Skip to main content

Chương 2: PHẠM VI, CÁC NGUỒN TƯ LIỆU, VÀ CÁC THỂ LOẠI THẦN HỌC HỆ THỐNG

·8602 words·41 mins·
Author
Aki
Table of Contents

THẦN HỌC HỆ THỐNG

Trong chương 1, chúng ta thấy rõ ràng là Thần học Hệ thống vừa tách biệt vừa lệ thuộc vào thần học Kinh Thánh và Thần học Lịch sử. Dầu vậy, những câu hỏi căn bản khác liên quan đến Thần học Hệ thống cũng cần được đặt ra.

  1. Phạm vi của Thần học Hệ thống là gì?
  2. Các nhà thần học đang sử dụng những nguồn tư liệu nào trong việc hình thành Thần học Hệ thống?
  3. Có những loại Thần học Hệ thống Cơ đốc nào đã được xuất bản trong thế kỷ 20?

Câu trả lời cho những câu hỏi này giúp làm rõ hơn Thần học Hệ thống là gì, và vì sao các hệ thống thần học Cơ đốc lại khác nhau, và khác nhau như thế nào.

I. PHẠM VI CỦA THẦN HỌC HỆ THỐNG
#

Phạm vi của Thần học Hệ thống có thể được xem xét và định nghĩa theo hai cách song song: (1) bằng cách xem xét vị trí của Thần học Hệ thống trong toàn bộ chương trình giảng dạy về thần học; (2) bằng cách xác định các phân nhánh hoặc các thành phần chính của Thần học Hệ thống.

A. THẦN HỌC HỆ THỐNG VÀ CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY THẦN HỌC
#

Mặc dù không có một tuyên bố hay danh sách các môn học được đồng thuận rộng rãi đối với một chương trình giảng dạy thần học được xây dựng tốt; nhưng chúng ta vẫn có thể phác thảo ra một chương trình như vậy để làm rõ vai trò của Thần học Hệ thống trong các chương trình giảng dạy. Một chương trình giảng dạy thần học có thể bao gồm những môn chính sau:

1. Nghiên cứu Kinh Thánh
#

a. Địa lý, Khảo cổ học, và Lịch sử về các vùng đất trong Kinh Thánh
b. Quá trình kinh điển Kinh Thánh
c. Ngôn ngữ Kinh Thánh (Tiếng Hebrew, tiếng Aramaic, tiếng Hy Lạp)
d. Các bản dịch Kinh Thánh
e. Phê bình Kinh Thánh (Văn bản, Lịch sử, Văn học, Hình thức, Biên soạn, và Kinh điển)
f. Giải nghĩa Kinh Thánh
g. Giải Kinh và Diễn giải

2. Nghiên cứu Lịch Sử - Thần học
#

a. Lịch sử Cơ đốc giáo, hay Lịch sử Hội thánh
b. Lịch sử Truyền giáo Cơ đốc giáo
c. Thần học Kinh Thánh
d. Thần học Lịch sử
e. Thần Học Hệ Thống
f. Đạo đức Cơ đốc
g. Biện giáo Cơ đốc và Thần học Triết học
h. Các Tôn giáo trên thế giới, hay Lịch sử các Tôn giáo
i. Tâm lý học Tôn giáo

3. Mục vụ hoặc Nghiên cứu Thực hành
#

a. Giảng đạo, hay Thuyết giảng
b. Mục vụ Chăm sóc hay Tâm vấn
c. Truyền giảng
d. Thực hành Truyền giáo, hay Thần học Truyền giáo
e. Thờ phượng, hay Phụng vụ
f. Giáo dục Tôn giáo, hay Giáo lý
g. Quản lý và Tổ chứ Hội thánh
h. Âm nhạc Hội thánh, bao gồm Thánh Ca học
i. Hội thánh, Cộng đồng, và Xã hội

  • Đạo đức Xã hội ứng dụng
  • Công tác Xã hội của Hội thánh
  • Hội thánh và Chính quyền

Thần học Hệ thống được xây dựng trên nền tảng các giáo lý Kinh Thánh khác nhau, trên lịch sử Hội Thánh, và trên Thần học Kinh Thánh và Thần học Lịch sử.

Thần học Hệ thống hỗ trợ cho các ngành: Đạo đức Cơ đốc, Biện giáo Cơ đốc và Thần học Triết học, Các Tôn Giáo Trên Thế Giới, và Tâm lý học Tôn giáo.

Thần học Hệ thống làm nền tảng cho các nghiên cứu trong các ngành nghiên cứu mục vụ và ngược lại, Thần học Hệ thống chịu ảnh hưởng từ các nhu cầu và phát hiện của các mục vụ Cơ đốc.

Thần học Hệ thống chiếm một vị trí trung tâm và chiến lược trong chương trình giảng dạy thần học.

B. CÁC PHÂN NHÁNH CỦA THẦN HỌC HỆ THỐNG
#

Phạm vi của Thần học Hệ thống có thể được nhìn nhận không chỉ qua vị trí của nó trong chương trình giảng dạy thần học, mà còn thông qua việc xác định các phân nhánh chính của nó. Một lần nữa, không có một danh sách phân chia các phân nhánh được đồng thuận rộng rãi, nhưng các chuyên luận của Thần học Hệ thống thường đề cập đến những chủ đề sau:

  1. Dẫn nhập thần học (prolegomena): Phương pháp, giả định, nguồn gốc …
  2. Sự mặc khải, Kinh Thánh, và thẩm quyền (bibliology)
  3. Đức Chúa Trời: Các thuộc tính, Chúa Cha, Ba Ngôi (theology)
  4. Thế giới (comoslogy): sự sáng tạo (ktisiology), sự quan phòng, các thực thể siêu nhiên (thiên thần học - angelology, ác quỷ học - demonology)
  5. Con người với tư cách là tạo vật (anthropology)
  6. Con người vói tư cách là tội nhân (hamartiology)
  7. Chúa Jesus Christ: Bản thể và công tác (Christology)
  8. Đức Thánh Linh: Bản thể và công tác (pneumatology)
  9. Sự cứu chuộc, hoặc Sự giải hòa, hoặc Đời sống Cơ đốc (soteriology)
  10. Hội thánh: Bản chất, thành viên Hội thánh, tổ chức, Báp-têm, Tiệc Thánh, thờ phượng, sứ mệnh, mục vụ… (ecclesiology)
  11. Những điều sau cùng: Sự chết, sau sự chết, sự tái sinh, nước Đức Chúa Trời, sự trở lại lần hai, sự phán xét chung cuộc, hỏa ngục, thiên đàng (eschatology)

II. CÁC NGUỒN TƯ LIỆU CỦA THẦN HỌC HỆ THỐNG
#

Các nhà thần học hệ thống dựa vào những nguồn nào để xây dựng nội dung cho hệ thống thần học của họ? Các nhà thần học hệ thống nên dựa vào những nguồn nào để xây dựng nội dung cho hệ thống thần học của mình?

Thứ tự hay mức độ ưu tiên nào thường được áp dụng cho các nguồn tư liệu của các hệ thống thần học? Thứ tự hay mức độ ưu tiên nào nên được áp dụng cho các nguồn tư liệu này?

Câu trả lời cho những câu hỏi trên rất quan trọng đối với phương pháp luận của thần học hệ thống và nội dung của từng hệ thống thần học.

