báp-têm, bữa tiệc yêu thương - agape 1) đều phải thuộc dưới quyền quản nhiệm của giám mục, hoặc do chính vị ấy chủ trì hoặc do người mà vị ấy chỉ định; đối với Ignatius, yêu cầu này không phải là vấn đề về tính hiệu lực của các hoạt động tôn giáo, mà là vấn đề của trật tự và sự hiệp nhất trong Hội Thánh.

Xét theo những tuyên bố mạnh mẽ của Ignatius về vai trò của một giám mục duy nhất và sự phát triển sau này của cơ cấu tổ chức Hội Thánh, điều đáng lưu ý là đối với Ignatius, giám mục khi ấy vẫn chỉ là (1) giám mục của một hội chúng địa phương (congregational bishop) chứ không phải là giám mục của một giáo phận (diocesan bishop), (2) làm việc với các trưởng lão (presbyters) với tư cách là người lãnh đạo của họ (người đứng đầu giữa những người ngang hàng với nhau), và (3) không nhận lấy chức vụ của mình thông qua sự kế vị sứ đồ (apostolic succession). Việc trong bức thư gửi cho Hội Thánh Rô-ma Ignatius không nhấn mạnh đến chức vụ giám mục đã khiến một số người xem sự im lặng này như là một lập luận chống lại sự hiện diện của một giám mục quân chủ (monarchical bishop) tại Rô-ma vào thời điểm đó.

Cũng cần được xem xét là chủ đề của bức thư Ignatius gửi Hội Thánh Rô-ma thể hiện mối bận tâm chính của ông là sự tử đạo, khiến bức thư này trở thành một nguồn tư liệu quan trọng thời sơ kỳ cho sự phát triển của thần học về sự tử đạo.

Ignatius cũng là người đầu tiên đề cập đến “Hội Thánh phổ thông” (catholic church) để chỉ Hội Thánh toàn cầu bao gồm tất cả các hội chúng địa phương và phản ánh mối quan tâm của ông về sự hiệp nhất của Hội Thánh.

Các bức thư của Ignatius giải quyết một nan đề muôn thuở trong lịch sử Cơ Đốc giáo: những cách giải thích khác nhau về đức tin Cơ Đốc của những người đã tự tách mình khỏi sinh hoạt của hội chúng địa phương. Giải pháp của ông — đó là củng cố các cấu trúc tổ chức của Hội Thánh — đã trở thành hướng đi thường được theo đuổi nhất trong lịch sử Hội Thánh, nhưng đem lại những kết quả khác nhau (có thành công lẫn thất bại) khi xét về hiệu quả của nó trong việc đạt được sự hiệp nhất thuộc linh.

Hình 7: Đấu trường Flavian – Colosseum tại Rô-ma, nơi theo truyền thống, nhiều Cơ Đốc Nhân, có thể kể cả Ignatius, đã tử vì đạo.

Hình 8: Ignatius ở thành An-ti-ốt (thế kỷ thứ 17, Bảo tàng Pushkin).

7. Thư của Polycarp
#

Polycarp, giám mục của Smyrna, là người đã nhận được một trong những bức thư của Ignatius, và viết thư riêng của mình gửi cho các tín hữu tại Phi-líp, một phần để đáp ứng lời thỉnh cầu của họ về việc xin bản sao chép các bức thư của Ignatius. Ông viết cho họ cũng nhằm mục đích dạy dỗ về “sự công chính”, liên quan đến những phẩm chất của đời sống Cơ Đốc. Polycarp còn đề cập đến một vấn đề nội bộ tại Phi-líp liên quan đến một trưởng lão tên là Valens - người đã sa ngã trước sự cám dỗ của lòng tham.

Bức thư còn tồn tại đến ngày nay mà Polycarp gửi các tín hữu tại Phi-líp thường được xem là sự kết hợp của hai thư: thư thứ nhất (chương 13–14) được viết ngay sau khi Ignatius đi ngang qua khu vực này trên đường đến Rô-ma, và thư thứ hai (chương 1–12) được viết khoảng 20 hay 25 năm sau; nhưng dường như không có lý do thuyết phục nào để cho rằng điều này là đúng.

