Skip to main content

THẾ HỆ BỊ THIẾU TRONG GIA PHỔ CỦA MA-THI-Ơ 1:1-17

·11767 words·56 mins·
Author
Lily

JOURNAL ARTICLES - MATTHEW

GIỚI THIỆU
#

Mở đầu sách Phúc Âm Ma-thi-ơ, gia phổ của Đức Chúa Jesus Christ được trình bày có 3 phần với 14 thế hệ trong mỗi phần, nhưng lại thiếu mất một thế hệ trong phần thứ ba.

Sự thiếu mất một thế hệ này là chủ ý của Ma-thi-ơ, được thiết kế như là một câu đố. Câu đố này chỉ được giải quyết khi các độc giả đọc đến những dòng cuối cùng của sách Phúc Âm Ma-thi-ơ. Tại đây, các độc giả sẽ thấy sự xuất hiện của Chúa Jesus như là Đấng Christ phục sinh cùng với 11 môn đồ - những người giờ đây được gọi là “các anh em” của Ngài.

Nếu “Giu-đa và các anh em người” trong phần đầu tiên của gia phổ đại diện cho Y-sơ-ra-ên (Israel) trong sự cấu thành ban đầu của nó, và “Giê-chô-nia và các anh em” đại diện cho giai đoạn Israel đối mặt với sự phán xét và tan rã, thì hình ảnh của Nhóm Mười Hai, tức “Đấng Christ phục sinh và các anh em của Ngài”, ở cuối phần thứ ba của gia phổ đại diện cho Israel trong sự tái lập.

Thiên tài văn chương của Ma-thi-ơ phần nào thể hiện qua việc ông sử dụng gia phổ để đưa ra luận điểm rằng danh tính của dân tộc Israel chưa bao giờ chỉ đơn thuần là vấn đề dòng dõi theo thuyết thống. Thế hệ bị thiếu ở cuối gia phổ đặt ra một câu hỏi mà các độc giả sẽ khám phá xuyên suốt câu chuyện Phúc Âm, nhưng chỉ được giải quyết trọn vẹn ở những chương cuối cùng của sách.

Đọc Ma-thi-ơ 1:1-17 (KT Tam Ngữ Hy-lạp)

GIA PHỔ CỦA ĐỨC CHÚA JESUS CHRIST (MT. 1:1-17)

Phần thứ nhất (“Như vậy, từ Áp-ra-ham cho đến Đa-vít, hết thảy có mười bốn đời;”)

Thế hệTên (tiếng Việt)Tên (tiếng Anh)
1Áp-ra-hamAbraham
2Y-sácIssac
3Gia-cốpJacob
4Giu-đa và anh em ngườiJudah and his brothers
5Pha-rê và Xa-raPerez and Zerah
6Ếch-rômHezron
7A-ramRam
8A-mi-na-đápAmminadab
9Na-ách-sonNahshon
10Sanh-mônSalmon
11Bô-ôBoaz
12Ô-bếtObed
13Gie-sêJesse
14Vua Đa-vítKing David

Phần thứ hai (“từ Đa-vít cho đến khi bị đày qua nước Ba-by-lôn, cũng có mười bốn đời;”)

Thế hệTên (tiếng Việt)Tên (tiếng Anh)
1Sa-lô-mônSolomon
2Rô-bô-amRehoboam
3A-bi-giaAbijah
4A-saAsa
5Giô-sa-phátJehoshaphat
6Giô-ramJehoram
7Ô-xiaUzziah
8Giô-tamJotham
9A-chaAhaz
10Ê-xê-chiaHezekiah
11Ma-na-sêManasseh
12A-mônAmon
13Giô-si-aJosiah
14Giê-chô-nia và anh em ngườiJeconiah and his brothers

Phần thứ ba (“và từ khi bị đày qua nước Ba-by-lôn cho đến Đấng Christ, lại cũng có mười bốn đời.”)

Thế hệTên (tiếng Việt)Tên (tiếng Anh)
1Sa-la-thi-ênShealtiel
2Xô-rô-ba-bênZerubbabel
3A-bi-útAbihud
4Ê-li-a-kimEliakim
5A-xôAzor
6Sa-đốcZadok
7A-chimAkim
8Ê-li-útElihud
9Ê-lê-a-xaEleazar
10Ma-thanMatthan
11Gia-cốpJacob
12Giô-sépJoseph
13Đức Chúa Jêsus, gọi là ChristJesus who is called the Messiah

I. NHỮNG ĐIỂM KHÓ HIỂU TRONG GIA PHỔ CỦA MT. 1:1-17
#

Richard France tuyên bố rằng gia phổ mở đầu của Phúc Âm Ma-thi-ơ “chứa đựng nhiều câu đố.” France dường như muốn nói rằng gia phổ đặt ra một số câu hỏi; nhưng câu trả lời cho các câu hỏi này chỉ trình bày những khả năng có thể xảy ra, chứ không chắc chắn. Mặc dù France thận trọng hơn hầu hết các học giả khác, ông không phải là người duy nhất đánh giá gia phổ này như một mớ bòng bong các nan đề. Mục đích của bài viết này là chỉ ra rằng dù một số đặc điểm của gia phổ của Mt. 1:1-17 thường được coi là nan đề, thực chất lại là những mảnh ghép của một câu đố, hoặc manh mối cho một bí ẩn, mà lời giải sẽ được tiết lộ qua sự tương tác giữa gia phổ với các văn bản Kinh Thánh mà nó trích dẫn, và câu chuyện mà nó ngầm báo trước.

Gia phổ của Mt. 1:1-17 đã trở thành trung tâm của sự chú ý đặc biệt từ giới học giả. Nhiều người đã dày công nghiên cứu ý nghĩa của việc Ma-thi-ơ chia gia phổ thành 3 phần với 14 thế hệ trong mỗi phần. Nhiều người khác lại tìm cách lý giải tầm quan trọng của những người nữ được Ma-thi-ơ đề cập đến trong gia phổ. Tuy nhiên, đáng chú ý là người ta lại ít chú ý đến một số đặc điểm kỳ lạ của gia phổ này - điều mà, theo tôi, đã tạo thành một câu đố về danh tính bất ngờ của dân tộc của Đấng Mê-si. Những điều kỳ lạ tạo nên câu đố này bao gồm:

  • Việc đề cập đến Xa-ra (còn gọi là “Sê-rách” trong Sáng 38:30), một nhân vật không mấy nổi bật trong truyền thống Kinh Thánh và ngoài Kinh Thánh. Xa-ra là người duy nhất xuất hiện trong gia phổ với tư cách là hậu duệ của Áp-ra-ham, nhưng không thuộc về dòng dõi của Đấng Mê-si.

  • Việc nhắc đến “các anh em” của Giê-chô-nia (còn gọi là “Giê-hô-gia-kin” trong 2 Sử ký 36). Trong khi 1 Sử ký 3:16 cho biết Giê-chô-nia chỉ có một người anh/em (1 Sử ký được Ma-thi-ơ sử dụng như là một trong số các nguồn tư liệu chính để ông viết nên gia phổ trong Mt. 1:1-17.)

  • Thực tế là Ma-thi-ơ thường bỏ qua một số nhân vật theo nhóm ba người, phù hợp với việc Ma-thi-ơ ưa thích sử dụng các bộ ba.

  • Việc xuất hiện 13 tên thay vì 14 trong phần thứ ba, mặc dù gia phổ trong các tư liệu (chẳng hạn 1 Sử ký, Masoretic Text, LXX) còn nhiều cái tên khác để Ma-thi-ơ hoàn toàn có thể thêm vào (nếu ông muốn).

  • Sự chênh lệch giữa những gì Ma-thi-ơ đã tạo ra (một gia phổ gồm 41 thế hệ) và những gì ông nói rằng mình đã tạo ra (một gia phổ gồm 42 thế hệ).

Trong phần tiếp theo, tôi sẽ cố gắng làm sáng tỏ những điều kỳ lạ này để chứng minh rằng hình ảnh Đấng Christ phục sinh cùng với “các anh em” của Ngài trong chương cuối cùng của Ma-thi-ơ lấp đầy khoảng trống của thế hệ bị thiếu trong phần thứ ba của gia phổ.

Nếu “Giu-đa và các anh em” trong phần đầu tiên đại diện cho sự hình thành ban đầu của Israel và “Giê-chô-nia và các anh em” trong phần thứ hai gợi lên ý tưởng rằng sự tái lập của Israel có thể đòi hỏi sự loại trừ một thế hệ gian ác và ngoại tình, thì câu chuyện tiết lộ “Đấng Christ và các anh em của Ngài" là lời giải cho câu đố được đặt ra cho việc có một thế hệ bị thiếu trong phần thứ ba của gia phổ, và qua đó hoàn thiện bức chân dung về dân tộc của Đấng Mê-si qua gia phổ này.

1.1. Nan Đề hay Câu Đố?
#

Một điều được các học giả công nhận rộng rãi là Ma-thi-ơ đã bỏ qua một số thế hệ trong phần thứ hai, và việc làm đó đã giúp ông đưa số thế hệ trong phần thứ hai xuống còn 14. Việc bỏ qua một số thế hệ này trong phần thứ hai nhấn mạnh tuyên bố của Ma-thi-ơ rằng ông đã xây dựng 3 phần với 14 thế hệ (Mt. 1:17). Vì vậy, việc chỉ có 13 tên xuất hiện trong phần thứ ba đã gây ra sự khó hiểu. Từ thời Chrysostom , sự không hợp lý này đã khiến những người đọc tự hỏi:

“Tại sao, sau khi nói về 14 thế hệ, ông không duy trì số lượng đó trong phần ba?”

