GIỚI THIỆU#
Đối với nhiều độc giả, việc nhắc đến “cây sự sống” sẽ ngay lập tức gợi lên hình ảnh về khu vườn Ê-đen. Nhiều học giả đã tham gia nghiên cứu các vết tích còn sót lại của vùng Cận Đông cổ để tìm hiểu bối cảnh đương thời của “cây sự sống” trong Sáng thế ký. Trong khi Charles Echols nghiên cứu những cây và thực vật mang lại sự sống được đề cập trong các tài liệu chữ viết cổ của vùng Cận đông, thì Amy Balogh khám phá các hình vẽ, biểu tượng xung quanh các văn bản này. Các kết quả nghiên cứu của họ cung cấp bối cảnh cần thiết để chúng ta chuyển sang tiếp cận với cây sự sống nổi tiếng nhất, tức cây sự sống của Kinh Thánh, dù nó chỉ xuất hiện chớp nhoáng và đầy bí ẩn trong câu chuyện xảy ra trong vườn Ê-đen (Sáng thế ký 2:4-3:24).
Cây sự sống đặc biệt này phủ bóng dài lên cả Kinh Thánh, bắt đầu từ Sáng thế ký cho đến Khải huyền. Quả thật, sự chú ý mà cây nhận được chủ yếu đến từ những gì xảy ra bên ngoài hơn là những gì đã xảy ra trong vườn Ê-đen, nơi nó xuất hiện chỉ hai lần (Sáng thế ký 2:9; 3:22-24). Cây sự sống của Kinh Thánh đã chiếm giữ vị trí đáng kể trong văn học và thần học của biết bao thế hệ độc giả, và không có dấu hiệu nào cho thấy chủ đề này sẽ hạ nhiệt. Dù vậy, nếu chúng ta thu hẹp phạm vi và tập trung sự chú ý vào cây sự sống trong vườn Ê-đen, thì chúng ta sẽ khám phá một số khía cạnh đặc biệt của cái cây nổi tiếng này.
Cây sự sống của Sáng thế ký khơi gợi nơi các độc giả sự tò mò đi kèm với bối rối, đặc biệt là về ba vấn đề sau:
- Đầu tiên, khi cây sự sống lần đầu được giới thiệu trong Sáng thế ký 2:9, tên của nó xuất hiện trong một cấu trúc cú pháp phức tạp, khiến người ta không khỏi đặt câu hỏi về tính mạch lạc của câu này.
- Thứ hai, cụm từ giới từ בתוך הגן (betok haggan) , nghĩa là “ở giữa vườn”, dường như chỉ ra vị trí của hai cây khác nhau. Cụm từ này đã gây nhiều tranh cãi về ý nghĩa và cách sử dụng của nó.
- Thứ ba, cây sự sống không xuất hiện trong phần lớn tình tiết của câu chuyện xảy ra trong vườn Ê-đen, chỉ được nhắc đến đích danh trong Sáng thế ký 2:9 và 3:22–24. Điều này khiến người ta tự hỏi về vai trò của cây sự sống đối với toàn bộ câu chuyện, vì dường như nếu chúng ta loại bỏ các chi tiết về cây sự sống thì tổng thể câu chuyện cũng không hề bị ảnh hưởng. Phải chăng các chi tiết về cây sự sống vốn có trong câu chuyện gốc ngay từ ban đầu, hay câu chuyện đã được biên tập và thêm vào đó các chi tiết về cây sự sống, và chính những chi tiết thêm vào này làm cho câu chuyện trở nên mâu thuẫn?
Nhìn chung, các học giả Kinh Thánh đã áp dụng hai cách tiếp cận riêng biệt khi tìm kiếm câu trả lời cho những câu hỏi này.
Một số tìm câu trả lời trong tiền sử văn học của Sáng thế ký 2–3. Mặc dù chi tiết tái kiến tạo có thể khác nhau tùy học giả, một mô hình chung về Sáng thế ký 2–3 như một văn bản tổng hợp pha trộn hai tường thuật, mỗi tường thuật có một danh sách cây đặc biệt khác nhau, vẫn được chấp nhận rộng rãi.
Những người khác tìm câu trả lời trong các đặc điểm văn học của Sáng thế ký 2–3 trong dạng hiện tại.
Những nhà bình luận Kinh Thánh giới hạn bản thân trong việc giải nghĩa văn bản như chúng ta đang có thông qua một quá trình đọc kỷ luật và nghiêm ngặt. Do đó, chúng ta có thể đối chiếu các cách tiếp cận lịch đại (diachronic approaches 1) - chủ yếu sử dụng bình luận truyền thống, nguồn, và biên tập 2- với các cách tiếp cận đồng đại (synchronic approaches 3) - chủ yếu sử dụng các phương pháp ngữ văn và tự sự học.
Mục đích của tôi trong bài viết này là chỉ ra rằng phương pháp tiếp cận đồng đại (synchronic approach) đối với những chỗ khó hiểu của Sáng thế ký 2–3 có ưu thế hơn cách tiếp cận lịch đại (diachronic approach). Mặc dù các câu hỏi được cách tiếp cận lịch đại khám phá xuất phát từ những chỗ khó hiểu của câu chuyện, việc chia nhỏ Sáng thế ký 2-3 thành các mạch truyện song song hoặc loại bỏ các yếu tố bị cho là do ai đó đã thêm vào sau (giả định rằng có một hoặc nhiều người đã biên tập lại sách Sáng thế ký sau khi tác giả đầu tiên qua đời), sẽ tạo ra thêm các nan đề mới, đòi hỏi các lập luận để giải quyết các nan đề mới này ngày càng mang tính suy đoán hơn. Ngược lại, cách tiếp cận đồng đại có thể tạo ra một cách đọc mạch lạc, tăng độ tin cậy cho câu trả lời cho cùng các nan đề mà hướng tiếp cận thứ nhất không giải quyết thỏa đáng.
Theo tôi, việc loại bỏ cây sự sống khỏi Sáng thế ký 2-3, hoặc cho rằng cây sự sống chỉ có trong một trong số các nguồn giả định là tiền thân của sách Sáng thế ký và trong các truyền thống truyền miệng, là không cần thiết và phản tác dụng. Không cần thiết vì cây sự sống không làm gián đoạn câu chuyện trong vườn Ê-đen, và phản tác dụng vì cây sự sống thực sự được tích hợp vào câu chuyện này một cách sâu sắc và không thể bị loại bỏ.
I. TIẾP CẬN CÂY SỰ SỐNG#
Khi độc giả lần đầu gặp cây sự sống trong Sáng thế ký 2:9, nó nổi bật trên nền của tất cả các cây khác trong vườn: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời khiến đất mọc lên các thứ cây đẹp mắt, và trái thì ăn ngon; giữa vườn lại có cây sự sống cùng cây biết điều thiện và điều ác”. Tên của cây sự sống ngụ ý những phẩm chất đặc biệt của nó, nhưng Sáng thế ký không đưa ra bất kỳ sự giải thích thêm về cây này. Diễn tiến câu chuyện nhanh chóng giới thiệu một cây đặc biệt khác: Cây biết điều thiện và điều ác. Từ đây, cây biết điều thiện và điều ác trở thành trung tâm của câu chuyện. Đức Chúa Trời dặn con người đầu tiên không được ăn trái của cây biết điều thiện và điều ác (2:17). Tuy nhiên, sau khi Đức Chúa Trời tạo ra con người thứ hai, cả hai đã ăn trái của cây bị cấm. Sau khi Đức Chúa Trời đối chất với con người về việc họ đã vi phạm lệnh cấm, cây sự sống một lần nữa xuất hiện. Đức Chúa Trời bày tỏ mối quan ngại rằng nếu con người ăn trái của cây sự sống, họ sẽ được sống đời đời (לעלם “le olam”; 3:22). Sau đó, Ngài trục xuất cặp đôi khỏi vườn và chặn họ vào (3:24).