Polycarp đã thấm nhuần ngôn ngữ của Tân Ước đến mức bất cứ điều gì ông muốn nói đều được diễn đạt bằng chính ngôn từ của Kinh Thánh. Ông đã kết hợp các cụm từ từ các thư tín của Phao-lô, Phi-e-rơ và Giăng vào những bối cảnh mới để truyền đạt thông điệp của riêng mình. Polycarp vẫn là một đại diện tiêu biểu của nhà lãnh đạo Cơ Đốc đạo đức, tràn đầy sự dạy dỗ của các sứ đồ, và luôn quan tâm đến đời sống công chính.

Hình 9: Hình Polycarp tại tu viện Hosios Loukas ở Boeotia, Hy Lạp.

8. Các Sách của Papias
#

Papias ở Hierapolis đã viết năm cuốn sách Giải Nghĩa Các Lời Phán của Chúa (Explanations of the Oracles of the Lord) vào khoảng năm 130, hiện đã thất lạc và chỉ được biết đến thông qua một vài trích dẫn từ các tác giả sau này. Người ta đặc biệt chú ý đến lời chứng của ông rằng Ma-thi-ơ đã viết Phúc Âm của mình ban đầu bằng tiếng Hê-bơ-rơ và Mác đã ghi chép trung thành những lời giảng của Phi-e-rơ (nhưng không theo một thứ tự chặt chẽ). Ông cũng có thể đã xác nhận Phúc Âm của Giăng (và ngầm ý cả Lu-ca).

Một điều đáng chú ý nữa là sự ưu tiên mà Papias bày tỏ dành cho “tiếng nói sống” của những người đã nghe trực tiếp từ các môn đồ của các sứ đồ, hơn là những gì được ghi chép trong sách vở. Mặc dù điều này thường được hiểu như là một sự xem nhẹ Kinh Thánh, nhưng việc Papias sử dụng thường xuyên thuật ngữ “các lời phán” (oracles) để chỉ Kinh Thánh có thể ngụ ý rằng chính tác phẩm của ông là một sách chú giải về các văn bản đã được ghi chép. Trong trường hợp đó, sự ưu tiên của ông có thể là để nhấn mạnh giá trị của lời chứng truyền khẩu từ các môn đồ lớn tuổi so với sách vở của các nhóm tà giáo trong việc giải thích sứ điệp Cơ Đốc.

Papias cũng là tác giả không thuộc Tân Ước kinh điển đầu tiên đưa ra một cách giải thích mang tính thiên hy niên cụ thể cho niềm hy vọng chung cuộc của Cơ Đốc giáo. Ông ủng hộ, theo phong cách của một số tác phẩm văn học Do Thái, một cách hiểu mang tính vật chất về thiên hy niên. Qua đó, Papias cho thấy mối quan tâm lâu dài của Cơ Đốc nhân đối với các vấn đề lai thế học.

Hình 10: Papias thành Hierapolis, từ Biên niên sử Nuremberg.

B. VĂN HỌC NGOẠI KINH (Apocryphal Literature)
#

Nếu muốn đánh giá đúng một bài viết gốc, có lời khuyên rằng bạn hãy đọc qua các bài viết “nhái” theo bài viết gốc đó. Bằng cách so sánh với “hàng nhái”, người ta sẽ thấy giá trị của “hàng gốc” rõ hơn. Khi chuyển từ Tân Ước sang các tác phẩm của Giáo phụ, nếu người đọc nhận thấy có một sự suy giảm quyền năng thuộc linh, thì khi đọc đến các sách Tân Ước Ngoại Kinh, sự suy giảm còn lớn hơn thế, như thể rơi vào một thế giới khác.