  1. Hầu hết mọi người coi đây là một nan đề. Một số giải thích sự thiếu một thế hệ này bằng cách gợi ý rằng Đa-vít và/hoặc Giê-chô-nia có thể được tính hai lần. Việc tính Đa-vít và Giê-chô-nia hai lần sẽ đưa số thế hệ trong phần thứ ba lên 14, nhưng dẫn đến việc sẽ có 15 thế hệ trong phần thứ hai. Nếu chỉ tính Đa-vít hai lần , Giê-chô-nia sẽ bị đẩy sang phần thứ ba. Tuy nhiên, Giê-chô-nia đã được sinh ra và trị vì với tư cách là vua trước khi cuộc lưu đày xảy ra, phù hợp với các sự kiện lịch sử Kinh Thánh, khiến việc đặt ông vào phần thứ ba trở nên không hợp lý. Sự bất hợp lý tương tự cũng nảy sinh nếu chúng ta chỉ tính Giê-chô-nia hai lần. Trong bất kỳ trường hợp nào, việc tính Đa-vít chỉ một lần, còn Giê-chô-nia hai lần trong một gia phổ (mà gia phổ này có một phần chức năng là để chứng minh Chúa Jesus là Đấng Mê-si ra từ dòng dõi vua Đa-vít) thì thật khó giải thích, nhất là khi hầu hết mọi người đồng ý rằng con số 14 là một mật mã cho cái tên Đa-vít. Đề xuất này cũng vấp phải nan đề là mặc dù cấu trúc có một chút khác biệt ở thế hệ mở đầu của dòng dõi vua Đa-vít và thế hệ bắt đầu bị đi lưu đày, nhưng trong gia phổ, tất cả các thế hệ đều được trình bày theo mẫu “x sinh ra y, y sinh ra z”. Không có điều gì bất thường trong phân đoạn này để cảnh báo người đọc về việc họ cần phải tính Đa-vít và/hoặc Giê-chô-nia hai lần.

  2. Một số người đề xuất tách Ma-ri ra khỏi Giô-sép để tạo thành hai thế hệ, từ đó giải quyết việc có một thế hệ bị mất trong phần thứ ba của gia phổ. Tuy nhiên, nhược điểm của đề xuất này là Ma-ri thuộc cùng thế hệ với Giô-sép, và không có người phụ nữ nào khác trong gia phổ được tính trong kết luận của Ma-thi-ơ (Mt. 1:17).

  3. Một số người khác cho rằng sự bất đồng trong ba phần của gia phổ là do sai lầm toán học. Davies và Allison suy đoán rằng Ma-thi-ơ đã nhận thức được “sai sót” nhưng không thể giải quyết được nó. Theo quan điểm này, nan đề này đôi khi được coi là một lỗi ép buộc. Một số người suy đoán rằng Ma-thi-ơ có thể cảm thấy thoải mái khi bỏ qua một số nhân vật trong các nguồn tư liệu gốc, nhưng không thoải mái khi phải thêm nhân vật vào gia phổ của mình. Những giải thích như trên không phải là giải pháp mà là sự thừa nhận rằng Ma-thi-ơ hoặc đã bỏ qua hoặc cảm thấy ông không thể giải quyết “sai sót” của mình. Hơn nữa, suy đoán cho rằng nguồn tư liệu gốc mà Ma-thi-ơ sử dụng để biên soạn phần thứ ba chỉ có 13 cái tên là không tính đến khả năng ngược lại; đó là, Ma-thi-ơ có thể đã có trong tay nguồn tư liệu gốc có nhiều hơn 13 cái tên nhưng ông cố tình tạo ra phần gia phổ chỉ với 13 tên bằng cách bỏ qua các cái tên có sẵn trong nguồn tư liệu. Chúng ta sẽ xem xét khả năng này sau, nhưng dù Ma-thi-ơ có bỏ qua các một số cái tên để tạo thành phần thứ ba của gia phổ hay không, câu hỏi của Chrysostom vẫn tồn tại: “Sau khi nói về 14 thế hệ trong hai phần đầu, tại sao ông không duy trì số lượng đó trong phần thứ ba?”

Tôi sẽ lập luận rằng Ma-thi-ơ đã cố tình phá vỡ cấu trúc tinh vi của mình về một gia phổ 42 thế hệ bằng cách cung cấp một gia phổ thiếu một thế hệ. Sự thiếu mất một thế hệ này là một trong nhiều mảnh ghép của một câu đố kết hợp lại để tạo thành một bức tranh về danh tính của Israel - quốc gia/dân tộc của Đấng Mê-si.

Mặc dù gia phổ ngầm hé mở cho người đọc ý nghĩa của câu đố, nhưng ý nghĩa này không trở nên rõ ràng cho đến cuối sách Phúc Âm Ma-thi-ơ. Lý do có một thế hệ bị thiếu là vì danh tính của thế hệ cuối cùng là một câu hỏi được gia phổ nêu ra, nhưng sẽ được câu chuyện trả lời. Mặc dù sự ra đời của Chúa Jesus tiết lộ danh tính của Đấng Mê-si của Israel, nhưng gia phổ không vội tiết lộ danh tính của thế hệ mà Đấng Mê-si sẽ trị vì và Đấng Mê-si sẽ trị vì với ai. Ma-thi-ơ cố tình để gia phổ không hoàn chỉnh để đặt ra một câu hỏi sẽ có tầm quan trọng trung tâm trong câu chuyện ông sẽ kể, tức câu hỏi về danh tính của Israel như là dân của Đấng Mê-si.

1.2. Nguồn Gốc của Gia Phổ trong Mt.1:1-17
#

Như nhiều người đã quan sát thấy, cảm hứng cho danh sách ba phần gồm 14 thế hệ của Ma-thi-ơ có thể bắt nguồn từ việc phần thứ nhất có 14 cái tên từ Áp-ra-ham đến Đa-vít được trình bày trong 1 Sử ký 1:34; 2:1-15. Sách Ru-tơ 4:18-22 cũng ghi lại dòng dõi của Đa-vít giống trong 1 Sử ký nhưng bỏ qua các tổ phụ và bắt đầu với Pha-rê (hay còn gọi là Pha-rết trong Ru-tơ 4:18), người được xác định là con trai của Giu-đa và Tha-ma (Ru-tơ 4:12).

Sự phụ thuộc của Ma-thi-ơ vào sách Sử ký được thể hiện qua việc các tên được liệt kê từ Áp-ra-ham đến Xô-rô-ba-bên hoàn toàn trùng khớp với những tên được tìm thấy trong sách Sử ký, ngoại trừ những cái tên mà Ma-thi-ơ bỏ qua. Ngoài ra, cách Ma-thi-ơ mô tả Giê-chô-nia là vị vua cuối cùng của nước Giu-đa trước thời kỳ lưu đày cũng tương ứng với việc tác giả Sử ký gọi Giê-chô-nia là “người bị lưu đày” (1 Sử ký 3:17). Tuy nhiên, một chi tiết trong sách Ru-tơ gợi ý rằng Ma-thi-ơ cũng quen thuộc với một gia phổ ngắn hơn được chép trong sách này: Khi Bô-ô lấy Ru-tơ làm vợ, dân chúng Bết-lê-hem đã kêu lên, “Nguyện con cháu ngươi mà Đức Giê-hô-va sẽ ban cho ngươi bởi người gái trẻ nầy, làm cho nhà ngươi giống như nhà của Pha-rết, mà Tha-ma đã sanh cho Giu-đa!” (Ru-tơ 4:12). Mối liên hệ giữa Tha-ma và Ru-tơ trong sách Ru-tơ cũng xuất hiện một cách bất ngờ giống như trong Mt. 1:1-17, và do đó cho thấy sách Ru-tơ cũng là nguồn cảm hứng cho việc Ma-thi-ơ đưa những người nữ này vào gia phổ của mình.

Mặc dù Ma-thi-ơ dường như quen thuộc với cả hai gia phổ (gia phổ trong sách Sử ký và gia phổ trong sách Ru-tơ), gia phổ của Ma-thi-ơ về hình thức gần gũi hơn với gia phổ tuyến tính nghiêm ngặt (nghĩa là, trình bày phả hệ theo một dòng dõi cụ thể, thường là theo dòng nam, tập trung vào một dòng dõi duy nhất, bỏ qua các nhánh phụ hoặc các mối quan hệ khác) được tìm thấy trong sách Ru-tơ, và trái ngược với hình thức gia phổ phân đoạn một phần (nghĩa là, trình bày phả hệ bao gồm nhiều nhánh khác nhau, không chỉ giới hạn trong một dòng dõi duy nhất, cho phép theo dõi nhiều nhánh họ hàng cũng như các mối quan hệ khác) như trong 1 Sử ký. Không có trường hợp ngoại lệ nào trong gia phổ tuyến tính được ghi trong sách Ru-tơ, nhưng trong gia phổ của Ma-thi-ơ, có ba trường hợp Ma-thi-ơ đề cập đến nhiều hơn một hậu duệ trong cùng một thế hệ.

  • Hai trong ba trường hợp này, Ma-thi-ơ thêm cụm từ “và các anh em” - một liên quan đến Giu-đa và một liên quan đến Giê-chô-nia – nhưng không nêu tên cụ thể những người anh em được nhắc đến.
  • Trong trường hợp còn lại, Ma-thi-ơ đề cập đến một người con trai khác của Giu-đa là Xa-ra, mặc dù Giu-đa có tổng cộng năm người con.

Chúng ta sẽ giải quyết ba trường hợp ngoại lệ này theo thứ tự xuất hiện của chúng trong gia phổ trước khi chuyển sang (1) các sự bỏ qua khác trong gia phổ của Ma-thi-ơ và (2) câu hỏi về thế hệ bị thiếu trong phần thứ ba.

a. “Giu-đa và các anh em của ông”
#

Mặc dù Ma-thi-ơ truy nguyên nguồn gốc của Israel từ Áp-ra-ham, nhưng việc nhắc đến “Giu-đa và các anh em của ông” gợi nhớ lại ký ức về sự hình thành của Israel như là một liên minh của các chi phái, trong đó Giu-đa được nhận diện là người đứng đầu dòng dõi hoàng gia.