Nhiều độc giả thấy câu chuyện trong vườn Ê-đen quá thiếu thông tin. Dù đã đọc qua hết những gì câu chuyện cho biết về cây sự sống, thì người đọc cũng không thấy thỏa mãn, vì những gì không được nói rõ sẽ càng kích thích sự tò mò. Ví dụ, người kể chuyện không nói với độc giả những gì mà con người biết (nếu có) về cây sự sống, nếu họ biết thì tại sao họ (có hoặc không) cố ý hay vô tình ăn trái của cây sự sống trước các sự kiện của chương 3, và những tác động cụ thể mà cây sự sống sẽ mang lại cho họ nếu họ ăn trái của nó. Hầu như tất cả các độc giả khi đọc Sáng thế ký 2-3 đều nảy sinh những câu hỏi tương tự, và trí tò mò khiến chúng ta có xu hướng cố gắng “lấp đầy khoảng trống”, vì bản văn Sáng thế ký không đưa ra bất kỳ câu trả lời nào cho những câu hỏi trên.
Những người khác có thể thấy câu chuyện trong vườn Ê-đen không khác gì một đoạn tóm tắt đã được biên tập, vì câu chuyện của hình thức quy điển bóng bẩy nhưng lộ diện nhiều nghi vấn về nguồn gốc tạo thành nó. Kể từ khi ngành nghiên cứu Kinh Thánh hiện đại ra đời, một số độc giả tinh tường đã nhận thấy có quá nhiều sự trùng lặp và mâu thuẫn trong câu chuyện của Sáng thế ký 2:4-3:24, đến nỗi họ đơn giản không thể tin hình thức cuối cùng mà câu chuyện được trình bày như ngày nay là nguyên bản. Đối với các nhà bình luận này, câu chuyện trong vườn Ê-đen cho thấy nó có cấu trúc phức hợp, nghĩa là có dấu vết của (ít nhất) hai câu chuyện tồn tại trước nó, và đã được biên tập tích hợp thành bản văn như chúng ta có ngày nay. Điều này đòi hỏi hai (hoặc nhiều) câu chuyện này phải được bóc tách và xem xét riêng biệt để có thể nhận được các cách xử lý thỏa đáng.
Các dấu vết này bao gồm: khu vườn được dựng lên lặp lại hai lần (2:8,9), Đức Chúa Trời đặt con người vào khu vườn lặp lại hai lần (2:8,15), có hai cây đặc biệt, các loại thức ăn khác nhau sau khi bị trục xuất (3:18, 19), việc trục xuất con người khỏi vườn Ê-đen lặp lại hai lần (3:23,24), và trên hết, tại sao người kể chuyện đặt cây sự sống “ở giữa vườn” (2:9) nhưng người nữ lại sử dụng cụm từ này để chỉ vị trí của cây biết điều thiện và điều ác (3:3). Để trả lời những câu hỏi này buộc chúng ta phải dấn thân vào quá trình bình luận nguồn (source criticism).
Phương pháp tiếp cận đồng đại (synchronic approach) xây dựng sự mạch lạc và phương pháp tiếp cận lịch đại (diachronic approach) nhắm vào những chi tiết không mạch lạc đan xen trong câu chuyện. Những chi tiết mà các nhà bình luận nguồn cho rằng là bằng chứng rõ ràng nhất cho việc câu chuyện trong vườn Ê-đen đã bị biên tập chính là những điểm khó hiểu mà độc giả (áp dụng phương pháp đồng đại) phải nỗ lực hết sức để đọc câu chuyện như một thể thống nhất. Ở chiều ngược lại, các biện pháp nghệ thuật văn học mà các độc giả (theo phương pháp đồng đại) nhận diện, chẳng hạn như phép song song (parallelisms), phép đối ngẫu (chiasms), v.v. lại trở thành bằng chứng cho thấy câu chuyện đã bị biên tập trùng lặp và dư thừa của các nhà bình luận nguồn. Cả hai bên đều quan sát thấy cùng một hiện tượng, khám phá cùng các đặc điểm của bản văn, nhưng cách giải thích lại đi theo những hướng khác nhau.
Baden nhấn mạnh những mâu thuẫn trong cốt truyện là đối tượng chính mà các nhà bình luận nguồn nghiên cứu. Ông viết: “Điều khiến Ngũ Kinh trở nên khó hiểu là cốt truyện mâu thuẫn nội tại sâu sắc của nó. Các phân tích nhằm giải thích các điểm khó hiểu này, tất yếu, phải dựa trên việc giải quyết những mâu thuẫn trong cốt truyện của nó. Đó là lý do tại sao ngành bình luận nguồn tồn tại”.
Baden đang nói về Ngũ Kinh, nhưng những nhận xét của ông cũng áp dụng cho từng sách tạo thành Ngũ kinh, bao gồm cả Sáng thế ký. Liệu câu chuyện trong Sáng thế ký 2–3 thực sự có những mâu thuẫn ở mức độ cốt truyện đến mức không thể đọc nó như một thể thống nhất? Liệu phương pháp bóc tách Sáng thế ký 2-3 thành các tài liệu gốc nhỏ hơn và riêng rẽ là cách duy nhất để giải quyết các mâu thuẫn nội tại của câu chuyện? Hay Sáng thế ký 2–3 trình bày cho độc giả một bản văn khó hiểu nhưng rốt lại vẫn có thể được đọc như một thể thống nhất?
Một số mâu thuẫn của câu chuyện xoay xung quanh cây sự sống. Như chúng ta đã thấy, cây sự sống xuất hiện trong 2:9b, sau đó biến mất. Người kể chuyện và người nữ sử dụng cùng một cụm từ בתוך הגן (“ở giữa vườn”), nhưng mô tả hai cây khác nhau: Người kể chuyện mô tả vị trí của cây sự sống (2:9), trong khi người nữ mô tả vị trí cây biết điều thiện và điều ác (3:3). Cây sự sống chỉ xuất hiện trở lại vào cuối câu chuyện, khi vai trò của nó thúc đẩy việc con người bị trục xuất khỏi vườn (3:22). Trong phần lớn diễn tiến của câu chuyện, cây sự sống hoàn toàn vắng mặt. Sau gần 150 năm xem xét, hầu hết các học giả bình luận văn bản đều đồng ý rằng bản văn quy điển có tất cả những đặc điểm vừa nêu và để giải quyết các điểm được cho là mâu thuẫn, họ đưa ra nhiều lý giải. Để thuận tiện, chúng ta có thể nhóm các lý giải nổi bật nhất thành ba nhóm.
