Trong Contra Celsum 6,49–51, Origen nhắc đến một trước tác về “trình thuật của Môi-se liên quan đến sự sáng tạo thế giới” mà ông đã viết từ nhiều năm trước. Trước tác này hiện đã thất lạc, chỉ còn lại một vài đoạn rời rạc và những lời dẫn rải rác, được Karin Metzler sưu tầm và xuất bản trong một tập thuộc bộ sách của de Gruyter mang tên Origenes: Werke mit Deutscher Übersetzung.
Trong Contra Celsum 6,49, Origen trình bày một bản tóm lược gồm sáu điểm ông đã bàn đến trong trước tác ấy về sách Sáng thế ký. Tuy nhiên, bản tóm lược không bao quát toàn bộ trước tác, vì sau khi liệt kê sáu điểm, ông nói thêm: “và phần còn lại cũng được trình bày theo cách ấy.” Điều thú vị là, bản tóm lược mà Origen đưa ra về trước tác bàn về công cuộc sáng tạo lại chỉ tập trung vào Sáng thế ký 1:1–5. Ông xem năm câu đầu tiên này là phần trọng yếu - thậm chí có thể là phần trọng yếu nhất - trong trình thuật về sự sáng tạo. Đây là nền tảng trong thần học của ông.
Tôi xin đưa ra một vài gợi ý cho thấy Origen, ít nhất là trong các tác phẩm về sau, đã hiểu hai trong số các câu hỏi ông nêu ra trong bản tóm lược ở Contra Celsum 6,49 theo cách nào - vì chúng liên hệ đến hai khía cạnh quan trọng trong thần học của ông: (1) “Trời và đất” được tạo dựng “ban đầu” là gì? (2) “Vực sâu” và “bóng tối phủ trên nó” là gì?
I. ‘TRỜI VÀ ĐẤT’ TRONG ‘THUỞ BAN ĐẦU’ LÀ GÌ?#
Người ta đều biết rằng Origen không cho rằng năm câu đầu tiên trong sách Sáng thế ký nói về việc sáng tạo vũ trụ vật chất. Mô tả về sự sáng tạo ấy thực sự bắt đầu từ câu thứ sáu. Sáng tạo được nói đến trong Sáng thế ký 1:1–5 là vô hình, phi vật chất. Philo cũng có quan điểm tương tự về những câu mở đầu của sách Sáng thế Ký. Origen đã đọc các tác phẩm của Philo và rõ ràng bị ảnh hưởng bởi cách Philo hiểu Sáng thế ký 1:1–5, dù ông không hoàn toàn lệ thuộc vào Philo.
Ông thường đề cập đến sự sáng tạo vô hình này trong tác phẩm On First Principles, điều đáng tiếc là đó cũng là nơi mà chúng ta ít chắc chắn nhất về những gì ông thực sự nói. Một tuyên bố thường được ông lặp lại khi bàn về sự sáng tạo đầu tiên này trong On First Principles là: “kết cuộc sẽ giống như khởi đầu” (Semper enim similis est finis initiis). John Behr chỉ ra rằng Origen luôn bắt đầu từ cái kết và từ đó, tìm cách để hiểu khởi đầu.