Trong 1 Sử ký 1, dòng dõi của ba tổ phụ được lồng ghép trong một mạng lưới các gia phổ của nhiều dân tộc khác trên thế giới. Mặc dù Gia-cốp được gọi là “Israel” (1 Sử ký 1:34) trong bức tranh lớn này, sự xuất hiện của Israel như là một quốc gia trở nên rõ ràng khi người biên sử chuyển sự chú ý từ gia phổ của các dân tộc sang việc tập trung vào Giu-đa và các anh em của ông (1 Sử ký 2:1). Nói cách khác, gia phổ trong sách Sử ký là một trong những nguồn tư liệu gốc của Ma-thi-ơ, và trong tư liệu này, “Giu-đa và các anh em của ông” được liệt kê với tư cách đại diện cho quốc gia Israel trong cấu trúc ban đầu của dân tộc này.

Mặc dù hình thức liệt kê chuyển từ gia phổ của nhiều dân tộc (đại diện cho toàn cầu) sang gia phổ của một dân tộc cụ thể là đặc điểm rất rõ ràng trong 1 Sử ký, các học giả nghiên cứu gia phổ của Ma-thi-ơ đã không chú ý đủ đến thực tế rằng tính toàn cầu của các gia phổ trong sách Sử ký không kết thúc khi nó bắt đầu chuyển sang Giu-đa.

Bằng chứng là, không chỉ gia phổ của Giu-đa là gia phổ đa dân tộc nhất trong 12 chi phái, mà còn có những liên kết quan trọng giữa gia phổ toàn cầu trong 1 Sử ký 1 và gia phổ của Giu-đa. Người biên sử liên tục lưu ý cách mà các cá nhân từ các gia đình khác nhau trên thế giới đã được nhập vào Israel và, cụ thể hơn, vào Giu-đa. Việc tiếp nhận nhiều dân tộc khác vào Israel trong 1 Sử ký chủ yếu diễn ra trong dòng dõi của Giu-đa.

Tuy nhiên, đặc điểm gia phổ chuyển từ toàn cầu sang đặc thù cũng làm nổi bật một điểm đáng lo ngại trong danh tính quốc gia của Israel. Đó là, trong vài dòng đầu của gia phổ Giu-đa, người biên sử không chỉ ghi nhận sự nhập vào bất ngờ của Tha-ma (hay còn gọi là “Ta-ma” trong 1 Sử ký 2:4), mà còn sự cắt đứt một số hậu duệ ra khỏi dòng dõi của Giu-đa. Cả hai đặc điểm này trong gia phổ của Giu-đa trong sách Sử ký đều được Ma-thi-ơ áp dụng trong gia phổ của mình bao gồm việc ông nhắc đến Tha-ma và Xa-ra.

b. “Xa-ra và các anh em của ông”
#

Việc Ma-thi-ơ đề cập đến Xa-ra (hay còn gọi là Sê-rách) thường được giải thích là do hoàn cảnh đặc biệt xoay quanh việc sinh đôi của Tha-ma trong Sáng Thế Ký 38. Xa-ra đưa tay ra trước, và bà mụ nhanh chóng buộc một sợi chỉ đỏ quanh tay của nó. Nhưng rồi, bất ngờ, Pha-rê (hay còn gọi là Phê-rết) chào đời trước Xa-ra. Trong Sáng Thế Ký, câu chuyện này gợi nhớ cuộc xung đột từ trước khi cả hai được sinh ra của Gia-cốp và Ê-sau, và tiếp tục một chủ đề - đó là, trong sự quan phòng của Đức Chúa Trời, người con trai út được ưu tiên hơn con trai trưởng.

Bauer cho rằng Ma-thi-ơ ngầm đưa câu chuyện này vào (qua việc nhắc đến Pha-rê và Xa-ra) là để làm nổi bật thẩm quyền tối thượng của Đức Chúa Trời trong lịch sử cứu chuộc. Tuy nhiên, nếu Ma-thi-ơ muốn chỉ cho các độc giả thấy đặc điểm này trong gia phổ để chứng minh con trai đầu lòng của Ma-ri ra từ dòng dõi của những người con trai út như một sự thể hiện thẩm quyền tối cao của Đức Chúa Trời, thì tại sao ông lại không tận dụng các cơ hội khác nổi bật hơn để làm điều này (ví dụ, với Gia-cốp hay Đa-vít).

Tuy nhiên, việc Ma-thi-ơ nhắc đến Xa-ra vẫn cần phải được giải thích, vì một số lý do sau:

  • Thứ nhất, Xa-ra là một nhân vật không có gì đặc biệt trong Kinh Thánh và truyền thống Do Thái.
  • Thứ hai, dù không để lại nhiều dấu vết văn học, Xa-ra là người duy nhất trong dòng dõi của Áp-ra-ham được nêu tên nhưng lại không thuộc dòng dõi của Đấng Mê-si.
  • Thứ ba, mặc dù thường bị các độc giả hiện đại hiểu nhầm, việc ghép Xa-ra với Pha-rê dường như không phải là điều thường thấy trong các truyền thống cổ của người Do Thái. Bằng chứng là, Ru-tơ 4 không đề cập đến Xa-ra, mặc dù gia phổ này đang kể lại mối quan hệ của Tha-ma với Giu-đa. Thay vào đó, toàn bộ sự chú ý được đặt vào Pha-rê (còn gọi là Phê-rết hoặc Pha-rết), với lời khen ngợi kỳ lạ của người dân Bết-le-hem, “Làm cho nhà ngươi giống như nhà của Pha-rết, mà Tha-ma đã sanh cho Giu-đa!” (Ru-tơ 4:12). Mặc dù Xa-ra (còn gọi là Xê-rách) được nhắc đến trong 1 Sử ký 2, nhưng điều này có thể hiểu được, vì gia phổ trong 1 Sử ký được trình bày dưới hình thức phân đoạn một phần, và mục đích của người biên sử chọn ghi lại dòng dõi của Xa-ra không phải là vì Xa-ra là anh em sinh đôi của Pha-rê, mà vì Xa-ra là ông của A-ca - người và gia đình của người này đã bị cắt đứt khỏi Israel (1 Sử ký 2:6-7). Hơn nữa, trong danh sách các hậu duệ Giu-đa định cư tại Giê-ru-sa-lem sau khi bị lưu đày trong 1 Sử ký 9, danh sách “con cái của Pha-rê” bất ngờ bị tách ra khỏi danh sách “con cái của Xa-ra” bởi một danh sách của người “Si-lô-ni” (1 Sử ký 9:4-6). Cuối cùng, một danh sách tương tự về các hậu duệ của Giu-đa sau khi lưu đày trong Nê-hê-mi 11:4-6 chỉ đề cập đến các hậu duệ của Pha-rê và một gia tộc liên kết với một nhân vật vô danh được gọi là “Si-lô-ni,” nhưng không đề cập đến Xa-ra hay con cháu của ông. Vì vậy, quan niệm cho rằng người Do Thái thường ghép Xa-ra với Pha-rê là không có cơ sở vững chắc và nên bị loại bỏ, và vì thế không thể giải thích cho sự xuất hiện của Xa-ra trong gia phổ của Mt. 1:1-17.

Nếu việc nhắc đến Xa-ra trong gia phổ của Ma-thi-ơ là có chủ ý, vì đây không phải là thói quen của người Do Thái, vậy thì Ma-thi-ơ đang muốn nói gì? Các độc giả quen thuộc với gia phổ trong 1 Sử ký sẽ nhận ra chú thích duy nhất được đưa vào mô tả về gia tộc Xa-ra tham chiếu đến A-ca, là người mà cả gia đình ông đã bị tiêu diệt khỏi Israel. Tuy nhiên, có thể đây không phải là điều mà Ma-thi-ơ cảm thấy quan trọng nhất. Dù sao, việc Ma-thi-ơ đưa Xa-ra vào gia phổ của mình là điều bất thường.

Như chúng ta đã lưu ý, người biên sử vẽ một bức tranh gia phổ của dân tộc Israel trên nền tảng của một gia phổ toàn cầu, nhưng chỉ khi chúng ta đến với dòng dõi của Israel (tức Gia-cốp) thì chúng ta mới thấy những dấu hiệu về sự bị loại bỏ. Đặc điểm chuyển từ tính toàn cầu sang đặc thù của gia phổ trong sách Sử ký bắt đầu với Giu-đa (1 Sử ký 2:1). Câu chuyện về gia tộc Giu-đa bắt đầu với một chú thích phân biệt rõ ràng các con trai của Giu-đa với người vợ Bát Su-a (tiếng Anh là “Beth-shua”) của ông, “Ê-rơ, Ô-nan, và Sê-la - ba người” với Phê-rết và Xê-rách - những con trai sinh ra từ Tha-ma. Người biên sử xác nhận Tha-ma là con dâu của Giu-đa nhưng không nói gì thêm về những sự kiện không đứng đắn trong Sáng Thế Ký 38, ngoại trừ việc nhận xét rằng “Ê-rơ, con trai cả của Giu-đa, làm sự dữ trước mặt Đức Giê-hô-va, và Ngài đã giết chết hắn.” Người biên sử không lặp lại nhận xét tương tự trong Sáng Thế Ký về Ô-nan, có thể vì Ê-rơ được coi là đại diện cho nhánh của Bát Su-a (Beth-shua), và nhánh này bị xem là đã bị cắt đứt.