- Câu chuyện ban đầu chỉ có cây biết điều thiện và điều ác. Cây sự sống sau đó được thêm vào.
Bắt nguồn từ Documentary Hypothesis (DH) 4, Buddle đã đưa ra công thức tiên phong về mô hình này khiến J trở thành nguồn chế tác phiên bản gốc của Sáng thế ký 2–3 chỉ có cây biết điều thiện và điều ác. Budde thừa nhận rằng cây biết điều thiện và điều ác trong Kinh Thánh là độc nhất, dường như nó không xuất hiện trong các tác phẩm văn học Cận Đông cổ đại. Thật vậy, Budde ca ngợi “cách các câu chuyện trong Kinh Thánh đắm chìm trong sự hiểu biết sâu sắc của người Israel về Đức Chúa Trời, khác biệt về chân lý, đạo đức, tôn giáo, cũng như sự thánh khiết” so với các quan niệm của người Lưỡng Hà đương thời. Tuy nhiên, theo giả thuyết của Buddle, một biên tập viên thấy tác phẩm siêu việt của Yahwist là chưa hoàn thiện và cảm thấy buộc phải đưa thêm cây sự sống vào câu chuyện, vì cây sự sống phổ biến trong văn hóa dân gian và vì “mọi đứa trẻ đều biết rằng ở thiên đàng có một cây sự sống”.
Pfeiffer mở rộng giả thuyết này vào thế kỷ 21.
- Những câu chuyện song song, một bên có cây sự sống và bên kia có cây biết điều thiện và điều ác, đã được pha trộn thành một câu chuyện với hai cây.
Nguồn J được đề xuất cho Ngũ Kinh thường được chia nhỏ thêm, chẳng hạn như việc chia J thành Je - sử dụng danh xưng Đức Chúa Trời (Elohim) cho đến thời Ê-nót, và Jj - sử dụng danh xưng Đức Giê-hô-va (Yahweh) ngay từ ban đầu. Chấp nhận phân tích này, Gunkel hình dung Je và Jj đều chứa đựng những tường thuật khá tương đồng với Sáng thế ký 2–3. Ông cho rằng Je ra đời sau và tinh tế hơn, Jj cổ xưa và mang tính thần thoại hơn. Trong mô hình của Gunkel, Je chỉ đề cập đến cây biết điều thiện và điều ác, và đóng vai trò là “nguồn chính” để biên soạn J - được “bảo tồn gần như nguyên vẹn” trong J. Các yếu tố từ Jj, bao gồm cây sự sống, đã được lồng ghép vào để tạo ra văn bản tổng hợp J. Gunkel mô tả thêm về nguồn gốc của phiên bản Je trong Sáng thế ký 2–3 là sự kết hợp giữa một câu chuyện về sự sáng tạo và một câu chuyện kể về thiên đàng đã mất. Nhưng ông không cung cấp một sự hiểu biết rõ ràng về việc ban đầu Jj và Je lại bao gồm các tường thuật song song với số lượng cây khác nhau như thế nào.
Mô hình của Smend loại bỏ câu đố này bằng cách đưa ra hai nguồn song song, mỗi nguồn chỉ có một cây. Smend quan sát thấy Sáng thế ký sử dụng hai từ khác nhau để chỉ “đất/ mặt đất” và “bụi”, Smend cho rằng có một phiên bản sớm hơn (trong đó con người ăn trái cây sự sống bị cấm và bị trục xuất khỏi khu vườn để trở thành dân du mục), và một phiên bản muộn hơn (trong đó con người ăn trái cây biết điều thiện và điều ác bị cấm và bị trục xuất khỏi khu vườn để trở thành nông dân). Westermann dựa vào các phân tích của Gunkel và Smend, mặc dù ông cho rằng không có nhiều giai đoạn sáng tác và biên tập trước tài liệu J. Tuy nhiên, Westermann cho rằng J muốn người đọc phân biệt hai cây này: J “muốn cho biết rằng một sự kiện tương đồng đã xảy ra, liên kết cây sự sống với cây biết điều thiện và điều ác”.
- Cây sự sống vốn có trong bản gốc của câu chuyện trong vườn Ê-đen, và cả câu chuyện không thể giữ nguyên ý nghĩa nếu chúng ta xóa cây sự sống khỏi nó.
Không phải tất cả các học giả theo quan điểm cho rằng Sáng thế ký 2–3 trình bày một câu chuyện đã được tổng hợp và biên tập, đều cảm thấy có nghĩa vụ phải phân tách các nguồn tạo thành của nó. Họ đồng ý với giả định rằng chính người kể chuyện hoặc một biên tập viên cuối cùng (nếu có) xem Sáng thế ký 2–3 là một câu chuyện mạch lạc. Lịch sử ủng hộ quan điểm này vì Sáng thế ký 2–3 đã được bảo tồn và truyền lại qua thời gian với hình thức như chúng ta có hiện tại.
Điều này thúc đẩy von Rad “một lần nữa quay lại giải nghĩa câu chuyện theo hình thức hiện tại của nó”. Tất nhiên, một số học giả có thể phản đối vì cho rằng việc quay trở lại với hình thức hiện có chỉ vì đó là hình thức duy nhất còn tồn tại ngày nay. Nhưng Walsh, là học giả đưa ra các kết luận được nhiều người khác đồng tình, đã đi xa hơn nữa khi lập luận rằng “câu chuyện có vẻ mâu thuẫn về người nam và người nữ trong vườn Ê-đen thực chất có cấu trúc và mô hình tổ chức phức tạp, liên quan đến cả những chi tiết nhỏ trong bản văn”, đến mức “nếu xóa bất kỳ chi tiết nào ra khỏi câu chuyện (có thể, ngoại trừ Sáng 2:10b-14) sẽ gây ra hậu quả đáng kể đối với toàn bộ câu chuyện”. Để hòa giải các quan điểm khác biệt, Walsh cho rằng các phương pháp lịch đại và đồng đại nên được tiến hành song song.
Tuy nhiên, như Baden lập luận, “chỉ những mâu thuẫn văn học ở cấp độ cốt truyện” mới cần đến các phương pháp bình luận nguồn. Lý do các học giả tiến hành bóc tách và tái tạo các nguồn giả định là để giải quyết các mâu thuẫn đó. Vì vậy, nếu có một giải pháp khác, khả dĩ và hợp lý hơn, có thể giải quyết được các chỗ khó hiểu, thì việc tái tạo các nguồn giả định là không cần thiết. Thách thức đặt ra cho giải pháp đó là (1) nó không chỉ phải chứng minh được tính mạch lạc của hình thức quy điển của câu chuyện trong vườn Ê-đen mà còn (2) chứng minh tuyên bố của Walsh rằng “nếu xóa bất kỳ chi tiết nào của bản văn … sẽ gây ra hậu quả đáng kể đối với toàn bộ câu chuyện”, nhất là các chi tiết về cây sự sống.
II. SỰ CẦN THIẾT CỦA CÂY SỰ SỐNG#
Cây sự sống chỉ xuất hiện chớp nhoáng hai lần trong câu chuyện trong vườn Ê-đen. Trong Sáng thế ký 2:9b, cây sự sống được nhắc đến là một trong hai loại cây đặc biệt, khác biệt với những loại cây khác trong vườn. Trong Sáng thế ký 3:22–24, cả Đức Chúa Trời và người kể chuyện đều nhắc đến cây sự sống khi giải thích việc con người bị trục xuất khỏi vườn. Trong cả hai lần xuất hiện này, sự hiện diện của cây sự sống dường như làm gián đoạn, hoặc ít nhất là làm xáo trộn, cốt truyện.