Có một phân đoạn trong thư tín của Barnabas có thể đã ảnh hưởng đến cách Origen suy nghĩ về khởi đầu và kết thúc. Phân đoạn này nói về lời Môi-se phán cùng dân Y-sơ-ra-ên liên quan đến việc nhận lấy xứ tốt lành đượm sữa và mật. Barnabas xem đây như một ẩn dụ và diễn giải qua những phần của tường thuật Sáng thế. Sau đó ông nói: “Và Chúa phán: ‘Này, Ta làm cho những sự cuối cùng trở nên như ban đầu.’ Vì điều này mà đấng tiên tri đã công bố: ‘Hãy vào trong xứ đượm sữa và mật, và hãy cai trị nó.’ Hãy chú ý,” Barnabas thêm, “rằng chúng ta đã được dựng nên một cách mới… Chính chúng ta là những người mà Ngài đã đem vào xứ tốt lành.” Origen cũng phản ánh quan điểm tương tự trong bài giảng thứ hai của ông về Thi thiên 36. Ông nói về câu thứ chín như sau:
“Những người chờ đợi Chúa sẽ nhận được đất làm cơ nghiệp” (Thi thiên 36:9). Đây là một vùng đất khác… Đó là vùng đất mà Kinh Thánh gọi là xứ tốt lành, đượm sữa và mật (Xuất Ê-díp-tô ký 3:8; Phục truyền Luật lệ ký 26:9), là điều mà Đấng Cứu Chuộc hứa ban cho những người nhu mì… (Ma-thi-ơ 5:5). Đây không phải là xứ, mà là “đất khô”, cũng như… đây không phải là thiên đàng, mà là tầng trời (Sáng thế ký 1:9,8)… Chúng ta đang vội vã tiến đến lời hứa về thiên đàng thật, không phải là thiên đàng theo tên gọi, mà là chân lý của tầng trời; và lời hứa không phải là xứ theo tên gọi, mà là chân lý về đất khô là gì."
Trong tác phẩm Bình luận về sách Giăng, Origen mô tả vùng đất thật mà các thánh đồ sẽ tiến đến là “một thế giới khác” (ἕτερος κόσμος), là nơi “toàn bộ là một thế giới vô hình” (κόσμος ἀόρατος), “một thế giới không thể thấy được” (κόσμος οὐ βλεπόμενος), và là “một thế giới tâm linh” (νοητὸς κόσμος). Đây chính là quan niệm của Origen về tận thế, và do đó, theo tôi nghĩ, đây cũng là mô tả của ông về khởi đầu được ghi chép trong Sáng thế ký 1:1.
Phân đoạn Kinh Thánh quan trọng nhất mà Origen dùng làm nền tảng cho suy tư của ông về khởi đầu trong mối liên hệ với tận thế là I Cô-rinh-tô 15:24–28, nói về thời điểm cuối cùng khi Chúa Giê-xu trao vương quốc lại cho Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời trở nên “mọi sự trong mọi sự”; nói cách khác, khi tạo vật một lần nữa được hiệp nhất như thuở ban đầu. Trong On First Principles 3,5,4, Origen viết:
“Tôi nghĩ rằng, vì sự kết thúc và sự viên mãn của các thánh đồ chắc chắn sẽ ở trong những thực tại không thấy được và là đời đời, thì dựa trên sự suy gẫm về kết cuộc này… những loài thọ tạo có lý trí cần được xem là đã có một khởi đầu tương tự. Và nếu họ đã có một khởi đầu như điều họ trông mong về kết cuộc, thì không nghi ngờ gì, họ đã thực sự ở trong những thực tại không thấy được và đời đời ngay từ ban đầu.”
Phân đoạn cuối này nêu lên vấn đề về những loài thọ tạo có lý trí mà người ta cho rằng Origen đã tin là một phần của công cuộc sáng tạo “từ ban đầu,” những loài đã mất kiểm soát, nổi loạn, và gây ra việc sáng tạo thế giới vật chất. Tôi sẽ lập luận rằng đó không phải là viễn cảnh mà Origen hình dung, dù tôi biết có những văn bản dường như mâu thuẫn với quan điểm mà tôi đang trình bày. Tôi sẽ cho rằng quan niệm của Origen về “khởi đầu” được chi phối bởi hai ý niệm chủ đạo.
Ý niệm thứ nhất là sự kết hợp giữa các khái niệm về Sự Khôn Ngoan, Ngôi Lời (Logos), và Đấng Christ. Origen không phân biệt rõ ràng giữa các khái niệm này; thực tế là chúng thường được hòa quyện hơn là được phân biệt.
Ý niệm chủ đạo thứ hai là sự biết trước của Đức Chúa Trời.
