Cụm từ mở đầu của kinh thánh, běrēšît, đã gây ra nhiều khó khăn cho các dịch giả Kinh Thánh. Những khó khăn này đã được ghi nhận từ thời cổ đại cho đến ngày nay. Vấn đề ngữ pháp mà cụm từ này đặt ra đã được Rashi trình bày một cách súc tích vào thời kỳ Trung Cổ:
“Nếu bạn muốn giải nghĩa cụm từ này theo cách hiểu rõ ràng về mặt ngữ pháp, thì hãy giải nghĩa như sau: ‘Khi Đức Chúa Trời bắt đầu công việc sáng tạo trời và đất, lúc đất còn hỗn độn và trống không, tối tăm bao phủ… thì Đức Chúa Trời phán rằng: ‘Hãy có sự sáng.’ Kinh Thánh không có ý dạy rằng trời và đất được tạo trước tiên theo thứ tự thời gian. Nếu có, thì lẽ ra đã viết là ‘vào lúc ban đầu (
bārīšōnā)…”
Vấn đề ở đây là liệu běrēšît có mở đầu một mệnh đề giới từ hay mệnh đề thời gian. Rashi kết luận - chỉ dựa trên phân tích nội tại rằng nó rất có thể là một mệnh đề thời gian. Ông đã đưa ra nhiều ví dụ khác về cách cấu trúc như vậy trong Kinh Thánh tiếng Hê-bơ-rơ. Các nhà ngữ pháp hiện đại gọi loại mệnh đề này là mệnh đề liên hệ không liên từ (asyndetic relative clause). Nó bao gồm một danh từ ở dạng bị ràng buộc (běrēšît) theo sau bởi một động từ hữu hạn (bārā). Các nhà chú giải hiện đại phần lớn đồng thuận với phân tích của Rashi. Một chi tiết bổ sung nữa đã xuất hiện để củng cố cho lập luận của Rashi. Đó chính là sự tương đồng trong các dòng mở đầu của các câu chuyện sáng tạo thuộc Cận Đông cổ đại, vốn cũng bắt đầu bằng một mệnh đề thời gian.
Các dịch giả Kinh Thánh thời kỳ đầu có cách nhìn rất khác so với Rashi hay các học giả Kinh Thánh hiện đại. Trong các bản dịch targum, Bản Bảy Mươi (Septuagint) và Vulgate, cũng như trong các sách midrash và nhiều tác phẩm ngoại điển hay giả kinh, khả năng diễn giải mệnh đề mở đầu như một mệnh đề thời gian đã bị tránh né.
Các bản targum xử lý cụm từ khó dịch này theo hai hướng:
I. PHIÊN DỊCH bĕrēšît NHƯ MỘT CỤM GIỚI TỪ#
Một hướng phiên dịch đơn giản bĕrēšît như một cụm giới từ. Cách diễn đạt này được thấy trong Targum Ongelos, Neofiti và Pseudo-Jonathan, cũng như trong Bản Bảy Mươi và Vulgate.
| Tài liệu | Từ được phiên dịch |
|---|---|
| Onq. | běqadmîn |
| Neof. | millĕqadmîm |
| Ps.-J. | min 'awwělâ' |
| LXX | en arche |
| Vulgate | in principio |
Dù có một số khác biệt nhỏ trong cách dùng từ giữa ba bản targum, nhưng bản dịch cơ bản rất giống nhau: “Vào lúc ban đầu...” Các bài chú giải hiện đại thường cho rằng vấn đề trọng tâm trong câu đầu tiên của sách Sáng Thế Ký là giáo lý sáng tạo từ hư không (creatio ex nihilo). Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu gần đây cho thấy rằng giáo lý này chưa phổ biến trong các cộng đồng Do Thái vào thời kỳ các targum được biên soạn.
Vì vậy, một lời giải thích ngữ pháp đơn giản hơn cần được đưa ra. Trong tiếng Hê-bơ-rơ hậu Kinh Thánh, loại mệnh đề liên hệ không liên từ (asyndetic relative clause) không còn được dùng nữa. Sự hiện diện của cấu trúc này trong các bản văn Kinh Thánh hẳn đã khiến người đọc thời sau thấy nó khá bất thường. Những mệnh đề kiểu này thường được khai triển thêm rất nhiều trong văn học midrash.
