Skip to main content

BUỔI CHIỀU VÀ BUỔI MAI CỦA SÁNG THẾ KÝ 1:5, DỰA THEO PHI-LÔ

Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God

JOURNAL ARTICLES - GENESIS

GIỚI THIỆU
#

Phân đoạn duy nhất trong đó Phi-lô bàn về hoàng hôn và bình minh của ngày đầu tiên trong công cuộc sáng tạo là Opif. 33–35:

Khi ánh sáng có thể hiểu được là bắt đầu chiếu rọi - ánh sáng được tạo ra trước cả mặt trời - thì đối thủ của nó là bóng tối đã rút lui. Bởi Đức Chúa Trời, Đấng thấu suốt sự đối kháng lẫn nhau và bản chất thù địch giữa chúng, đã phân cách chúng như thể bằng một bức tường, đặt một sự phân chia giữa hai bên. Vì vậy, để chúng không luôn luôn tranh chấp khi ở gần nhau, và để chiến tranh không lấn át sự bình an, gây ra sự hỗn loạn trong vũ trụ, Ngài không chỉ tách biệt ánh sáng và bóng tối, mà còn đặt những hàng rào phân cách trong khoảng không gian giữa chúng, nhằm giữ mỗi bên trong ranh giới riêng của mình. Bởi nếu chúng ở gần nhau, chúng sẽ gây ra sự hỗn độn, tranh giành vị trí ưu tiên, giao chiến liên tục theo bản năng hiếu chiến không ngừng; điều này sẽ xảy ra nếu không có những giới hạn được đặt ra để ngăn chặn sự xung đột lẫn nhau. Những giới hạn ấy chính là hoàng hôn và bình minh; bình minh báo trước tin lành rằng mặt trời sắp mọc, đồng thời nhẹ nhàng đẩy lùi bóng tối; còn hoàng hôn thì đến sau khi mặt trời lặn, giữ lấy sự tiến đến dày đặc của bóng tối một cách yên bình. Cũng cần lưu ý rằng hoàng hôn và bình minh phải được xem là thuộc về trật tự của những điều phi vật chất và có thể hiểu được, vì trong chúng không có gì là cảm nhận được bằng giác quan, mà tất cả đều là ý tưởng, chuẩn mực, hình mẫu và dấu ấn - những thực tại phi vật chất hướng đến việc tạo dựng các thực thể vật chất khác.

Để hiểu rõ chức năng mà hoàng hôn và bình minh đảm nhận như những hàng rào phân cách giữa ánh sáng và bóng tối, cần phải đánh giá tầm quan trọng mà nhà chú giải Kinh Thánh đến từ Alexandria gán cho việc mô tả công cuộc sáng tạo như một sự phân chia vũ trụ.

1. HOÀNG HÔN VÀ BÌNH MINH TRONG SỰ PHÂN CHIA VŨ TRỤ
#

Sự phân chia này, theo Phi-lô, bày tỏ sự công chính của Đức Chúa Trời, Đấng tìm kiếm sự cân bằng giữa các phần và nhờ đó mang lại sự ổn định và hạnh phúc cho thế giới. Thật vậy, liên quan đến Sáng thế ký 15:10: “Người xé đôi các vật đó và đặt hai phần đối diện nhau”, Phi-lô triển khai một luận giải dài về sự phân chia thành các phần bằng nhau và các cặp đối nghịch mà Đức Chúa Trời thực hiện đối với mọi thực tại, cả vật chất lẫn phi vật chất. Trong luận giải này, ông trình bày cách Môi-se liên tục ca ngợi sự bình đẳng, và như một bằng chứng, ông dẫn lại Sáng thế ký 1:4b–5:

“Có khi nào vị lập pháp (Môi-se) ngừng ca ngợi sự bình đẳng, vốn là dưỡng mẫu của sự công chính, ngay từ khi vạn vật trên trời được tạo dựng? Kinh Thánh chép: Đức Chúa Trời phân rẽ ánh sáng ra khỏi bóng tối, và Ngài gọi ánh sáng là ngày, bóng tối là đêm. Sự bình đẳng, thật vậy, đã định vị chỗ đứng cho ngày và đêm, cho ánh sáng và bóng tối giữa các loài thọ tạo.”