Trong quyển đầu tiên của Bình luận về sách Giăng, Origen xác định Đấng Christ là “khởi đầu,” và nói rằng: “Là khởi đầu, Chúa Giê-xu là Đấng sáng tạo, vì Ngài là sự khôn ngoan (I Cô-rinh-tô 1:24,30), được gọi là khởi đầu trong mối liên hệ với sự khôn ngoan. Vì sự khôn ngoan nói trong sách Sa-lô-môn rằng: ‘Đức Chúa Trời đã dựng nên tôi là khởi đầu đường lối Ngài cho công việc của Ngài.’” Sau đó, Origen lấy Giăng 1:4: “Điều đã được dựng nên trong Ngài là sự sống,” và nâng lên như một tuyên bố có tính khuôn mẫu, rồi đặt câu hỏi liệu có thể suy nghĩ rằng “mọi sự đã được dựng nên theo sự khôn ngoan và những mô hình (τύπους) của hệ tư tưởng trong Ngôi Lời.” Ông so sánh điều này, rất giống với tư duy của Philo, với một ngôi nhà khởi đầu từ “những bản vẽ và tư tưởng” của người kiến trúc sư, và ông viết:
“Vậy thì mọi sự đã được dựng nên theo những tư tưởng (λόγους) của những gì sẽ đến, vốn đã được Đức Chúa Trời tiên định (προτρανωθέντας) trong sự khôn ngoan, ‘Vì Ngài đã dựng nên mọi sự trong sự khôn ngoan’ (Thi thiên 103:24). Và chúng ta phải nói rằng sau khi Đức Chúa Trời đã tạo dựng sự khôn ngoan sống động… Ngài đã giao cho nàng nhiệm vụ trình bày, từ những mô hình ở trong nàng, cả sự hình thành (πλάσιν) và những hình thể (εἴδη) cho các vật hiện hữu và cho chất liệu, nhưng tôi e là tôi cũng sẽ nói rằng điều đó cũng bao gồm cả bản thể của chúng nữa.”
Từ “sự hình thành” được dùng ở đây là danh từ gốc của động từ πλάσσω, vốn được dùng trong Sáng thế ký 2:7 để nói về việc Đức Chúa Trời “nắn nên” con người từ “bụi đất.” Đây là sự sáng tạo của thế giới vật chất mà Origen gọi là καταβολῆ κόσμου (thế gian bị ném xuống).
Trong On First Principles 1,4,5, Origen trích dẫn Thi thiên 103:24: “Chúa đã dựng nên mọi sự trong sự khôn ngoan,” và ông viết:
“Nếu ‘mọi sự đều đã được dựng nên trong sự khôn ngoan,’ thì vì sự khôn ngoan luôn hiện hữu, nên trong sự khôn ngoan ấy đã luôn hiện hữu, bởi sự định hình và tiền hình (secundum praefigurationem et praeformationem), những điều sau này mới nhận lấy hiện hữu thực thể (quae protinus etiam substantialiter facta sunt).”
Hãy lưu ý rằng Origen không trao cho “mọi sự” — những điều vốn hiện hữu trong sự khôn ngoan như các hình mẫu và hình thể — hiện hữu thực thể tại thời điểm đó. Nhưng nếu chúng ta kết hợp lời phát biểu này với những gì ông nói trong quyển một của Bình luận về sách Giăng, thì Origen đã nói rằng Đức Chúa Trời giao cho “sự khôn ngoan sống động” nhiệm vụ tạo ra thế giới vật chất từ những tư tưởng mà Ngài đã định hình trước trong nàng.
Phân đoạn lớn trong Philocalia, trích từ quyển 3 của Bình luận về sách Sáng thế ký bị thất lạc, bàn luận về số phận trong mối liên hệ với việc sáng tạo các ngôi sao. Nhưng có một đoạn, theo tôi nghĩ, mang ý nghĩa rộng hơn và có liên hệ đến luận điểm tôi đang trình bày:
“Khi Đức Chúa Trời chú tâm đến khởi đầu của công cuộc tạo dựng thế giới (τῇ ἀρχῇ τῆς κοσμοποιΐας), vì không điều gì xảy ra mà không có nguyên nhân, Ngài đã dò xét trong tâm trí mình từng điều sẽ xảy ra, nhận biết rằng bất cứ khi nào điều này xảy ra, thì điều kia tiếp nối; và nếu điều kia xảy ra, thì điều nọ tiếp nối nữa… rồi tiếp tục đến tận cùng mọi sự, Ngài biết tất cả những gì sẽ xảy ra, nhưng hoàn toàn không phải là nguyên nhân của bất kỳ biến cố nào.”