Việc dùng một cụm giới từ để diễn giải từ bĕrēšît giúp giải quyết vấn đề ngữ pháp của từ này, nhưng đồng thời lại tạo ra một vấn đề khác. Nếu trời và đất đã được sáng tạo trong câu 1, thì tại sao đất lại được mô tả là hỗn độn và trống không trong câu 2? Phải chăng công việc sáng tạo của Đức Chúa Trời bị khiếm khuyết hoặc chưa hoàn hảo? Vấn đề này cũng được giải quyết trong truyền thống targum. Hãy lưu ý đến cách Targum Neofiti dịch Sáng Thế Ký 1:2:
“Nay đất là
těhî’vàběhî’, nghĩa là hoang vu (şdy) về mặt nhân loại và thú vật, và trống rỗng (ryqn’) về mọi hình thức lao động nông nghiệp và cây cối.”
Văn bản này trước tiên ghi lại các từ tương đương trong tiếng Aram với cặp từ tiếng Hê-bơ-rơ tōhû wābōhu, rồi sau đó giải nghĩa chúng. Thuật ngữ đầu tiên, tōhû, được hiểu là sự thiếu vắng sự sống động vật; thuật ngữ thứ hai, bōhû, là sự thiếu vắng sự sống thực vật.
Cặp từ tōhû wābōhu không còn mang ý nghĩa về một trạng thái hỗn mang nguyên thủy, mà đơn giản chỉ mô tả đất trong tình trạng chưa hoàn thiện. Đất không được sáng tạo trong trạng thái hỗn độn, mà chỉ đơn thuần chưa có sự sống - những điều sẽ được sáng tạo trong các ngày thứ 3, 5 và 6. Công cuộc giải nghĩa Kinh Thánh đã đem trật tự vào nơi chưa có trật tự. Tất cả các bản targum khác cũng đi theo hướng giải nghĩa chung này.
II. PHIÊN DỊCH bĕrēšît THEO HƯỚNG DIỄN GIẢI#
Cách hiểu thứ hai về mệnh đề này mang tính diễn giải nhiều hơn, thậm chí theo phong cách midrash. Truyền thống này hiểu cụm từ běrēšît là “bằng/nhờ sự Khôn Ngoan (Dame Wisdom), [Đức Chúa Trời đã sáng tạo…]”. Cách dịch này được thấy trong Targum phân mảnh (Fragmentary Targum) và Neofiti.
| Tài liệu | Nội dung | Dịch nghĩa Tiếng Việt |
|---|---|---|
| Neofiti | millĕqadmîn běḥokma běrâ’ [mêmrâ]" dYYY wěsaklēl yat šĕmayyâ’ weyat ‘ar’â | “Ngay từ ban đầu, bằng sự khôn ngoan, lời của Đức Chúa Trời đã sáng tạo và hoàn tất trời và đất.” |
| Targum Phân Mảnh (Fragmentary Targum) | br’šyt: běḥokmâ (chú giải bên lề: min lèqadmîn) běrā’ YYY wěšaklēl yat šěmayyâ’ wěyat ‘ar¹â br’šyt | “Bằng sự khôn ngoan [từ ban đầu] Đức Chúa Trời đã sáng tạo và hoàn tất trời và đất.” |
Cơ sở cho cách diễn giải này được tìm thấy trong Châm Ngôn 8:22. Bản văn Masoret đọc như sau:
| Tài liệu | Nội dung | Dịch nghĩa Tiếng Việt |
|---|---|---|
| Bản văn Masoret | Yhwh qānānî rēšīt darkô // qedem mip’ālāyw mē‘āz | “Đức Giê-hô-va đã dựng nên tôi [sự khôn ngoan] là điều đầu tiên trong đường lối của Ngài // trước các công việc khác của Ngài, từ thuở xưa” |
Trong phân đoạn này, Khôn Ngoan được xác định là rēšīt - “khởi nguyên” hoặc “hành động nguyên thủy” trong quá trình sáng tạo. Do đó, Khôn Ngoan hiện diện cùng Đức Chúa Trời trong suốt tiến trình sáng tạo. Phần còn lại của chương 8 Châm Ngôn nhấn mạnh sự hiện diện của Khôn Ngoan bên cạnh Đức Chúa Trời khi Ngài sáng tạo trời và đất. Dù đoạn Kinh Thánh này trong Châm Ngôn mang sắc thái huyền thoại về sự hiện diện của Khôn Ngoan với Đức Chúa Trời, ta cần ghi nhớ vai trò thiết yếu của Khôn Ngoan như người thợ thủ công hay kiến trúc sư.
