Skip to main content

CHƯƠNG 3: SỰ MẶC KHẢI LÀ GÌ? SỰ MẶC KHẢI PHỔ QUÁT

·6029 words·29 mins·
Author
Aki

PHẦN 1: SỰ MẶC KHẢI VÀ KINH THÁNH
#

Sau khi đã hoàn thành phần dẫn nhập, chúng ta nên trình bày các giáo lý của Cơ đốc giáo trong Thần học Hệ thống bắt đầu từ đâu? Một số người cho rằng nên bắt đầu từ sự thực hữu và bản chất của Đức Chúa Trời. Số khác lại cho rằng nên bắt đầu từ việc Đức Chúa Trời bày tỏ chính Ngài cho nhân loại, qua đó con người biết đến Ngài. Cả hai hướng tiếp cận đều có những lập luận vững chắc. Tuy vậy, chúng ta sẽ lựa chọn hướng thứ hai, một phần là vì giáo lý về sự mặc khải đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong thần học Cơ đốc giáo suốt thế kỷ 20.

I. SỰ MẶC KHẢI LÀ GÌ?
#

Thuật ngữ “sự mặc khải”, vốn là khái niệm nền tảng trong các tác phẩm thần học Cơ đốc giáo đương đại, có thể được định nghĩa thông qua (1) việc phân tích nguyên ngữ, (2) cách thức sử dụng từ này trong Tân Ước, và (3) ý nghĩa thần học hiện đại của nó.

A. NGUYÊN NGỮ
#

Thuật ngữ “sự mặc khải” (tiếng Anh: “revelation”) bắt nguồn từ danh từ trong tiếng Latin là revelatio, vốn được dịch từ một danh từ trong tiếng Hy Lạp là apokalypsis. Về mặt nguyên ngữ, thuật ngữ này có nghĩa là “sự tiết lộ”.

B. SỬ DỤNG TRONG TÂN ƯỚC
#

  1. Từ này xuất hiện trong tựa đề của quyển sách cuối cùng thuộc bộ kinh điển Tân Ước, và vì thế quyển sách này được gọi là Sách Khải Huyền. Qua tựa đề này, sách được liên kết với các tác phẩm thuộc thể loại “khải thị” khác - không thuộc kinh điển của người Do Thái, trong thời kỳ giữa hai Giao ước - vốn tập trung vào chủ đề về sự can thiệp đột ngột và dứt khoát của Chúa.

  2. Từ này là một trong ba danh từ tiếng Hy Lạp được sử dụng trong Tân Ước, chủ yếu bởi Phao-lô, để chỉ sự tái lâm của Chúa Jesus Christ.

  3. Từ này không phải là một thuật ngữ toàn diện và thường xuyên được sử dụng bởi các tác giả Tân Ước để chỉ hành động tự mặc khải của Đức Chúa Trời đối với con người. Emil Brunner đã trình bày rõ ràng như sau:

Cả Cựu Ước lẫn Tân Ước đều không có một từ ngữ nào tương đương với khái niệm thần học về “sự mặc khải” như của chúng ta ngày nay. Trong Cựu Ước, nhiều cụm từ được dùng để diễn tả ý niệm này: Đức Chúa Trời cho phép con người nhìn thấy Ngài, biết Ngài, khám phá về Ngài; trên hết, Đức Chúa Trời phán; sự mặc khải cũng mang ý nghĩa về sự kiện được mô tả thuần túy từ góc độ chủ quan của con người như nhìn thấy, nghe thấy, chiêm ngưỡng, biết đến, nhận thức… Tân Ước cũng tương tự: không chỉ có từ apokalytein (bày tỏ) và phaneroun (biểu lộ), mà còn nhiều từ ngữ Hy Lạp khác như diloun (làm rõ), gnorizein (cho biết), lalein (phán dạy), photizein (soi sáng), cùng các danh từ như logos (lời), phos (ánh sáng), aletheia (chân lý) – tất cả đều phản ánh những khía cạnh mà chúng ta quy gom dưới một thuật ngữ duy nhất là “sự mặc khải”.

C. SỬ DỤNG TRONG THẦN HỌC
#

  1. Khái niệm “sự mặc khải” đã giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong thần học Cơ đốc giáo hiện đại. Về mặt thần học, thuật ngữ này ám chỉ sự tự bày tỏ của Đức Chúa Trời cho con người. John Baillie đã định nghĩa “sự mặc khải” là “việc vén lên bức màn che phủ, để hé lộ điều vốn bị ẩn giấu từ trước”.

  2. Tuyên bố về sự mặc khải là nền tảng của nhiều tôn giáo, nếu không muốn nói là tất cả. Như nhận định: “Mặc khải là một trong những khái niệm cốt yếu của tôn giáo … Ý niệm về sự mặc khải … phổ biến rộng rãi như chính khái niệm về Thần”. Ngay cả các tôn giáo phi thần cũng khẳng định rằng: ý nghĩa hay chân lý tối hậu đã được bày tỏ hay có thể được khám phá.