Ông đang nói về việc Đức Chúa Trời suy gẫm, theo cách nói ẩn dụ, trong sự biết trước của Ngài về mọi điều sẽ tồn tại và xảy ra trong thế gian. Vì Origen đặt hoạt động này tại “khởi đầu của công cuộc tạo dựng thế giới” (τῇ ἀρχῇ τῆς κοσμοποιΐας), nên chắc chắn ông đang nói đến Sáng thế ký 1:1.
Marguerite Harl có một cuộc thảo luận quan trọng về sự biết trước của Đức Chúa Trời liên quan đến sự sáng tạo trong tiểu luận của bà về sự tiền hiện hữu của các linh hồn trong tư tưởng của Origen, với nhan đề: “Tiền hiện hữu của linh hồn hay sự biết trước của Đức Chúa Trời?” Bà nêu lên sự phân biệt của Origen giữa κτίσις (sự sáng tạo) và καταβολή (sự hình thành thế gian); trong đó, từ sau là từ Origen dùng để chỉ thế giới vật chất. Dựa trên sự phân biệt này, bà nói rằng “mọi phân đoạn Kinh Thánh dùng cụm từ ‘trước sự hình thành (katabolē) của thế gian,’ hoặc thậm chí là ‘từ khởi đầu,’ đều có thể được hiểu là nói đến khởi đầu của lịch sử nhân loại, tức là khởi đầu của aiōn này vốn tồn tại trong thời gian.”
Bà cũng lưu ý đến cách Origen sử dụng Thi thiên 73:2: “Hãy nhớ lại hội chúng của Ngài mà Ngài đã có được từ ban đầu,” để khẳng định rằng Hội Thánh đã tồn tại “từ nguồn gốc của nhân loại,” và bà lập luận rằng điều này “không nói đến một thế giới tiền-vũ trụ, tiền-hiện hữu.” Hội Thánh được thiết lập không chỉ bởi các sứ đồ, mà còn bởi các nhà tiên tri và toàn thể các thánh đồ, kể từ khởi đầu của thế giới này. Dù… Phao-lô có nói tiếp, rằng Đức Chúa Trời đã chọn các thánh đồ của Ngài “trước” katabolē kosmou (Ê-phê-sô 1:4), thì sự định trước này không nằm trong một thế giới tiền-hiện hữu, mà là vào thời điểm khởi đầu của lịch sử của “thế gian,” tức là nhân loại. Origen đặt hai cách diễn đạt này trên cùng một bình diện: sự hình thành Hội Thánh theo Thi thiên 73:2, và sự biết trước cùng định trước của Đức Chúa Trời về những người sẽ được nên giống hình ảnh của Con Ngài theo Rô-ma 8:29.
Harl đưa ra những lập luận này dựa trên sự trình bày của Origen về Thi thiên 73:2 trong bản dịch tiếng La-tinh của Rufinus cho tác phẩm Bình luận về Nhã ca.