Kinh Thánh dùng từ này để mô tả khả năng tay nghề của người dựng đền tạm (Xuất Ê-díp-tô Ký 28:3; 31:3,6 và các đoạn khác). Tương tự, một văn bản rabbi diễn giải vai trò của Khôn Ngoan trong Châm Ngôn 8:30 như là “một người thợ” (Sáng Thế Ký Rabba 1:1). Rất có thể ý nghĩa về “kỹ năng chuyên môn” này cũng xuất hiện trong ba phân đoạn khác mô tả việc Đức Chúa Trời dùng sự khôn ngoan để sáng tạo thế giới (Giê-rê-mi 10:12 = 51:15; Thi Thiên 104:24).
Chúng ta đã truy nguyên nguồn gốc của hokmâ trong sự giải nghĩa Sáng Thế Ký 1:1 đến mô tả thần thoại về hokmâ trong tường thuật sáng thế của Châm Ngôn 8. Một khi mối liên hệ này được thiết lập, tiến trình giải nghĩa có thể đảo ngược chiều hướng của nó. Sáng Thế Ký 1:1 sẽ có khả năng tái định hình Châm Ngôn 8:22. Bằng chứng cho sự tái định hình này được tìm thấy trong một số bản thảo của bản Vulgate. Như Burney đã chỉ ra, Jerome biết đến một truyền thống bình luận văn bản đọc rēšît darkô thành bĕrēšît darkô. Cách đọc khác biệt này chỉ có thể được giải thích qua các truyền thống giải nghĩa đã hình thành từ Sáng Thế Ký 1:1.
Cụm từ bĕrēšīt trong Sáng Thế Ký 1:1 không phải là mối quan tâm duy nhất của các bản targum. Vì những lý do cần được giải thích thêm, một số bản targum cũng tái cấu trúc phần cuối của câu này. Chúng ta hãy xem lại Neofiti và Bản Targum Phân Mảnh.
| Tài liệu | Nội dung | Dịch nghĩa Tiếng Việt |
|---|---|---|
| Neofiti | milleqadmîn běḥokmâ běrâ’ [mêmrâ] dYYY wěšaklēl yat šĕmayyâ’ weyat ‘ar’â’ | “Ban đầu, bằng sự khôn ngoan, lời của Đức Chúa Trời đã dựng nên và hoàn thiện trời đất.” |
| Targum Phân Mảnh (Fragmentary Targum) | br’šyt: běḥōkmâ běrâ YYY wěšaklēl yat šěmayyâ’ wěyat ‘arâ’ | “[Ghi chú tiếng Hê-bơ-rơ]: *Bằng sự khôn ngoan, Đức Chúa Trời đã dựng nên và hoàn thiện trời đất.” |
Điều cần lưu ý là sự xuất hiện của động từ šaklēl trong các bản targum. Việc thêm vào động từ này khiến cách hiểu về Sáng Thế Ký 1:1 thay đổi đáng kể. Sáng Thế Ký 1:1 không còn là hành động sáng tạo đầu tiên trong chuỗi các hành động sáng tạo theo trình tự thời gian như được trình bày trong Ongelos và Pseudo-Jonathan. Thay vào đó, với việc đưa vào động từ šaklēl – có nghĩa là “hoàn tất, đội vương miện” hay “đưa đến sự trọn vẹn” – hai bản targum này đã loại Sáng Thế Ký 1:1 ra khỏi khung trình tự thời gian của phần còn lại trong chương. Chắc chắn người biên soạn targum không có ý cho rằng Đức Chúa Trời đã dựng nên và hoàn thiện trời đất trước khi thực hiện các công tác sáng tạo từ Sáng Thế Ký 1:3–27! Thay vào đó, người biên soạn targum đã biến Sáng Thế Ký 1:1 thành một tuyên bố mở đầu về toàn bộ quá trình sáng tạo.