Có một bằng chứng nữa trong sách Sử ký giải thích tại sao Ma-thi-ơ có thể coi ba người con đầu lòng của Giu-đa là đã bị cắt đứt khỏi Israel. Như chúng ta đã lưu ý, người biên sử ghi tên người vợ đầu của Giu-đa là Bát Su-a (Beth-shua). Sau đó, trong 1 Sử ký 3:5, vợ của Đa-vít, người thường được gọi là Bát-sê-ba (Bathseba), cũng được đặt tên là Bát-sua (Beth-shua). France gọi chi tiết tương đồng này là “hấp dẫn”, nhưng sau đó cho rằng nó chỉ là một sự trùng hợp. Tuy nhiên, ông không để ý rằng, ngoài việc đồng bộ hóa tên của họ, người biên sử còn làm nổi bật sự tương đồng này.

Cũng giống như Bát Su-a (Beth-shua) đầu tiên, con trai đầu lòng của Bát Su-a (Beth-shua) thứ hai chết bởi tay của Đức Chúa Trời. Hơn nữa, mặc dù 2 Sa-mu-ên 12:24-25 có thể được hiểu rằng Sa-lô-môn là con trai duy nhất còn lại của Đa-vít và Bát-sê-ba, nhưng người biên sử lại liệt kê hai con trai khác của Bát-sua (Beth-shua) giữa người con trai đầu lòng đã chết và Sa-lô-môn (tức Sô-báp và Na-than). Vì Ô-nan - con trai thứ hai của Giu-đa - đơn giản là bị biến mất mà không có ghi chú nào rằng anh ta cũng đã bị giết bởi Đức Chúa Trời, một sự tương đồng xuất hiện giữa con trai thứ hai và thứ ba của Beth-shua đầu tiên và con trai thứ hai và thứ ba của Beth-shua thứ hai. Những người này cũng chỉ được liệt kê để rồi biến mất. Các sự tương đồng kết thúc ở đó khi Beth-shua thứ hai sinh ra con trai thứ tư, tức Sa-lô-môn. Với sự hiểu biết của Ma-thi-ơ về các đặc điểm trong gia phổ của các tư liệu gốc, Ma-thi-ơ chắc hẳn đã nhận ra dụng ý của người biên sử khi đề cập đến hai Beth-shua trong sách Sử ký và những sự tương đồng giữa ba người con đầu tiên của họ trong gia phổ của Sử ký.

Như vậy, việc Xa-ra được đưa vào gia phổ của Ma-thi-ơ không liên quan đến việc ghép Xa-ra với Pha-rê theo truyền thống, hay vì sự ra đời bất thường của họ. Bằng chứng là, câu chuyện về sự ra đời của Pha-rê và Xa-ra không được nhắc đến trong các gia phổ Kinh Thánh mà Ma-thi-ơ sử dụng, và các nguồn tư liệu gốc cũng không ghép họ lại với nhau.

Thay vào đó, Ma-thi-ơ có thể đã thêm Xa-ra vì sự đối lập được thiết lập bởi người biên sử giữa Pha-rê và Xa-ra, và Xa-ra có sự tương đồng với ba người anh em sinh ra từ Bát Su-a (Beth-shua) - vợ của Giu-đa. Nếu đúng như vậy, Xa-ra được thêm vào gia phổ của Ma-thi-ơ với dụng ý rằng Xa-ra sẽ là đại diện cho bộ ba đầu tiên ngầm tiết lộ một chủ đề mà Ma-thi-ơ sẽ tiếp tục triển khai. Đó là, việc tái cấu trúc Israel sẽ không chỉ bao gồm việc tiếp nhận những người vốn không được mong đợi là những người đó thuộc về dòng dõi của Đấng Mê-si (được đại diện bởi những phụ nữ trong gia phổ) mà còn là sự loại trừ những người không làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời.

Bây giờ, chúng ta sẽ chuyển sang hai dấu hiệu khác có thể chỉ ra SỰ BỊ LOẠI BỎ là một chủ đề trong gia phổ của Ma-thi-ơ.

c. “Giê-chô-nia và (ba) anh em của ông”
#

Công trình gần đây của Hood đã thu hút sự chú ý mới vào tầm quan trọng của Giê-chô-nia trong gia phổ của Ma-thi-ơ. Hood làm nổi bật sự phục hồi hình ảnh của Giê-chô-nia của Josephus và, theo một cách rất hạn chế, từ truyền thống rabbinic sau này. Theo Josephus, Giê-chô-nia tự nguyện thoái vị là một hành động hi sinh bản thân để cứu lấy quốc gia. Hood đưa đánh giá tích cực này về Giê-chô-nia vào trong sự hiểu biết của ông về gia phổ của Ma-thi-ơ và gợi ý rằng điều này vừa gợi lại sự sẵn sàng của Giu-đa trong việc hi sinh bản thân cho anh em, vừa tiên đoán sự hy sinh của chính Chúa Jesus cho các anh em của Ngài.

Tuy nhiên, cách giải thích này về vai trò của Giê-chô-nia trong gia phổ của Ma-thi-ơ cần phải bị bác bỏ vì một số lý do:

  • Thứ nhất , việc phục hồi hình ảnh của Giê-chô-nia của sử gia Josephus có một động cơ đằng sau, và tư tưởng này không được Ma-thi-ơ đồng ý. Josephus viết lại câu chuyện về Giê-chô-nia nhằm biện minh cho việc Josephus gia nhập quân đội La Mã khi quân La Mã đang tấn công vào Giê-ru-sa-lem trong cuộc Chiến tranh Do Thái. Hood công nhận nhận xét của Josephus rằng sự anh hùng hi sinh của Giê-chô-nia đã được người Do Thái kỷ niệm rộng rãi (War 6.2.1), nhưng ký ức tích cực về Giê-chô-nia không để lại dấu ấn gì trong truyền thống Đền Thờ Thứ Hai.

  • Thứ hai , Ma-thi-ơ liên kết Giê-chô-nia với việc bị đi lưu đày của Israel. Điều này không chỉ gắn kết sự hiểu biết của Ma-thi-ơ về Giê-chô-nia với Sử ký, nơi đánh giá Giê-chô-nia chỉ có tính tiêu cực, mà còn phù hợp với mối liên hệ giữa Giê-chô-nia và lời nguyền của cuộc lưu đày trong Sử ký.

  • Thứ ba , cách giải thích này không giải thích được tại sao “các anh em của Giê-chô-nia” lại có thể được coi là các con của vua Giô-si-a, điều mà gia phổ của Ma-thi-ơ yêu cầu: “Giô-si-a sinh Giê-chô-nia và anh em người” (Mt. 1:11). Hood thừa nhận khó khăn khi ông không thể giải nghĩa cụm từ “các anh em của Giê-chô-nia” theo nghĩa đen, trong khi trước đó, ông đã giải nghĩa “các anh em của Giu-đa” trong Mt. 1:2 theo nghĩa đen. “Giu-đa và các anh em của ông” vẫn có thể mang ý nghĩa biểu tượng, nhưng trong một gia phổ, để có thể giải nghĩa theo nghĩa hình bóng thì đây phải là mối quan hệ huyết thống theo nghĩa đen. Cuối cùng, cách giải thích của Hood đã không xét đến cách hiểu của Ma-thi-ơ về các gia phổ trong 1 Sử ký, làm nền tảng cho việc Ma-thi-ơ nhắc đến “các anh em của Giê-chô-nia” trong gia phổ mà ông biên soạn.

Nhận định cho rằng cách hiểu của Ma-thi-ơ về các gia phổ trong 1 Sử ký là nền tảng giải thích cho việc Ma-thi-ơ nhắc đến “các anh em của Giê-chô-nia” xuất phát từ một số cân nhắc.

  • Thứ nhất , những cái tên bị loại bỏ trong phần thứ hai của gia phổ thường được cho là do vì Ma-thi-ơ muốn giới hạn danh sách chỉ còn 14 thế hệ. Vấn đề là, tại sao lại loại bỏ những người này, mà không phải những người khác? Trong danh sách này, có bốn sự loại bỏ thường được đề cập: Ba vị vua giữa Giô-ram (Joram) và Ô-xia (Uzziah), và Giê-hô-gia-kim (Jehoiakim) giữa Giô-si-a (Josiah) và Giê-chô-nia (Jeconiah). France thấy có năm người bị loại bỏ, lưu ý rằng không chỉ Giê-hô-gia-kim (Jehoiakim) mà cả anh/em trai của ông là Giô-a-cha (Jehoahaz) cũng bị bỏ qua giữa Giô-si-a (Josiah) và Giê-chô-nia (Jeconiah). Thực tế, có sáu người bị bỏ qua: Giê-hô-gia-kim (Jehoiakim) là một trong nhóm ba anh em trong thế hệ giữa Giô-si-a (Josiah) và Giê-chô-nia (Jeconiah), tất cả đều từng là vua. Dường như đặc điểm này đã bị xem nhẹ, đó là, phần thứ hai của gia phổ ghi lại không chỉ một, mà là hai trường hợp: (1) Trường hợp thứ nhất là ba vị vua đã bị loại bỏ như một khối – thuộc ba thế hệ liên tiếp; (2) trường hợp thứ hai là một khối ba anh em thuộc cùng một thế hệ (xem bảng 1).