2.1. Cây Sự Sống Trong Sáng Thế Ký 2:9b Và Sự Vắng Mặt Của Cây Này Trong Sáng Thế Ký 3:3#
Trong câu chuyện của hình thức quy điển, độc giả lần đầu tiên gặp cây sự sống và cây biết điều thiện và điều ác là trong Sáng thế ký 2:9: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời (Yahweh Elohim) khiến nảy mầm từ đất mọi loại cây đẹp mắt và ăn ngon, và cây sự sống בתוך הגן (ở giữa vườn) và cây biết điều thiện và điều ác.” Trong Sáng thế ký 2:16–17, Đức Chúa Trời phán dặn con người đầu tiên về chế độ ăn uống: Ngài cho phép con người ăn bất kỳ cây nào trong vườn, ngoại trừ cây biết điều thiện và điều ác (Đức Chúa Trời nói rõ tên của cây bị cấm là cây biết điều thiện và điều ác). Tuy nhiên, trong phần đối thoại giữa con rắn và người nữ, người nữ đã nói rằng chỉ có một cây họ bị cấm ăn và đó là cái cây בתוך הגן (“ở giữa vườn”)(3:3). Diễn tiến tiếp theo cho biết cây mà người nữ nói ở giữa vườn đó là cây biết điều thiện và điều ác (3:5).
Vậy, chúng ta có câu đố như sau:
- 2:9 – Tường thuật (lời của người kể chuyện): Cây sự sống là cây ở giữa vườn.
- 2:17 – Đức Chúa Trời phán dặn: Không được ăn cây biết điều thiện và điều ác.
- 3:3 – Người nữ: Cây bị cấm là cây mọc giữa vườn (tức cây biết điều thiện và điều ác, theo 3:5).
Để tái tạo lại các nguồn ban đầu của câu chuyện, phương pháp tiếp cận lịch đại thường loại bỏ cây sự sống khỏi câu chuyện bằng cách: (1) Sửa đổi 2:9b thành “giữa vườn có cây biết điều thiện và điều ác”, hoặc (2) bỏ hẳn 2:9b, và sửa 2:17 thành “nhưng về cây ở giữa vườn thì chớ hề ăn đến”. Cách làm này giúp câu chuyện mượt mà hơn và loại bỏ những chi tiết khó hiểu về cây “mọc giữa vườn”, nhưng đây là việc làm không cần thiết, vì bản văn hiện tại (như tôi sẽ chứng minh bên dưới) vẫn có thế được đọc mà không cần loại bỏ chi tiết nào.
Người ta có thể giả sử rằng cả hai cây đều mọc ở giữa vườn. Sáng thế ký 2:9 thậm chí có thể đã ngụ ý như vậy, thông qua một cấu trúc ngữ pháp đặc biệt, trong đó một cụm giới từ nằm trước các cụm danh từ sẽ bổ nghĩa cho cả hai danh từ. Sự hiểu biết về cú pháp này củng cố trực giác của người đọc rằng vị trí của cả hai cây đều ở giữa vườn; vì thế, giải quyết được mâu thuẫn giữa lời của người kể chuyện trong 2:9 và lời của người nữ trong 3:3. Vấn đề là phải tìm ra bằng chứng cho thấy ở những chỗ khác trong Kinh Thánh cấu trúc này được sử dụng với cùng chức năng.
Mặc dù việc các cụm động từ bị lược bỏ khá phổ biến, nhưng hiếm khi bắt gặp trường hợp cụm giới từ bị lược bỏ. Tuy nhiên, Dillmann chỉ ra trường hợp của 1 Sa-mu-ên 6:11, “họ đặt hòm của Yahweh [Đức Giê-hô-va] lên (אל, ʾel) xe đẩy và cái hộp đựng,” được hiểu là “họ đặt hòm của Yahweh [Đức Giê-hô-va] lên xe đẩy và họ đặt cái hộp đựng lên xe đẩy.”
Michel và theo sau là Mettinger trích dẫn một ví dụ mà họ nhận xét là “đặc biệt giống với Sáng thế ký 2:9”: Xuất Ê-díp-tô ký 24:4b, “[Môi-se] dựng một bàn thờ dưới (תחת , tahat) chân núi, và dựng mười hai cây trụ,” được hiểu là “[Môi-se] dựng một bàn thờ dưới chân núi, và dựng mười hai cây trụ dưới chân núi.”
Một trường hợp khác, đáng được xem xét, là 1 Sa-mu-ên 7:3, vì trong câu này có sử dụng từ תוך, tāvek (có nghĩa là “ở giữa”) - “khá cất khỏi giữa các ngươi những thần lạ và tượng Át-tạt-tê", được hiểu là “khá cất khỏi giữa các ngươi những thần lạ và khá cất khỏi giữa các ngươi tượng Át-tạt-tê”.
Một ví dụ khác là 2 Các Vua 5:23, vì cách sử dụng giới từ chỉ vị trí ב , bĕ– (có nghĩa là “trong”) - “[Na-a-man] để hai ta-lâng bạc vào trong hai cái bao và hai bộ áo,” được hiểu là “[Na-a-man] để hai ta-lâng bạc vào trong hai cái bao, và ông để hai bộ áo vào trong hai cái bao (tức hai cái bao đã có hai ta-lâng bạc)”.
Những sự tương đồng về cú pháp này, tuy không nhiều, nhưng đủ để cung cấp bằng chứng rõ ràng về việc các tác giả Kinh Thánh có lược bỏ cụm từ giới từ, tương tự như cách họ lược bỏ cụm động từ (hiện tượng lược bỏ cụm động từ xảy ra thường xuyên hơn). Vậy thì, Sáng thế ký 2:9b có thể được hiểu như sau:
“… cây sự sống ở giữa vườn và cây biết điều thiện và điều ác ở giữa vườn.”
Nếu người kể chuyện đặt cả hai cây ở giữa vườn, thì câu hỏi của Zevit là hợp lý, dù sẽ khiến chúng ta tiếp tục rơi vào thế khó, đó là tại sao người nữ chỉ nói về một cây ở giữa vườn? Zevit cho rằng có thể בתוך הגן (“ở giữa vườn”) ám chỉ khu vực bao gồm hầu hết mọi vị trí trong vườn, miễn không phải là vị trí sát các cạnh của khu vườn. Mở rộng ra, Zevit cho rằng “không có thông tin nào trong Sáng thế ký 2:9 bảo đảm cho giả định rằng hai cây này thậm chí mọc gần nhau”.
Quan điểm của Zevit được nhấn mạnh bởi thực tế là giới từ בתוך (“ở giữa”) đôi khi không thể phân biệt được với giới từ ב (“trong”). Bởi lẽ giới từ này có thể được dùng để chỉ sự hiện diện của một cái gì đó hoặc ai đó trong một vật khác mà không ngụ ý chỉ một vị trí cụ thể. Chẳng hạn như khi Đức Chúa Trời và Áp-ra-ham thảo luận về số lượng người công bình có thể được tìm thấy בתוך thành Sô-đôm” (bối cảnh cho thấy בתוך ở đây có nghĩa là “‘trong’ thành Sô-đôm”) .