A. KINH THÁNH: CỰU ƯỚC VÀ TÂN ƯỚC
#

Hầu như tất cả các nhà thần học Kháng Cách (Protestant) và một số nhà thần học Công giáo La Mã đều xem Kinh Thánh, hay Thánh Thư, là nguồn tư liệu có thứ hạng hoặc mức độ ưu tiên cao nhất trong Thần học Hệ thống. Đối với những người Kháng Cách, đây còn là một phần di sản của phong trào Tin lành Cải chính.

Tuy nhiên, việc một nhà thần học khẳng định Kinh Thánh là ưu tiên cao nhất trong hệ thống thần học của mình, không nhất thiết đồng nghĩa với việc ông tuân thủ hay áp dụng khẳng định này cách nhất quán khi xây dựng một hệ thống thần học. Paul Tillich tuyên bố rằng Kinh Thánh là nguồn tư liệu chính cho Thần học Hệ thống, nhưng người ta nhận thấy rằng ông chỉ sử dụng một cách hạn chế các tư liệu trong Kinh Thánh xuyên suốt ba tập của tác phẩm Thần học Hệ thống của ông.

Khi xác định Kinh Thánh là nguồn tư liệu chính cho thần học hệ thống, một số tác giả đã đặt Tân Ước lên trên Cựu Ước ngụ ý Tân Ước có thẩm quyền cao hơn Cựu Ước.

B. LỊCH SỬ GIÁO LÝ CƠ ĐỐC - TRUYỀN THỐNG HỘI THÁNH
#

Giáo hội Công giáo La Mã, đặc biệt từ Công đồng Trent trở đi, đã khẳng định hai nguồn thẩm quyền song song: Kinh Thánh đã kinh điển và các truyền thống tông đồ không thành văn. Tại Công đồng Vatican II, đã có một số nỗ lực nhằm tái định nghĩa hai thẩm quyền này thành một nguồn duy nhất, thay vì hai nguồn riêng biệt. Chính Thống giáo Đông Phương tiếp tục giữ vững thẩm quyền đặc biệt của bảy công đồng đại kết, kéo dài từ Nicaea I (325) đến Nicaea II (787).

Đặc biệt, các giáo lý về Ba Ngôi và thân vị của Chúa Jesus Christ, cả Kháng Cách, Công giáo La Mã, và Chính Thống giáo Đông Phương đều dựa theo những công thức từ thời kỳ giáo phụ, đặc biệt là Tín Điều Các Sứ Đồ, bản Tín Điều Nicaeno-Constantinopolitan, và Tín Điều Chalcedon (Symbol of Chalcedon).

Nhiều phong trào Kháng Cách, hay các hệ phái, đặc biệt là Lutheran, Cải Chính (Reformed), và Anh giáo (Anglican), đã coi những bản tuyên xưng đức tin Cải chính của họ là những nguồn tư liệu quan trọng của Thần học Hệ thống. Thậm chí trong các hệ phái vốn nhấn mạnh tính tối thượng của Kinh Thánh vẫn tồn tại những ảnh hưởng về thần học (dù có thừa nhận hoặc không thừa nhận) từ các bản tuyên xưng đức tin, các phong trào thần học, và các nhà thần học trong lịch sử Cơ đốc giáo thời kỳ hậu Kinh Thánh.

C. KINH NGHIỆM CƠ ĐỐC - SỰ MỘ ĐẠO
#

Một số nhà thần học Cơ đốc đã xem xét và sử dụng các kinh nghiệm Cơ đốc, dù là của cá nhân hay tập thể, như một nguồn tư liệu để xây dựng Thần học Hệ thống.

Điều này đặc biệt đúng với F. D. E. Schleiermacher, người đã định nghĩa “sự sùng đạo” hay “tôn giáo” là “ý thức về việc hoàn toàn phụ thuộc, hoặc điều tương tự như thế, trong mối quan hệ với Đức Chúa Trời”. Do đó, mộ đạo không phải là vấn đề ý thức hay hành động mà là cảm nhận. Hơn nữa, “các giáo ý Cơ đốc dưới mọi hình thức đều có nền tảng tối hậu nằm hoàn toàn trong cảm xúc của sự tự nhận thức tôn giáo, đến mức nếu những cảm xúc này không tồn tại thì các giáo lý đó cũng không thể hình thành”.

E. Y. Mullins đã dành nhiều sự quan tâm đến kinh nghiệm Cơ đốc trong quyển Thần học Hệ thống của ông. Liệu Mullins có đang sử dụng “kinh nghiệm Cơ đốc” vì mục đích biện giáo trong thời kỳ mà chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa cá nhân là những triết lý chi phối tại Hoa Kỳ? Hay Mullins đang sử dụng “kinh nghiệm Cơ đốc” như một phương tiện thứ cấp để truyền tải chân lý Cơ đốc? Hay, đối với Mullins, “kinh nghiệm Cơ đốc” là một nguồn chính thống của chân lý Cơ đốc? Phần trình bày dài dòng của Mullins về “kinh nghiệm Cơ đốc” trong mối liên quan đến “Tri thức Cơ đốc” và “Sự chắc chắn của Cơ đốc giáo” khiến người ta khó có thể phủ nhận rằng kinh nghiệm Cơ đốc là một nguồn chân lý Cơ đốc đối với Mullins.

Nếu quả thực kinh nghiệm Cơ đốc được coi là một nguồn tư liệu cho thần học Cơ đốc, thì nó nên được xếp ở thứ bậc nào? Có lẽ tính thẩm quyền của kinh nghiệm Cơ đốc là thứ yếu so với thẩm quyền tối cao của Kinh Thánh. Tuy nhiên, liệu kinh nghiệm Cơ đốc cũng ít có thẩm quyền so với truyền thống của Cơ đốc giáo và do đó chỉ dừng lại ở vị trí thứ ba?

Nhiều người có lẽ sẽ đồng ý với quan điểm này, nhưng những người Khách Cách phái tự do với quan điểm nhấn mạnh vào lý trí hoặc kinh nghiệm, hay phong trào Ngũ Tuần với quan điểm nhấn mạnh vào cảm xúc tôn giáo và ân tứ thuộc linh, sẽ có xu hướng đặt kinh nghiệm Cơ đốc lên trên truyền thống.

D. ẢNH HƯỞNG TỪ VĂN HÓA: CÁC TRÀO LƯU TRIẾT HỌC, TÂM LÝ HỌC, CHÍNH TRỊ, VÀ ĐẠO ĐỨC-XÃ HỘI
#

Các nhà thần học Cơ đốc thường chịu ảnh hưởng đáng kể từ các trào lưu tư tưởng trong nền văn hóa của họ. Điều này vẫn đúng ngay cả khi những trào lưu tư tưởng đó không được chính thức thừa nhận là một nguồn tư liệu cho Thần học Hệ thống. Lấy ví dụ, không ít các giáo phụ bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa Tân Platon, Thomas Aquinas chịu ảnh hưởng bởi trào lưu Aristotle, các nhà thần học thế kỷ 18 với Thời kỳ Khai sáng, các nhà thần học Cơ đốc thế kỷ 19 bị ảnh hưởng bởi Charles Darwin (1809-82), và các nhà thần học tự do cuối thế kỷ 20 với tư tưởng Marx-Lenin. Sự tương tác với các trào lưu tư tưởng này đôi khi thể hiện qua các ý niệm, nhận thức, và các thuật ngữ xuất phát từ những trào lưu đó.