  3. Sự mặc khải bao hàm cả Đấng Mặc Khải lẫn những người tiếp nhận mặc khải. “Khi nói về sự mặc khải của Ngài, chúng ta muốn ám chỉ rằng bằng cách nào đó, Đức Chúa Trời đã đặt mình vào phạm vi nhận thức của con người”. Sự mặc khải thiên thượng đến với nhân loại trong toàn bộ thực tại nhân sinh của họ. Những người tiếp nhận mặc khải đã sống trong hành trình tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời, sự cao cả và bất hạnh của con người, sự tự tôn và tội lỗi của con người, sự khát khao hiểu biết nguồn gốc và định mệnh của con người, khả năng của con người đối với Đức Chúa Trời và mối quan hệ giữa con người với động vật, và sự hữu hạn của con người và ước vọng sự sống sau cái chết. Tuy nhiên, sự tự nhận thức của con người - bao gồm sự hiểu biết về nguồn gốc, bản chất, và định mệnh – thực chất phụ thuộc vào “sự đột phá” từ bên ngoài. Nói cách khác, nó phụ thuộc vào điều mà Cơ đốc giáo gọi là “sự mặc khải thiên thượng”.

  4. Sự mặc khải, theo cách hiểu đặc trưng của Do Thái giáo, Cơ đốc giáo, và Hồi giáo, xuất hiện xuyên suốt chiều dài lịch sử. Điều này sẽ trở nên rõ ràng hơn khi chúng ta xem xét điều được gọi với cái tên “sự mặc khải đặc biệt” hoặc “sự mặc khải lịch sử”. John Macquarrie đã phân biệt giữa “mặc khải cổ điển” hay “mặc khải nguyên thủy” – nền tảng hình thành các cộng đồng đức tin – và trải nghiệm tiếp theo đó của cộng đồng, trong đó mặc khải nguyên thủy tiếp tục sống động trong đời sống đang diễn ra của cộng đồng, nhờ đó mà sự bày tỏ ban đầu về Đấng Thánh liên tục được đổi mới. Theo Macquarrie, sự trải nghiệm tiếp theo được gọi là “mặc khải lặp lại”.

  5. Sự mặc khải, theo cách hiểu đặc trưng của Cơ đốc giáo, không chỉ đơn thuần là việc Đức Chúa Trời cung cấp thông tin về chính Ngài, mà còn là sự bày tỏ cá nhân của Đức Chúa Trời nhằm biến đổi và hòa giải những người tin nhận vào sự mặc khải ấy. Đầu thế kỷ 20, E. Y. Mullins đã viết: “Về phía con người, sự mặc khải trước hết là một giao dịch thuộc linh hơn là một sự soi sáng trí tuệ đơn thuần”. Và nửa sau của thế kỷ này, thì những người thuộc giáo hội Tin Lành (Kháng Cách, Protestant) đã tham gia vào một cuộc tranh luận mang tính chất mở rộng liên quan đến câu hỏi rằng, liệu sự mặc khải từ ĐCT chủ yếu (hoặc độc nhất) là thông qua việc Ngài “phán” với con người về bản chất và mỹ đức của Ngài, hay chủ yểu (hoặc độc nhất) là thông qua việc con người biết về ĐCT từ việc họ bước vào mối quan hệ với Ngài. Vấn đề này sẽ cần được khám phá chi tiết hơn trong phần sau.

  6. Các nhà thần học Kháng Cách và Công giáo La Mã đã hiểu về sự trung gian hay sự truyền đạt của mặc khải theo nhiều mô hình khác nhau.1


II. SỰ MẶC KHẢI PHỔ QUÁT
#

A. ĐỊNH NGHĨA VÀ KHÁC BIỆT VỚI SỰ MẶC KHẢI ĐẶC BIỆT
#

“Mặc khải phổ quát” là sự bày tỏ về Đức Chúa Trời mà tất cả con người đều có thể tiếp nhận qua vũ trụ được tạo dựng (thiên nhiên) và trong bản chất bên trong của con người (lương tâm). Ngược lại, “mặc khải đặc biệt” là sự bày tỏ trong lịch sử của Đức Chúa Trời với dân Israel và trong Chúa Jesus Christ. Vì vậy, sự mặc khải đặc trưng của Cơ đốc giáo là sự mặc khải đặc biệt hay lịch sử.

B. BẰNG CHỨNG THÁNH KINH VỀ MẶC KHẢI PHỔ QUÁT
#

Mặc dù nội dung và hình thức của mặc khải ph6ỏ quát khác biệt so với mặc khải đặc biệt được ghi chép trong Kinh Thánh, nhưng chính Kinh Thánh - điều có vẻ kỳ lạ - lại làm chứng hoặc dạy về sự tồn tại của mặc khải phổ quát. Chúng ta sẽ xem xét chi tiết những phân đoạn Kinh Thánh cụ thể làm chứng cho sự mặc khải phổ quát.