Tuy nhiên, trong phần đối thoại giữa con rắn và người nữ, lời nói của người nữ cho thấy bà phân biệt được cây bị cấm với tất cả các cây khác bằng vị trí của nó. Chứng tỏ người nữ phải hiểu rõ cụm giới từ בתוך הגן (“ở giữa vườn”) là một vị trí cụ thể giúp nhận diện cây bị cấm. Như vậy, 2:9b chỉ có thể được hiểu là “cây sự sống mọc ở giữa vườn và cây biết điều thiện và điều ác cũng mọc ở giữa vườn” ngụ ý hai cây đứng tương đối gần nhau trong cùng một địa điểm mà cụm từ בתוך הגן (“ở giữa vườn”) đủ để phân biệt với các vị trí khác.
Một số học giả đã thử kiểm tra giả định rằng điều người nữ nói với con rắn trong Sáng thế ký 3:3 có nghĩa là cả cây sự sống và cây biết điều thiện và điều ác đều là các cây bị cấm: “… song về phần trái của [các] cây mọc giữa vườn …” Giả định này xuất phát từ khả năng dạng số ít của từ “cây” (עץ,ʿēṣ ) cũng có thể được dùng để chỉ số nhiều, nghĩa là “cây cối”. Lời của người nữ nói trong Sáng thế ký 3:2a, “chúng ta được ăn trái của עץ [cây cối] trong vườn”, cho thấy người nữ sử dụng đại từ “cây” số ít để chỉ cho số nhiều. Các hậu tố đại từ số ít trong các cụm từ như “ăn từ nó” (3:3, 5) và “trái của nó” (3:6) không bác bỏ cách giải thích này, vì Lê-vi Ký 26:4b chứng minh rằng hậu tố đại từ số ít cũng được sử dụng để chỉ cho số nhiều.
Tuy nhiên, lời của con rắn trong 3:4-5 chỉ tập trung vào việc có được sự biết điều thiện và điều ác; con rắn không hề nhắc đến sự sống đời đời. Tất nhiên, cũng có thể là do con rắn đã thu hẹp phạm vi trò chuyện, nhưng diễn tiến tiếp theo của câu chuyện cho thấy người nữ không hề tỏ ra là bà cần phải hỏi để làm rõ gì thêm trước khi hái trái của cây biết điều thiện và điều ác. Vì vậy, lập luận dựa việc người nữ sử dụng đại từ עץ (“cây”) số ít để chỉ số nhiều không đủ vững chắc để chứng minh cho giả định cây sự sống cũng là cây bị cấm.
Trong Sáng thế ký 2:17, Đức Chúa Trời cấm con người đầu tiên ăn trái từ cây biết điều thiện và điều ác (Ngài gọi cây bị cấm bằng tên cụ thể). Trước khi con người vi phạm lệnh cấm, họ thiếu khả năng nhận thức mà con rắn và Đức Chúa Trời mô tả là “biết điều thiện và điều ác”. Có lẽ, tương tự như vậy, con người (1) không biết về sự tồn tại của cây sự sống (vì Đức Chúa Trời không đề cập đến cây sự sống với con người trong Sáng thế ký 2:16–17). Hoặc (2) có lẽ với họ, cây sự sống có vẻ giống như bất kỳ cây nào khác. Việc Đức Chúa Trời sử dụng cụm từ “vậy bây giờ” trong 3:22 có thể ngụ ý rằng trước đây con người chưa từng ăn trái của cây sự sống, bất kể lý do là gì. Có thể, để đảm bảo con người không ăn trái của cây sự sống một cách tình cờ, ngay từ đầu Đức Chúa Trời đã chủ động hạn chế con người tiếp cận cây sự sống, hoặc che giấu nó khỏi con người. Bất kỳ kịch bản nào trong số này cũng có thể giải thích tại sao người nữ chỉ đề cập đến một cây ở giữa vườn khi đối thoại với con rắn.
Tuy nhiên, những cách giải thích trên có vẻ không đủ tinh tế, vì đối xử với các nhân vật quá cứng nhắc. Trong cuộc đối thoại với con rắn, người nữ đã trích dẫn một lệnh cấm, nhưng người kể chuyện để cho người đọc tự tưởng tượng xem người nữ biết được lệnh cấm này bằng cách nào. Mạch truyện trước đó cho thấy người nữ chưa được dựng nên khi lệnh cấm được phán dặn lần đầu tiên. Theo Sáng thế ký 2, người kể chuyện đã chia loài người thành một người nam và một người nữ. Tuy nhiên, mối quan hệ của họ với tư cách là con người đầu tiên không giống nhau, vì câu chuyện trình bày người nam đại diện cho con người đầu tiên, trong khi người nữ là một sinh vật mới (được tạo ra từ xương sườn và thịt của người nam).
Dấu hiệu rõ ràng nhất là thuật ngữ được sử dụng để chỉ từng người. Từ Sáng thế ký 2:22, người nữ luôn được gọi là שׁה, iššâ (“người nữ”), trong khi người nam được gọi là האדם, hāʾādām (“con người”) - cùng một thuật ngữ được dùng để đặt tên cho con người đầu tiên (tức A-đam) kể từ 2:7. Người nam được gọi là “đàn ông” (אישׁ , îš ) trong 2:23–24 và trong 3:6,16, nơi âm vang giữa “đàn ông” và “đàn bà” (איש và אשה) nhấn mạnh mối liên kết sinh học và xã hội giữa hai bên (“chồng” và “vợ”). Có một cấu trúc ngữ pháp ở đây, vì hậu tố gắn sau đại từ không bao giờ gắn với từ אדם (“adam”) trong Kinh Thánh tiếng Hê-bơ-rơ.
Lời tuyên bố của người nam trong Sáng thế ký 2:23 cũng khẳng định người nam với tư cách là con người đầu tiên. Không có dấu hiệu nào trong câu chuyện cho thấy người nữ biết gì về những sự kiện xảy ra trước 2:21. Thật vậy, chính cách người nữ nhắc đến cây biết điều thiện và điều ác theo vị trí của nó, thay vì theo tên mà Đức Chúa Trời sử dụng, ám chỉ rằng bà đã nghe về lệnh cấm một cách gián tiếp.
Tóm lại, chúng ta có thể hiểu câu chuyện trong vườn Ê-đen như bên dưới. Các chữ viết thường là phần có trong bản văn kinh điển, các chữ in nghiêng và tô đậm là suy luận (nhưng được hỗ trợ bởi các cân nhắc được nêu trong phần thảo luận trước). Các suy luận được cung cấp ở đây không phải là suy luận duy nhất có thể có; đúng hơn, chúng là một giải pháp tốt hơn để hiểu bản văn quy điển như một thể thống nhất.
Đức Chúa Trời đã trồng hai cây đặc biệt: Cây sự sống ở giữa vườn và cây biết điều thiện và điều ác cũng ở giữa vườn. Đức Chúa Trời đã chỉ cho con người đầu tiên cách phân biệt cây biết điều thiện và điều ác với các cây khác và bảo con người đầu tiên không được ăn trái của nó, nhưng không cho con người đầu tiên bất kỳ thông tin hay chỉ dẫn nào về cây sự sống. Đức Chúa Trời đã chia loài người đầu tiên thành một người nam - đại diện cho con người đầu tiên - và một người nữ.