Hiện tại, chúng ta cũng đã có bài giảng của Origen về Thi thiên 73:2 bằng tiếng Hy Lạp. Trong bài giảng thứ nhất về Thi thiên 73, ông bàn luận như sau: “Hãy nhớ hội chúng của Ngài mà Ngài đã có được từ ban đầu.” Ông dẫn lời của Phao-lô trong Rô-ma 8:29–30, cũng như ông từng làm trong Bình luận về Nhã ca, để làm chìa khóa giúp hiểu rõ ý nghĩa của cụm “có được từ ban đầu.” Origen thêm động từ προεγνώρισεν vào nội dung mà các văn bản hiện tại ghi Phao-lô đã viết. Đây là một từ hiếm và mang ý nghĩa nhận thức mang tính nắm bắt. Trong phần dịch bên dưới, tôi diễn giải nó là “nắm bắt trước.” Origen trích lời Phao-lô như sau: “Ngài đã biết trước thì Ngài cũng nắm bắt trước; kẻ Ngài đã nắm bắt trước thì Ngài định trước; kẻ Ngài đã định trước thì Ngài gọi; kẻ Ngài gọi thì Ngài xưng công chính; kẻ Ngài xưng công chính thì Ngài làm cho vinh hiển.” Origen bình luận: Đức Chúa Trời “biết trước từ ban đầu (ἐν ἀρχῇ) và đã có được trong sự biết trước của Ngài mọi điều được định phải quy phục Ngài.” Rồi ông viết thêm:
“Tôi biết về khởi đầu mà từ đó Đức Chúa Trời có được mỗi người chúng ta; tôi biết về khởi đầu đó vốn sống động và đang sống, vốn phán rằng: “Đức Chúa Trời đã dựng nên tôi là khởi đầu đường lối Ngài cho công việc của Ngài” (Châm ngôn 8:22). Khởi đầu ấy chính là Đấng Christ. Vậy thì Ngài đã có được [khởi đầu ấy] từ ban đầu, từ Đấng Christ, là khởi đầu và cũng là kết cuộc, là Alpha và là Omega (Khải huyền 21:6).
Tầm quan trọng của Sự Khôn Ngoan trong cách Origen hiểu về công cuộc sáng tạo được đề cập trong Sáng thế ký 1:1 được thể hiện qua một đoạn văn ngắn - theo tôi - gắn kết lại các hàm ý từ những văn bản đã được tôi trích dẫn.
“Vì vậy, cần phải tin rằng Sự Khôn Ngoan đã được sinh ra vượt ra ngoài mọi giới hạn của khởi đầu mà chúng ta có thể nói đến hay hiểu được. Và bởi vì ngay trong bản thể của khôn ngoan ấy đã bao hàm tất cả năng lực và hình thể của sự sáng tạo sẽ hiện hữu… toàn thể được hình thành và sắp đặt trước bởi quyền năng của sự biết trước; khôn ngoan, nói qua miệng Sa-lô-môn về chính những tạo vật này - vốn được phác thảo và tiền mô tả trong chính nàng đã nói rằng nàng được tạo dựng như là ‘khởi đầu đường lối’ của Đức Chúa Trời, nghĩa là trong nàng bao hàm cả khởi đầu, nguyên nhân, và bản loại của toàn bộ công trình sáng tạo.”
Khi Origen đặt câu hỏi: “Vậy thiên đàng và đất được tạo dựng từ ban đầu là gì?”, thì câu trả lời mà tôi cho rằng ông đã hình dung không phải là một thế giới đầy rẫy vô số linh hồn lý trí vô hình chạy khắp nơi, mà là sự báo trước (prefiguration) trong Sự Khôn Ngoan về kế hoạch của Đức Chúa Trời cho toàn thể công trình sáng tạo.
II. ‘VỰC SÂU’ VÀ ‘BÓNG TỐI’ TRONG SÁNG THẾ KÝ 1:2 MANG Ý NGHĨA GÌ?#
Trong Thi thiên 77:2, tác giả viết: “Tôi sẽ nói những vấn đề từ ban đầu” (προβλήματα ἀπ᾽ ἀρχῆς). Origen bàn luận về lời này trong bài giảng thứ nhất của ông về Thi thiên 77. Một trong những “vấn đề từ ban đầu” mà ông nêu ra là: “Làm sao có bóng tối bao phủ vực thẳm, và Thần của Đức Chúa Trời vận hành trên mặt nước?” (Sáng thế ký 1:2). Hãy lưu ý rằng câu hỏi về vực thẳm ở đây được đặt dưới dạng câu hỏi “Làm sao?” (πῶς), chứ không phải là “Là gì?” (τίς) như ông từng nêu trong bài bình luận sách Sáng thế trước đó (Contra Celsum 6,49). Tôi cho rằng sự thay đổi hình thức đặt câu hỏi này là điều đáng chú ý. Trước hết, tôi sẽ tiếp cận câu hỏi “Là gì?”, rồi sau đó sẽ xét đến câu hỏi “Làm sao?”