Các nhà tư tưởng Cơ đốc khác đã phản đối sự ảnh hưởng và vay mượn này, hoặc ít nhất là lên án việc lạm dụng quá mức những điều đó. Tuy nhiên, ngay cả những người phản đối cũng không thể thoát khỏi sự ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng này. Ví dụ có thể kể đến sự ảnh hưởng của chủ nghĩa Khắc Kỷ đối với Tertullian (năm 155-220) và sự ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong giai đoạn đầu của Karl Barth.

Vì vậy, cần xem xét mức độ và tính thích hợp của những ảnh hưởng này. Phần lớn các nhà thần học Cơ đốc sẽ xem các ảnh hưởng từ văn hóa đóng góp thấp hơn so với Kinh Thánh, truyền thống, và kinh nghiệm Cơ đốc trong danh sách các nguồn tư liệu xây dựng nên Thần học Hệ thống.

E. CÁC TÔN GIÁO PHI CƠ ĐỐC
#

Việc xem các tôn giáo phi Cơ đốc (ngoại trừ đức tin của Cựu Ước) như là một nguồn tư liệu của thần học Cơ đốc dường như là một hiện tượng của thời hiện đại, ngày càng gia tăng bởi những giao thoa tôn giáo ở thế kỷ 20. Ví dụ, Langdon Brown Gilkey (1919-) đã khẳng định rằng “rõ ràng ‘sự thật’ có thể được tìm thấy trong các truyền thống khác” và “các truyền thống trong các tôn giáo khác có thể là một nguồn cho thần học Cơ đốc mang tính sáng tạo và xác thực”.
Các nhà thần học Cơ đốc khác, trong khi đang bàn về tính mặc khải của các hiện tượng tôn giáo, phủ nhận việc các tôn giáo phi Cơ đốc tự bản thân chúng là một nguồn xác thực cho Thần học Hệ thống Cơ đốc.

Các nguồn tư liệu được sử dụng để xây dựng Thần học Hệ thống, và thứ tự ưu tiên của chúng, theo các nhà thần học khác nhau, có thể được xác định dễ dàng. Tuy nhiên, các câu hỏi về tính cần thiết của các nguồn tư liệu thì phức tạp hơn nhiều. Sự khác biệt về các nguồn tư liệu có thể là chìa khóa để giải thích sự khác biệt trong nội dung của các thần học hệ thống.

III. MỘT VÀI THỂ LOẠI THẦN HỌC HỆ THỐNG
#

Các thể loại Thần học Hệ thống Cơ đốc khác nhau xuất hiện trong thế kỷ 20 có thể được phân loại ít nhất theo ba cách:

  1. Phân loại dựa trên cách nhà thần học sử dụng và xếp hạng các nguồn tư liệu chính được dùng để xây dựng nên thần học hệ thống đó.
  2. Phân loại theo hệ phái hay tuyên xưng đức tin mà nhà thần học và tác phẩm của họ thuộc về.
  3. Phân loại dựa trên các phong trào thần học và/hoặc các hệ phái lớn trong thế kỷ 20 mà thần học hệ thống đó phản ánh hay đại diện.

A. PHÂN LOẠI DỰA TRÊN CÁC NGUỒN TƯ LIỆU
#

Bất kỳ nguồn tư liệu chính nào thường được các nhà thần học hệ thống sử dụng, hoặc bất kỳ sự kết hợp nào trong số các nguồn ấy, đều có thể được sử dụng để tạo ra một hệ thống thần học Cơ đốc riêng biệt, thậm chí đến mức trở thành thứ mà một số người cho là diễn đạt sai lệch về chân lý Cơ đốc. Những ví dụ được trình bày dưới đây không chỉ từ thế kỷ 20, một số tác phẩm ở thế kỷ 19 cũng được liệt kê.

1. Các Tôn Giáo Phi Cơ Đốc
#

Việc nhấn mạnh quá mức vai trò của các tôn giáo phi Cơ đốc như một nguồn tư liệu chính dùng cho thần học Cơ đốc vẫn chưa dẫn đến việc hình thành một thần học hệ thống Cơ đốc lớn. Cách tiếp cận các tôn giáo phi Cơ đốc, dẫn đến việc phủ nhận tính tuyệt đối của sự mặc khải Cơ đốc, đã được ủng hộ bởi Ernst Troeltsch (1865-1923), một đại diện cho trường phái lịch sử các tôn giáo, nhưng các bài thuyết giảng của Troeltsch về các giáo lý Cơ đốc cho thấy chúng ít bị ảnh hưởng từ các tôn giáo phi Cơ đốc.

2. Văn Hóa, hoặc Lý Luận
#

Thần học Hệ thống có thể được biên soạn với sự phụ thuộc lớn vào các nguồn tài nguyên từ văn hóa đương đại. Nỗ lực này đôi khi được thực hiện công khai với mục đích tìm kiếm câu trả lời rút ra từ sự mặc khải Cơ đốc của Đức Chúa Trời cho những câu hỏi lớn mà văn hóa đặt ra. Những người chỉ trích phương pháp này cho rằng sự thật trong Kinh Thánh bị lu mờ bởi những mối quan tâm và các khái niệm đặc trưng của một nền văn hóa cụ thể.
Một đại diện tiêu biểu cho trường phái này là Paul Tillich với bộ Thần học Hệ thống ba tập của ông.

3. Kinh nghiệm Cơ đốc
#

Thần học Hệ thống có thể dành sự quan tâm lớn đến kinh nghiệm Cơ đốc bằng việc xem tôn giáo, về cơ bản, là một trải nghiệm phụ thuộc vào Đức Chúa Trời; hoặc bằng việc xem kinh nghiệm Cơ đốc là một nguồn tư liệu quan trọng, thậm chí là nguồn gốc để hình thành các giáo lý Cơ đốc.
Ví dụ cho trường hợp đầu tiên là tác phẩm Đức Tin Cơ Đốc (The Christian Faith) của Schleiermacher, người đã chuyển từ tôn giáo là suy nghĩ hoặc tôn giáo là hành động sang tôn giáo là cảm nhận, đặc biệt là cảm nhận về sự phụ thuộc vào Chúa.

Đại diện cho trường hợp thứ hai là Edgar Young Mullins, tác giả của Cơ đốc giáo trong Diễn giải giáo lý (The Christian Religion in Its Doctrinal Expression), đã xây dựng vị trí cho kinh nghiệm Cơ đốc nhưng vẫn xếp chúng dưới thẩm quyền của Kinh Thánh.

4. Truyền Thống Hội Thánh
#

Thần học Hệ thống cũng có thể được biên soạn với quan điểm ưu tiên các công thức giáo lý Cơ đốc đã được Hội Thánh chấp thuận trong suốt lịch sử Cơ đốc giáo. Kết quả là các bài tín điều, các bản tuyên xưng đức tin, các quyết định của các công đồng và lãnh đạo Hội Thánh được xem là chuẩn mực và là kết luận đưa vào Thần học Hệ thống.

Ludwig Ott (1906-), một nhà thần học Công giáo La Mã, trong tác phẩm Những nguyên tắc cơ bản trong Thần học Công giáo (Fundamentals of Catholic Dogma), là đại diện cho phương pháp truyền thống của giáo hội. Ott đã xác định cấp độ cụ thể của thẩm quyền giáo hội cho từng giáo lý quan trọng.