Bằng một cách nào đó, người nam đã nói với người nữ về lệnh cấm, mà không sử dụng tên cụ thể của cây bị cấm. Có lẽ ông chỉ đơn giản là chỉ cho bà cái cây và nói, “Đừng ăn trái của cây này.” Khi con rắn bắt chuyện với người nữ về lệnh cấm, bà đã gọi cây bị cấm là “cây ở giữa vườn”, sử dụng một mô tả mà bà hiểu là đang nói về cây nào.
Như vậy, giải pháp vừa nêu thỏa mãn được yêu cầu thứ nhất là đọc bản văn quy điển của Sáng thế ký 2:4–3:24 một cách mạch lạc, bằng cách làm sáng tỏ các câu hỏi quan trọng. Nhờ vậy, chúng ta không cần sửa đổi Sáng thế ký 2:9b hoặc 2:17 theo quan điểm của 3:3 như các học giả bình luận nguồn đề xuất.
Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, đề xuất sửa đổi hoặc loại bỏ hoàn toàn cây sự sống của các học giả bình luận nguồn cũng không khiến câu chuyện mất đi tính mạch lạc. Vì vậy, nhiệm vụ tiếp theo là chứng minh các chi tiết về cây sự sống đóng vai trò quan trọng trong câu chuyện và không thể bị loại bỏ.
2.2. Cây Sự Sống Trong Sáng Thế Ký 3:22–24#
Mặc dù cây sự sống không được nhắc đến trong cuộc đối thoại của người nữ với con rắn, nhưng nó lại đóng vai trò quan trọng trong việc con người bị trục xuất khỏi vườn Ê-đen trong Sáng thế ký 3:22–24. Các học giả nghiên cứu Kinh Thánh hiện đại dễ dàng nhận thấy Sáng thế ký 3:23 và 3:24 như là “những mâu thuẫn văn chương ở cấp độ cốt truyện” - nhắc lại cách diễn đạt của Baden - hoặc ít nhất là những đoạn trùng lặp. Vì trong khi 3:22 và 3:24 có chung đặc điểm rõ rệt là đều trực tiếp nhắc đến cây sự sống, trong khi 3:23 lại chia sẻ với 3:17–19 và 2:7 các từ vựng nói về việc người nam được dựng nên từ đất và bụi. Vì thế, những nhà nghiên cứu Kinh Thánh theo khuynh hướng phân tách thường quy 3:22, 24 với 2:9bα cho một nguồn văn khác với nguồn văn chứa 3:23 cùng 3:17–19 và các tư liệu khác. Dù nguồn văn đóng góp 2:9bα và 3:22, 24 được hiểu là một lớp biên tập hay một truyện kể song song thì vẫn có sự khác biệt tùy theo quan điểm của từng học giả.
Trong 3:22b, Đức Chúa Trời phán: “e loài người (người nam) giơ tay lên cũng hái trái cây sự sống mà ăn và được sống đời đời chăng”, nối với phần mở đầu của 3:23, “Giê-hô-va Đức Chúa Trời (Yahweh Elohim) đã đuổi loài người (người nam) khỏi vườn Ê-đen” , có vẻ là sự nối tiếp mạch lạc. Nhưng vế sau của 3:23, “đặng cày cấy đất, là nơi có người (người nam) ra” gây ra tranh cãi về động cơ thực sự của Đức Chúa Trời khi trục xuất con người ra khỏi vườn. Hơn nữa, nếu người ta bỏ qua phần cuối của 3:22 và nối phần đầu của 3:22 với 3:24, thì chúng ta sẽ được các câu như sau: “22a Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán rằng: Nầy, về sự phân biệt điều thiện và điều ác, loài người đã thành một bực như chúng ta; 24 Vậy, Ngài đuổi loài người ra khỏi vườn…” cũng là một cách đọc mạch lạc.
Quan điểm cho rằng 3:23 và 3:24 là một sự lặp câu thừa thãi, xuất pháp từ sự chồng chéo ngữ nghĩa của các động từ. Trong nhánh piel , cả động từ שלח, šillaḥ của 3:23 và גרש , gārēš của 3:24 đều có nghĩa là “trục xuất”.
Tuy nhiên, việc sử dụng đồng thời hai động từ có cùng ý nghĩa không phải là hiếm trong Kinh Thánh và chúng không gây quan ngại về tính thống nhất của bản văn. Ví dụ, Xuất Ê-díp-tô Ký 6:1 – “Thật, bởi bàn tay quyền năng của Ta, vua ấy sẽ để cho Y-sơ-ra-ên ra đi (שלח); bởi bàn tay quyền năng của Ta, vua ấy sẽ đuổi họ ra khỏi (גרש) xứ.”
Humbert tin rằng khi đứng cùng nhau, שלח và גרש có thể diễn đạt cùng một hành động, trong đó từ sau truyền tải sức nặng hơn từ trước. Vì thế, việc các động từ mở đầu của Sáng thế ký 3:23 và 3:24 diễn đạt cùng một ý nghĩa không đủ để chứng minh phân đoạn này đã bị biên tập, mà ngay từ đầu nó đã là một cấu trúc song song – một biện pháp mà người kể chuyện sử dụng để nhấn mạnh.
Một điểm gây tranh cãi khác mà các nhà bình luận nguồn thường nêu là Sáng thế 3:22 và 3:23 đưa ra những động cơ mâu thuẫn cho việc trục xuất con người khỏi vườn Ê-đen. Trong Sáng thế ký 3:22, 24, người kể chuyện cho biết Đức Chúa Trời trục xuất con người để ngăn họ ăn trái của cây sự sống, trong khi Sáng thế ký 3:23 cho biết rằng Đức Chúa Trời đã đuổi con người đi để cày cấy đất bên ngoài khu vườn.
Tuy nhiên, các nhà bình luận cho rằng các câu Kinh Thánh này mâu thuẫn nhau thì hiếm khi lập luận chặt chẽ để chứng minh cho tuyên bố đó, mà họ coi nó gần như là điều hiển nhiên. Để kiểm tra xem đây có phải là mâu thuẫn ở cấp độ cốt truyện hay không, chúng ta phải xem xét hai khả năng trả lời cho câu hỏi: Tại sao Đức Chúa Trời trục xuất con người khỏi vườn?
Người ta có thể trả lời: “Bởi vì Đức Chúa Trời muốn tách con người khỏi cây sự sống” (3:22), hoặc “bởi vì Đức Chúa Trời muốn con người cày cấy đất đai” (3:23). Tuy nhiên, trừ khi chúng ta giới hạn Đức Chúa Trời rằng Ngài chỉ được phép có một động cơ duy nhất, thì hai câu này mới thực sự mâu thuẫn nhau, còn không, chúng ta phải đồng ý rằng Ngài có thể có cả hai mục đích.
Humbert mô tả Sáng thế ký 3:23 là “mục đích”, còn 3:22, 24 là “lệnh cấm”. Nói cách khác, Humbert lập luận rằng việc trục xuất con người để cày cấy đất đai và giữ họ tránh xa cây sự sống là hai mục đích hài hòa, chứ không loại trừ nhau.