1. Mặc khải trong và qua vũ trụ được tạo dựng
#

a. Thi thiên 19:1-6
#

1 Các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, Bầu trời giãi tỏ công việc tay Ngài làm. 2 Ngày nầy giảng cho ngày kia, Đêm nầy tỏ sự tri thức cho đêm nọ. 3 Chẳng có tiếng, chẳng có lời nói; Cũng không ai nghe tiếng của chúng nó. 4 Dây đo chúng nó bủa khắp trái đất, Và lời nói chúng nó truyền đến cực địa. Nơi chúng nó Ngài đã đóng trại cho mặt trời; (Bản Truyền thống 1925)

Tác giả Thi Thiên tuyên bố rằng vũ trụ được tạo dựng là hiện thân của một sự bày tỏ hay mặc khải của Đức Chúa Trời. Sự mặc khải này không được định nghĩa cách rõ ràng ngoài những thuật ngữ như “sự vinh hiển” và danh xưng “Đức Chúa Trời” (El, Đức Chúa Trời toàn năng). Các câu 1-6 được liên kết trong một bối cảnh (Thi 19:7-11) trong đó luật pháp của Đức Chúa Trời được bàn luận. Một số người cho rằng: trong thời của tác giả Thi thiên, việc nhận thức được sự mặc khải như vậy qua các từng trời phụ thuộc vào việc có mối quan hệ giao ước với Yahweh và do đó phải có Torah. Theo đó, chỉ những người có mặc khải đặc biệt (dân Israel) mới có thể nhận thức được mặc khải phổ quát. Tuy nhiên, câu 1-6 không nhất thiết bị buộc phải giải nghĩa như vậy, và sứ đồ Phao-lô đã nói rõ hơn về tính phổ quát của sự mặc khải này.

b. Rô-ma 1:18-32
#

Bảy đặc điểm của phân đoạn này có liên quan đến giáo lý về sự mặc khải phổ quát.

  1. Phao-lô dạy rằng có và đã từng có một sự mặc khải của Đức Chúa Trời qua vũ trụ được tạo dựng (câu 20a).
  2. Sự mặc khải này đã tồn tại từ khi loài người được tạo dựng và vẫn hiện diện trong thời đại của Phao-lô (câu 20). Do đó, đây không phải là sự mặc khải chỉ dành riêng cho A-đam và Ê-va trước khi sa ngã, thực tế, nó được ban cho toàn thể nhân loại đã sa ngã.
  3. Sự mặc khải này được ban cho toàn thể nhân loại và do đó mang tính phổ quát, như câu 18 ngụ ý.
  4. Sự mặc khải này bao hàm “quyền năng vĩnh cửu và thần tính” của Đức Chúa Trời (câu 20).
  5. Sự mặc khải này đi kèm với một trách nhiệm quan trọng hoặc có trách nhiệm giải trình từ những ai đáp ứng với nó (câu 20c).
  6. Sự mặc khải này đã không được con người chấp nhận hoặc thực thi, mà bị khước từ và bóp méo trong bối cảnh phổ quát của tội lỗi (câu 18, 21-32).
  7. Sự mặc khải thông qua vũ trụ được tạo dựng, cũng như sự mặc khải thông qua bản chất bên trong của con người, không mang đến sự hiểu biết thực nghiệm về Đức Chúa Trời chân thật bất chấp tội lỗi của con người, mà thay vào đó là nguồn gốc của việc thờ hình tượng (câu 25).

“Con người tội lỗi là một bình chứa, nơi cặn bã của tội lỗi biến rượu ngon của sự hiểu biết được ban tặng bởi Đức Chúa Trời thành giấm chua của sự thờ hình tượng”

c. Công vụ 14:17
#

Trong bài giảng của mình tại thành Lít-trơ (Lystra), “bài giảng đầu tiên cho người ngoại” theo Công vụ, Phao-lô đã khuyến khích những người nghe từ bỏ việc thờ hình tượng và quay lại với Đức Chúa Trời Đấng Tạo Hóa. Vị sứ đồ thừa nhận: “Trong các đời trước đây, Ngài để cho mọi dân theo đường riêng mình” (câu 16). Ông khẳng định: “dầu vậy, Ngài cứ làm chứng luôn về mình, tức là giáng phước cho, làm mưa từ trời xuống, ban cho các ngươi mùa màng nhiều hoa quả, đồ ăn dư dật, và lòng đầy vui mừng” (câu 17). Bản văn gợi ý rằng có mtộ sự mặc khải từ Đức Chúa Trời trong và qua thiên nhiên. “Không phải bởi quyền năng của các vị thần của sự phì nhiêu mà họ nhận được lượng thực”, nhưng qua Đức Chúa Trời chân thật duy nhất, “Đấng điều khiển thiên nhiên”.