5. Kinh Thánh
#

Thần học Hệ thống có thể chú trọng đến nguồn tư liệu Kinh Thánh đến mức bỏ qua hoặc giảm bớt sự ảnh hưởng của các nguồn khác đối với Thần học Hệ thống. Theo đó, Thần học Hệ thống được coi là sự tổng hợp các giáo lý Kinh Thánh mà không có những ảnh hưởng khác, mặc dù văn hóa và truyền thống giáo hội có thể đã tác động trong sự định hình các công thức thần học.

Minh họa cho loại thần học hệ thống này là Charles Hodge (1797-1878), Lewis Sperry Chafer (1871-1952) và Wayne Arden Grudem (1948-) với quyển Thần học Hệ thống: Giới thiệu về Giáo lý Kinh Thánh.

B. PHÂN LOẠI DỰA TRÊN HỆ PHÁI HOẶC TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN
#

Phân loại này dựa trên việc các sách Thần học Hệ thống được biên soạn phản ánh hoặc đại diện cho thần học của các hệ phái Cơ đốc hay các tuyên xưng đức tin. Dĩ nhiên, không phải tất cả các hệ phái đều có các tác phẩm thần học hệ thống được viết ra trong thế kỷ 20. Danh sách dưới đây sẽ chỉ giới hạn trong các sách được viết bằng tiếng Anh hoặc được dịch ra tiếng Anh.

1. Công Giáo La Mã (Roman Catholic)
#

Công trình đồ sộ của các nhà thần học Công giáo La Mã trong thế kỷ 20 thường không được phát hành dưới tên gọi “Thần học Hệ thống” hay “Học thuyết Thần học”, như cách những thuật ngữ này thường được định nghĩa.

Công trình công phu nhất gần như là một thần học hệ thống là Nghiên cứu Thần học (Theological Investigations) của Karl Rahner (1904-84), bao gồm 17 tập do một nhà thần học Dòng Tên biên soạn, có thể được mô tả một cách chính xác là một bộ sưu tập các bài viết mở rộng của tác giả, hơn là một hệ thống thần học hay học thuyết thần học.

Joseph Pohle (1852-1922) đã xuất bản một bộ học thuyết 12 tập vào những năm đầu thế kỷ 20, George D. Smith biên tập một tuyển tập quan trọng về các niềm tin Công giáo, và nhà thần học Hà Lan, Gerardus Cornelius van Noort (1861-1946) đã xuất bản một quyển các học thuyết gồm 2 tập tập trung vào giáo hội.

Hans Kung (1928-) đã viết nhiều chuyên khảo lớn về sự thực hữu của Đức Chúa Trời, sự công chính, đời sống Cơ đốc, giáo hội, tính bất khả ngộ, và sự sống đời đời nhưng không phải là một thần học hệ thống.

Reginald Garrigou-Lagrange, O. P. (1877-1964) đã diễn giải lại thần học của Thomas Aquinas, Bernard J. F. Lonergan, S. J. (1904-84) và David Tracy (1939-) tập trung vào phương pháp thần học, Avery Robert Dulles, S. J. (1918-2008) đã biên soạn các chuyên khảo về sự mặc khải và giáo hội, Thomas F. Stransky, C. S. P., đã viết về thần học truyền giáo. Michael Schmaus (1897-) có xuất bản học thuyết thần học, và Frans Jozef van Beeck, S. J. (1930-) xuất bản tập đầu tiên về “thần học hệ thống Công giáo hiện đại”.

Hầu hết các sách giáo lý gần đây đều giống như thần học hệ thống một tập; đáng chú ý có các tác phẩm của những nhà thần học Công giáo Hà Lan, như John A. Hardon, S. J. (1914-), Andrew M. Greeley (1928-), Thomas Bokenkotter, Alan Schreck. Eileen Patricia Flynn (1942-) và Gloria Blanchfield Thomas đồng tác giả một chuyên luận tổng quát, Francis Schussler Fiorenza (1941-) và John P. Galvin (1944-) biên tập một hệ thống thần học 2 tập với sự đóng góp của 10 tác giả khác, Theodor Schneider (1931-) biên tập một tuyển tập học thuyết đồ sộ 2 tập với hơn 7 tác giả khác tham gia, và Jon Sobrino, S. J. (1938-) và Ignacio Ellacuria, S. J., đồng biên tập của một hệ thống thần học tự do với sự tham gia của 12 tác giả khác. Lần đầu tiên kể từ thể kỷ 16, một bộ sách giáo lý đã được phát hành dưới thời Giáo hoàng John Paul II (1920-2005).

2. Anh Giáo - Giám Mục (Anglican - Episcopal)
#

Việc xuất bản các tác phẩm thần học hệ thống không phải là điều phổ biến trong truyền thống của Anh Giáo so với Công Giáo La Mã, Lutheran, và Cải Chính, nhưng đã có nhiều luận văn được phát hành trong thế kỷ 20.

Handley Carr Glyn Moule (1841-1920) thuộc nhánh Tin Lành đã ra mắt một tập ngắn vào năm 1905, Francis Joseph Hall (1857-1932) phái Anh-Công giáo đã ra mắt 10 tập sách lớn từ năm 1907 đến 1922, Darwell Ston và Thomas B. Strong đã xuất bản các cuốn sách hướng dẫn vào năm 1913, T. C. Hammond là tác giả của một chuyên khảo Tin Lành được lưu hành rộng rãi, và Oliver Chase Quick (1885-1944) đã diễn giải những khẳng định trong tín điều Cơ đốc giáo vào năm 1938.

John Robert Walmsey Stott (1921-) đã viết cuốn Cơ đốc giáo Cơ bản (Basic Christianity) được lưu hành rộng rãi, Frederick Clifton Grant (1891-1974) xuất bản cuốn Những niềm tin Cơ đốc cơ bản (Basic Christian Beliefs), và Marianne H. Micks xuất bản cuốn Nhập môn Thần học (Introduction to Theology). John Macquarrie (1919-) hoàn thiện một thần học hệ thống 1 tập và một cuốn thần học ngắn gọn cho tín đồ. James A. Pike (1913-69) và Maurice Frank Wiles (1923-) đại diện cho quan điểm Nhà Thờ Lớn (Broad Church).

Những tác phẩm một tập gần đây bao gồm các tác phẩm của Owen C. Thomas và của Anthony Tyrrell Hanson (1916-91) và Richard Patrick Crosland Hanson (1916-88). Trong phái Nhà Thờ Lớn, John Arthus Thomas Robinson (1919-83) viết một chuyên khảo về Đức Chúa Trời, thân thể, thân vị của Đấng Christ, đời sống Cơ đốc, Tiệc Thánh, và những điều sau cùng.

Trong truyền thống Tin Lành, James Innel Packer (1926-) viết một bản tóm tắt giáo lý ngắn gọn cũng như một số chuyên khảo về Kinh Thánh và đời sống Cơ đốc, Edward Michael Banks Green (1930-) đã biên soạn các chuyên khảo về sự phục sinh của Chúa Jesus, phép Báp-têm, Đức Thánh Linh, và đời sống Cơ đốc; Alister Edgar McGrath (1953-) là tác giả của cuốn Thần học Cơ đốc: Nhập môn (Christian Theology: An Introduction), với trọng tâm về lịch sử thần học, cũng như các chuyên khảo về sự công chính, bản chất của giáo lý, và các chủ đề khác.