Việc đưa động từ šaklēl vào không phải là không có chủ đích. Nó bắt nguồn từ một phần khác trong tường thuật sáng thế - cụ thể là nỗ lực để hiểu Sáng Thế Ký 2:1–2. Bản tiếng Hê-bơ-rơ chép rằng:
waykullû haššāmayim wěhā’āreș wěkol şĕbā’ām, waykal ’ĕlōhîm…
(“Và trời đất cùng mọi cơ binh của chúng đã được hoàn tất. Và Đức Chúa Trời đã hoàn tất…”)
Chi tiết quan trọng cần lưu ý là sự lặp lại của động từ klh (“hoàn tất”). Phân đoạn Kinh Thánh này dường như có tính thừa. Sự thừa như vậy thường gây khó chịu cho các nhà giải nghĩa thời đầu. Một nguyên tắc căn bản trong việc giải nghĩa Kinh Thánh thời ấy là: Kinh Thánh không bao giờ là dư thừa. Việc trùng lặp, dòng thơ song song, hay truyện lặp đều đòi hỏi sự chú ý hết sức kỹ lưỡng. Mỗi từ ngữ, dòng, hay tường thuật được lặp lại đều phải mang giá trị riêng biệt; không thể bị bỏ qua. Ba bản targum khác nhau đưa ra bằng chứng rõ ràng cho việc các nhà soạn thảo targum đã thấy sự lặp này là một vấn đề:
| Tài liệu | Nội dung | Dịch nghĩa Tiếng Việt |
|---|---|---|
| 1. Targum Phân Mảnh (Frg. Tg.) | wykl: wě’ašlîmû běrīyat šěmayyâ wĕ’ar’â | wykl: “và Ngài hoàn tất công trình sáng tạo trời đất.” |
| wykl: weḥammêd (chú thích biên: wě’ašlîm) | wykl: “và Ngài ước muốn (và hoàn tất)…” | |
| 2. Onqelos | wě ištaklallû šěmayyâ?… wěšêşî YWY… | “và trời đã được hoàn tất… và Đức Giê-hô-va đã hoàn tất…” |
| 3. Targum Samari (A) | wě’it aslû… wěkallel… | “và nó đã được hoàn tất… và được hoàn thiện…” |
Mỗi cách dùng của động từ kll được minh giải rõ ràng qua các bản dịch này. Đặc biệt, cách chọn lựa của targum Ongelos có ý nghĩa quan trọng đối với cách hiểu Sáng Thế Ký 1:1: ông hiểu việc dùng đầu tiên của klh là biểu thị cho hành động đưa sự sáng tạo đến chỗ hoàn hảo (šaklēl).
Thuật ngữ này có một mối liên hệ lâu đời với công trình sáng tạo trong vùng Cận Đông cổ đại. Trong tiếng Aram và tiếng Hê-bơ-rơ Mishnaic, nó dùng để chỉ hành động hoàn tất hoặc trang hoàng một công trình. Sắc thái này - hoàn tất/trang hoàng - được minh họa rất rõ trong Sáng Thế Ký Rabbah 10.2: “Bầu trời được hoàn thiện hay tô điểm với mặt trời, mặt trăng, và các vì sao; còn đất được trang hoàng bằng cây cối, các loài thảo mộc và Vườn Ê-đen”. Thuật ngữ škll có thể được phân tích là một thể động từ gây khiến với tiền tố šin. Dạng chia này hiếm gặp trong tiếng Aram nhưng lại phổ biến trong tiếng Akkadian. Có lẽ không phải ngẫu nhiên khi škll cũng được dùng trong ngữ cảnh liên quan đến sáng tạo và kiến thiết.