Phân tích của Humbert càng sắc nét hơn khi chúng ta để ý đến bối cảnh của các lời nói của Đức Chúa Trời, một trực tiếp và một gián tiếp. Trong 3:22, Đức Chúa Trời nói với hội đồng ở trên thiên đàng rằng “loài người đã thành một bực như chúng ta” và bày tỏ mong muốn ngăn cản con người ăn trái của cây sự sống. Không có gì trong bối cảnh cho thấy con người có mặt tại đó để chứng kiến cuộc đối thoại.
Đến Sáng thế ký 3:23 (đây là câu tường thuật): “Vì vậy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời trục xuất (שלח) loài người ra khỏi vườn Ê-đen để cày cấy đất đai, là nơi con người từ đó mà ra.” Tuy nhiên, cụm động từ trong cấu trúc “trục xuất (שלח) ra để làm việc X” ngụ ý Đức Chúa Trời đã truyền đạt ý định của Ngài cho con người biết để họ làm theo. Vì vậy, câu “Đức Chúa Trời đã trục xuất (שלח) người nam để cày cấy đất*” có thể được diễn đạt lại thành “Đức Chúa Trời bảo người nam đi cày cấy đất”.
Như vậy, sự khác biệt về động cơ giữa Sáng thế ký 3:22 và 3:23 là sự khác biệt của bối cảnh trò chuyện. Sáng thế ký 3:22 là Đức Chúa Trời đang nói với hội đồng trên thiên đàng, còn Sáng thế ký 3:23 là Đức Chúa Trời truyền đạt ý muốn của Ngài cho con người. Việc Đức Chúa Trời hoặc con người bày tỏ một hoặc nhiều động cơ tùy vào đối tượng mà họ đang giao tiếp, hoặc có thể có động cơ thầm kín không được phản ánh trong các giao tiếp công khai, được thể hiện nhiều lần trong văn tường thuật của Kinh Thánh.
Chẳng hạn, lời đề nghị của Vua David rằng Uriah người Hittite hãy về nhà và “rửa chân” (2 Sa-mu-ên 11:8), hoặc hành động đứng ra giúp xử đoán của Absalom (2 Sa-mu-ên 15:1–6) là những ví dụ nổi tiếng về việc con người có nhiều động cơ khi khi hành động. Trong nhiều trường hợp khác, chúng ta thấy Đức Chúa Trời cũng vậy. Ví dụ, Đức Chúa Trời ra lệnh cho David tiến hành tu bộ dân số, dường như để tìm một cái cớ để hành động chống lại dân Israel (2 Sa-mu-ên 24); khải tượng của Micaiah (Mi-chê) cho thấy Đức Chúa Trời đang tìm cách để đưa vua Ahab (A-háp) vào một trận chiến mà Ahab chắc chắn sẽ thua (1 Các vua 22); hoặc những cuộc thảo luận trên trời về Job (Gióp) mà bản thân Job không hề hay biết (Gióp 1-2).
Nếu Sáng thế ký 3:23 đứng một mình trong việc làm sáng tỏ động cơ trục xuất con người, thì động cơ đó (“để cày cấy đất”) thiếu một cường độ nhất định. Vào đầu câu chuyện, người kể chuyện - và có lẽ là Đức Chúa Trời - đã lưu ý đến việc không có con người nào để cày cấy đất (2:5). Đức Chúa Trời đã đáp ứng nhu cầu này bằng cách tạo ra một con người từ chính mặt đất (2:7). Sau đó, Ngài đã đánh dấu một phần của đất để làm vườn (2:8), và giao cho con người làm việc trên phần đất hạn chế đó (2:15). Đức Chúa Trời đã ban cho con người một lệnh cấm, với hậu quả là cái chết nếu vi phạm lệnh cấm (2:17). Cho đến hiện tại thì phần lớn câu chuyện vẫn mạch lạc cho dù cây sự sống có được giữ lại trong câu chuyện hay không.
Nhưng nếu chúng ta loại bỏ Sáng thế ký 3:22, 24 và chỉ giữa lại 3:23, thì câu chuyện sẽ được tiếp tục với hậu quả của việc vi phạm lệnh cấm là người nam bị giáng chức nghề nghiệp: Con người bây giờ sẽ phải làm việc trên vùng đất khó khăn (“đất sẽ sanh chông gai và cây tật lê”, “ngươi sẽ làm đổ mồ hôi trán mới có mà ăn”, 3:18-19) cho đến khi chết vì nguyên nhân tự nhiên (3:17–19, 23). Điều này có vẻ quá nhẹ nhàng so với lời tuyên bố mạnh mẽ của Đức Chúa Trời rằng “ngươi chắc sẽ chết” (מותת מות , môt tāmût) trong Sáng thế ký 2:17. Đặt hình phạt mà Đức Chúa Trời tuyên bố và hình phạt thực sự khi con người vi phạm lệnh cấm lên bàn cân khiến chúng ta vướng vào câu hỏi khó về trạng thái mặc định ban đầu của con người liên quan đến cái chết. Liệu ngay từ đầu, con người được dựng nên có khả năng chết hay không?
Để giải quyết câu hỏi này chúng ta phải bắt đầu với Sáng thế ký 3:19, “ngươi sẽ làm đổ mồ hôi trán mới có mà ăn cho đến ngày nào ngươi trở về đất, là nơi mà có ngươi ra; vì ngươi là bụi, ngươi sẽ trở về bụi”. Trong câu này, Đức Chúa Trời đang nói với người nam rằng ông sẽ phải lao động vất vả cho đến khi ông trở về đất vì ông đã được tạo thành từ đất. Đức Chúa Trời đang thiết lập “khả năng chết” cho con người bắt đầu từ thời điểm này, hay đang Ngài nhắc lại tình trạng nguyên thủy của con người là đã “có khả năng chết”?
Quan trọng là Sáng thế ký 3:19 không dùng từ “chết” (מות תמות, môt tāmût) của 2:17, mà dùng từ “[trở về] đất (אדמה,ʾădāmâ)” và “[trở về] bụi (עפר ,ʿāpār)” của 2:7. Điều này cho thấy sự “trở về đất” và “trở về bụi” của Sáng thế ký 3:19 không phải là điều gì mới, mà là trạng thái vốn có của con người, tức “một sinh vật mỏng manh được tạo nên từ bụi đất”.
Budde, là người đầu tiên trong số các học giả chủ trương loại bỏ cây sự sống ra khỏi câu chuyện của hình thức quy điển, nhận thấy rằng “sinh khí” (נשמת חיים, nišmat ḥayyîm) làm cho con người đầu tiên trở nên một loài sinh linh (Sáng thế ký 2:7). Vì thế, Budde lập luận rằng “sinh khí” vẫn ở trong con người đầu tiên miễn là Đức Chúa Trời muốn; nên con người sẽ không chết, thực sự không thể chết, trừ khi Đức Chúa Trời cố tình rút “sinh khí” ra hoặc đặt ra giới hạn thời gian về việc “sinh khí” có thể tồn tại trong cơ thể con người bao lâu. Nói cách khác, “sinh khí” không thể bị hủy diệt nhưng có thể bị thu hồi.