3. Lutheran
#

Các nhà thần học Lutheran ở Châu Âu đã tạo ra ba thần học hệ thống lớn, một ở Thụy Điển, một ở Đan Mạch, và một ở Đức.

Gustaf Emanuel Hildebrand Aulén (1879-1977) đã viết cuốn Đức tin của Hội thánh Cơ đốc (The Faith of the Christian Church), Regin Prenter là tác giả của cuốn Sáng tạo và Cứu rỗi (Creation and Redemption), và Helmut Theilicke (1908-86) ra mắt công trình 3 tập Đức Tin Tin Lành (The Evangelical Faith).

Từ Giáo hội Missouri ở Mỹ, Franz August Otto Pieper (1852-1931) viết Thần học Cơ đốc (Christian Dogmatics) gồm 3 tập và một “bản tóm tắt” giáo lý của Pieper dài 1 tập của John Theodore Mueller (1885-1967). Các thần học hệ thống 1 tập của các tác giả người Mỹ như John Alden Singmaster (1852-1926) và Joseph Stump (1866-1935). Edmund Schlink (1903-1984) và Friedrich Mildenberger (1929-), đều là người Đức, đã diễn giải các tuyên xưng đức tin của Lutheran trong tác phẩm nhiều tập của mình có giá trị tương đương thần học hệ thống, và George Forell (1919-), một người Mỹ, đã ra mắt bản tóm tắt của ông.

Các tác phẩm gần đây nhất trong giáo lý Lutheran là một chuyên đề do Carl E. Braaten (1929-) và Robert William Jenson (1930-) biên tập, cuốn Các nguyên tắc của Thần học Lutheran (Principles of Lutheran Theology) của Braaten, tác phẩm 2 tập Thần học Hệ thống (Systematic Theology) của Jenson, và phần giới thiệu của Bradley C. Hanson.

4. Tinh Lành Cải Chánh (Reformed) và Trưởng Lão (Presbyterian)
#

Các tác giả đại diện cho truyền thống Cải Chính và Trưởng Lão đã có những đóng góp quan trọng cho thần học hệ thống Cơ đốc trong thế kỷ 20. Đáng chú ý nhất trong số này là tác phẩm Giáo lý Hội thánh (Church Dogmatics) gồm 13 tập chưa hoàn thành của Karl Barth, được đánh giá ngang tầm với các thần học hệ thống của Thomas Aquinas và John Calvin.

Benjamin Breckinridge Warfield (1851-1921) là tác giả của Giáo lý Kinh Thánh (Biblical Doctrines), Hugh Ross Mackintosh (1870-1936) viết một tập ngắn, và Louis Berkhof (1873-1957) xuất bản một diễn giải về thần học Cải Chính, được xem như là thần học hệ thống của ông. John Seldon Whale (1896-1995) là tác giả của một giáo trình nổi tiếng cho sinh viên đại học, John Alexander Mackay viết một bài giới thiệu, và James Smart viết một bài giải thích nổi tiếng. Auguste Lecerf (1872-1943) đã chuẩn bị một nghiên cứu về thần học Cải Chính, và Cornelius Van Til (1895-1987) viết một phần giới thiệu về thần học hệ thống.

Hai tác phẩm thần học hệ thống nhiều tập lớn từ các tác giả Châu Âu bắt đầu được dịch ra tiếng Anh vào những năm 1950 b ao gồm: Bộ ba tập “Giáo lý” (Dogmatics) của Emil Brunner từ Thụy Sĩ, và bộ 14 tập “Nghiên cứu về Giáo lý” (Studies in Dogmatics) của Gerrit Cornelis Berkouwer (1903-96) từ Hà Lan.

Các tác phẩm ngắn hơn được viết bởi David Haxton Carswell Read, Rachel Henderlite, Addison H. Leitch (1908-), Joseph Haroutunian (1904-68), John Henry Gerstner (1914-96), và Shirley C. Guthrie, Jr. (1927-). Herman Diem tác giả của quyển Giáo lý (Dogmatics) dài 1 tập, Herman Hoeksema xuất bản một quyển khác về thần học Cải Chánh, Hendrikus Berkhof (1914-) viết một thần học hệ thống đáng chú ý trong 1 tập, và Otto Weber (1902-66) với một thần học hệ thống lớn gồm 2 tập.

Joseph Pungur (1931-) viết 2 tập, Daniel L. Migliore (1035)- sáng tác một thần học hệ thống ngắn gọn dài 1 tập, Gordon John Spykman (1926-) cố gắng theo sát câu chuyện Kinh Thánh, Rober Charles Sproul (1939-) viết cho độc giả phổ thông, và Robert L. Reymond xuất bản một thần học hệ thống lớn trong một tập.

5. Mennonite
#

Ba tác phẩm có thể được xem là thần học hệ thống đã được các tín đồ Mennonites tại Hoa Kỳ biên soạn. Daniel Kauffman (1865-1944) biên tập một quyển nổi tiếng, phổ thông hơn năm 1914, John Christian Wenger (1910-1995) viết một chuyên luận chuyên sâu vào năm 1954, và gần đây Clyde Norman Kraus (1924-) đã xuất bản một thần học hệ thống tập trung vào nghiên cứu Đấng Christ.

6. Báp-tít (Baptist)
#

Những người đóng góp cho thần học hệ thống của Baptist trong thế kỷ 20 thường là các tác phẩm được xuất bản dưới dạng 1 tập.

Phiên bản cuối cùng của Thần học Hệ thống (Systematic Theology) do Augustus Hopkins Strong (1836-1921), một tín hữu Baptis Bắc phương, biên soạn đã được phát hành vào năm 1907. Mặc dù không được chỉnh sửa sau đó, tác phẩm này vẫn được in lại suốt thế kỷ 20. Tác phẩm Cơ đốc giáo trong Diễn giải giáo lý (The Christian Religion in Its Doctrinal Expression) của E. Y. Mullins ra mắt vào năm 1917. Walter T. Conner, bắt đầu từ năm 1924, đã xuất bản nhiều tập sách hợp lại thành một thần học hệ thống. Thomas Polhill Stafford (1866-1942), một tín hữu Baptist Bắc phương, đã biên soạn một hệ thống thần học. Ralph Edward Knudsen (1897-1995), cũng là một tín hữu Baptist Bắc phương, là tác giả của quyển Đức tin Cơ đốc (Christian Beliefs), và John Alexis Edgren (1838-1908) trong Hội nghị Baptist Toàn quốc (Baptist General Conference) đã viết Những điều cơ bản của Đức tin (Fundamentals of Faith).

Để sử dụng làm sách giáo khoa đại học, Josiah Blake Tidwell (1870-1946) đã xuất bản quyển Giáo dục Cơ đốc (Christian Teachings), William Wilson Stevens (1914-78) với tác phẩm Giáo lý Cơ đốc giáo (Doctrines of the Christian Religion), Dallas M. Roark (1931-) với Đức tin Cơ đốc (The Christian Faith), F. Leroy Forlines, một tín hữu Baptist Tự Do, với quyển Thần học Hệ thống (Systematics), và Abda Johnson Conyers III (1944-2004) đã đóng góp quyển Thần học Cơ đốc Căn Bản (A Basic Christian Theology) cùng các chuyên luận về thời kỳ sau cùng. Hershchel Hobbs là tác giả của Những căn bản trong Đức tin của Chúng ta (Fundamentals of Our Faith), Joseph Franklin Green, Jr. (1924-) viết một bài giới thiệu ngắn gọn, và Curtis Wallace Christian (1927-) cung cấp một hướng dẫn để xây dựng công thức cho thần học cá nhân.