2. Mặc khải trong và qua nội tâm, bản chất được tạo dựng của con người
#

a. Công vụ 17:26-28
#

Trong bài giảng tại A-rê-ô-ba (Areopagus) ở A-ten (Athens), Phao-lô đã nhắc đến một bàn thờ cho “CHÚA KHÔNG BIẾT” và công bố rằng Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa của muôn loài. Ngài không ngự trong những đền thờ do tay người xây dựng, cũng không phụ thuộc vào sự hầu việc của con người, nhưng là Đấng ban sự sống và hơi sống cho mọi người (17:23-25).

26 Ngài đã làm cho muôn dân sanh ra bởi chỉ một người và khiến ở khắp trên mặt đất, định trước thì giờ đời người ta cùng giới hạn chỗ ở, 27 hầu cho tìm kiếm Đức Chúa Trời, và hết sức rờ tìm cho được, dẫu Ngài chẳng ở xa mỗi một người trong chúng ta. 28 Vì tại trong Ngài, chúng ta được sống, động, và có, y như xưa một vài thi nhân của các ngươi có nói rằng: Chúng ta cũng là dòng dõi của Ngài. (Bản Truyền thống 1925)

Phao-lô đang giảng dạy rằng Đức Chúa Trời tạo dựng con người để họ có thể tìm kiếm và gặp Ngài. Ông đã ghi lại hành trình tìm kiếm này của nhân loại bằng việc trích dẫn các tác giả thuộc trường phái Khắc Kỷ. Taylor Clarence Smith (1915-) đã kết luận rằng trích dẫn đầu tiên của Phao-lô “có thể là một sửa đổi từ một phần bài thơ của Epimenides, một hiền triết Hy Lạp đã sống vào thế kỷ VI trước Công Nguyên, đến từ đảo Crete”, và trích dẫn thứ hai “từ Aratus (Phaenomena, dòng 5), một nhà thơ đến từ Tarsus vào thế kỷ IV trước Công Nguyên, người có ảnh hưởng lến đến trường phái Khắc Kỷ”. Điều Phao-lô muốn nhấn mạnh đơn giản là: “Vì chính những người theo trường phái Khắc Kỷ cũng thừa nhận rằng còn người phụ thuộc hoàn toàn vào Chúa, tại sao họ lại tin tưởng vào các hình tượng?”. Do đó, những trích dẫn này nhằm chỉ ra sự ngu xuẩn của việc thờ hình tượng, chứ không phải để nói về tác dụng cứu rỗi hay cứu chuộc của sự mặc khải về Đức Chúa Trời.

b. Rô-ma 2:14-16
#

14 Vả, dân ngoại vốn không có luật pháp, khi họ tự nhiên làm những việc luật pháp dạy biểu, thì những người ấy dầu không có luật pháp, cũng tự nên luật pháp cho mình. 15 Họ tỏ ra rằng việc mà luật pháp dạy biểu đã ghi trong lòng họ: Chính lương tâm mình làm chứng cho luật pháp, còn ý tưởng mình khi thì cáo giác mình, khi thì binh vực mình. 16 Ấy là điều sẽ hiện ra trong ngày Đức Chúa Trời bởi Đức Chúa Jêsus Christ mà xét đoán những việc kín nhiệm của loài người, y theo Tin lành tôi. (Bản Truyền thống 1925)

Phân đoạn này, theo Dale Moody,

Nhằm làm rõ rằng có một quy luật trong sự mặc khải phổ quát tác biệt với luật pháp Môi-se trong mặc khải đặc biệt… Dân ngoại có thể đạt một mức độ hiểu biết về Đức Chúa Trời thông qua ánh sáng của sự sáng tạo (Rô-ma 1:19f) và lương tâm (2:14f). Phao-lô… ở đây đang nghĩ đến lương tâm của người ngoại giáo, bất chấp quan điểm của Luther và Karl Barth… Calvin đã khôn ngoan hơn Luther về điểm này… Phúc âm của Phao-lô tuyên bố rằng sự phán xét chung cuộc sẽ được thực hiện bởi Chúa Jesus Christ… Chân lý trong sự sáng tạo và lương tâm thông qua mặc khải phổ quát, cùng với chân lý trong giao ước cũ, sẽ được làm trọn và cuối cùng sẽ được phán xét dưới ánh sáng của phúc âm nơi Chúa Jesus Christ.

Bernard Ramm gọi đây là “cuộc đối thoại đạo đức nội tâm” và G. C. Berkouwer giải nghĩa phân đoạn này có nghĩa là “ngay cả trong sự xa lánh thì vẫn mối liên kết nào đó giữa con người và Đức Chúa Trời”.