Ngày - đêm, ánh sáng - bóng tối là hai cặp đối nghịch mà ông tìm thấy trong văn bản Kinh Thánh, và theo ông, đó chỉ là một trong vô số cặp đối nghịch cấu thành toàn bộ thực tại của thế giới. Ông đang sử dụng một quan niệm vũ trụ học về sự phân chia thành “các cặp đối nghịch”, vốn rất phổ biến trong thời đại của ông, bắt nguồn từ các phạm trù của Heráclito, và được phát triển qua cách giải thích theo trường phái Khắc kỷ (Stoicism) về tác phẩm Timeo của Plato. Phi-lô muốn nhấn mạnh rằng, ngay trước cả Heráclito, chính Môi-se đã trình bày giáo lý này. Dù bản chất của các cặp đối nghịch là có xu hướng chống đối và tiêu diệt lẫn nhau, nhưng nhờ vào sự cân bằng mà Đức Chúa Trời đã thiết lập trong thế giới qua sự bình đẳng, xuất phát từ tấm lòng công chính của Ngài, sự hòa hợp và ổn định được đảm bảo. Như bất kỳ người nào trong thời đại của ông, Phi-lô tin vào ý tưởng về sự hòa hợp vũ trụ và sự đồng cảm phổ quát. Toàn bộ công trình của sự cân bằng và hòa hợp này là kết quả của nghệ thuật và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời, Đấng theo luật bình đẳng và tỉ lệ, đã sinh ra sự bình an trong thế giới, như một “Đấng làm hòa” và “Đấng gìn giữ sự bình an”.

Để thực hiện sự phân chia này, Đức Chúa Trời sử dụng một con dao đặc biệt: chính là Logos (Ngôi Lời) của Ngài. Vai trò công cụ mà Logos đảm nhận trong những phân đoạn khác - dưới hình ảnh “ấn mẫu nguyên thủy” in dấu hình thể của muôn vật - nay được trình bày dưới hình ảnh của một con dao dùng cho sự phân chia vũ trụ.

Tuy nhiên, Logos này không chỉ là Đấng phân rẽ, mà đồng thời cũng là Đấng giữ cho các điều đối nghịch được liên kết và hài hòa, bởi Ngài hiện diện ở giữa, giống như con dao khi cắt thì được đặt giữa hai phần của sinh tế. Hành động vũ trụ của Logos là vừa phân chia vừa kết hợp; Ngài là mối liên kết tạo nên sự gắn bó giữa các yếu tố, ngăn ngừa sự tan rã; Ngài là Đấng kiến tạo sự hòa hợp phổ quát, sự bình an và sự hòa giải.

Xét theo phương diện hành động của Đức Chúa Trời, thì chính Logos là công cụ mà Ngài dùng để phân rẽ ngày và đêm. Nhưng xét theo phương diện của công trình đã hoàn tất, thì bình minh và hoàng hôn là những hiện tượng cảm nhận được bằng giác quan, thực hiện chức năng vũ trụ học ấy. Trong các thực tại vật chất - tầng thấp hơn trong trật tự hiện hữu - những hiện tượng này là kết quả của hành động phân chia và cân bằng của Logos. Trong Opif. 33–35, chúng được mô tả như những giới hạn được đặt trong khoảng không gian trung gian. Tính chất tiến triển của các hiện tượng tự nhiên này - qua đó người ta chuyển nhẹ nhàng và yên bình từ đêm sang ngày và ngược lại - khiến chúng, trong chính bản chất của mình, trở thành biểu hiện của sự bình an và hòa hợp.

2. HOÀNG HÔN VÀ BÌNH MINH, NHỮNG THỰC TẠI CÓ THỂ HIỂU ĐƯỢC
#

Khi đề cập đến hoàng hôn và bình minh trong Sáng thế ký 1:5 như những giới hạn hay ranh giới mà Đức Chúa Trời đã đặt giữa ngày và đêm, Phi-lô muốn nhấn mạnh rằng chúng thuộc về thế giới có thể hiểu được bằng tâm trí, giống như các thực tại khác liên quan đến ngày “thứ nhất”: trời, đất, không khí, khoảng không, linh khí, nước và ánh sáng - những điều ông đã bàn đến trong Opif. 29–32.