Eric Charles Rust (1910-91) đã biên soạn một bộ thần học Kinh Thánh và các chuyên luận giáo lý về con người, thần học về tự nhiên, và thần học về lịch sử, Frank Stagg (1911-2001) đã viết một bộ thần học về Tân Ước và chuyên khảo về con người và về Đức Thánh Linh. Một thần học hệ thống quan trọng khác do Dale Moody (1915-1992) biên soạn với tựa đề Chân Lý (The Word of Truth). William Lawrence Hendricks (1929-2002) đã sáng tác một thần học hệ thống cho những người làm mục vụ mà một thần học hệ thống khác dành cho những người cao tuổi. Những chuyên khảo về sự cứu rỗi của Đấng Christ được xuất bản bởi James E. Tull (1913-89), bởi Fisher Henry Humphreys (1939-), và bởi Bert Buckner Dominy (1938-). Một nhà thần học Baptist người anh, Bruce Milne (1940-) đã viết quyển Nhận biết Chân Lý (Know the Truth).

Millard J. Erickson đã xuất bản tác phẩm Thần học Cơ đốc (Christian Theology), ban đầu có 3 tập, sau đó tái phát hành gộp thành 1 tập và đã được chỉnh lý. John Paul Newport (1917-2000) hướng đến độc giả phổ thông, trong khi Jesse Morris Ashcraft (1922-2011) xuất bản quyển Đức tin và Niềm tin Cơ đốc (Christian Faith and Belief).

Bruce A. Demarest (1935-) và Gordon Russell Lewis (1926-), hai nhà thần học Baptist Bảo Thủ, đã hoàn thành bộ 3 tập có tựa đề Thần học Tích hợp (Integrative Theology). James William McClendon, Jr. (1924-2001) đã xuất bản 2 tập về đạo đức và giáo lý, là một phần trong kế hoạch 3 tập viết về các niềm tin chung của cộng đồng Baptist Cơ đốc. Stanley J. Grenz (1950-2005) trong Hội đồng Baptist Bắc Mỹ, là tác giả của quyển Thần học cho Cộng đồng Đức Chúa Trời (Theology for the Community of God), và Wayne Arden Grudem đã biên soạn một thần học hệ thống tập trung vào Kinh Thánh.

7.Phái Anh Em (Brethren)
#

Những tác phẩm thần học một tập được viết bởi một số tác giả thuộc Church of the Brethren, bao gồm: Dainel Webster Kurtz (1879-1949), John Henry Moore (1846-1935), Otho Winger (1877-1946), Harry L. Smith (1897-?), và William McKinley Beahm (1896-1964). Tác phẩm tóm tắt của James M. Tombaugh (1857-1932) và các bài giảng về thần học hệ thống của J. Allen Miller (1866-1935), được xuất bản sau khi ông qua đời vào năm 1946, đại diện cho Brethren Church, trong khi đó, chuyên khảo của Louis Sylvester Bauman (1875-1950) đại diện cho Grace Brethren.

8. Giám Lý (Methodist)
#

Các tác phẩm thần học hệ thống quan trọng của Methodist đã được xuất bản vào đầu thế kỷ 20 nhưng xu thế này đã giảm sút trong các thập kỷ sau đó.

Henry Clay Sheldon (1845-1928) viết tác phẩm Hệ thống giáo lý Cơ đốc (System of Christian Doctrine), Milton Spenser Terry (1840-1914) với tác phẩm Giáo lý Kinh Thánh (Biblical Dogmatics), và Albert Cornelius Knudson (1873-1953) đã xuất bản hai tập sách, hợp lại thành một thần học hệ thống. Henry Maldwyn Hughes (1875-1940), một mục sư Methodist người Anh, đã viết một phần giới thiệu, và Harris Franklin Rall (1870-1964) với một tác phẩm tóm tắt. Các tác phẩm tổng quan khác được xuất bản bởi William Atwell Spurrier, Donald E. Demaray, Georgia Elma Harkness (1891-1974), và Paul A. Mickey (1937-). John Lawson (1909-) trình bày lại thần học của Wesleyan, cũng như một sách hai tập do Charles Webb Carter (1905-1996) biên tập.

9. Cơ Đốc Phục Lâm (Adventist)
#

Một tác phẩm gần đây được phát hành bởi nhà thần học Cơ đốc Phục lâm, Richard Rice, dường như là trường hợp duy nhất về thần học hệ thống được viết trong di sản Cơ đốc Phục lâm. Thần học hệ thống của Alva G. Huffer phản ánh Hội nghị Church of God (Oregon, Illinois), còn được gọi là Hội thánh Đức Chúa Trời của đức tin Abraham (Church of God of the Abrahamic Faith).

10. Phong trào Thánh Khiết (Holiness)
#

Thần học Kinh Thánh (Bible Theology), được viết bởi William B. Godbey (1833-1920), dường như phản ánh phong trào Holiness độc lập.

Từ Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp (Christian and Missionary Alliance) có một chuyên khảo của George Palmer Pardington (1866-1915).

Một tác giả Methodist Tự Do, Harry Edward Jessop (1884-?) viết một cẩm nang về Phong trào Thánh khiết.

Church of God (Anderson, Indiana) sử dụng rộng rãi một thần học hệ thống của Russell Raymond Byrum (1888-?).

Từ Church of Nazarene có một thần học hệ thống 2 tập của Aaron Merritt Hills (1848-1935), một tác phẩm thần học hệ thống 3 tập lớn của Henry Orton Wiley (1877-1961), một chuyên luận tổng hợp và một thần học hệ thống 1 tập của Joseph Kenneth Grider (1921-), một thần học hệ thống 1 tập của Hubert Ray Dunning (1926-), và một phần giới thiệu của William Marvin Greathouse (1919-) và Dunning.

11. Phong trào Ngũ tuần / Ân tứ (Pentecostal / Charismatic)
#

Các tác giả thuộc Assemblies of God, Myer Pearlman (1898-1943) và Ernest Swing Williams (1885-1981), lần lượt xuất bản một cẩm nang về các giáo lý Kinh Thánh và một thần học hệ thống 3 tập. John Rodman Williams (1918-) đã xuất bản một thần học hệ thống 3 tập xuất phát từ phong trào Ân tứ.

C. PHÂN LOẠI DỰA TRÊN ĐẾN CÁC PHONG TRÀO TRONG THẾ KỶ 20
#

Các tác phẩm Thần học Hệ thống được viết không chỉ dựa trên các giả định về nguồn tư liệu và từ các bối cảnh hệ phái hay tuyên xưng đức tin, nhưng còn phản ánh các phong trào thần học cụ thể. Các ví dụ dưới đây chỉ mang tính gợi ý, không phải danh sách đầy đủ.

1. Chủ Nghĩa Ritschl (Ritschlianism)
#

Thần học của nhà thần học người Đức Albrecht Ritschl đã hình thành hai nhóm người đi theo, phe cánh tả và phe cánh hữu. Bộ giáo lý 2 tập của Theodor Hearing (1848-1928) đại diện cho cánh hữu, và giáo lý của Wilhelm Herrmann (1846-1922) đại diện cánh tả.