Origen luôn liên kết vực thẳm và bóng tối với Sa-tan và các thế lực tà linh. Ông đưa ra ba phân đoạn Kinh Thánh chủ yếu để kết nối Sa-tan và tà linh với bóng tối và vực thẳm: Giăng 13:27–30, Lu-ca 8:31, và Ê-phê-sô 6:12. Chính qua lăng kính của những văn bản này mà Origen hiểu về vực thẳm.
Trong Bài giảng thứ hai về Thi thiên 36, Origen sử dụng cả văn bản trong Ê-phê-sô lẫn Lu-ca để giải nghĩa Sáng thế ký 1:2:
“Tầng trời này được dựng nên để phân rẽ giữa những điều gian ác với những điều công chính. Đây là cách tôi hiểu lời, ‘Hãy có một tầng trời ở giữa nước, và hãy phân rẽ nước với nước,’ tức là nước ở trên các tầng trời, nước ca ngợi Đức Chúa Trời là không có tội, còn nước ở dưới tầng trời là nước mà chúng ta phải vật lộn cùng (Ê-phê-sô 6:12). Nước thì thấy Đức Chúa Trời, nhưng vực thẳm… thì không thấy Ngài. Vì có chép rằng: ‘Nước đã thấy Chúa, ôi Đức Chúa Trời, nước đã thấy Ngài và run sợ; vực thẳm thì náo loạn’ (Thi thiên 76:17). Vì vực thẳm nơi có ‘bóng tối’ thì không có bình an, theo như lời: ‘Và bóng tối bao phủ vực thẳm,’ tức nơi các quỷ dữ đi đến như thể nơi chốn riêng của chúng để bị quấy rối và gặp các quỷ gây rối khác. Vì chúng đã cầu xin Ngài đừng truyền lệnh đuổi chúng vào vực thẳm (Lu-ca 8:31).”
Đoạn văn này rõ ràng liên kết các thế lực tà linh với vực thẳm. Tuy nhiên, nó không trực tiếp đồng nhất Sa-tan với bóng tối. Origen đã làm điều này trong quyển 32 của Bình luận về sách Giăng, khi ông nói rằng “đêm” mà Giăng nhắc đến lúc Giu-đa rời đi “mang tính biểu tượng, là hình ảnh của bóng đêm trong tâm hồn Giu-đa khi Sa-tan - bóng tối bao phủ vực thẳm - đã bước vào lòng hắn. Vì Đức Chúa Trời đã gọi bóng tối là đêm.”
Cụm từ đồng nhất Sa-tan với bóng tối trên vực thẳm trong Sáng thế ký 1:2 cũng xuất hiện trong một bài giảng về Thi thiên - nhiều khả năng là của Origen - tìm thấy trong các bản thảo tại Tura và được công bố vào năm 1975. Trong Bài giảng thứ nhất về Sáng thế ký, Origen xác định nước ở dưới vầng trời là “nước của vực thẳm, trên đó có bóng tối được nói đến, nơi mà ‘kẻ cầm quyền thế gian này’ cùng kẻ nghịch là ‘con rồng và các thiên sứ của nó’ cư ngụ.” Khi định nghĩa bóng tối trên vực thẳm, ông lấy các cụm từ từ I Phi-e-rơ 5:8 và Khải Huyền 12:7, và có vẻ, ít nhất là phần nào, đồng nhất vực thẳm trong Sáng thế ký 1:2 với vực thẳm trong Khải Huyền 20, nơi Sa-tan - được gọi là “con rồng” cùng với những danh hiệu khác - bị quăng vào.
