GIỚI THIỆU#
Đây là bài viết của một giáo sư chuyên ngành nghiên cứu Tân ước. Bài viết được trích từ loạt bài nghiên cứu của bà về thần học của Giăng trong các thư tín. Một trong các chủ đề chính của I Giăng là “Sự Giao Thông Với Đức Chúa Trời”, bao gồm các chủ đề nhỏ hơn như: “Biết Ngài”, “Sinh Bởi Đức Chúa Trời”, “thuộc về Đức Chúa Trời”, “Ở trong Đức Chúa Trời”, “Đức Thánh Linh (mà Ngài đã ban cho chúng ta)”. Trong phạm vi nội dung của bài viết này, tác giả sẽ phân tích và tái dựng quan điểm thần học của thư I Giăng về việc các Cơ đốc nhân được “sinh bởi Đức Chúa Trời”, là điều đã được Đức Chúa Trời ban cho, dẫn đến hệ quả tất yếu là họ không phạm tội. Đây chính là bản chất cốt lõi của các Cơ đốc nhân.
NỘI DUNG#
1. “Sinh bởi Đức Chúa Trời”#
Một chủ đề chính trong phần hai của I Giăng là các tín đồ được “sinh bởi Đức Chúa Trời” (I Giăng 3:9; 4:7; 5:1,4,18) hoặc “là con cái của Đức Chúa Trời” (I Giăng 3:1,10; 5:2). Trong phần này, Giăng sử dụng từ “τέκνα” để chỉ “con cái” của Đức Chúa Trời, thay vì “τεκνία” và “παιδία” (“con cái bé mọn”, “con trẻ”) như khi ông gọi các độc giả của mình (I Giăng 2:1,12,28; 3:7,18; 4:4; 5:21; 2:14,18).
Là con cái, các tín đồ không chia sẻ cùng một địa vị với Con (“υἱός”). Điều này trái ngược với Phao-lô, vì Phao-lô đôi khi dùng từ “υἱός” chỉ cho cả Đức Chúa Jesus và các Cơ đốc nhân. Trong Rô-ma 8:15, 23 các Cơ đốc nhân có được địa vị này, vì họ được nhận làm con nuôi. Tuy nhiên, trong I Giăng, các Cơ đốc nhân được nhận làm con vì họ được sinh ra; và do đó, họ có sự tương đồng với Con (tức Đức Chúa Jesus).
Đức Chúa Jesus là Đấng được sinh bởi Đức Chúa Trời (I Giăng 5:18 - động từ “γεννηθείς” được chia ở thì aorist chỉ một sự kiện cụ thể đã xảy ra); trong khi các tín đồ là những người đã được sinh bởi Đức Chúa Trời (cùng một động từ, nhưng chia ở thì hoàn thành, biểu thị một hành động đã hoàn thành trong quá khứ nhưng có hiệu ứng kéo dài đến hiện tại, “γεγεννημένος”).
| [1 John 5:18] | a | We | know | that | b | no | one | who | is | 1 | born | of | God | ||||||||||||||
| → | Οἴδαμεν1 | ὅτι2 | πᾶς3 οὐχ9 | ← | ὁ4 | → | γεγεννημένος5 | ἐκ6 | τοῦ7 θεοῦ8 |
| sins | ; | but | He | who | was | 1 | born | of | God | c | keeps | him | , | and | d | |||||||||
| ἁμαρτάνει10 | ἀλλʼ11 | ὁ12 | ← | → | γεννηθεὶς13 | ἐκ14 | τοῦ15 θεοῦ16 | τηρεῖ17 | αὐτόν18 | καὶ19 |
| the | evil | one | does | not | e | touch | him | . | ||||||
| ὁ20 | πονηρὸς21 | ← | ►23 | οὐχ22 | ἅπτεται23 | αὐτοῦ24 |
I Giăng 5:1 cho biết Đức Chúa Trời là “Đấng sinh” và hễ ai được sinh bởi Đức Chúa Trời thì người đó là Cơ đốc nhân. Tuy nhiên, câu này không ngụ ý thời điểm một tín đồ được sinh ra là cùng lúc với (1) thời điểm người đó tin nhận, hoặc (2) thời điểm người đó được Báp-têm, hoặc (3) một thời điểm cụ thể nào khác.