Dù bình minh và hoàng hôn là những hiện tượng vật lý, nhưng thực tại của chúng lại khó nắm bắt, bởi chúng là quá trình chuyển đổi. Có lẽ chính sự quan sát tự nhiên này đã thúc đẩy Phi-lô nhắc nhở người đọc rằng chúng ta đang vận hành trong thế giới của các ý tưởng. Qua đó, ông muốn làm nổi bật rằng quan trọng hơn cả những giới hạn vật lý mà Đức Chúa Trời đã đặt giữa các yếu tố của thế giới cảm nhận được, chính là những giới hạn khái niệm mà Ngài đã hình dung và hoạch định để phân định các cặp đối nghịch và toàn thể thế giới. Những cách diễn đạt như “ý tưởng”, “hình mẫu” và “dấu ấn” mà ông dùng để mô tả các thực tại ấy gợi lên toàn bộ hình ảnh về sự sáng tạo của thế giới có thể hiểu được như là khuôn mẫu nguyên thủy cho thế giới vật chất. Tuy nhiên, từ “kích thước” lại phù hợp hơn với cách trình bày vũ trụ học về sự phân chia các cặp đối nghịch, vốn là nền tảng xuyên suốt trong toàn bộ phần bình luận. Việc ông kết hợp cả hai cách diễn đạt này khiến ta có thể suy luận rằng, theo Phi-lô, cả hai mô hình đều có thể được kết hợp: Đức Chúa Trời, như một kiến trúc sư, đã vẽ nên trong tâm trí Ngài bản thiết kế của thế giới mà Ngài sẽ tạo dựng - Ngài thực hiện điều đó, có thể nói, “theo tỷ lệ”, với các kích thước được đo lường và sắp đặt cẩn thận, vạch ra các đường ranh giới để phân chia các cặp đối nghịch hiện hữu trong thế giới.

Tất cả điều này dẫn chúng ta đến khám phá rằng thế giới đã được Đức Chúa Trời hình thành như một sự cân bằng giữa các điều đối nghịch, và vì vậy, sự phân chia vũ trụ không chỉ là một thực tại thuộc về thế giới vật chất, mà còn thuộc về thế giới có thể hiểu được. Và Phi-lô mặc nhiên cho rằng điều này đúng với sự sáng tạo của mọi vật, không chỉ riêng với bình minh và hoàng hôn.

3. HOÀNG HÔN VÀ BÌNH MINH, NHỮNG BIỂU TƯỢNG CỦA TRẠNG THÁI TRUNG GIAN CỦA CON NGƯỜI TRÊN HÀNH TRÌNH TIẾN TỚI NHÂN ĐỨC
#

Không có phân đoạn nào trong các tác phẩm còn lưu giữ của Phi-lô cung cấp cho chúng ta một cách giải nghĩa ẩn dụ về hoàng hôn và bình minh trong Sáng thế ký 1:5. Tuy nhiên, khi hiểu rõ phương pháp giải kinh của vị học giả đến từ Alexandria - người kết hợp ý nghĩa theo nghĩa đen và nghĩa ẩn dụ khi bình luận một đoạn Kinh Thánh - một phương pháp đặc biệt nổi bật trong các trước tác của ông như Cuestiones y Soluciones al Génesisal Exodo, thì người nghiên cứu có thể hợp lý đặt câu hỏi: đâu là cách giải nghĩa biểu tượng của những đoạn Kinh Thánh mà phần bình luận ẩn dụ của chúng, đáng tiếc thay, đã không đến được với chúng ta.

Con đường này là chính đáng, nhất là khi ta ghi nhớ rằng, đối với nhà giải kinh này, Luật pháp giống như một sinh thể sống động, trong đó phần thân thể là ý nghĩa theo nghĩa đen, còn phần linh hồn là tinh thần ẩn giấu trong từng lời. Và đặc biệt, liên quan đến chủ đề mà chúng ta đang khảo sát, ông nhấn mạnh rằng không đủ để chỉ suy luận theo kiểu vũ trụ học, như việc phân chia các cặp đối nghịch, vì điều đó có thể chỉ là lời nói suông của các nhà ngụy biện, không đem lại ích lợi gì cho sự thiện lành của con người. Thay vào đó, cần phải đào sâu vào sự ứng dụng thực tiễn trong đời sống qua việc thực hành đức hạnh.

Với giả định đó, ta có thể hỏi: hướng đi nào cho cách giải nghĩa ẩn dụ về hoàng hôn và bình minh?

Trước hết, cần lưu ý rằng theo Phi-lô, trong bình diện nhân loại học, có một sự phân chia căn bản giữa các điều đối nghịch: sự phân biệt giữa điều thiện và điều ác, giữa đức hạnh và thói xấu. Và thường xuyên, ông liên kết đức hạnh với ánh sáng và sự rực rỡ của buổi trưa, còn thói xấu thì gắn liền với bóng tối và đêm đen.