BẢNG 1

Thế hệTên tiếng Việt (tên tiếng Anh)Ghi chú
1Sa-lô-môn (Solomon)
2Rô-bô-am (Rehoboam)
3A-bi-gia (Abijah)
4A-sa (Asa)
5Giô-sa-phát (Jehoshaphat)
6Giê-hô-ram hoặc Giô-ram (Jehoram or Joram)
A-cha-xia (Ahaziah or Jehoahaz )bị bỏ
Giô-ách (Joash)bị bỏ
A-ma-xia (Amaziah)bị bỏ
7A-xa-ria (Azariah), tức Ô-xia (Uzziah)
8Giô-tam (Jotham)
9A-cha (Ahaz)
10Ê-xê-chia (Hezekiah)
11Ma-na-se (Manasseh)
12A-môn (Amon)
13Giô-si-a (Josiah)
Theo 2 Sử ký 36, sau khi vua Giô-si-a qua đời, thì thứ tự các vua được lập sau ông như sau:
-Thứ nhất là Sa-lum (Shallum), hay còn gọi là Giô-a-cha (Jehoahaz) - con trai thứ tư của Giô-si-a (1 Sử ký 3:16)
- Thứ hai là Ê-li-a-kim (Eliakim), hay còn gọi là Giê-hô-gia-kim (Jehoiakim) - con trai thứ hai của Giô-si-a
- Thứ tư là Sê-đê-kia (Zedekiah) - con trai thứ ba của Giô-si-a, tức chú của Giê-chô-nia (?)
3 vua là anh em của nhau và đều bị bỏ (thành 1 cụm 3 vua trong cùng 1 thế hệ bị bỏ)
14- Thứ ba là Giê-chô-nia, còn được gọi là Giê-hô-gia-kin (Jehoniah or Jehoiachin) - con của Ê-li-a-kim
  • Thứ hai , việc Ma-thi-ơ bỏ qua một cụm ba anh em là điều dễ thấy khi đọc kỹ Sử ký, trong đó ghi rằng ba anh em Giô-a-cha (Jehoahaz), Giê-hô-gia-kim (Jehoiakim) và Sê-đê-kia (Zedekiah) đều từng cai trị như các vua của vương quốc Giu-đa và tất cả đều bị bắt đi lưu đày. Đôi khi trong một số ghi chép có sự nhầm lẫn xảy ra, vì Sê-đê-kia là một cái tên phổ biến trong dòng dõi Đa-vít vào thời điểm của Giê-chô-nia, người được miêu tả là có cả một người chú (1 Sử ký 3:15) và một người anh trai hoặc con trai (1 Sử ký 3:16) tên là Sê-đê-kia. Việc Sê-đê-kia trong 1 Sử ký 3:16 là anh trai hay con trai của Giê-chô-nia vẫn còn tranh cãi, nhưng trong bất kỳ trường hợp nào, việc Ma-thi-ơ gộp Giê-chô-nia vào cụm “các anh em người” (Mt. 1:11) là điều bất thường. Tuy nhiên, 2 Sử ký 36:10 cho biết sau khi Giê-chô-nia bị phế truất và bị lưu đày, Sê-đê-kia là “em/anh trai” của Giê-chô-nia trở thành vua. Cả 2 Vua 24:7 và Giê-rê-mi 37:1 đều xác nhận rằng Sê-đê-kia này không phải là em/anh trai hay con trai ruột của Giê-chô-nia. Thực tế, Sê-đê-kia được gọi là “em/anh trai” của Giê-chô-nia trong 2 Sử ký 36:10 chính là chú của Giê-chô-nia (tức là Sê-đê-kia trong 1 Sử ký 3:15, chứ không phải Sê-đê-kia trong 1 Sử ký 3:16). Tuy nhiên, Sê-đê-kia này vẫn được gọi là “em/anh trai” của Giê-chô-nia. Vì vậy, có ba anh em, tất cả đều thuộc thế hệ trước Giê-chô-nia, đã ngồi lên ngôi vua - hai người trước Giê-chô-nia và một người sau Giê-chô-nia.

  • Thứ ba , ba anh em này có chung số phận bị lưu đày. Tuy nhiên, mặc dù ba anh em - Giô-a-cha (Jehoahaz), Giê-hô-gia-kim (Jehoiakim) và Sê-đê-kia (Zedekiah) - đều bị bắt đi lưu đày, chỉ có Giê-chô-nia (Jeconiah) được gọi là “người bị lưu đày” (1 Sử ký 3:17) trong gia phổ của người biên sử, mặc dù trong câu chuyện của 2 Sử ký 36, ông không phải là vua duy nhất hay thậm chí là vua cuối cùng của vương quốc Giu-đa bị bắt đi lưu đày. Như vậy, chúng ta có hai chi tiết trong Sử ký tạo thành nền tảng giải thích cho việc Ma-thi-ơ nhắc đến “Giê-chô-nia và các anh em người”: (1) 1 Sử ký 3:17 gọi Giê-chô-nia là “người bị lưu đày,” mặc dù ba anh em trong thế hệ trước ông cũng bị bắt làm tù binh, và (2) 2 Sử ký 36:10 gọi một trong ba vua anh em này là “anh/em” của Giê-chô-nia, mặc dù ông này thực ra là chú của Giê-chô-nia.

  • Thứ tư , việc Ma-thi-ơ nhóm “(ba) anh em” trong thế hệ trước lại với Giê-chô-nia phù hợp với cách mà bốn vị vua này được xử lý trong câu chuyện của người biên sử. Trong Sử ký, sự tan rã của quốc gia được tuyên bố qua một nữ tiên tri, là người đã tuyên bố rằng “tất cả các sự rủa sả” được ghi trong Sách Luật Pháp sẽ bị trì hoãn cho đến sau Giô-si-a (Josiah), là vị vua có các cải cách chỉ tạm thời ngừng cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời (2 Sử ký 34:24). Điều này dẫn đến tường thuật của người biên sử về việc cắt đứt dòng dõi Đa-vít qua một loạt bốn mô tả ngắn gọn về “Giê-chô-nia và (ba) anh em người” - những người đều từng là vua và đều kết thúc trong cảnh lưu đày. Bằng cách nhóm ba vị vua này như là “các anh em của Giê-chô-nia”, Ma-thi-ơ đã làm nổi bật ba anh em này như một thế hệ của ba vị vua - những người đã bị ông loại bỏ một cách chính thức và có chung lời nguyền bị lưu đày với vị vua duy nhất được gọi là “người bị lưu đày” trong gia phổ của người biên sử (1 Sử ký 3:17). Việc Ma-thi-ơ nhóm các vị vua này lại nhằm đánh dấu sự cắt đứt nền quân chủ và quốc gia, phù hợp với sự mô tả của người biên sử về bốn vị vua cuối cùng này như là thế hệ mà sự rủa sả về việc bị lưu đày đã giáng xuống.

  • Cuối cùng , mặc dù có thể có vẻ lạ khi coi cha và hai người chú của Giê-chô-nia là “các anh em” của ông, nhưng việc hạ thấp ba vị vua này xuống một thế hệ không phải là không có tiền lệ. Cả Sparks và Wilson đều ghi nhận các ví dụ trong Kinh Thánh và ngoài Kinh Thánh, trong đó người viết gia phổ thực hiện sự thay đổi thế hệ để phản ánh một thực tế xã hội, chính trị hoặc tôn giáo cụ thể. Ví dụ như trong Ê-xơ-ra 8:18-19, Mách-li (Mahli) được gọi là con trai của Lê-vi (Levi) và do đó trở thành là em/anh trai của cha ruột mình, tức Mê-ra-ri (Merari). Tương tự trong 1 Sử ký 15:5-10, hai con trai và một cháu trai của U-xi-ên (Uzziel) được đặt ở cùng một cấp độ gia phả với chính U-xi-ên. Những sự thay đổi thế hệ như vậy có thể xảy ra vì nhiều lý do khác nhau, nhưng trong trường hợp của Ma-thi-ơ, việc hạ thế hệ của ba anh em này để họ đứng cùng thế hệ với Giê-chô-nia - người có danh là “người bị lưu đày,” nhằm đồng hóa họ với thế hệ bị lưu đày và phù hợp với lời tiên tri trong Sử ký rằng các sự rủa sả của giao ước sẽ giáng xuống sau cái chết của vua Giô-si-a (Josiah).

II. NHỮNG NGƯỜI BỊ LOẠI BỎ TRONG GIA PHỔ CỦA MT. 1:1-17
#

2.1. Ba Thế Hệ Liên Tiếp Nhau Bị Loại Bỏ trong Phần Thứ Hai
#

Sau khi tìm ra cơ sở giải thích cho việc đồng hóa ba vị vua thành các “anh em” của Giê-chô-nia, chúng ta vẫn phải giải thích lý do vì sao Ma-thi-ơ bỏ qua ba thế hệ trước đó trong bảng thứ hai. Mặc dù sơ đồ 3 x 14 yêu cầu phải loại bỏ 3 thế hệ để thành 14 thế hệ, nhưng điều này không thể giải thích tại sao Ma-thi-ơ lại loại bỏ ba thế hệ liên tiếp.

Nolland cho rằng việc bỏ qua ba vị vua này là do mong muốn mô tả ba thế hệ liên tiếp này bị cắt đứt khỏi nhà Israel. Một số bằng chứng hỗ trợ quan điểm này:

  • Thứ nhất , mặc dù là một nhóm, ba vị vua này không bị đánh giá là cực kỳ tội lỗi trong truyền thống Kinh Thánh, nhưng họ nổi bật vì họ là những vị vua duy nhất của vương quốc Giu-đa bị giết chết như là hình phạt của Đức Chúa Trời.

  • Thứ hai , Nolland liên kết ba thế hệ này với sự rủa sả được tuyên bố đối với nhà A-háp (Ahab) (1 Vua 21:21-24). Theo Xuất Ê-díp-tô ký 20:5, hình phạt của Đức Chúa Trời sẽ kéo dài đến thế hệ thứ ba hoặc thứ tư. Mặc dù Nolland không đề cập đến điều này, nhưng cơ sở giải thích này rõ ràng không được áp dụng cho các con trai của A-háp, vì tất cả 70 người trong số họ đã bị giết trong cuộc thanh trừng đẫm máu của Giê-hu (2 Vua 10:1-11). Tuy nhiên, Nolland gợi ý rằng Ma-thi-ơ có thể đã áp dụng cơ sở giải thích của Xuất Ê-díp-tô ký 20:5 đối với con gái của A-háp, tức A-tha-li (Athaliah) - người đã mang lời nguyền này đến ba vua của vương quốc Giu-đa - sau khi bà kết hôn với Giê-hô-ram (Jehoram), hay còn gọi là Giô-ram (Joram) của vương quốc Giu-đa. Tất cả điều này là có thể, nhưng 2 Sử ký gợi ý một giải thích thay thế. Ngay cả khi A-tha-li không mang lời nguyền với mình, bà cũng đã dẫn dắt chồng mình, Giê-hô-ram, vào con đường thờ thần tượng của A-háp. Và vì điều đó, chính Giê-hô-ram đã bị nguyền rủa với căn bệnh lạ (2 Sử ký 21:18-19). Điều này không có nghĩa là lời nguyền được hiểu là truyền qua thể xác từ Giê-hô-ram đến con cháu của ông, nhưng nó đã báo trước cái chết bạo lực của ba vị vua tiếp theo.