Yêu là đặc điểm định nghĩa các tín đồ
Ở phương diện tập thể, những người được sinh bởi Đức Chúa Trời là con cái của Đức Chúa Trời; do đó, họ có trách nhiệm yêu thương những người có cùng nguồn gốc (cùng một cha) (I Giăng 5:1-2). Điều này có nghĩa, tình yêu đối với “anh em” hoặc đối với “nhau” trong I Giăng là tình yêu chỉ dành cho các thành viên trong cộng đồng. Nói cách khác, câu “kẻ nào yêu, thì sinh từ Đức Chúa Trời” (I Giăng 4:7) không có nghĩa là bất kỳ ai thực hành tình yêu thì đều được gọi là con cái của Đức Chúa Trời, mà yêu là đặc điểm định nghĩa các tín đồ, giúp xác định ai là tín đồ và ai không phải.
Được sinh bởi Đức Chúa Trời cũng có nghĩa là có được một sự đảm bảo nhất định.
Sự sinh ra không thể bị đảo ngược, cũng không xảy ra theo từng giai đoạn hoặc từng mức độ. Chính vì vậy, người đã được sinh bởi Đức Chúa Trời không thể phạm tội (I Giăng 3:9), “bởi vì hạt giống (“σπέρμα”) của Đức Chúa Trời còn ở trong người đó”.
| [1 John 3:9] | No | one | who | is | 1 | a | born | of | God | b | practices | sin | , | |||||||||||
| πᾶς1 οὐ8 | ← | ὁ2 | → | γεγεννημένος3 | ἐκ4 | τοῦ5 θεοῦ6 | ποιεῖ9 | ἁμαρτίαν7 |
| because | His | seed | abides | in | him | ; | and | he | cannot | sin | , | ||||||||
| ὅτι10 | αὐτοῦ12 | σπέρμα11 | μένει15 | ἐν13 | αὐτῷ14 | καὶ16 | → | οὐ17 δύναται18 | ἁμαρτάνειν19 |
| because | he | is | 1 | born | of | God | |||||
| ὅτι20 | → | → | γεγέννηται24 | ἐκ21 | τοῦ22 θεοῦ23 |
Về mặt ngữ pháp, câu này có thể được giải nghĩa theo hai cách:
- “Hạt giống” của Đức Chúa Trời hoặc “hậu duệ” của Ngài là những ai ở trong Đức Chúa Trời, và do đó được bảo vệ khỏi tội lỗi
- “Hạt giống” của Đức Chúa Trời được cấy vào tín đồ và cung cấp cho họ sự bảo vệ khỏi tội lỗi.
Nếu giải nghĩa theo cách thứ hai, thì “cái được cấy vào” này là thần của Đức Chúa Trời (tức Đức Thánh Linh), Lời của Ngài, hay một món quà nào khác? Sự mơ hồ này cần được xem xét bằng cách đối chiếu với việc giải nghĩa từ “χρῖσμα” (“sự xức dầu”) trong I Giăng 2:20, 27. Tuy nhiên, ngữ cảnh của các câu này không ngụ ý chỉ Đức Thánh Linh, trừ khi chúng ta giả định rằng trong cả hai trường hợp, Giăng thích dùng các hình ảnh thích hợp để minh họa cho Đức Thánh Linh, mà không đề cập đến Ngôi Ba một cách trực tiếp.
Có thể hình ảnh minh họa này được Giăng rút ra từ các đối thủ của ông (để mang tính ngộ đạo hơn?), nhằm đập tan tuyên bố của họ rằng họ sở hữu một phần gì đó đặc biệt thần thánh. “Sự xức dầu” trong I Giăng 2:20,27 có thể ngụ ý chỉ Lời của Đức Chúa Trời, mà một số chỗ trong Kinh thánh ví là “hạt giống” (Mác 4:14), tương tự Giăng 8:31-35 cho biết những ai “cứ ở trong Lời của Đức Chúa Jesus” thì “sẽ được giải thoát khỏi tội lỗi”.