Trong chiều hướng này, việc giải nghĩa ẩn dụ về hoàng hôn và bình minh có thể được liên kết với một chủ đề thường xuyên được Phi-lô sử dụng: con người trung gian. Về cơ bản, ông dùng khái niệm này để chỉ mức độ trung bình của con người đang tiến bước và trưởng thành trên hành trình chinh phục đức hạnh. Ông diễn đạt điều này qua nhiều biểu tượng: con đường hỗn hợp, nằm giữa con đường dẫn đến Đức Chúa Trời và con đường dẫn đến loài thọ tạo; chiếc cân, nghiêng lên hoặc xuống tùy theo khuynh hướng thiện hay ác chiếm ưu thế; Gia-cốp, người đang tiến bộ trong đức hạnh trong trạng thái tranh đấu như một người tu khổ hạnh, trước khi đạt được trọn vẹn khi Đức Chúa Trời đổi tên ông thành Y-sơ-ra-ên (người thấy Đức Chúa Trời). Trong cuộc chiến ấy, ông không thể bước đi cách dứt khoát mà phải khập khiễng, và trong khải tượng về chiếc thang, ông nhận ra sự lên xuống liên tục của các thiên sứ - biểu tượng cho sự dao động giữa điều thiện và điều ác.

Tóm lại bằng lời của Phi-lô:

“Người đang trên đường tiến bộ không được xếp vào hàng những kẻ đã chết đối với đời sống đức hạnh, vì họ khao khát điều thiện cách mãnh liệt; cũng không thuộc về những người đang sống trong hạnh phúc tối thượng và trọn vẹn, vì họ vẫn chưa đạt đến đích; nhưng họ chạm đến cả hai.”

Vị trí trung gian này tương tự như vị trí của các hiện tượng hoàng hôn và bình minh, điều này có thể mở ra hướng giải nghĩa biểu tượng theo chiều hướng ấy. Nhưng giả thuyết này càng trở nên xác đáng hơn khi ta nhận thấy rằng ở những nơi khác, Phi-lô đã giải nghĩa hoàng hôn một cách ẩn dụ như là biểu tượng cho trạng thái của con người đang tiến bộ. Ông nói rõ điều này khi giải thích ý nghĩa ẩn dụ về lý do tại sao lễ Vượt Qua được dâng lên vào lúc hoàng hôn (xem Xuất Ê-díp-tô ký 12:6):

“Của lễ thật của những linh hồn yêu mến Đức Chúa Trời là từ bỏ ánh sáng trống rỗng và hữu hình để cố gắng bước vào ánh sáng không thể xuyên thấu và vô hình. Giờ hoàng hôn không có ánh sáng rực rỡ như buổi trưa, cũng không hoàn toàn bị bóng tối bao phủ, mà chỉ bị che phủ phần nào, vì nó gần với ban ngày và nằm cạnh ban đêm. Đây chính là trạng thái của những người đang tiến bộ, vì họ chưa hoàn toàn bước vào đức hạnh, cũng chưa an trú trong những điều thuộc đời sống xác thịt.”

Sự sáng rõ của đoạn văn này về cách giải nghĩa ẩn dụ hoàng hôn như là trạng thái của những người đang tiến bộ trong đời sống thuộc linh khiến chúng ta không cần phải giải thích thêm. Chúng tôi chỉ muốn nhấn mạnh rằng ý nghĩa ấy cũng được củng cố bởi sự liên hệ đến lễ Vượt Qua, vốn trong đoạn này cũng như trong những đoạn khác, được Phi-lô giải nghĩa như là sự chuyển từ các dục vọng sang đức hạnh, thông qua trạng thái trung gian của sự tiến bộ - được biểu tượng hóa qua con chiên lễ Vượt Qua.

Ngoài ra, còn có một đoạn khác nơi ông cũng giải nghĩa hoàng hôn theo cùng một cách. Lần này là phần giải thích về Sáng thế ký 19:1: “Hai thiên sứ đến Sô-đôm vào lúc hoàng hôn.”

“Với Áp-ra-ham, có ba vị hiện ra vào buổi trưa; còn với Lót, chỉ có hai vị và vào lúc hoàng hôn. Luật pháp đưa ra một sự phân biệt rất tự nhiên giữa người trọn lành và người đang tiến bộ: người trọn lành có được khải tượng về Ba Ngôi, vốn là một thực thể đầy đủ, sâu nhiệm và tràn đầy - người ấy nhận biết Đức Chúa Cha cùng với hai Quyền năng đầu tiên là các đầy tớ của Ngài; trong khi người kia chỉ nhận biết các Quyền năng đầy tớ mà không thấy được Đức Chúa Cha, bởi người ấy chưa có khả năng nhìn thấy và hiểu Đấng ở giữa, Đấng hướng dẫn các Quyền năng. Hơn nữa, người trọn lành được soi sáng bởi ánh sáng rực rỡ không có bóng tối - ánh sáng của buổi trưa; còn người kia thì được chiếu bởi ánh sáng nằm giữa ngày và đêm, vì hoàng hôn là khoảng thời gian trung gian: không phải là kết thúc của ngày, cũng không phải là khởi đầu của đêm.”