Gốc từ škll thường xuất hiện cùng với từ šêšî trong những văn bản mô tả việc xây dựng đền thờ. Hãy chú ý cách hai động từ này được dùng trong Ê-xơ-ra 6:14–15 để diễn tả việc hoàn tất Đền thờ thứ hai:
“Họ hoàn thành công trình xây dựng (
běnô wě-šaklîlû) theo lệnh truyền của Đức Chúa Trời - và đền thờ đã được hoàn tất (šêšî)…”
Có lẽ không phải tình cờ khi targum Ongelos đã phối hợp hai động từ này theo đúng thứ tự đó trong Sáng Thế Ký 2:1–2. Đoạn văn này mở ra chủ đề nghỉ ngơi của ngày Sa-bát. Như Levenson và Blenkinsopp đã chỉ ra, tác giả thuộc nguồn tài liệu P đã có ý kết nối việc khai mạc ngày Sa-bát với việc khánh thành đền tạm hoặc đền thờ. Mối liên hệ này cũng được các nhà giải nghĩa Do Thái sau đó ghi nhận. Levenson nói rằng: “Kinh nghiệm Sa-bát và kinh nghiệm Đền thờ là một. Kinh nghiệm thứ nhất đại diện cho sự thánh hóa trong thời gian, còn kinh nghiệm thứ hai là sự thánh hóa trong không gian - nhưng cả hai lại là một.”
Trong Do Thái giáo thời Đền thờ thứ hai, cũng như trong Do Thái giáo rabbinic, ngày càng có xu hướng đồng hóa hình ảnh đền thờ vào ngày Sa-bát. Điều này được minh họa rõ nét nhất trong các bài cầu nguyện ngày Sa-bát, diễn tả niềm vui trong sự tiệc thánh, phản ánh hình ảnh của ngày này được hình thành từ trải nghiệm tế lễ trong đền thờ. Vì vậy, không lạ khi targum Ongelos đã lồng ghép hình ảnh xây dựng đền thờ vào bài tường thuật về công cuộc sáng tạo ngày Sa-bát.
Điều đáng chú ý là cả Ongelos và Sáng Thế Ký Rabbah 10.2 đều hiểu Sáng Thế Ký 2:1 là điểm kết thúc trong một quá trình sáng tạo khởi đầu từ Sáng Thế Ký 1:1. Một cách hiểu rất khác được tìm thấy trong targum Neofiti và Targum Phân Mảnh. Hai bản này đã đưa hình ảnh škll trở lại vào trong Sáng Thế Ký 1:1 - đối với họ, Sáng Thế Ký 1:1 là một tuyên bố mở đầu về trình tự sáng tạo, chứ không phải là hành động sáng tạo đầu tiên trong tiến trình đó.
Cũng cần lưu ý rằng thuật ngữ škll thường xuất hiện cùng với sự hiện diện của hokmâ. Cặp thuật ngữ này minh chứng cho sự hiện diện của hokmâ ngay lúc khởi đầu công trình sáng tạo, cũng như vai trò của hokmâ trong việc giám sát toàn bộ tiến trình sáng tạo từ Sáng Thế Ký 1:1 đến 2:1. Hai khái niệm này có thể được trình bày một cách diễn giải rõ ràng trong những biên soạn mang tính midrash như Sáng Thế Ký Rabbah (ví dụ, 1:1). Nhưng người biên soạn targum không có tự do để trình bày một cách diễn giải về bản chất tổng quát của hokmâ trong tiến trình sáng tạo. Ý tưởng này phải được dệt nên một cách tinh tế trong từng lớp văn bản.
Cũng đáng chú ý cách mà hai thuật ngữ này được phân bố trong các tài liệu targum: các bản targum như Ongelos và Pseudo-Jonathan, vốn loại bỏ hokmâ khỏi Sáng Thế Ký 1:1, thì cũng đồng thời loại bỏ thuật ngữ škll. Trong khi đó, các targum như Neofiti và Targum Phân mảnh, vốn đưa hokmâ vào, thì cũng đưa škll vào. Nói cách khác, mỗi khi các bản targum đưa hokmâ vào Sáng Thế Ký 1:1 thì họ nhất thiết cũng đưa vào škll; và khi họ loại bỏ hokmâ thì škll cũng bị loại bỏ theo. Hai ý tưởng này rõ ràng được xem là một cặp cố định.