C. BA QUAN ĐIỂM TRONG THẾ KỶ 20 VỀ GIÁO LÝ SỰ MẶC KHẢI PHỔ QUÁT
#

1. Phủ nhận sự tồn tại hay xuất hiện của mặc khải phổ quát (Karl Barth)
#

a. Giải nghĩa của Barth về Rô-ma 1:18-32
#

Barth giải nghĩa phân đoạn này như thế nào trong tác phẩm Thư tín Rô-ma (The Epistle to the Romans) của ông? Những người “dùng sự không công bình mà bắt hiếp lẽ thật” được hiểu là những kẻ đã tự tôn mình theo kiểu thờ hình tượng, khiến sự công chính của Đức Chúa Trời bị giam cầm hay bị bắt nhốt. Theo Barth, “điều chi có thể biết được về Đức Chúa Trời đã trình bày ra cho họ” có nghĩa là “chân lý liên quan đến sự giới hạn và tan biến của con người do Đức Chúa Trời vô danh, điều sẽ bày tỏ rõ ràng khi sự phục sinh [cuối cùng] xảy ra”, chứ không phải là sự hiểu biết hiện tại về “quyền năng đời đời và thần tính” của Ngài. Nhà thần học người Thụy Sĩ này hiểu câu “bởi những sự trọn lành của Ngài mắt không thấy được…vẫn sờ sờ như mắt xem thấy” là ám chỉ sự tái khám phá hoặc hồi tường về “Đấng Toàn Năng nguyên mẫu, không thể quan sát, không thể khám phá”. Barth ám chỉ ở đây về các loài thú vật, không phải toàn bộ vũ trụ được tạo dựng. Những lời của Phao-lô “quyền phép đời đời và bổn tánh Ngài” được đồng nhất với “phúc âm về sự phục sinh”. Câu “Cho nên họ không thể chữa mình được” có nghĩa là “sự vô thần” và “sự vô tín” của con người. Cứ thế, cách giải kinh của Barth cứ tiếp tục, và người ta có ấn tượng rằng đối với Barth, Rô-ma chương 1 hoặc là ám chỉ về quan điểm trường phái Platon về một thời kỳ vĩnh hằn đã qua, hoặc là sự mong đợi về sự làm trọn của Cơ đốc giáo trong những ngày sau cùng; cả hai đều không nói lên sự tồn tại của mặc khải phổ quát trong hiện tại.

Trong tác phẩm Giáo lý Giáo hội (Church Dogmatics), Barth giữ quan điểm rằng Rô-ma 1:18-32 nói về những người đã nhận được sự mặc khải đặc biệt.

b. Kết luận của Barth
#

Barth đã xem sự mặc khải phổ quát và thần học tự nhiên là tương đương nhau và bác bỏ cả hai. Do đó, theo Barth, vì không có sự mặc khải phổ quát về Đức Chúa Trời dưới bất kỳ hình thức nào, chỉ có một sự mặc khải thiên thượng mà những người khác gọi là sự mặc khải đặc biệt. Hendrik Kraemer, nhà truyền giáo chịu ảnh hưởng của Barth, đã gọi thuật ngữ “sự mặc khải phổ quát” là “một trong những thuật ngữ gây hiểu lầm và rối rắm nhất có thể” và cho rằng nó “nên bị loại bỏ”. Tuy nhiên, sự phản đối của Kraemer xuất phát từ việc ông nhận thấy rằng “sự mặc khải phổ quát” thường được sử dụng như một từ đồng nghĩa với “thần học tự nhiên”, trong khi ông cho rằng “thần học tự nhiên” hoàn toàn khác với Rô-ma 1:18-32.

2. Mặc khải phổ quát có tính chất cứu rỗi hay cứu chuộc ở một mức độ nào đó
#

a. Các phân đoạn Kinh Thánh thường được trích dẫn làm bằng chứng
#

Những người ủng hộ quan điểm này thường trích dẫn hai phân đoạn trong số những phân đoạn đã được phân tích ở trên, cụ thể là Công vụ 17:27 - nhấn mạnh vào vế “và hết sức rờ tìm cho được” - và Rô-ma 2:15 - nhấn mạnh vào vế “khi thì bênh vực mình”. Những người này cũng trích dẫn và nhấn mạnh vào Giăng 1:9.

Sự sáng nầy là sự sáng thật, khi đến thế gian soi sáng mọi người. (Bản Truyền thống 1925)

Một số câu hỏi đã được đặt ra liên quan đến những phân đoạn Kinh Thánh này.