  • Thứ ba , mặc dù việc bỏ qua ba thế hệ liên tiếp này không được đánh dấu một cách chính thức trong gia phổ, Ma-thi-ơ đã đánh dấu một sự kiện từ thời kỳ này trong câu chuyện của ông. France bác bỏ quan điểm cho rằng Ma-thi-ơ bỏ qua ba vị vua này vì lý do lý tưởng, lập luận rằng các cải cách của Giô-ách (Joash), một trong ba vị vua bị loại bỏ, được coi là tích cực trong truyền thống Kinh Thánh. Nhưng người biên sử không ghi nhận các cải cách là của Giô-ách mà là của thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa (Jehoiada). Dưới sự bảo vệ của thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa, Giô-ách đã sống sót qua chiến dịch của A-tha-li nhằm xóa sổ dòng dõi Đa-vít. Ngay khi Giê-hô-gia-đa qua đời, Giô-ách theo đuổi các thần ngoại giáo. Khi Xa-cha-ri (Zechariah), con trai của Giê-hô-gia-đa, khiển trách Giô-ách, nhà vua đã ra lệnh giết Xa-cha-ri. Khi Xa-cha-ri sắp chết, ông kêu gọi Đức Chúa Trời báo thù cho cái chết của mình. Trước khi năm kết thúc, một đội quân nhỏ từ Syria đã đánh bại đội quân Giu-đa vượt trội, và Giô-ách bị giết. Cách người kể chuyện giải thích chiến thắng của Syria là rõ ràng: “Như vậy, dân Sy-ri xử hình phạt cho Giô-ách.” (2 Sử ký 24:24). Đối với Ma-thi-ơ, án phạt này báo trước một sự phán xét cao trào đối với Giê-ru-sa-lem. Vụ giết Xa-cha-ri được nhắc lại tại cao trào của bảy điều nguyền rủa trong Ma-thi-ơ 23, nơi nó trở thành lý do chủ yếu cho sự trọn vẹn của án phạt mà Đức Chúa Trời sẽ giáng xuống quốc gia Israel (Mt. 23:35). Vì vậy, câu chuyện lớn của Ma-thi-ơ quay lại với những người bị loại bỏ trong gia phổ, thấm nhuần vào đó ẩn ý của những sự loại bỏ có chủ đích.

Khi kết hợp lại, chuỗi ba ba - (1) ba anh em của Pha-rê và Xa-ra (ba người con của Bát Su-a (Beth-shua) - vợ của Giu-đa, và tương ứng với ba con trai của Bát Su-a (Beth-shua) - vợ của Đa-vít), (2) ba “anh em” của Giê-chô-nia, và (3) ba vị vua giữa Giê-hô-ram (Jehoram) và Ô-xia (Uzziah) - không chỉ phản ánh mắt quan sát tinh tường của Ma-thi-ơ đối với các bộ ba mà còn chỉ ra một đặc điểm thường bị bỏ qua trong gia phổ của Ma-thi-ơ, đó là SỰ BỊ LOẠI KHỎI ISRAEL. Những người bị loại tạo thành một sự tương phản rõ rệt với những người được thêm vào (được đại diện bởi những người phụ nữ trong gia phổ).

2.2. Các Thế Hệ Bị Bỏ Qua trong Phần Thứ Ba?
#

Mặc dù việc bỏ qua các thế hệ thường được coi là một đặc điểm của phần thứ hai, nhưng theo như tôi biết, điều này chưa được xem xét như là một khả năng đối với phần thứ ba. Người ta thường cho rằng phần thứ ba của gia phổ của Ma-thi-ơ cung cấp một danh sách những người “được giả sử là người kế vị ngai vàng.” Theo lịch sử thì chỉ những người có tên trong phần thứ hai của gia phổ mới thực sự là những người đã kế vị ngai vàng. Sau khi vương quốc Giu-đa sụp đổ và dân chúng bị lưu đày thì Israel không có vị vua chính thức nào cả. France suy đoán rằng sự chuyển tiếp từ phần thứ hai sang phần thứ ba đại diện cho một sự chuyển tiếp từ những người thực sự là vua sang những người “được cho là vua,” nhưng ông nói rằng điều này “hoàn toàn không thể chứng minh được.” Điều này chắc chắn đúng với các tên được liệt kê sau Xô-rô-ba-bên (Zerubbabel) - những người có tên nhưng không có thêm thông tin gì về họ.

Tuy nhiên, France không lưu ý đến bằng chứng từ nguồn tư liệu chính của Ma-thi-ơ rằng khái niệm về “những người được cho là vua” vẫn có ý nghĩa ngay cả sau Xô-rô-ba-bên, vì người biên sử cung cấp một danh sách kế vị ngai vàng kéo dài sau Xô-rô-ba-bên. Trong sách Sử ký, tài liệu phả hệ sau khi lưu đày được phân chia, nhưng sự phân chia này chỉ mang tính cục bộ: Gia phổ liệt kê tất cả anh chị em trong một thế hệ, nhưng chỉ liệt kê con cháu của một người anh/em trong thế hệ tiếp theo. Nói cách khác, gia phổ tính từ thời điểm bị đi lưu đày vừa có tính phân đoạn vừa có tính chọn lọc. Vì vậy, mặc dù sau khi bị lưu đày, không có người nào được xem là vua một cách chính thức, người biên sử vẫn chọn ra những người được cho là người kế vị của vua. Knoppers nhận xét rằng “theo sau Xô-rô-ba-bên… một sự chú ý quá mức đến thứ tự nội bộ có thể được coi là không cần thiết. Thay vì xem mục đích của gia phổ chỉ đơn giản là một sự chứng minh về sự bền bỉ của dòng dõi … người ta cũng phải chấp nhận thực tế rằng các tác giả của gia phổ lập luận về một sự kế vị đặc biệt trong dòng dõi Đa-vít cho đến điểm của thế hệ cuối cùng.” Thực tế là không có sự lựa chọn nào được thực hiện ở thế hệ cuối cùng (1 Sử ký 3:24) có thể chỉ đơn giản là đánh dấu sự kết thúc phả hệ tại đó (vì việc chỉ định người kế vị ngai vàng được thực hiện bằng cách chỉ định con cháu của chỉ một cá nhân ở thế hệ tiếp theo). Bên cạnh đó, chỉ trong những trường hợp đặc biệt, người được cho là người thừa kế ngai vàng mới được xác định là con trai đầu lòng, điều này cho thấy rằng dòng kế vị được xem xét dựa trên các yếu tố khác hơn là theo quy ước thông thường.

Tuy nhiên, mặc dù có sẵn danh sách những người được cho là kế vị ngai vua (theo quan điểm giả định của nhà biên sử), Ma-thi-ơ đã không làm theo. Truyền thống hậu lưu đày đánh giá Xô-rô-ba-bên là tích cực, nên có khả năng Ma-thi-ơ cũng đánh giá thời kỳ đầu sau khi bị lưu đày là tích cực thể hiện qua việc ông giữ lại hai cái tên (hai thế hệ) đầu tiên sau khi dân Israel bị lưu đày. Mặc dù chúng ta không biết các cái tên còn lại trong phần thứ ba của gia phổ (Mt. 1:13-16) có liên hệ thế nào với Xô-rô-ba-bên, nhưng rõ ràng (i) số lượng tên không đủ để bao phủ toàn bộ thời kỳ này và (ii) tính từ Xô-rô-ba-bên trở về trước, Ma-thi-ơ chỉ khác biệt với người biên sử trong việc ông loại bỏ một số người khỏi gia phổ của người biên sử. Hai đặc điểm này làm tăng khả năng Ma-thi-ơ đã thực hiện điều tương tự trong phần thứ ba y như cách ông đã làm trong phần thứ hai và có thể đã làm trong phần thứ nhất, đó là, LOẠI BỎ những tên có sẵn từ nguồn tư liệu của ông.

2.3. Chúa Jesus, Các Anh Em của Ngài, và “Thế Hệ Này”
#

Nếu Ma-thi-ơ không chỉ loại bỏ các cái tên trong phần thứ hai mà còn làm tương tự cho phần thứ ba, điều này xác nhận rằng thế hệ bị thiếu ở cuối phần thứ ba phải được xem là một câu đố. Dường như Ma-thi-ơ đã cố tình bỏ qua các tên có sẵn để đảm bảo số lượng đạt được 13, mặc dù chính ông tuyên bố rằng ông đã trình bày một gia phổ yêu cầu 14 thế hệ ở mỗi phần.

Vì vậy, không thể nói (như thường được gán cho phần thứ hai) rằng Ma-thi-ơ đã loại bỏ một số thế hệ là nhằm đạt được con số 14. Với thực tế rằng gia phổ của ông yêu cầu 14 thế hệ cho mỗi phần, tại sao ông lại loại bỏ một số thế hệ để giảm số lượng xuống còn 13? Phân tích trước đó về các thế hệ bị bỏ trong gia phổ, cùng với ẩn ý liên quan đến cụm từ “các anh em,” cho chúng ta thấy cách thức mà câu chuyện cung cấp chìa khóa cho câu đố về thế hệ bị thiếu trong phần thứ ba.