Tuy nhiên, có một cách giải thích khác cũng có sức nặng tương đương: Toàn bộ phân đoạn này (I Giăng 3:7-17) đang phản ánh câu chuyện của Ca-in trong Sáng thế ký 4, đặc biệt là theo cách hiểu của người Do Thái đương thời. Người Do Thái tin rằng Ca-in là hậu duệ của ma quỷ. Vì có bản chất xấu xa, Ca-in đã giết người em công chính của mình, là A-bên, sau cuộc tranh cãi về sự công bình của Đức Chúa Trời. Chủ đề “hạt giống” trong câu chuyện của Ca-in đã xuất hiện từ Sáng thế ký 3:17; 4:25. Khi Ê-va chào đón sự ra đời Sết bà đã gọi Sết là “một hạt giống khác” cho thấy sự phát triển một cách tự nhiên trong quan điểm của cả người Do Thái và Trí huệ giáo 1 sau này, đều cho rằng hạt giống từ A-đam (một số quan điểm cho là hạt giống của Đấng Mê-si) không được nối tiếp bởi Ca-in - đứa con đầu lòng, mà bởi Sết (và các hậu duệ thuộc dòng dõi của Sết). Vì vậy, điều Giăng đang muốn nói trong I Giăng 3:9 có thể là hạt giống của Đức Chúa Trời không tìm thấy trong Ca-in và những người đương thời chọn sống theo đường lối của Ca-in, mà ở trong những người được Đức Chúa Trời chọn, tức những người đã được sinh ra bởi Ngài.
Bản chất của những người đã được sinh bởi Đức Chúa Trời là họ không phạm tội.
Giăng khẳng định tuyệt đối trong I Giăng 5:18 rằng bản chất cốt lõi của những ai đã được sinh bởi Đức Chúa Trời là họ không phạm tội. Sự khẳng định này thể hiện lối lập luận sử dụng hai thái cực tương phản cực đoan (cực đoan ở đây có nghĩa là không có vùng trung gian giữa hai thái cực này) bao phủ xuyên suốt phân đoạn. Giăng liên tục đưa ra các cặp đối lập: “Được sinh bởi Đức Chúa Trời” hoặc “thuộc về ma quỷ”, là “con cái của Đức Chúa Trời” hoặc “con cái của ma quỷ” (I Giăng 3:8,10).
Tuy nhiên, khi Giăng đối lập những ai không được sinh bởi Đức Chúa Trời là “thuộc về ma quỷ”, ông không giải thích thêm làm cách nào mà người ta trở thành “con cái của ma quỷ”, và liệu ma quỷ có đóng vai trò tích cực gì trong điều này, giống như Đức Chúa Trời đóng vai trò là Đấng sinh ra con cái của Ngài.
Điều này cũng đặt ra câu hỏi liệu sự sinh ra này chỉ là một phép ẩn dụ cho việc Cơ Đốc nhân phụ thuộc vào Đức Chúa Trời, hay cho thấy có sự truyền đạt sự sống và bản chất từ Đức Chúa Trời cho con cái của Ngài.
Dấu hiệu có thể quan sát được để xác định xem một người có cùng nguồn gốc (cùng cha) với các tín đồ hay không là (1) sự hiện diện hoặc vắng mặt của tình yêu anh em, (2) việc làm công chính hoặc việc làm tội lỗi (I Giăng 3:10).
Những đặc điểm này không chỉ là dấu hiệu, mà còn là hệ quả tất yếu. Nói cách khác, “là con cái của Đức Chúa Trời” nghĩa là người đó không chỉ giống Đức Chúa Trời hoặc có mối quan hệ với Ngài (I Giăng 2:29), mà "là con cái của Đức Chúa Trời" chính là bản chất của tín đồ (“chúng ta được xưng là con cái Đức Chúa Trời; và chúng ta thật là con cái Ngài”, I Giăng 3:1).
Tương tự, hệ quả của việc các tín đồ có bản chất là con cái của Đức Chúa Trời (“được sinh bởi Đức Chúa Trời”) là họ không phạm tội (I Giăng 5:18). Câu này không chỉ ngụ ý rằng con cái của Đức Chúa Trời được giải thoát khỏi việc cứ tiếp tục phạm tội, mà có nghĩa giờ đây họ thuộc về phạm vi nơi tội lỗi không còn ảnh hưởng và ma quỷ không thể chạm vào họ. Vì vậy, một cách tất yếu, mọi thứ được sinh bởi Đức Chúa Trời – tức toàn bộ tổng thể (trung tính) - chiến thắng thế gian - đối tượng chống nghịch Đức Chúa Trời (I Giăng 5:4).