III. PHIÊN DỊCH bĕrēšît THEO CẢ HAI CÁCH#
Cuối cùng, một điểm nữa cần được nêu ra liên quan đến cách hiểu cụm từ bĕrēšît trong các tài liệu targum. Trước đó, chúng ta đã phân biệt giữa những targum hiểu đơn vị ngữ này như một cụm giới từ đơn giản (như các targum Ongelos và Pseudo-Jonathan), và những targum chọn cách diễn giải theo hướng midrash (như Neofiti và Targum Phân Mảnh). Thực ra, mối quan hệ phức tạp hơn thế. Sẽ chính xác hơn nếu xem Tg. Neofiti là phản ánh cả hai cách hiểu. Bằng việc dịch bĕrēšît là: "từ lúc khởi đầu, với sự khôn ngoan...", người biên soạn targum đã dệt nên một cách đầy chủ ý hai yếu tố giải nghĩa thành một bản văn thống nhất.
IV. LIÊN HỆ VỚI GIĂNG 1:1-5#
Trước khi kết thúc bài tiểu luận này, chúng ta nên đặt câu hỏi liệu những phát hiện trên có liên quan gì đến cách diễn giải Giăng 1:1–5 hay không. Một số học giả Tân Ước đã gợi ý rằng khái niệm memrâ trong targum - nghĩa là “lời của Đức Chúa Trời” - cung cấp một nguồn giải nghĩa mang tính Do Thái chấp nhận được cho khái niệm logos trong sách Giăng. Thật đáng chú ý là Targum Neofiti sử dụng cách diễn đạt này để chỉ chủ ngữ của động từ “sáng tạo” trong Sáng Thế Ký 1:1.
Tuy nhiên, một số học giả Tân Ước khác không bị thuyết phục bởi giả thuyết này. Có lẽ lời chỉ trích gay gắt nhất đến từ C. K. Barrett, người đã gọi giả thuyết này là “một ngõ cụt trong việc nghiên cứu bối cảnh Kinh Thánh của giáo lý logos trong sách Giăng.” Những người phản đối nền tảng targum cho rằng việc suy luận của người Do Thái về sự tiền tồn tại của Sự Khôn Ngoan trong thời kỳ Hy Lạp hóa cung cấp một nguồn thích hợp hơn cho logos trong Giăng. Như Brown đã nhận xét, các tài liệu liên quan đến Sự Khôn Ngoan đó cung cấp “các điểm tương đồng theo chủ đề rất phù hợp với hầu như mọi chi tiết trong phần Mở đầu về Ngôi Lời.”
Nghiên cứu này đã đưa ra một cách tiếp cận khác để nhìn nhận cùng một vấn đề. Nếu chúng ta có thể giả định rằng ḥokmâ và logos là những khái niệm có liên hệ, thì cách hiểu về bĕrēšît trong Targum Neofiti sẽ cho thấy một điểm tương đồng đáng kể với Giăng 1:1.
Giống như targum Neofiti, sách Giăng đưa ra một lối giải nghĩa kép về bĕrēšît: một mặt, đó là một cụm giới từ đơn giản (“vào lúc ban đầu”), nhưng mặt khác, nó là sự minh chứng cho hình ảnh tiền tồn tại của Sự Khôn Ngoan (“... là Ngôi Lời”). Hơn nữa, sách Giăng nhấn mạnh rằng toàn bộ công trình sáng tạo được giám sát bởi nhân vật tiền tồn tại ấy (“muôn vật đều do Ngài tạo nên…”), giống như điều mà người biên soạn targum đã làm.
Hai khái niệm “tiền tồn tại” và “giám sát” là không thể tách rời. Vậy ý nghĩa của sự tương đồng này là gì? Nó có thể là sự trùng hợp ngẫu nhiên, hoặc là kết quả của việc phụ thuộc văn chương. Nếu đúng là sự phụ thuộc, thì có thể là trực tiếp (Giăng biết đến một hình thức sơ khai của targum), hoặc cả targum Neofiti và sách Giăng đều phụ thuộc vào một nguồn nào đó (cho đến nay vẫn chưa được biết đến). Dù thế nào, chúng tôi cho rằng những điểm tương đồng này vượt quá mức gợi ý đơn thuần và cần được các học giả Tân Ước nghiên cứu khi khảo sát phần Mở đầu sách Giăng.