CÓ NĂM ĐIỀU CẦN LƯU Ý

Thứ nhất , mặc dù hai phần đầu của gia phổ có cụm từ “và các anh em của,” phần thứ ba lại không có. Tôi cho rằng sự mất cân bằng này tương ứng với sự mất cân bằng do thế hệ bị thiếu trong phần thứ ba gây ra. Như chúng ta đã thấy, trong phần thứ nhất, việc tham chiếu đến “Giu-đa và các anh em của ông” đại diện cho Israel trong thời kỳ ban đầu của quốc gia, trong khi việc tham chiếu đến “Giê-chô-nia và các anh em của ông” trong phần thứ hai đại diện cho một thế hệ bị loại bỏ vào thời điểm quốc gia bị tan rã. Hai sợi dây này hòa lại vào cuối phần thứ ba, nơi thế hệ bị thiếu của Ma-thi-ơ dự báo mối quan tâm của câu chuyện về việc tái cấu trúc Israel.

Vì vậy, rõ ràng là Ma-thi-ơ đã liên kết việc Chúa Jesus bổ nhiệm nhóm Mười Hai với (1) vai trò của họ liên quan đến các chi phái Israel (Mt. 19:28) và (2) với những con chiên lạc của nhà Israel (Mt. 10:6). Nhóm Mười Hai không mang danh tính chi phái cá nhân mà thay vào đó, họ là một tập thể đại diện cho sự hoàn thành các hi vọng trong lời tiên tri về sự phục hồi của Israel. Nhưng sự tái tạo quốc gia Israel (được đại diện bởi những thủ lĩnh mới này) được hình thành thông qua sự đáp ứng của dân Israel đối với sứ điệp mà họ được nghe. Việc tái cấu trúc quốc gia Israel này sẽ làm nhiều người bất ngờ, như đã được ngầm báo trước qua cách tên của những người phụ nữ xuất hiện trong gia phổ: Nhiều người sẽ đến từ phương Đông và phương Tây để dự tiệc với các tổ phụ, trong khi “con cái của vương quốc” lại bị loại bỏ (Mt. 8:11). Tương tự, nhiều người bị cho là xấu nết và có tội trong Israel sẽ đến dự tiệc với Chúa Jesus, trong khi những người tự cho mình là “công chính” thì không được Ngài gọi (Mt. 9:10-13).

Việc tái cấu trúc Israel thông qua cả việc loại bỏ một số người và thêm vào một số người (sự thêm vào này gây sửng sốt cho người Do Thái) là một đặc điểm quan trọng của câu chuyện lớn mà Ma-thi-ơ muốn trình bày, bắt đầu từ sự ra đời của Chúa Jesus. Chúng ta sẽ thấy rõ cách Ma-thi-ơ xâu chuỗi các sự kiện và tạo thành một mạch lý luận cho ẩn ý của ông. Bắt đầu với gia phổ đánh dấu Israel đồng thời cho cả sự phán xét và ơn cứu rỗi thông qua Đấng Mê-si. Gia phổ này chuẩn bị cho người đọc đến với hai cái tên của Chúa Jesus: Jesus (giải cứu) và Emmanuel (ngụ ý thảm họa nếu dân sự từ chối sự hiện diện của Đức Giê-hô-va). Sau đó, Ma-thi-ơ ngay lập tức chuyển sang câu chuyện về các nhà thông thái (các magi), với đức tin và sự nhiệt thành của họ trong việc tôn vinh đứa trẻ là Đấng Christ đối lập với sự lo lắng của vua Hê-rốt “và các thầy tế lễ cả và các thầy thông giáo trong thành Giê-ru-sa-lem”.

Thế hệ bị thiếu ở cuối phần thứ ba của gia phổ tạo thành một khoảng trống mà Ma-thi-ơ sẽ lấp đầy bằng câu chuyện của mình. Nếu “Giu-đa và các anh em người” đại diện cho Israel trong cấu trúc ban đầu của nó, và “Giê-chô-nia và các anh em người” đại diện cho Israel trong kinh nghiệm bị phán xét, thì có lẽ thế hệ bị thiếu ở cuối phần thứ ba là để đặt ra câu đố: Ai là các anh em của Chúa Jesus?

Thứ hai , câu đố này dường như đã được trả lời ở cuối sách Ma-thi-ơ qua việc Chúa Jesus bất ngờ gọi nhóm Mười Hai (trừ Giu-đa Ích-ca-ri-ốt) là “anh em của ta” trong Mt. 28:10. Tại ngôi mộ trống, thiên sứ nói với những người phụ nữ, “Hãy đi mau nói cho môn đồ Ngài” rằng Chúa Jesus đã sống lại và rằng “Ngài đi trước các ngươi qua xứ Ga-li-lê; ở đó, các ngươi sẽ thấy Ngài.” Nhưng khi những người nữ này đang trên đường chạy đi báo tin cho các môn đồ, Chúa Jesus gặp họ. Lời Ngài nói với những người nữ này vọng lại thông điệp mà họ vừa nhận từ thiên sứ: “Hãy đi bảo cho anh em ta đi qua xứ Ga-li-lê, ở đó sẽ thấy ta”. Nhưng có một điều mới trong mệnh lệnh này: Không giống như thiên sứ, Chúa Jesus bây giờ gọi các môn đồ là “anh em của ta.” Lời khẳng định này của Chúa Jesus gây nên một sự chấn động trong tâm trí độc giả, khẳng định cho một thông điệp đã được lặp lại trong sách Ma-thi-ơ, càng rõ ràng hơn khi xét đến địa vị cao quý mà Chúa Jesus đang nắm giữ sau khi Ngài phục sinh: Giống những người phụ nữ trong Mt. 28:9, các môn đồ thờ lạy Ngài (Mt. 28:16-17), nhưng Ngài lại gọi họ là anh em của Ngài.

Đây là lần đầu tiên trong sách Phúc Âm Chúa Jesus gọi nhóm Mười Hai (nay còn 11 do sự phản bội của Giu-đa Ích-ca-ri-ốt) là “các anh em của Ngài.” Câu chuyện đã chuẩn bị cho người đọc cho cao trào này bằng cách đặt câu hỏi ngầm báo trước danh tính của các anh em Chúa Jesus trong Mt. 12:46-50. Trong phân đoạn đó, Chúa Jesus từ chối mẹ và các anh em cùng mẹ với Ngài - những người đứng “bên ngoài”, và chỉ định các môn đồ trong đám đông là “mẹ ta cùng các anh em ta” (Mt. 12:48-49). Người “vĩ đại hơn Sa-lô-môn” (Mt. 12:42) xác định người thân của mình bằng tuyên bố “hễ ai làm theo ý muốn Cha ta” (Mt. 12:50). Mặc dù 11 môn đồ đã không làm theo ý muốn của Cha khi bỏ rơi Chúa Jesus trong sự thương khó của Ngài, câu chuyện cũng đã chỉ ra rằng cái chết của Chúa Jesus sẽ mang lại sự tha thứ cho tội lỗi và thiết lập một giao ước mới (Mt. 26:28). Nhóm Mười Hai trước khi Giu-đa Ích-ca-ri-ốt phản bội đã tượng trưng cho hi vọng phục hồi quốc gia Israel, nhưng giờ đây hi vọng đó trở nên thực tế qua tuyên bố họ là “anh em của Chúa Jesus.”

Hood gần đây đã gợi ý một kết nối có thể có giữa việc Chúa Jesus gọi các môn đồ là “các anh em” trong Mt. 28:10 và việc tham chiếu đến “Giu-đa và các anh em của ông” trong Mt. 1:2 rằng, “Ma-thi-ơ có thể đang tham chiếu đến sắp xếp mà ông đã ám chỉ trong Mt. 1:2, rằng Giu-đa (theo Sáng Thế 49:10) sẽ cai trị các anh em (mười một người) của mình và nhận sự tôn thờ của họ.” Đây là một đề xuất đáng chú ý. Tuy nhiên, Hood không xem xét khả năng rằng hình ảnh cao trào của Đấng Mê-si phục sinh với các anh em của Ngài cũng cung cấp câu trả lời cho câu đố về thế hệ bị thiếu ở cuối phần thứ ba.

Thứ ba , việc Ma-thi-ơ xác định Chúa Jesus phục sinh là Đấng Mê-si giữa “các anh em của Ngài” trả lời một câu hỏi quan trọng được đặt ra trong câu chuyện. Trong câu chuyện của Ma-thi-ơ cho đến thời điểm này, nhóm Mười Hai tượng trưng cho sự khẳng định của Chúa Jesus rằng thời điểm phục hồi Israel đã đến, nhưng trong câu chuyện, không phải nhóm Mười Hai, mà Chúa Jesus mới là người tái hiện vai trò của Israel. Với sự thất bại của nhóm Mười Hai và sự phản bội của Giu-đa Ích-ca-ri-ốt khi câu chuyện đã gần đi đến hồi kết thúc khiến cho khả năng các môn đồ có thể được xác định là quốc gia Israel được phục hồi càng tàn héo. Cũng không rõ bằng cách nào cái chết và sự phục sinh của Chúa Jesus sẽ dẫn đến sự phục hồi của Israel. Chiến lược văn học của Ma-thi-ơ trong việc giải quyết câu hỏi này khác với của Lu-ca - người đã làm rõ vấn đề phục hồi Israel trong sách Công vụ. Bằng chứng là trong sách Công Vụ, việc bổ nhiệm người thay thế Giu-đa Ích-ca-ri-ốt chứng tỏ vai trò liên tục của nhóm Mười Hai trong việc tượng trưng cho sự phục hồi của Israel. Nhưng Ma-thi-ơ không chỉ quan tâm đến việc giải thích sự chết, sự phục sinh, và việc Chúa Jesus được trao quyền làm vua đánh dấu một thời điểm bắt đầu sự tái cấu trúc Israel. Trong sách Phúc Âm của Ma-thi-ơ, người thay thế vị trí của Giu-đa Ích-ca-ri-ốt không phải là một môn đồ khác, mà chính là Chúa Jesus. Nếu, như phần thứ nhất trong gia phổ, nhóm mười hai bao gồm “Giu-đa và các anh em của ông” đại diện cho cấu trúc ban đầu của Israel, thì bây giờ, với sự tôn vinh Chúa Jesus, việc tái cấu trúc Israel như là dân tộc của Đấng Mê-si được đại diện bởi “Chúa Jesus và các anh em của Ngài.”