Sự quan tâm của giới học thuật gần đây đối với văn học Ngoại Kinh là một phản ứng thích hợp, khắc phục việc nó đã bị lãng quên trong các nghiên cứu lịch sử, nhưng điều này khó có thể làm thay đổi nhận định chung của Cơ Đốc giáo về giá trị thuộc linh thấp kém của nó. Bên cạnh đó, các sách Ngoại Kinh vẫn là một nguồn tư liệu quan trọng để đánh giá sự đa dạng trong các hình thức biểu hiện lòng sùng kính của các tín hữu bình thường (popular piety) trong Hội Thánh thời ban đầu.

Một số tác phẩm Ngoại Kinh dường như được viết để giải trí và thỏa mãn tính tò mò. Một số khác là những tác phẩm nghiêm túc hơn nhằm để gây dựng, cổ vũ lối sống khổ hạnh và một số tư tưởng giáo lý. Tuy nhiên, những đặc điểm khác biệt này đôi khi vẫn được kết hợp trong cùng một tác phẩm.

Tất cả các tác phẩm Ngoại Kinh đều có giá trị trong việc phản ánh các tư tưởng phổ biến tại thời điểm biên soạn - mà bản thân thời điểm này thường khó xác định. Phần thảo luận dưới đây chỉ giới hạn ở những tác phẩm được công nhận rộng rãi là có nhiều khả năng nhất được biên soạn vào thế kỷ thứ hai.

Ranh giới giữa giáo lý chính thống và tà giáo (heresy) không được nhận thức rõ ràng trong vòng các nhóm (cộng đồng hoặc trường phái tư tưởng) nơi mà một số tác phẩm Ngoại Kinh được viết ra. Điều này nhắc nhở rằng những sai lệch khỏi niềm tin của các sứ đồ (apostolic faith) thường xảy ra trong sự sùng kính nhưng thiếu hiểu biết của các tín hữu bình thường cũng nhiều như trong các suy đoán thần học của giới học giả.

Các danh mục được sử dụng trong bảng bên dưới, mặc dù phần nào là cách sắp xếp có chủ đích của các học giả nghiên cứu, nhưng việc nhóm các tác phẩm Tân Ước Ngoại Kinh theo các thể loại văn học của chính Tân Ước là một cách tiếp cận hợp lý, giúp ích cho việc đối chiếu các tác phẩm Ngoại Kinh với các tác phẩm gốc mà chúng “bắt chước”.

Bảng 2: Một Số Tác Phẩm Tân Ước Ngoại Kinh của Thế Kỷ Thứ 2:

Thể loạiTác phẩm
Phúc ÂmPhúc Âm theo Thô-ma
Phúc Âm theo Phi-e-rơ
Tiền Phúc Âm theo Gia-cơ (Protevangelium of James)
Công VụCông-vụ của Phi-e-rơ
Công-vụ của Phao-lô
Công-vụ của Giăng
Thư TínThư của các Sứ-đồ
Khải HuyềnKhải-huyền theo Phi-e-rơ

1. Sách Ngoại Kinh thuộc Thể Loại Phúc Âm (Apocryphal Gospels)
#

Các sách ngoại kinh thuộc thể loại Phúc Âm cũng phản ánh các loại tài liệu có trong các sách Phúc Âm kinh điển: các tường thuật về sự giáng sinh, các lời phán dạy (nhưng không bao gồm các việc làm) của Chúa Giê-xu, và tường thuật về sự thương khó.

Phần lớn nội dung của Phúc Âm theo Thô-ma đã từng được biết đến trước đây qua ba mảnh giấy cói được bằng tiếng Hy Lạp, nhưng không có nhan đề. Văn bản bằng tiếng Copt được tìm thấy trong bộ sưu tập các codex tại Nag Hammadi ở Thượng Ai Cập đã cung cấp phần văn bản và nhan đề bị thiếu. Do được tìm thấy nằm chung trong các codex tại Nag Hammadi, sách Phúc Âm này thường được mô tả là theo thuyết Ngộ Đạo (Gnostic), và nó dễ bị giải thích theo khuynh hướng Ngộ Đạo, nhưng có lẽ tác phẩm này nên được xếp vào phái Khổ Tu (Encratite - một tà giáo Cơ Đốc, nổi tiếng với những thực hành khổ hạnh cực đoan, chủ yếu hoạt động vào thế kỷ thứ hai, xem chương 5) hoặc rộng hơn là theo chủ nghĩa khổ hạnh nói chung (ascetic).