2. Chủ Nghĩa Hiện Đại (Modernism)
#

Shailer Mathews (1863-1941) trong tác phẩm Đức tin theo Chủ nghĩa Hiện đại (The Faith of Modernism) đã dựa vào phương pháp khoa học để xác thực các chân lý tôn giáo. Douglas Clyde Macintosh (1877-1948) là một người ủng hộ thần học dựa trên kinh nghiệm.

3. Chủ Nghĩa Tự Do (Liberalism)
#

Harry Emerson Fosdick (1878-1969), người đã viết nhiều chuyên khảo về các chủ đề như Kinh Thánh, sự cầu nguyện, và sự bất tử, là tiêu biểu cho chủ nghĩa tự do trong thần học như một sự tái cấu trúc đức tin cũ, mặc dù ông không viết một cuốn thần học hệ thống nào. Trong những năm tiếp theo, Lotan Harold DeWolf (1905-86), một người theo Methodist, và Langdon Brown Gilkey, một người theo Baptist, đã trình bày và bảo vệ chủ nghĩa tự do trong thần học. Các tác phẩm của John A. T. Robinson và Maurice Wiles cũng thuộc vào danh mục này.

4. Trào Lưu Chánh Thống (Fundamentalism)
#

Ruben Archer Torrey (1856-1928) đã viết các giáo lý nền tảng, và B. B. Warfield tập trung vào giáo lý về Kinh Thánh. Mặc dù không viết một cuốn thần học hệ thống nào, John Gresham Machen (1881-1937) đã thể hiện rõ tư tưởng của Chủ nghĩa Nền tảng vào những năm 1920, dù không phản ánh Chủ nghĩa Nền tảng của các thập kỷ sau đó. Các tác phẩm phổ biến của John Richard Rice (1895-1980) đã trình bày tinh thần của Chủ nghĩa Nền tảng vào khoảng những năm 1950, dù đây không phải là một thần học hệ thống.

5. Chủ Nghĩa Tân Chánh Thống (Neoorthodoxy)
#

Các tác phẩm của Karl Barth, Emil Brunner, và John S. Whale là những đại diện cho Tân Chính thống, cũng như quyển Bản chất và Định mệnh của Con người (The Nature and Destiny of Man) của Reinhold Niebuhr và các tác phẩm của William Edward Hordern (1920-)

6.Chủ Nghĩa Hiện Sinh (Existentialism)
#

Rudolf Karl Bultmann (1884-1976) là một đại diện tiêu biểu nhất cho ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh lên thần học Cơ đốc, mặc dù sự đóng góp của ông chủ yếu thông quan thần học Tân Ước thay vì thần học hệ thống. Một nhà thần học Đa Minh (Dominican), G. M. A. Jansen, rõ ràng là một người ủng hộ chủ nghĩa hiện sinh hoặc phương pháp “hiện tượng học”.

7.Chủ Nghĩa Đại Kết (Ecumenism)
#

Walter Marshall Horton (1895-1966) đã cố gắng xây dựng một thần học Cơ đốc nhằm phục vụ cho chủ nghĩa đại kết bằng cách đưa ra những câu trả lời Cơ đốc đại kết cho những câu hỏi phổ quát của con người.

Willem Adolph Visser’t Hooft (1900-85), một lãnh đạo của Phong trào Đại kết, đã xuất bản các chuyên khảo về Đức Chúa Cha và vương quyền của Đấng Christ nhưng không phải một thần học hệ thống.

Thomas Clark Oden (1931-), một người theo Methodist, đã hoàn thiện một bộ 3 tập thần học hệ thống đại kết bằng cách sử dụng “các lập luận mang tính xây dựng từ hai thiên niên kỷ về tư tưởng Cơ đốc đại kết”.

8. Chủ Nghĩa Tiền Thiên Hy Niên Lịch Sử (Historic Premillennialism)
#

Perry Braxton Fitzwater (1871-1957), Harold Lindsell (1913-98), Charles Jahleel Woodbridge (1902-95), và James Oliver Buswell, Jr. (1895-1977) đã viết các thần học hệ thống ủng hộ quan điểm Tiền Thiên Hy Niên Lịch Sử về sự tái lâm của Chúa Jesus.

Các thần học hệ thống gần đây như của Dale Moody và Millard J. Erickson cũng theo quan điểm này.

George Eldon Ladd (1911-82) thông qua thần học về Tân Ước và các chuyên khảo khác cùng George Raymond Beasley-Murray (1916-2000) với các chuyên khảo đã đóng góp nhiều vào quan điểm Tiền Thiên Hy Niên Lịch Sử.

9. Chủ Nghĩa Phi Thiên Hy Niên (Amillennialism)
#

Các thần học hệ thống của Louis Berkhof, Milton S. Terry, R. R. Byrum, và T. P. Stafford với tác phẩm sau đó của Walter T. Conner đều ủng hộ cho Phi Thiên Hy Niên, tương tự như thần học hệ thống của Albertus Pieters (1869-1955). Các chuyên khảo liên quan và ủng hộ Phi Thiên Hy Niên được viết bởi Geerhardus Vos (1862-1949), Oswald Thompson Allis (1880-1973), William Hendriksen (1900-82), Floyd Eugene Hamilton (1890-?), George Lewis Murray (1896-?), Russell Bradley Jones (1894-1986), Ray Summers (1910-92), và Anthony A. Hoekema (1913-88).

10. Chủ Nghĩa Hậu Thiên Hy Niên (Postmillennialism)
#

Augustus H. Strong trong tác phẩm Thần học Hệ thống (Systematic Theology) của ông ủng hộ Hậu Thiên Hy Niên. Loraine Boettner (1901-90) đã trình bày học thuyết này trong một chuyên khảo, và James Henry Snowden (1852-1936), Roderick Campbell, Jacob Marcellus Kik (1903-65), Rousas John Rushdoony (1916-2001), và John Jefferson Davis (1946-) cũng ủng hộ học thuyết này.

11. Chủ Nghĩa Tiền Thiên Hy Niên Phân Kỳ (Dispensational Premillennialism)
#

Thần học Hệ thống (Systematic Theology) của Lewis Sperry Chafer đã diễn đạt về Tiền Thiên Hy Niên Phân Kỳ. Các thần học hệ thống khác ủng hộ lập trường này bao gồm thần học hệ thống của William Evans (1870-1950), Emery Herbert Bancroft (1877-1944), Henry Clarence Thiessen (1885-1947), Richard H. Bube (1927-), Charles Caldwell Ryrie (1925-), và Charles F. Baker.

Các chuyên khảo về tận thế của John Flipse Walvoord (1910-2002), Charles Lee Feinberg (1909-95) và J. Dwight Pentecost (1915-) có liên quan đến thuyết Phân Kỳ.

Học thuyết Phân Kỳ cấp tiến gần đây được ủng hộ bởi Craig A. Blaising (1949-), Darrell L. Bock và Robert L. Saucy (1930-), và học thuyết Phân Kỳ trước đó được ủng hộ bởi Robert Paul Lightner (1931-).