“Được sinh bởi Đức Chúa Trời” điều đã được ban cho
“Được sinh bởi Đức Chúa Trời” hoặc “là con cái của Đức Chúa Trời” là điều đã được ban cho, không phải là một mục tiêu cần phải chờ đợi hoặc đã hoàn tất trọn vẹn. Chưa hoàn tất trọn vẹn là vì hiện bây giờ các tín đồ là con cái Đức Chúa Trời, còn sau này sẽ như thế nào thì chưa được bày tỏ, nhưng những gì chúng ta biết là sẽ “trở nên giống như Ngài” (I Giăng 3:2), có lẽ ngụ ý không còn sự phụ thuộc như cách hiện nay con cái Đức Chúa Trời phụ thuộc vào Ngài.
Nhưng việc các tín đồ “là con cái của Đức Chúa Trời” là một thực tại chưa trọn vẹn, thì điều này không ngụ ý quá trình trưởng thành từ con đỏ đến bậc thành nhân. Sự nhấn mạnh của Giăng nằm ở việc các tín đồ có nguồn gốc từ Đức Chúa Trời (tức được sinh bởi Ngài), không ngụ ý rằng khi được sinh ra thì tín đồ chưa trưởng thành mà cần phải trải qua quá trình để lớn dần lên.
Sự nhấn mạnh này nằm ở tính tĩnh của động từ “là” được Giăng sử dụng để định nghĩa các tín đồ (là những người được sinh bởi Đức Chúa Trời, hoặc là con cái của Đức Chúa Trời) đặt trong bối cảnh của lối diễn đạt sử dụng hai thái cực đối lập cực đoan.
Đặc biệt là trong I Giăng 3:7-10, Giăng bắt đầu giới thiệu hai nhóm được Đức Chúa Trời định sẵn, cố định trong sự đối lập không thay đổi, đã được tạo ra một cách bí ẩn bởi sự phân cực trong thế giới linh giữa Đức Chúa Trời và ma quỷ. Thần học của I Giăng trình bày sự đối lập cực đoan chỉ cho phép một người thuộc nhóm này hoặc nhóm ngược lại (không có vùng trung gian ở giữa hai nhóm).
- Nhóm thứ nhất là những ai được sinh bởi Đức Chúa Trời được nhận diện qua các hành động xuất phát từ ý chí của họ: Yêu thương “anh em” (tức các con cái khác của Đức Chúa Trời) và tin nhận Đức Chúa Jesus.
- Nhóm ngược lại thuộc về ma quỷ.
Tuy nhiên, nan đề nằm ở những gì I Giăng không nói đến. Không có chỗ nào trong I Giăng cho thấy những sự lựa chọn này là được định sẵn. Không có manh mối gì thêm để trả lời cho các vấn đề sau: (1) Liệu có tồn tại một “vùng xám” trung gian giữa hai nhóm đối lập (những người tin Chúa và yêu anh em thì trở thành con cái của Đức Chúa Trời, và những người chủ động từ chối các cam kết trên thì trở thành con cái của ma quỷ); (2) Có phải tất cả mọi người đều là con cái của ma quỷ cho đến khi một số người trở thành con cái của Đức Chúa Trời? (3) Chỉ vì họ là con cái của Đức Chúa Trời nên họ không thể phạm tội (I Giăng 3:9); nói cách khác, vì họ vốn đã là con cái của Đức Chúa Trời theo nghĩa mầu nhiệm hoặc ngầm định nào đó, nên họ trở thành tín đồ?
Tuy nhiên, các vấn đề này luôn tồn tại trong bất kỳ lập luận nào theo phương pháp đối lập cực đoan, và I Giăng không phải là trường hợp duy nhất. Chúng đặc biệt được thể hiện rõ trong I Giăng, vì trong bức thư này, Giăng chỉ nhìn vào hiện tại và không đề cập đến bất kỳ quyết định ban đầu nào của các tín đồ.