Phúc Âm theo Thô-ma cung cấp, mà không có bối cảnh câu chuyện, một bộ sưu tập sớm các lời nói của Chúa Giê-xu, thường tương tự như các lời nói của Ngài được tìm thấy trong các Phúc Âm kinh điển. Nhiều học giả cho rằng ngôn ngữ của nó phản ánh một giai đoạn rất sớm trong quá trình truyền lại các lời nói của Chúa Giê-xu. Các nhà nghiên cứu Tân Ước từ lâu đã đưa ra giả thuyết về một bộ sưu tập sớm các lời dạy của Chúa Giê-xu được gọi là Q, giải thích cho những phần nội dung giống nhau trong Phúc Âm theo Ma-thi-ơ và Lu-ca. Phúc Âm Thô-ma không phải là Q, nhưng nó cho thấy rằng đã từng tồn tại những bộ sưu tập các lời phán dạy của Chúa Giê-xu được lưu truyền độc lập.

Phúc Âm theo Phi-e-rơ là một tác phẩm kể về cuộc khổ nạn của Chúa Giê-xu. Nó đã bị các lãnh đạo Hội Thánh loại bỏ ngay từ đầu, vì nghi ngờ có khuynh hướng theo thuyết Ảo hình (Docetism), tức mô tả một Đấng Christ không hoàn toàn là con người, mà chỉ “giống như” con người (khi bị đóng đinh, Ngài “như thể không cảm thấy đau đớn”). Có thể tác phẩm này không được viết ra với chủ đích ủng hộ những quan điểm của thuyết Ảo hình, nhưng nó có thể được hiểu là ủng hộ cách hiểu như vậy về Chúa Giê-xu.

Tiền Phúc Âm theo Gia-cơ đề cập đến sự ra đời của Chúa Giê-xu nhưng đặc biệt tập trung vào Ma-ri, đề cao sự đồng trinh trọn đời của bà và mô tả Giô-sép là một người từng góa vợ và có các con từ cuộc hôn nhân trước đó. Tác phẩm này đã rất nổi tiếng và cung cấp thông tin cho sự phát triển sau này của giáo lý về Ma-ri.

Hình 11: Trang đầu tiên của Phúc Âm theo Giu-đa (trang 33 của Codex Tchacos).

Hình 12: Phúc Âm theo Thô-ma, được tìm thấy trong bộ sưu tập Nag Hammadi (hiện lưu giữ tại Bảo tàng Coptic, Cairo).

2. Sách Ngoại Kinh thuộc Thể Loại Công Vụ (Apocryphal Acts)
#

Các sách ngoại kinh thuộc thể loại công vụ tường thuật những câu chuyện về các cuộc hành trình và phiêu lưu của các sứ đồ, có nhiều điểm tương đồng với thể loại tiểu thuyết Hy Lạp cổ đại. Chúng mô tả một cách phóng đại các phép lạ của các sứ đồ. Chủ đề tình yêu trong sáng của các anh hùng và nữ anh hùng trong tiểu thuyết được các sách ngoại kinh lồng vào để nhấn mạnh lối sống khổ hạnh. Sứ điệp Phúc Âm trở thành: “Ai tin và từ bỏ quan hệ tình dục thì sẽ được cứu rỗi.”

Sách Công-vụ của Phi-e-rơCông-vụ của Phao-lô (cả hai chắc chắn được biên soạn vào thế kỷ thứ hai), về cơ bản, đều phản ánh quan điểm chính thống. Sách Công-vụ của Giăng mang đậm màu sắc của chủ nghĩa Ngộ Đạo (xem chương 5). Tương tự Công-vụ của Giăng, Công-vụ của Anh-rê phản ánh thuyết nhị nguyên của Ngộ Đạo (thậm chí còn ít quan tâm đến các vấn đề Cơ Đốc hơn so với Công-vụ Giăng) và có niên đại không rõ ràng, có thể vào thế kỷ thứ hai hoặc thứ ba. Sách Công-vụ của Thô-ma, được bảo tồn trong bản tiếng Syriac và một bản tiếng Hy Lạp đã được hiệu đính, có niên đại vào thế kỷ thứ ba.