Một gợi ý về cách Origen hiểu bóng tối và vực thẳm từ góc độ lai thế học được thể hiện trong cách ông bàn về dụ ngôn người giấu nén bạc. Origen nói rằng người ấy là kẻ vô dụng nên đã bị đuổi “vào nơi tối tăm bên ngoài,” nơi không còn nhận thức về Đức Chúa Trời, vì những kẻ bị đưa đến đó là “không xứng đáng để chiêm ngưỡng Đức Chúa Trời.” Ông ghi nhận một quan điểm mà ông từng đọc, lập luận rằng “vực thẳm là nơi ở bên ngoài thế gian, vượt ra cả bóng tối.” Origen không phản bác quan điểm ấy, nhưng ông nói rằng nếu điều đó là đúng, thì chúng ta nên xem người bị quăng vào nơi tối tăm bên ngoài là “không xứng đáng với toàn bộ thế gian,” và “bị đẩy vào vực thẳm… nơi có bóng tối, vì không ai chiếu sáng nó, bởi nó nằm bên ngoài toàn thể thế gian.” Tại đây, Origen chấp nhận khả năng rằng những ai bị quăng vào vực thẳm sẽ không còn đường thoát.
Điều tôi đã lập luận đến thời điểm này: khi Origen trả lời câu hỏi “Là gì?” liên hệ đến Sáng thế ký 1:2, ông xem vực thẳm là nơi cư ngụ của các thế lực tà linh trong vũ trụ dưới quyền Sa-tan, và có thể cũng là nơi ở của những con người gian ác không ăn năn. Giờ đây tôi chuyển sang cách Origen đặt câu hỏi vào cuối đời ông, trong Bài giảng thứ nhất về Thi thiên 77, mà tôi đã trích dẫn từ phần đầu: “Làm sao có bóng tối bao phủ vực thẳm, và Thần của Đức Chúa Trời vận hành trên mặt nước?” (Sáng thế ký 1:2)
Vấn đề về bóng tối và vực thẳm đối với Origen phần nào nảy sinh, theo tôi nghĩ, vì chúng là một phần của sự mô tả về sự sáng tạo trong ngày thứ nhất. Bóng tối và vực thẳm đối với ông chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa - những tiếng vang sâu xa - như chúng ta đã thấy trong cách ông xác định bản chất của chúng khi bàn về khía cạnh “Là gì” của câu hỏi. Ông vật lộn để hiểu chúng tương hợp ra sao với cách ông nhận thức về tường thuật sáng tạo trời và đất được ghi lại trong Sáng thế ký 1:1.
Trong phần mở đầu của Bài giảng thứ tư về Ê-sai, Origen trích cách ông hiểu khải tượng ngai của Ê-sai 6 để nhấn mạnh tính mong manh của mọi phát biểu con người về khởi đầu và kết cuộc. Rồi ông chuyển sang bàn về bóng tối và vực thẳm, và nói rằng:
“Nhưng bóng tối (tenebrae) bao phủ vực thẳm cũng không phải là điều không được tạo ra (ingenitae); vì cả hai đều được dựng nên từ hư không. Hãy nghe Đức Chúa Trời phán trong sách Ê-sai: ‘Ta là Đức Chúa Trời, Đấng đã dựng nên ánh sáng và tạo ra bóng tối’ (Ê-sai 45:7). Hãy lắng nghe sự khôn ngoan tuyên bố trong sách Châm ngôn: ‘Ta đã được dựng nên trước mọi vực thẳm’ (Châm ngôn 8:24). Những điều này không phải là không được tạo nên, nhưng chúng đã được tạo ra khi nào và ra sao thì tôi không biết.”
Làm sao cách hiểu về bóng tối và vực thẳm mà Origen giả định khi ông trả lời câu hỏi “Là gì” có thể hòa giải với lời tuyên bố của Đức Chúa Trời trong sách Ê-sai rằng Ngài đã tạo ra bóng tối, và với lời xác nhận của Sự Khôn Ngoan rằng các vực thẳm đã được dựng nên? Dường như điều đó khiến Đức Chúa Trời trở thành nguồn gốc của mọi quyền lực độc ác trong thế gian.