  • Khi Phao-lô nhắc đến việc tìm kiếm và gặp Đức Chúa Trời trong bài giảng tại Areopagus, liệu điều này có nghĩa là tìm được sự thương xót, sự tha thứ, và ân sủng của Đức Chúa Trời mà không cần đến Chúa Jesus trong lịch sử và cái chết của Ngài?
  • Nếu suy nghĩ của một người khiến họ được tha tội, liệu điều này có nghĩa là những người đó đã được tha tội và làm hòa với Đức CHúa Trời?
  • Ngôi Lời (Logos) soi sáng mỗi con người như thế nào?
  • Liệu tất cả con người đều nhận sự soi sáng này một cách hiệu quả, hay chỉ một số người?
  • Liệu sự mặc khải qua Ngôi Lời mà không qua thiên nhiên và/hay qua lương tâm có thể được xem là mặc khải phổ quát hay không?
  • Sự soi sáng bởi tính phổ quát của Ngôi Lời có mang tính cứu chuộc mà không cần đến sự nhập thể và sự chết-phục sinh của Ngôi Lời và sự đáp ứng đức tin với sự nhập thể, đóng đinh trên thập tự giá, và sống lại của Chúa Jesus Christ?

Những người ủng hộ quan điểm thứ ba về sự mặc khải phổ quát thường đưa ra những câu trả lời khẳng định và đồng cảm với những câu hỏi trên.

b. Một số tuyên bố gần đây và đa dạng về quan điểm này
#

1) Rô-ma chương 1-2 đề cập đến dân ngoại theo hướng tập thể, không phải cá nhân (Hans Kung)

Sự mặc khải phổ quát mà Phao-lô giảng dạy trong Rô-ma 1-2 được cho là mang ý nghĩa tập thể, chứ không phải cá nhân.

Nhưng điều này không đồng nghĩa với sự phán xét về sự cứu rỗi hay sự đày đọa chho một cá nhân ngoại giáo. Bởi vì câu hỏi được đặt ra ở đây không phải về số phận của từng cá nhân ngoại giáo trước Đấng Christ, mà là về trách nhiệm và tội lỗi của cả hai nhóm người tiền Cơ đốc, người Do Thái và người ngoại.

2) Sự mặc khải mờ nhạt về sự thương xót của Đức Chúa Trời và sự mặc khải rõ ràng về cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời (Eric C. Rust)

Nền tảng của mặc khải phổ quát không nên được nhìn nhận một cách tiêu cực. Con người với tội lỗi đã thực sự nắm bắt được trong ý thức tôn giáo của mình một số khía cạnh về bản chất và mục đích thiên thượng. Trí tưởng tượng tôn giáo của con người đã dệt nên một số hình ảnh và mẫu hình về thực tại vô hình, là sự báo trước cho chân lý sẽ đến. Mặc dù con người đã kinh nghiệm một Đức Chúa Trời sống động vì cơn thạnh nộ của Ngài nhiều hơn là ân sủng, mặc dù ý thức tôn giáo của con người đã bị bóp méo một cách kì lạ bởi tội lỗi, chúng ta không thể nhìn nhận lịch sử thế tục hoàn toàn tiêu cực. Một điều gì đó về Đức Chúa Trời đã có sự đột phá. Sự thương xót của Đức Chúa Trời đã được nhận ra cách mờ nhạt, và ánh sáng của nó soi sáng mọi người bằng việc vào trong thế gian để xua tan bóng tối của con người.

3) Sự tồn tại từ trước của Logos và giao ước Nô-ê(Noah) (John Baillie, 1888-1960, Dale Moody)

Lập luận của Baillie có thể được tóm tắt như sau. Vì “trong tư duy Do Thái, sự mặc khải luôn được hình dung là được ban cho trong mối quan hệ giao ước”, vì chúng ta có bản ghi chép về một giao ước mà Đức Chúa Trời thiết lập với Noah, giao ước bao gồm “toàn bộ loài người trước khi bị phân chia thành các dân Shemites, Hamites, và con cái của Japheth”, và vì giao ước Noah “được nhắc đến nhiều nhất trong Do Thái giáo sau này”, nên giao ước Noah - không phải chủ nghĩa Khắc Kỷ - mới là nền tảng cho tư tưởng của Phao-lô trong Rô-ma chương 1-2. Vì vậy, “bất kỳ mức độ thấu hiểu chân thực nào” trong các sách thiêng liêng của các tôn giáo dân tộc “thực ra là thành quả của mối quan hệ lịch sử giữa Đức Chúa Trời với linh hồn của những dân tộc liên quan”. Moody đồng tình với quan điểm của Baillie.

c. Phương diện cứu rỗi của quan điểm này
#

Một số nhà tư tưởng Cơ đốc giáo cá biệt, đáng chú ý như Justin Martyr ở thế kỷ II và Ulrich Zwingli ở thế kỷ XVI, đã giảng dạy về sự cứu rỗi thiên thượng đối với các triết gia Hy Lạp hàng đầu. Đến thế kỷ XX, phạm vi hiệu quả của sự cứu rỗi thiên thượng đã được một số nhà tư tưởng Cơ đốc mở rộng để bao gồm các nhà lãnh đạo hoặc các thành viên tiêu biểu của các tôn giáo phi Cơ đốc trong thời hiện đại, như Mohandas Karamchand Gandhi (1869-1948). Vì vậy, torng quan điểm của các nhà tư tưởng này, danh sách của những người “được cứu” bên ngoài lịch sử Kinh Thánh và lịch sử giáo hội đã được mở rộng, trải dài từ Plato (khoảng 428-348 TCN) đến Gandhi.