3. Sách Ngoại Kinh thuộc Thể Loại Thư Tín
#

Các tác phẩm ngoại kinh hiếm được viết dưới dạng các thư tín; vì thể loại thư tín đòi hỏi phải sử dụng danh tính tác giả giả mạo (điều khiến các người có ý định mạo danh e ngại) và nếu có, thì cũng không thành công. Bức thư được gọi là “Thư của các Sứ đồ” (Epistle of the Apostles) (khoảng năm 150) chỉ được xem là một dạng “thư tín” theo nghĩa rộng, vì được cho là do các sứ đồ gửi đi. Về mặt văn học, tác phẩm này là một “sự mặc khải” của Chúa cho các sứ đồ sau khi Ngài phục sinh - một thể loại phổ biến trong các tài liệu Ngộ Đạo nhằm xác lập thẩm quyền cho những giáo lý không có trong truyền thống về mục vụ của Chúa Giê-xu. Có vẻ như tác giả bức thư này đã cố tình mượn thủ pháp văn học phổ biến của phái Ngộ Đạo để làm công cụ nhằm khẳng định và bảo vệ các giáo lý chính thống chống lại chính phái Ngộ Đạo.

Một bức thư khác cũng có từ thế kỷ thứ hai là Thư Thứ Ba gửi cho các tín hữu Cô-rinh-tô (Third Corinthians), được bao gồm trong sách Công-vụ của Phao-lô, nhưng được lưu hành độc lập và có thể đã được viết trước cả sách này. Nội dung của nó cũng mang tính chống lại thuyết Ngộ Đạo.

4. Sách Ngoại Kinh thuộc Thể Loại Khải Huyền
#

Sách Khải-huyền của Phi-e-rơ (Apocalypse of Peter) là một tác phẩm ngoại kinh được viết theo thể loại văn chương khải huyền, có từ thế kỷ thứ hai. Nội dung mặc khải của sách này đề cập đến những hình phạt dành cho các loại tội nhân khác nhau trong đời sau (sau khi chết).

Điều đáng chú ý là sự nổi bật của cái tên Phi-e-rơ trong các tác phẩm ngoại kinh của Cơ Đốc giáo thời kỳ đầu: bên cạnh Khải-huyền của Phi-e-rơ, còn có một tác phẩm biện giáo được gọi là Lời Giảng của Phi-e-rơ (Preaching of Peter), và một phần văn bản phản ánh quan điểm Do Thái-Cơ Đốc trong bộ tác phẩm ngoại kinh Pseudo-Clementines được gọi là Những Lời Giảng của Phi-e-rơ (Preachings of Peter).

C. CÁC TÁC PHẨM KHÁC
#

Nhiều văn phẩm của người Do Thái đã trở thành cơ sở để các Cơ Đốc nhân mở rộng, chèn thêm nội dung, hoặc bắt chước chúng. Hình thức được bảo tồn đến ngày nay của tác phẩm Sự Thăng Thiên của Ê-sai (Ascension of Isaiah) - ngoài phần tường thuật của người Do Thái về sự tử đạo của tiên tri Ê-sai - còn có hai phần bổ sung sau này của Cơ Đốc giáo tiết lộ sự giáng sinh kỳ diệu, cuộc đời, sự chết, sự phục sinh, thăng thiên và sự tái lâm của Chúa Giê-xu Christ. Ngoài ra, còn có mô tả về tình trạng của Hội Thánh vào cuối thế kỷ thứ nhất hoặc đầu thế kỷ thứ hai được chèn thêm vào.