Sách Phúc âm Thứ tư, mặc dù có một số hình ảnh tương tự, nhưng ý nghĩa nhấn mạnh lại khác. Chỉ một lần duy nhất trong sách Phúc âm Giăng (Giăng 1:12-13), các tín đồ được gọi là những người được sinh bởi Đức Chúa Trời. Nhưng trong câu này Giăng chia động từ ở thì aorist, “ἐγεννήθησαν”, nhấn mạnh sự kiện trở thành con cái của Đức Chúa Trời là một món quà dành cho bất kỳ ai tin. Trong khi cũng động từ này nhưng được chia ở thì hoàn thành trong Giăng 18:37 (“γεγέννημαι”) lại để chỉ Đức Chúa Jesus. Hơn nữa, bối cảnh của Giăng 18:37 nhấn mạnh sự được sinh ra này của Đức Chúa Jesus là về phương diện thuộc thể, không phải ý nghĩa “được sinh bởi Đức Chúa Trời” như chúng ta đang bàn.
Trong Giăng 3, “sự sinh ra” từ trên hoặc từ (bởi) Thánh Linh (và nước) được đối lập với sự sinh ra tự nhiên (“bởi xác thịt”). Nhưng trong phân đoạn này, Giăng không sử dụng hình ảnh “con cái” , cũng không dùng hình ảnh “nguồn gốc từ ma quỷ” để lập luận tương phản (“nguồn gốc từ ma quỷ” của những kẻ chống nghịch đến Giăng 8:44 mới được khẳng định). Giăng 3 cho thấy “sự sinh ra” này là một sự lựa chọn được đặt trước một cá nhân và đòi hỏi sự đáp ứng từ người đó (tin nhận Đức Chúa Jesus); nhưng đồng thời, sức mạnh tạo nên “sự sinh ra” này không đến từ con người, mà đến từ Đức Chúa Trời.
Trong khi Giăng 3 cho thấy có sự tương quan giữa ý chí của con người và quyền năng của Đức Chúa Trời, thì yếu tố con người lại vắng mặt trong I Giăng. Để lý giải cho điều này, chúng ta cần xem xét hoàn cảnh khiến Giăng phải viết thư I Giăng. Một số người đã ly khai khỏi Hội thánh và gây ra sự chia rẽ trong cộng đồng các tín đồ. Sức ép này buộc Giăng phải làm rõ và nhấn mạnh các đặc điểm thiết yếu nhằm xác định ai thuộc về cộng đồng các tín đồ và ai không phải, tạo nên hai thái cực đối lập cực đoan trong I Giăng, khác với Phúc âm Giăng.
2. Tái dựng quan điểm thần học của I Giăng#
Để tái dựng phần nào nền tảng đã hình thành nên quan điểm thần học của I Giăng, chúng ta có thể quay trở lại với Cựu ước, nơi mà mối quan hệ Cha - Con nằm trong mối quan hệ giao ước mà Đức Chúa Trời thiết lập với dân sự của Ngài (Xuất Ê-díp-tô ký 4:22; Phục truyền 32:5f.; Khôn ngoan 12:19f.). Tuy nhiên, điều này không giải thích được sự đối lập cực đoan trong cách diễn đạt của Giăng, cũng như sự nhấn mạnh bản chất “được sinh bởi Đức Chúa Trời” của các tín đồ trong I Giăng lại thiếu sự liên hệ đến khuôn mẫu mối quan hệ giao ước một cách rõ ràng.
Văn học Qumran có một số điểm tương đồng, đặc biệt là các cặp hình ảnh tương phản giữa con cái của ánh sáng và con cái của bóng tối, con cái sinh ra từ lẽ thật và con cái của sự dối trá, con cái của sự công chính và con cái của sự dối trá (1QS 3:19-4:26). Tuy nhiên, trong văn học Qumran, khuôn mẫu mối quan hệ giao ước vẫn đóng vai trò quan trọng, và trong văn học Qumran cũng không đề cập đến hình ảnh cụ thể nào ngụ ý cho việc được “sinh bởi Đức Chúa Trời”.