Tuy nhiên, các giáo hội Cơ đốc giáo, ít nhất cho đến Công đồng Vatican II, không tuyên bố hoặc xác nhận rõ ràng và chắc chắn về tính cứu rỗi hay cứu chuộc của mặc khải phổ quát. Vấn đề này thường được để ngỏ trong phạm vi phương diện không thể nhận biết về cách vận hành của ân sủng và quan phòng của Đức Chúa Trời. Trong suốt thế kỷ XIX và XX, đặc biệt là phe Kháng Cách, phong trào truyền giáo vừa đặt ra khả năng về một sự cứu rỗi như vậy không liên quan đến đức tin cụ thể về sự nhập thể, đóng đinh, và sống lại của Chúa Jesus với tư cách là Con Đức Chúa Trời, vừa nhấn mạnh tính duy nhất của sự cứu rỗi chỉ bởi Chúa Jesus Christ.

Quan điểm thứ hai về sự mặc khải phổ quát có xu hướng ủng hộ sự cứu rỗi rộng lớn hơn, tách biệt khỏi những chi tiết cụ thể trong phúc âm Cơ đốc giáo.

3. Sự mặc khải phổ quát là nền tảng cho việc giải trình của con người nhưng không đảm bảo phương tiện cho sự cứu rỗi (John Calvin, Emil Brunner)
#

Những người ủng hộ quan điểm thứ ba này phụ thuộc rất nhiều vào các phân đoạn trong Công vụ và các thư tín của Phao-lô đã được xem xét ở phần trước trong chương này. Lập luận thần học bảo vệ quan điểm này có thể được giải thích như sau.

  • Các tác giả Kinh Thánh không tìm cách chứng minh sự tồn tại của Đức Chúa Trời bằng lập luận chính thức, thay vào đó giả định rằng Ngài đang hiện diện và hành động. Giáo lý Kinh Thánh về sự mặc khải của Đức Chúa Trời trong vũ trụ được tạo dựng và trong con người là một sự bày tỏ thiên thượng về bản thể và quyền năng của Ngài, không phải là bằng chứng chính thức về sự tồn tại của Đức Chúa Trời như cách Thomas Aquinas đã trình bày trong những trang mở đầu của tác phẩm Summa Theologica của ông.

  • Sự mặc khải trong vũ trụ được tạo dựng và trong lương tâm con người cần được phân biệt với “thần học tự nhiên”. Phải thừa nhận rằng có nhiều cách sử dụng hợp lý khác nhau của thuật ngữ “thần học tự nhiên”, và những cách này sẽ được trình bày trong một chương khác. Ở đây, chỉ có hai định nghĩa được xem xét.

1) Quan điểm thượng tầng

“Thần học tự nhiên” đã được sử dụng để chỉ về một nền tảng kiến thức về Đức Chúa Trời theo cách tự nhiên và có thể khám phá bằng lý trí, trong đó “sự mặc khải siêu nhiên” được thêm vào như một cấu trúc thượng tầng. Định nghĩa này là nền tàng của thần học Thomas Aquinas và giáo huấn của Công đồng Vatican I.

2) Quan điểm cạnh tranh

“Thần học tự nhiên” đã được Emil Brunner định nghĩa là “sự hiểu biết về Đức Chúa Trời dựa trên những cơ sở thuần lý, độc lập với sự mặc khải về cứu rỗi Cơ đốc và do đó cạnh tranh với nó…” Millard J. Erickson kết luận rằng “sự mặc khải phổ quát không thể được sử dụng để xây dựng một thần học tự nhiên”. Ngược lại, thần học tự nhiên cũng không thể cấu thành sự mặc khải phổ quát.

  • Sự mặc khải phổ quát giúp “giải thích hiện tượng tôn giáo và các tôn giáo trên toàn thế giới”. Sự xuất hiện rộng khắp của những người có tôn giáo có thể được giải thích trên cơ sở rằng họ có nhận thức - ngay cả khi đã bị bóp méo và lạm dụng - về Đức Chúa Trời. Truyền giáo Cơ đốc không mang toàn bộ nhận thức về Đức Chúa Trời đến cho những người không theo Cơ đốc giáo nhưng khôn ngoan xây dựng lên trên nền tảng này.