Hình thức hiện tại của Giao Ước của Mười Hai Tổ Phụ (Testaments of the Twelve Patriarchs) là một tác phẩm Cơ Đốc có từ thế kỷ thứ hai. Cuộc tranh luận về việc liệu nó vốn là một tác phẩm của người Do Thái được những người sao chép Cơ Đốc chèn thêm nội dung, hay là một tác phẩm Cơ Đốc được biên soạn bằng cách sử dụng các nguồn tài liệu Do Thái đã có trước đó, vẫn còn đang tiếp diễn. Nội dung đạo đức của tác phẩm khá gần gũi với sự dạy dỗ Cơ Đốc, nhưng không nhất thiết phải có nguồn gốc từ Cơ Đốc giáo. Dấu hiệu rõ ràng nhất của sự can thiệp mang tính Cơ Đốc được tìm thấy trong các tuyên bố giáo lý về Chúa Giê-xu Christ.

Người Do Thái đã biên soạn các lời sấm truyền theo phong cách của các lời sấm truyền Sibylline của dân ngoại cho các mục đích tuyên truyền và biện giáo. Các Cơ Đốc nhân đã bảo tồn các lời sấm truyền này và viết thêm nhiều lời sấm truyền của riêng mình, đến mức các bộ Sấm Truyền Sibylline còn tồn tại đến ngày nay chủ yếu là tác phẩm của Cơ Đốc giáo. Mặc dù một số trong này thuộc thế kỷ thứ tư, nhưng một số đã có từ thế kỷ thứ hai, vì chúng được các nhà biện giáo Cơ Đốc thế kỷ thứ hai trích dẫn.

Những Bài Ca của Sa-lô-môn (Odes of Solomon) có lẽ là tập thánh ca Cơ Đốc lâu đời nhất còn lưu giữ được đến ngày nay. Lập luận ủng hộ việc tác giả của tác phẩm này là Cơ Đốc nhân có vẻ thuyết phục hơn, so với các tuyên bố về nguồn gốc Do Thái hoặc Ngộ Đạo. Mặc dù hầu hết các học giả cho rằng tập thánh ca này có từ đầu thế kỷ thứ hai, một số người lại cho rằng nó có từ thế kỷ thứ ba. Tác phẩm hiện chỉ còn tồn tại nguyên vẹn bằng tiếng Syriac, bao gồm bốn mươi hai bài ca ngắn có lẽ được dự định sử dụng trong các buổi nhóm thờ phượng.

Ngoài ra, Bardaisan (La-tinh: Bardesanes) ở Edessa (khoảng 154–222) cũng được nhớ đến như là một nhà biên soạn thánh ca, và là một trong những tác giả Cơ Đốc đầu tiên viết bằng ngôn ngữ Syriac. Tác phẩm duy nhất của ông còn lại là Sách về Luật Pháp của Các Vùng Đất (The Book of the Laws of the Lands, còn gọi là On Fate - Số Mệnh) - một cuộc đối thoại được môn đồ của ông là Phi-líp ghi chép lại. Tuy vậy, tính chính thống của Bardaisan sau này bị các lãnh đạo Cơ Đốc Syria đánh giá là thiếu vững chắc.

D. NHỮNG HẠN CHẾ VÀ GIÁ TRỊ CỦA CÁC TÁC PHẨM NÀY
#

Ngay cả những tác phẩm được chấp nhận rộng rãi nhất trong vòng Cơ Đốc giáo chính thống - chẳng hạn như những tác phẩm của Clement, Ignatius, Polycarp - cũng đã bị chỉ trích là đại diện cho một sự sa sút nghiêm trọng so với Cơ Đốc giáo thời các sứ đồ. Quả thật, các tác giả này kém các bậc thầy của họ, nhưng họ không nông cạn như đôi khi người ta vẫn mô tả về họ.

Người ta thường cho rằng các tác phẩm của các Giáo phụ cho thấy các tác giả của chúng đã từ bỏ những giáo lý vững chắc về ân điển và đức tin được Phao-lô công bố, thay vào đó, họ tìm nơi ẩn náu trong chủ nghĩa đạo đức và chủ nghĩa luật pháp. Một phần của sự chỉ trích này xuất phát từ sự hiểu biết phiến diện về Phao-lô; một số khác đến từ việc không xem xét bối cảnh cụ thể mà trong đó cả Phao-lô lẫn các Giáo phụ đang viết.