Về mặt thần học, bản chất “được sinh bởi Đức Chúa Trời” của các tín đồ phải phụ thuộc vào bản chất “được sinh bởi Đức Chúa Trời” của Đức Chúa Jesus. Vậy thì đây có phải là cách mà thần học của I Giăng được phát triển? Thi thiên 2:7, “Ngươi là Con ta; Ngày nay ta đã sanh Ngươi”, đóng vai trò quan trọng trong thần học về Đấng Christ xuyên suốt Tân ước (xem Công vụ 13:33) và có thể được xem là khuôn mẫu cho việc “được sinh bởi Đức Chúa Trời” của những người tin Chúa. Tuy nhiên, Thi thiên này lại có vai trò rất nhỏ trong các sách của Giăng, và I Giăng không đề cập nhiều đến thứ tự trước nhất của Đức Chúa Jesus như là đối tượng đầu tiên được sinh bởi Đức Chúa Trời.
Một số học giả khác cho rằng hình ảnh được “sinh bởi Đức Chúa Trời” ngụ ý chỉ phép Báp-têm, viện dẫn phép Báp-têm là bối cảnh cho cách sử dụng cụm từ “sinh bởi Đức Chúa Trời” trong I Phi.1:3,23; Tít 3:5. Nhưng bối cảnh của I Giăng không liên quan một cách rõ ràng đến Báp-têm, và đề xuất trên cũng không giải thích được việc Giăng đối lập những người được “sinh bởi Đức Chúa Trời” với “con cái của ma quỷ”.
Tầm quan trọng của đặc điểm “sinh bởi Đức Chúa Trời” được Giăng nhấn mạnh xuyên suốt I Giăng đã khiến một số người nỗ lực tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi: Phải chăng quan điểm thần học của Giăng chịu ảnh hưởng của các tư tưởng Hy Lạp hóa, đặc biệt là từ các tôn giáo bí ẩn hoặc Trí huệ giáo? Tuy nhiên, hầu hết các bằng chứng cho thấy các tôn giáo bí ẩn và Tri huệ giáo xuất hiện sau thời kỳ mà Giăng viết các thư tín, và các tiền đề cơ bản của hai bên cũng khác nhau. Các tôn giáo bí ẩn và Trí huệ giáo quan niệm rằng sự tái sinh là một trải nghiệm của linh hồn hoặc một sự tái khám phá bản chất thực sự của linh hồn.
Tuy nhiên, nếu chúng ta đọc riêng I Giăng bên ngoài khuôn khổ của các sách còn lại trong Tân ước hoặc Cựu ước, thì ngôn ngữ của I Giăng có lẽ sẽ quen thuộc với các độc giả thời kỳ Hy Lạp hóa, không chỉ ở cách diễn đạt sử dụng hai thái cực tương phản cực đoan, mà còn qua văn phong tự tin quả quyết khi chống lại thế gian.
CHÚ THÍCH#
Gnosticism: Thuyết ngộ đạo (Ngộ giáo, hay Trí huệ giáo). Theo nghĩa rộng, đây là một phong trào tôn giáo và triết học phức tạp phát triển mạnh mẽ giữa thế kỷ thứ nhất TCN và thế kỷ thứ tư, cho rằng sự hiểu biết thực sự về Đức Chúa Trời, bản ngã, và sự cứu rỗi đến từ sự mặc khải và kiến thức đặc biệt. Không có sự đồng thuận nhất trí giữa các học giả về định nghĩa và giáo lý của nó. Nhưng khi nói về thế kỷ thứ nhất, người ta thường gọi chủ nghĩa Ngộ đạo là một tà giáo Cơ Đốc giáo ban đầu nhấn mạnh vào kiến thức được tiết lộ riêng tư hơn là kiến thức mà mọi người thường có được thông qua Kinh thánh. Vì chủ nghĩa Ngộ đạo không trở thành một phong trào quan trọng cho đến sau thời đại Tân Ước, nên trong các nghiên cứu về Tân Ước, người ta thường nói đến một thuyết tiền Ngộ đạo hoặc thuyết Ngộ đạo sơ khai xuất hiện trong Cơ Đốc giáo thế kỷ thứ nhất. ↩︎