12. Chủ Nghĩa Thần Học Tiến Trình (Process Theology)
#

Các nhà thần học áp dụng triết học tiến trình của Alfred North Whitehead và Charles F. Hartshorne vào các giáo lý Cơ đốc có thể kể đến William Norman Pitterger (1905-97), John Boswell Cobb, Jr. (1925-), và David Ray Griffin (1939-).

13. Chủ Nghĩa Thần Học Tận Thế Châu Âu (European Eschatological Theologies)
#

Hai nhà thần học Kháng Cách Châu Âu, Jurgen Moltmann (1926-) và Wolfhart Pannenberg (1928-), đã thúc đẩy các thần học định hướng về tận thế. Moltmann chú ý đến các phong trào đương đại vì sự thay đổi xã hội, trong khi Pannenberg chuyển nền tảng lịch sử của Cơ đốc giáo từ “lịch sử thánh” sang lịch sử chung hoặc thế tục. Pannenberg đã hoàn thành một bộ thần học hệ thống 3 tập.

14. Chủ Nghĩa Thần Học Giải Phóng (Liberation Theology)
#

Các nhà thần học, đặc biệt ở Mỹ Latin, những người đã biến chủ đề giải phóng kinh tế và chính trị thành chủ đề trọng tâm của thần học Cơ đốc, bao gồm Rubem A. Alves (1933-) từ Brazil, Jose Miguez-Bonino (1924-) từ Argentina, Gustavo Gutierrez (1928-) từ Peru, Paul Juan Luis Segundo, S. J. (1925096) từ Uruguay, Hugo Assman từ Brazil và Costa Rica, Leonardo Boff, O. F. M. (1938-) từ Brazil, và Frederick Herzog (1925-95) từ Hoa Kỳ.

Thần học Da màu (Black theology) ở Hoa Kỳ là một hình thức chuyên biệt của Thần học Giải Phóng và được thể hiện trong các tác phẩm của James Deotis Roberts (1927-), James H. Cone (1938-), Warren Raymond Traynham (1936-), và William Ronald Jones.

Thần học Nữ Quyền, với những lo ngại về ngôn ngữ nam tính dành cho Đức Chúa Trời, đã được đại diện qua các tác phẩm của Rosemary Radford Ruether (1936-), Elisabeth Schussler Fiorenza (1938-), và Sallie McFague (1933-).

Thần học Giải Phóng cũng đã xuất hiện ở Châu Á bởi nhà thần học Dòng Tên, Aloysius Pieris. Cấu trúc của các tác phẩm liên quan đến thần học giải phóng thường khá khác so với cách tiếp cận truyền thống của thần học hệ thống theo truyền thống Cơ đốc Phương tây.

15. Chủ Nghĩa Thần Học Tường Thuật (Narrative Theology)
#

Một phương pháp tiếp cận thần học hệ thống mới được sử dụng gần đây là phương pháp tường thuật, nhưng bản chất của phương pháp này hoàn toàn không rõ ràng.

Một hình thức của phương pháp này là cố gắng trình bày các giáo lý Cơ đốc theo thể loại tường thuật, phương pháp này tương đồng với Thần học Kinh Thánh với trọng tâm là hành động của Đức Chúa Trời.

Một hình thức khác là tìm cách sử dụng những câu chuyện đời sống hoặc kinh nghiệm tôn giáo của các lãnh đạo Cơ đốc như một phương tiện giảng dạy để cho thấy đức tin định hình đời sống như thế nào.

Vẫn còn các hình thức khác, như của Gabriel Joseph Fackre (1926-), tìm cách nào đó để sử dụng thể loại tường thuật như một motif chủ đạo trong việc trình bày thần học hệ thống.

16. Chủ Nghĩa Tin Lành Bảo Thủ (Conservative Evangelicalism)
#

Các thần học hệ thống của G. C. Berkouwer, của Millard J. Erickson, và của Bruce A. Demarest và Gordon R. Lewis, được xem là quan điểm của những người theo chủ nghĩa Tin Lành Bảo thủ, mặc dù các thần học hệ thống trước đó cũng có thể được phân loại tương tự. Điều này cũng áp dụng cho các chuyên khảo của John R.W. Stott, James I. Packer, và Michael Green.

Các tác phẩm khác đại diện cho chủ nghĩa này có thể kể đến như Về Thần học Chính thống (The Case of Orthodox Theology) của Edward John Carnell (1919-67), bộ 6 tập Đức Chúa Trời, Khải Thị, và Thẩm Quyền (God, Revelation, and Authority) của Carl Ferdinand Howard Henry (1913-2003), các chuyên khảo về giải nghĩa Kinh Thánh và về thẩm quyền, về khoa học và Kinh Thánh, về khải thị đặc biệt, về tội lỗi, về Đức Thánh Linh, về Đấng Christ, và về sự vinh hiển của Bernard L. Ramm (1916-92), quyển sổ tay của Walter Ralston Martin (1928-89) hướng đến việc bác bỏ các giáo phái, tác phẩm Những điều cốt yếu của Thần học Phúc Âm (Foundations of Evangelical Theology) của John Jefferson Davis (1946-).

Các thần học hệ thống của Grenz và Grudem đại diện cho mỗi trường phái của chủ nghĩa Tin Lành Bảo thủ, và Erickson cũng xuất bản nhiều chuyên khảo. Chuyên khảo của Clark Harold Pinnock (1937-2010) và Robert C. Brow ra mắt một thần học lấy tình yêu làm trung tâm.

17. Các Trường Hợp Khác
#

Một số tác phẩm thần học hệ thống không dễ dàng phân loại và dường như thuộc một thể loại riêng, độc đáo hoặc thuộc một phạm trù toàn diện của thần học Kháng Cách. Điều này áp dụng cho các tác phẩm của Clarence Augustine Beckwith (1849-1931) William Adams Brown (1865-1943), Nathaniel Micklem (1886-1976), Nels Fredrick Solomon Ferré (1908-1971), Charles S. Duthie (1911-), Gordon Dester Kaufman (1925-), John C. Meyer (1934-), Thomas Nixon Finger (1942-), Kenneth Cauthen (1930-), Paul King Jewett (1919-91), Ninian Smart (1921-) và Steven Konstantine, và Peter Crafts Hodgson (1934-).

KẾT LUẬN
#

(1) Từ việc nghiên cứu phạm vi của thần học hệ thống, mối quan hệ với các ngành thần học khác, và các phân ngành của thần học hệ thống, (2) từ các khảo sát về các nguồn tư liệu mà các nhà thần học Cơ đốc đã sử dụng và nên sử dụng, cũng như tầm quan trọng tương quan giữa các nguồn này, và (3) từ một đánh giá khá chi tiết về các thể loại thần học hệ thống đã hình thành trong thế kỷ 20, chúng ta có thể có một sự hiểu biết rõ ràng và chính xác hơn về việc Thần học Hệ thống là gì.


CÂU HỎI THẢO LUẬN
#

  1. Thần học Hệ thống được xây dựng trên nền tảng nào?

  2. Có bao nhiêu nguồn tư liệu để xây dựng nội dung cho Thần học Hệ thống?

  3. Thứ tự thẩm quyền của các nguồn tư liệu của Thần học Hệ thống như thế nào?

  4. Kinh nghiệm Cơ đốc, văn hóa, và các tôn giáo khác có được xem là một nguồn tư liệu cho Thần học Hệ thống?

  5. Thần học Hệ thống được phân loại như thế nào?