Một độc giả đương thời chắc chắn sẽ không nhầm lẫn các Giáo phụ với Phao-lô (hay với Giăng hoặc Gia-cơ), nhưng những khác biệt về thần học có thể dễ dàng bị phóng đại. Người ta không thể mong đợi thế hệ thứ hai và thứ ba có cùng sự hà hơi và chiều sâu thuộc linh như các sứ đồ ban đầu, nhưng những người theo sau các sứ đồ quả thật cũng có những đóng góp đáng kể của riêng họ.

Trong bối cảnh đó, có thể nói thêm rằng các Giáo phụ là những người chân thành, tin kính, nỗ lực bảo vệ những nền tảng của đức tin trước những hoàn cảnh và thách thức mới. Qua lời chứng của những con người rất đa dạng này, độc giả có thể nhận diện những gì mà các Cơ Đốc nhân sốt sắng thời đó xem là giả dối và những gì họ xác định là chân thật.

Chắc chắn một phần nhiệt huyết của thời kỳ các sứ đồ đã phai nhạt, và Hội Thánh bắt đầu ổn định cuộc sống trong một thế giới xa lạ. Trong hoàn cảnh đó, các lãnh đạo Hội Thánh cần phải nói nhiều hơn về đời sống đạo đức. Đây không phải là lúc đòi hỏi những tư tưởng sắc bén hay sáng tạo, nhưng đòi hỏi sự trung thành cẩn trọng trong việc bảo tồn nguyên vẹn giáo lý và thực hành Cơ Đốc. Các Cơ Đốc nhân thời đó không phải lúc nào cũng phản ứng một cách khôn ngoan, nhưng họ vẫn tuyên xưng cùng một sứ điệp cơ bản, cùng một đức tin, cùng một Đấng Cứu Thế và cùng một Đức Chúa Trời như những người đi trước họ.

“Lạy Chúa, tôi ca ngợi Ngài / Vì tôi yêu mến Ngài. / Hỡi Đấng Tối Cao, xin đừng bỏ rơi tôi, / Vì Ngài là hy vọng của tôi. / Tôi đã nhận ân điển Ngài cách nhưng không, / Nguyện tôi được sống bởi ân điển ấy” (Những Bài ca của Sa-lô-môn 5.1–3).

Các tác phẩm Tân Ước Ngoại Kinh có thể không được đánh giá cao bằng, nhưng chúng cũng thể hiện lòng sốt sắng tôn giáo và cung cấp những hiểu biết về một số dòng tư tưởng của Cơ Đốc giáo sơ khai, đồng thời là những nguồn tư liệu lịch sử quý giá (không nhất thiết cho thời kỳ Tân Ước mà cho chính thời kỳ của chúng).

Một số học giả cho rằng Phúc Âm theo Thô-maPhúc Âm theo Phi-e-rơ đã bảo tồn những tài liệu có từ rất sớm và quý giá về những lời dạy của Chúa Giê-xu và sự hiểu biết đương thời về sự chết và sự phục sinh của Ngài.

Trong số các tác phẩm khác, Những Bài Ca của Sa-lô-môn phản ánh một đời sống thuộc linh sâu sắc mà đến nay vẫn được các độc giả hiện đại trân trọng.

CHÚ THÍCH
#


  1. Trong Hội Thánh ban đầu, ngoài Tiệc Thánh (Eucharist), các tín hữu thường tổ chức một bữa ăn chung gọi là “agápē” – dịch là “tiệc yêu thương” hoặc “tiệc thông công”. Giu-đe 1:12 nhắc đến “tiệc yêu thương” (ἀγάπαις) của các tín hữu, nơi mọi người cùng chia sẻ thức ăn với nhau trong tinh thần bình đẳng, hiệp một, và yêu thương. ↩︎