Đoạn văn này cung cấp một dữ liệu bổ sung để hiểu khái niệm của Phi-lô về con người đang trên đường tiến bộ: người ấy chưa có khả năng nhìn thấy Đức Chúa Trời trong sự viên mãn của Ngài. Trạng thái tiến bộ thuộc linh, nhìn từ một góc độ, là cuộc chiến khổ hạnh để vượt qua các dục vọng; nhìn từ một góc độ khác, là sự thiếu khả năng của con người trong việc có được khải tượng và kinh nghiệm huyền nhiệm về Đức Chúa Trời - điều mà chỉ một mình Ngài ban cho những người trọn lành như một ân tứ. Đó cũng chính là tình trạng của người tu khổ hạnh Gia-cốp trước khi trở thành Y-sơ-ra-ên, người thấy Đức Chúa Trời. Trong trường hợp này, hình ảnh ấy được áp dụng cho Lót, người mà theo Phi-lô trong các văn bản khác, là biểu tượng của “sự dao động” - trạng thái trung gian của người chưa hoàn toàn quyết định và còn lên xuống trong đời sống thuộc linh.

KẾT LUẬN
#

Tuy không đi sâu vào việc khảo sát chi tiết quan điểm của Phi-lô về sự tiến bộ trên con đường hướng đến đức hạnh, nhưng để phục vụ cho mục tiêu của chúng ta, chúng tôi xin rút ra một vài kết luận như một sự tổng kết:

  1. Một trong những biểu tượng mà Phi-lô khám phá trong từ “hoàng hôn”, khi nó xuất hiện trong các văn bản Kinh Thánh mà ông bình luận, là trạng thái của “người đang tiến bộ”. Biểu tượng này về trạng thái trung gian phù hợp với cách ông mô tả hoàng hôn như là khoảng thời gian nằm giữa ban ngày và ban đêm, điều mà ông đã trình bày trong phần giải nghĩa theo nghĩa đen của Sáng thế ký 1:5. Mặt khác, thực tại của sự tiến bộ trong đời sống đạo đức tương ứng với ranh giới giữa đức hạnh và tội lỗi, được biểu tượng hóa qua ánh sáng ban ngày và bóng tối ban đêm. Vì vậy, chúng tôi đưa ra giả thuyết có khả năng rằng Phi-lô đã giải nghĩa hoàng hôn trong Sáng thế ký 1:5 theo hướng ẩn dụ như vậy.

  2. Về “bình minh”, chúng tôi không tìm thấy những văn bản tương tự, nhưng có thể giả định rằng, vì đây là một khái niệm tương tự với hoàng hôn về mặt ý nghĩa - cả hai đều là trạng thái trung gian - nên ông đã sử dụng chúng một cách tương đương trong phần giải nghĩa theo nghĩa đen của Opif. 33–34, và gán cho chúng cùng một giá trị biểu tượng.

Tầm nhìn tổng thể mà chúng ta rút ra từ chủ đề này là: Phi-lô xem Đức Chúa Trời là Đấng đặt vào lòng con người khát vọng về điều thiện, và đưa con người ra khỏi khuynh hướng ngược lại - điều ác. Đức Chúa Trời giúp con người thực hiện những bước đầu tiên và tiếp theo, thúc đẩy họ hướng đến đức hạnh. Cuộc hành trình tiến bộ của con người, khi họ rời xa tội lỗi mà chưa đạt đến sự trọn lành, chính là ranh giới hay không gian trung gian mà Đức Chúa Trời cũng tạo dựng trong chính con người; tương tự như khi Ngài tạo dựng thế giới, Ngài đã đặt ra những ranh giới hay khoảng không trung gian của “bình minh và hoàng hôn” giữa ngày và đêm. Những gì xảy ra trong vũ trụ đều có sự tương ứng trong “tiểu vũ trụ” - tức con người - và cụ thể là trong đời sống đạo đức và thuộc linh của họ.

(El Atardecer Y El Amanecer De Gen 1,5, Segun Filon De ALEJANDRIA)