Thứ tư , điều này không có nghĩa là các môn đồ của Chúa Jesus là thế hệ cuối cùng trong gia phổ. Mt. 1:17 nói rõ rằng 14 thế hệ của phần thứ ba của gia phổ kết thúc với Đấng Christ. Thực tế, Ma-thi-ơ đã để lại một khoảng trống trong gia phổ của mình và sau đó lấp đầy nó bằng Đấng Christ phục sinh và các anh em của Ngài trong câu chuyện sau phục sinh. Điều này giống với giải pháp mà Stendhal đã đề xuất. Stendhal cho rằng thế hệ áp chót trong gia phổ là Chúa Jesus, trong khi thế hệ cuối cùng bị thiếu chính là Đấng Christ phục sinh. Tuy nhiên, tôi cho rằng gia phổ chỉ hoàn thành với sự tiết lộ Chúa Jesus là Đấng Christ cùng với các anh em của Ngài, tạo thành cấu trúc song song với “Giu-đa và các anh em của ông” trong phần thứ nhất và “Giê-chô-nia và các anh em của ông” trong phần thứ hai.

Việc tôi gợi ý rằng khoảng trống ở cuối gia phổ được lấp đầy với “Đấng Christ và các anh em của Ngài” không có nghĩa là gia phổ ám chỉ Chúa Jesus đã sinh ra “Đấng Christ và các anh em của Ngài.” Gia phổ đã tránh sự hiểu lầm vụng về này bằng cách kết nối “Đấng Christ” với “Chúa Jesus” qua cụm từ ὁ λεγόμενος (có nghĩa là “được gọi là”), cụ thể hóa một danh xưng bổ sung, mang tính tiên đoán cho Chúa Jesus trong gia phổ. Đáng chú ý, cấu trúc này xuất hiện một lần nữa ở cuối Phúc Âm, ngay trước khi Chúa Jesus được chứng minh là Đấng Christ qua sự phục sinh, trong hai lần Phi-lát hỏi đám đông: “Các ngươi muốn ta tha người nào, Ba-ra-ba hay là Jêsus gọi là Christ?” và “Vậy, còn Jêsus gọi là Christ, thì ta sẽ xử thế nào?” (Mt. 27:17, 22). Ở chỗ này, cũng giống như trong gia phổ, cấu trúc ὁ λεγόμενος đề xuất một danh xưng thay thế cho Chúa Jesus. Mặc dù đám đông từ chối danh hiệu được đề xuất, nhưng danh xưng này đã được chứng minh qua sự phục sinh của Chúa Jesus. Việc chứng minh rằng Ngài thực sự là Đấng Christ cuối cùng được thiết lập không phải qua câu chuyện về sự sinh ra của Ngài (Mt. 1:1,18) mà là qua sự bắt đầu của sự đổi mới (“παλιγγενεσίᾳ”) (Mt. 19:28). Thực tế là lần đầu tiên, người được minh chứng là Đấng Christ gọi các môn đồ là “các anh em của Ngài” phù hợp với câu chuyện trước đó của Ma-thi-ơ về ơn kêu gọi hoàng gia của nhóm Mười Hai - những người sẽ chia sẻ quyền lợi hoàng gia của Đấng Mê-si (Mt. 19:28; so với Mt. 20:23). Do đó, có một sự liên kết giữa từ γένεσις (nghĩa là “gia phổ, sự giáng sinh”) trong Mt. 1:1,18 với từ παλιγγενεσίᾳ (nghĩa là “sự đổi mới”) của Mt. 19:28 - một sự kiện bắt đầu khi Đấng Christ phục sinh trao quyền cho các anh em của Ngài như là những đại diện của Ngài cho các dân tộc.

Thứ năm , sự phản bội của Giu-đa Ích-ca-ri-ốt làm cho ông ta liên kết với “thế hệ ngoại tình.” Như chúng ta đã thấy, gia phổ ngầm gợi ý rằng việc tái cấu trúc Israel sẽ liên quan đến SỰ LOẠI BỎ. Do đó, trong chương 12, Ma-thi-ơ đối chiếu tuyên bố của Chúa Jesus rằng các anh em của Ngài là những môn đồ làm theo ý muốn của Cha với một loạt các lời cảnh báo về sự phán xét sắp tới đối với “dòng dõi/ thế hệ này” (Mt. 12:38-42). Thế hệ sẽ hoàn thành gia phổ sẽ không phải là Đấng Christ và “thế hệ này”, mà là Đấng Christ và “các anh em của Ngài.” Như Wesley Olmstead kết luận trong một bài luận quan trọng, “Ma-thi-ơ không chỉ nghĩ đến một cuộc khủng hoảng lãnh đạo mà còn là một cuộc khủng hoảng quốc gia.” Nhưng cuộc khủng hoảng quốc gia này sẽ không trì hoãn việc phục hồi quốc gia. Việc Chúa Jesus sau khi phục sinh được trao vương quyền toàn cầu và việc Ngài được xác định là một trong nhóm Mười Hai - vị vua giữa các anh em của Ngài - chắc chắn phải được hiểu là một tuyên bố về danh tính quốc gia của Israel.

III. KẾT LUẬN
#

Trong Mt. 13:52, Ma-thi-ơ miêu tả các thầy thông giáo khi họ đến với Chúa Jesus, họ được tiếp cận những kho tàng mới và cũ. Việc giải các câu đố trong các gia phổ có thể là một thú tiêu khiển điển hình của các thầy thông giáo, nhưng đây lại là một điều quan trọng đối với các môn đồ của Chúa Jesus trong ý nghĩa đây là sự hoàn thành đúng đắn mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời với Israel. Hơn thế nữa, gia phổ còn làm nổi bật nghịch lý của sự phán xét và phục hồi xảy ra đồng thời.

Một xu hướng trong nghiên cứu về Phúc Âm Ma-thi-ơ là xem cuộc bút chiến trong sách này không phải chống lại quốc gia Israel, mà chống lại các lãnh đạo của nó. Do đó, người ta lập luận rằng nếu Chúa Jesus lên án một thế hệ sai lầm, thì điều này phải được hiểu là Ngài lên án các lãnh đạo của quốc gia, chứ không phải quốc gia đó. Cách hiểu gia phổ trong Mt. 1:1-17 như được trình bày ở trên phù hợp với cách hiểu này về câu chuyện của Ma-thi-ơ, vì những người bị loại bỏ trong gia phổ đại diện cho những cá nhân hoặc các lãnh đạo (mang tính cá nhân) đã bị cắt đứt khỏi Israel trong sự phán xét. Tuy nhiên, mặc dù gia phổ ám chỉ có những cá nhân bị loại khỏi Israel, gia phổ cũng cho thấy một sự kế thừa không chỉ của các cá nhân mà còn của “các thế hệ” (Mt. 1:17), trong đó sự bao gồm của từng cá nhân trong Israel được thể hiện qua các cá nhân hoặc lãnh đạo đại diện cho họ. Điều này chuẩn bị cho người đọc nhận ra rằng cuộc tranh luận chống lại “dòng dõi/thế hệ này” không đặt câu hỏi về thực tế Israel được tuyển chọn, mà thay vào đó, đặt câu hỏi về ý nghĩa của việc trở thành Israel. Thật là một nghịch lý không nhỏ khi Ma-thi-ơ chọn một gia phổ để bắt đầu lập luận rằng danh tính của Israel không bao giờ chỉ là vấn đề của tổ tiên theo huyết thống.

Gia phổ của Ma-thi-ơ báo trước sự hiểu biết của ông về thông điệp của Chúa Jesus là một thông điệp về sự phán xét quốc gia, song song với việc tái cấu trúc quốc gia. Lịch sử trước đó của Israel không thiếu những dấu hiệu cho thấy quốc gia này đã được tạo thành như là một dân tộc của Đức Chúa Trời. Bằng chứng là sự can thiệp Đức Chúa Trời, bao gồm cả sự phán xét của Ngài đối với những người thừa kế tiềm năng của các lời hứa của Israel, và việc tiếp nhận những người khác vào gia phổ, mặc dù theo cái nhìn thông thường của con người thì những người này không thể được thêm vào. Thế hệ của Chúa Jesus sẽ thật bi thảm nếu họ từ chối Đấng mà trong Ngài, toàn bộ lịch sử của dân tộc đã đạt được sự viên mãn, và chỉ trong Chúa Jesus danh tính của dân tộc mới được xác định như là dân tộc của Đấng Mê-si. Nếu họ từ chối Chúa Jesus, thì họ sẽ giống những người ở trong thời kỳ bị lưu đày, điều này sẽ không chỉ dẫn đến việc các lãnh đạo của Israel bị loại bỏ, mà còn là một thảm họa quốc gia. Tuy nhiên, sự loại bỏ “dòng dõi/ thế hệ này” không có nghĩa sự phục hồi của Israel sẽ bị trì hoãn. Thay vào đó, Đức Chúa Trời đã và đang làm việc để tái cấu trúc quốc gia Israel như là một quốc gia bao gồm vua và các anh em của Ngài. Đây là câu trả lời của cả câu chuyện cho câu đố về thế hệ cuối cùng bị thiếu trong gia phổ Mt. 1:1 17 (xem bảng 2).

BẢNG 2

Thế Hệ Bị Mất