Origen đã từng vật lộn với vấn đề này trước đó trong quyển hai của Bình luận về sách Giăng, khi ông đặt câu hỏi mức độ bao hàm của cụm “mọi sự” được tạo nên qua Ngôi Lời trong Giăng 1:3 nên được hiểu như thế nào. Trong khi trả lời, ông đã chuyển cách tiếp cận từ cụ thể sang trừu tượng. Câu hỏi chuyển thành: “Ngôi Lời có tạo nên điều ác, tội lỗi và sự gian ác không?” Và câu trả lời là không. Tuy nhiên, mọi loài thọ tạo đều đã được tạo dựng qua Ngôi Lời, và chính các loài thọ tạo phải chịu trách nhiệm về tội lỗi và sự sa ngã. Điều này dẫn ông đến lập luận nổi tiếng rằng ma quỷ là một loài thọ tạo của Đức Chúa Trời nếu xét trên phương diện là một tạo vật, nhưng nó đã chọn quay lưng, vì thế Đức Chúa Trời không phải là Đấng chịu trách nhiệm về sự gian ác của ma quỷ. Lập luận ấy đã cung cấp một lời giải cho câu hỏi “Làm sao?” vào thời kỳ đầu đời của ông. Nhưng về cuối đời, Origen có vẻ như chọn thái độ không biết đối với câu hỏi “Làm sao?” chứ không trả lời nó như cách ông đã làm trong quyển hai của Bình luận về sách Giăng. Trong Bài giảng thứ ba trên Thi thiên 76, ông trích câu 17: “Các dòng nước đã thấy Ngài và run sợ,” rồi ông nói rằng,
“Khi thấy Thần của Đức Chúa Trời vận hành ’trên mặt nước’ vào lúc khởi đầu của công cuộc sáng tạo thế giới… và thấy ‘bóng tối’ không ở ’trên mặt nước’… mà là ’trên vực thẳm’… thì tôi cũng xao xuyến trước những điều được chép trong các phân đoạn này… - bởi vì tầng trời cũng đã được hình thành là do nước, để một phần nước ở lại phía trên và phần còn lại ở bên dưới. Có lẽ… ở đây không phải đang nói đến nước hữu hình, mà là về các quyền năng thuộc về Đức Chúa Trời đang cư ngụ phía dưới tầng trời, trong đó có một phần là vực thẳm, phía trên nó là bóng tối (bởi vì chúng ta cũng đang vật lộn với những quyền lực vũ trụ của bóng tối này [Ê-phê-sô 6:12]). Còn nước ở phía trên, vốn là Thần của Đức Chúa Trời, thì là những quyền năng tốt lành hơn. Vào đúng thời điểm (ἄρτι) thế gian được sáng tạo, thì chỉ có một điều duy nhất (ἕν). Tôi không biết bằng cách nào (ὅπως) những điều ấy chưa bị phân rẽ. Tuy nhiên, sự sáng tạo đã phân rẽ các quyền năng tốt hơn (ἡ δὲ κοσμοποιΐα διέκρινε τὰ κρείττονα), tức là những quyền năng thuộc về Thần của Đức Chúa Trời, ra khỏi các quyền năng xấu hơn (τὰ χείρονα), ngay cả những quyền năng xấu hơn mà bóng tối được nói là nằm trên ‘bề mặt của vực thẳm’ (Gióp 38:30) đã gia nhập vào.
Điều này, theo tôi, là một dạng trả lời khác so với lời giải mà Origen đưa ra trong quyển hai của Bình luận về sách Giăng khi ông còn ở Alexandria vào thời kỳ đầu đời của ông. Nhưng ông lại có vẻ ít chắc chắn hơn về khả năng giải thích nguồn gốc của ma quỷ và các thế lực tà linh vào giai đoạn cuối đời mình.