  • Do đó, sự mặc khải phổ quát tạo ra “một điểm chung hoặc một điểm giao thoa giữa người tin và người không tin, hoặc giữa phúc âm và suy nghĩ của người không tin”. Phúc âm Cơ đốc không được truyền đạt một cách thô thiển như thể người nghe là những vật vô tri hoặc thú vật, thay vào đó, hướng đến “những chủ đề nhạy cảm” như một vị thần tối cao, sự sáng tạo, trách nhiệm giải trình của con người, và những điều tương tự.

  • Sự mặc khải phổ quát - như Phao-lô đã lập luận trong thư tín Rô-ma - là nền tảng hay cơ sở cho trách nhiệm giải trình của tất cả con người trước Đức Chúa Trời. Đối với Phao-lô, điều này đặc biệt đúng đối với dân ngoại. Kết luận “không thể chữa mình được” của Phao-lô là nền tảng tư tưởng của thư Rô-ma, và nên là nền tảng cho một thần học Cơ đốc giáo về truyền giáo đa lục địa vào đầu thế kỷ XXI.

  • Theo Phao-lô, sự mặc khải phổ quát - khi được tiếp nhận và áp dụng - không cung cấp cho con người một kiến thức đầy đủ, hiệu quả, và có tính cứu rỗi về Đức Chúa Trời và ý muốn của Ngài.

  1. Sự mặc khải này đã bụ lu mờ và bóp méo bởi tội lỗi của con người. Con người không đáp lại bằng việc sống theo ánh sáng và chân lý của khải thị này.

  2. Sự mặc khải này cung cấp một số hiểu biết về Đức Chúa Trời là Đấng Sáng tạo quyền năng và Đấng Gìn giữ trung tín của vũ trụ và của sự tồn tại của con người, nhưng nó không thể và không cung cấp hiểu biết biến đổi về tình yêu thánh khiết và ân điển cứu chuộc của Đức Chúa Trời dành cho con người tội lỗi.

  3. Một cách nghịch lý, sự mặc khải này đủ để kết tội con người là tội nhân nhưng tự nó không đủ để cứu chuộc hay cứu rỗi con người khỏi tội lỗi và đưa con người bước vào mối thông công với Đức Chúa Trời.

Phần trình bày trên đây về giáo lý Thánh Kinh liên quan đến sự mặc khải phổ quát cơ bản phản ánh cùng một quan điểm đã được John Calvin đề xuất vào thế kỷ XVI và sau đó đã được Emil Brunner diễn giải đầy đủ hơn vào thế kỷ XX. Một nghiên cứu toàn diện gần đây về sự mặc khải phổ quát theo quan điểm này đã được Bruce A. Demarest thực hiện, tuy ông nhấn mạnh nhiều về trực giác hơn là sự mặc khải.


D. KẾT LUẬN VỀ SỰ MẶC KHẢI PHỔ QUÁT
#

Ba quan điểm chính của các nhà thần học Kháng Cách trong thế kỷ XX về sự mặc khải phổ quát có thể là hướng dẫn hữu ích cho những ai muốn đưa ra kết luận đúng đắn về chủ đề này. Quan điểm của Barth đúng khi nhấn mạnh rằng sự mặc khải nhất thiết phải có khởi điểm từ Đức Chúa Trời, nhưng dường như đã sai lầm trong việc phủ nhận tính chân thực của sự mặc khải phổ quát mà Sứ đồ Phao-lô đã khẳng định. Quan điểm của Kung, Baillie, và những người khác đúng khi nhấn mạnh rằng Cơ đốc nhân không nên giới hạn quá mức phạm vi hoạt động mặc khải của Đức Chúa Trời, nhưng dường như đã đi xa hơn Tân Ước khi khẳng định về tính chất cứu rỗi sự mặc khải phổ quát. QUan điểm của Calvin và Brunner đúng khi nhấn mạnh rằng Đức Chúa Trời tự bày tỏ chính Ngài trong cả sự sáng tạo và sự cứu chuộc, nhưng dường như không đưa ra được câu trả lời thỏa đáng cho vấn đề về một sự mặc khải đủ để kết tội nhưng không đủ để cứu chuộc.

Dù vậy, quan điểm cuối cùng, quan điểm của Calvin và Brunner, mặc dù không phải là không có vấn đề, dường như phù hợp nhất với sự dạy dỗ của Kinh Thánh, đặc biệt là của Phao-lô, ngay cả trong một thời đại ngày càng bị chi phối bởi chủ nghĩa đa nguyên.


  1. Avery Dulles, S.J., Các mô hình của sự mặc khải (Models of Revelation) đưa ra 5 mô hình khác nhau: giáo lý (Tân Kinh viện, Tin Lành Bảo Thủ), lịch sử (lịch sử cứu chuộc; lịch sử thế giới), kinh nghiệm (chủ nghĩa hiện đại, thần bí), hiện diện biện chứng (Tân Chính thống), và nhận thức mới (Gregory Baum, Karl Rahmer, Paul Tillich). Dulles đã lập luận về một mô hình khác: “trung gian mang tính biểu tượng” ↩︎