Đề xuất này của Budde là để phản đối quan điểm cho rằng con người ngay từ ban đầu đã có khả năng chết do sự mong manh của xác thịt vì có nguồn gốc từ “đất” và “bụi”. Budde cho rằng con người không cần cây sự sống để khiến họ trở nên bất tử, vì “sinh khí” do Đức Chúa Trời hà hơi vào là đã đủ giữ cho con người bất tử. Và khi Đức Chúa Trời thu hồi “sinh khí” này, thì con người chắc chắn sẽ chết, không có bất kỳ cái cây nào có tác dụng giúp con người trở nên bất tử nghịch lại ý muốn của Đức Chúa Trời. Vì thế, Budde kết luận rằng sự xuất hiện của cây sự sống trong câu chuyện là không cần thiết.
Có hai phản đối chống lại lập luận của Budde: Một phản đối ông dường như không để ý đến và một phản đối ông dành nhiều nỗ lực để phản biện.
- Phản đối đầu tiên liên quan đến tính bất khả xâm phạm của ý muốn của Đức Chúa Trời đối với tuổi thọ của con người.
Budde tuyên bố rằng cây sự sống không chỉ không cần thiết mà còn không thể, rằng trái của nó không thể kéo dài tuổi thọ của con người vượt quá giới hạn do Đức Chúa Trời đặt ra.
Tuy nhiên, ngược lại, các câu chuyện trong Kinh Thánh cung cấp rất nhiều ví dụ về việc con người chấm dứt sự sống của người khác trước hạn, vi phạm ý muốn của Đức Chúa Trời. Chẳng hạn như câu chuyện về Cain (Ca-in) và Abel (A-bên) diễn ra ngay sau câu chuyện trong vườn Ê-đen (Ê-đen), được gán cho J theo các bản tái dựng bình luận nguồn cổ điển, có nhiều điểm liên hệ với Sáng thế ký 2–3 (bản thân Cain là một עבד אדמה ,ʿōbēd ʾădāmâ, tức “người làm việc/người hầu của đất”).
Trong câu chuyện này Cain đã chấm dứt sự sống trước thời hạn của Abel và rõ ràng là trái ý muốn của Đức Chúa Trời. Mặc dù phải thừa nhận rằng, cụm từ “sinh khí” (נשמת חיים) không xuất hiện trong câu chuyện của Cain và Abel ở Sáng thế ký 4, nhưng ở những nơi khác, cụm từ כל נשמה , kol nĕšāmâ (“mọi thứ thở”) được dùng để nhận diện các đối tượng bị giết trong chiến tranh.
Nếu bạo lực của con người có thể đẩy “sinh khí” (נשמת חיים) ra khỏi một sinh vật sống mà không cần sự can thiệp của Đức Chúa Trời để thu hồi “sinh khí” , thì lý do gì một cây mầu nhiệm như cây sự sống lại không thể bảo tồn “sinh khí” cho một sinh vật sống, cho dù Đức Chúa Trời đã áp đặt một giới hạn chung về thời gian tồn tại của “sinh khí” trong con người. Đặc biệt là cây sự sống do chính Đức Chúa Trời đích thân trồng với chức năng bảo tồn “sinh khí” như chính cái tên của nó.
- Phản đối khó xử lý hơn đối với Budde, tất nhiên, là Đức Chúa Trời đã không đặt ra giới hạn thời gian nào như vậy trong Sáng thế ký 2–3, ít nhất là không nêu rõ ràng.
Budde coi lời tuyên bố của Đức Chúa Trời trong 3:19 - “ngươi là bụi, và sẽ trở về bụi” - là lời giải thích đủ cho việc con người kể từ thời điểm này “có khả năng chết” mới. Nhưng giải thích như vậy là gượng ép, vì làm thế nào mà sự chết lại xảy ra nếu vẫn còn sự hiện diện của “sinh khí” như chính Budde đã lập luận. Vì thế, Budde đề xuất rằng Sáng thế ký 6:3 ("Đức Giê-hô-va phán rằng: Thần ta sẽ chẳng hằng ở trong loài người luôn; trong điều lầm lạc, loài người chỉ là xác thịt; đời người sẽ là một trăm hai mươi năm mà thôi.") vốn ở vị trí của Sáng thế ký 3:22 nhưng đã bị thay thế bởi người biên tập, vì người này thêm cây sự sống vào câu chuyện trong vườn Ê-đen.
Tuy nhiên, yếu điểm của Budde nằm ở chỗ Sáng thế ký 6:3 chỉ sử dụng danh xưng “Đức Giê-hô-va” (יהוה, “Yhwh”) thay vì danh kết hợp “Giê-hô-va Đức Chúa Trời” (יהוה אלהים,“Yhwh Elohim”) như trong phần lớn câu chuyện trong vườn Ê-đen.
Dầu vậy, đây chưa phải là trở ngại lớn nhất đối với sự tái hiện đầy tính tưởng tượng của Budde. Lập luận của Budde sẽ mạnh hơn nếu Sáng thế ký 6:3 đọc là “hơi thở” (נשמתי, nišmātî) Ta sẽ không ở trong loài người luôn, vì họ là bụi (עפר)", nhưng thực tế nó lại đọc là “hơi thở/ linh hồn/Thần (רוחי, rûḥî) Ta sẽ không ở trong loài người luôn, vì họ là xác thịt (בשר, bāśār)”.
Không có gì trong câu chuyện trong vườn Ê-đen báo hiệu cho người đọc rằng רוח (“hơi thở /linh hồn /Thần”) được liên kết với נשמת חיים (“sinh khí”). Sáng thế ký 3:8 có sử dụng từ רוח nhưng với ý nghĩa là “gió”, hoàn toàn khác với ý nghĩa của từ này ở Sáng thế ký 6:3. Tương tự , từ בשר (“thịt”) xuất hiện trong Sáng thế ký 2:23–24, nhưng nó không có bất kỳ mối liên hệ nào với từ נשמת חיים (“sinh khí”) của Sáng thế ký 2:7.
Do đó, việc Budde chuyển Sáng thế ký 6:3 lên để thay thế Sáng thế ký 3:22 là không thuyết phục; vì vậy, không được nhiều người ủng hộ. Vậy thì, cây sự sống đóng vai trò gì trong tổng thể câu chuyện? Nếu loại bỏ cây sự sống ra khỏi câu chuyện thì dường như cái chết không phải là điều chắc chắn sẽ xảy ra như Sáng thế ký 2:17 cảnh báo.
Tất nhiên, người ta có thể suy luận rằng Đức Chúa Trời đã nhân từ trì hoãn cái chết cho con người thay vì khiến con người chết ngay lập tức, hoặc con rắn đã nói đúng ngay từ đầu rằng hậu quả của Sáng thế ký 2:17 không có sức mạnh thực sự, hoặc đơn giản là do ý muốn của Đức Chúa Trời nên con người không chết ngay. Nhưng không có câu trả lời nào trong số các suy luận trên được bày tỏ rõ ràng trong câu chuyện.
Các học giả, theo quan điểm giữ nguyên các chi tiết về cây sự sống, có thể xem lệnh cấm tiếp cận cây sự sống sẽ đảm bảo cái chết sẽ xảy ra cho con người như Sáng thế ký 2:17 đã cảnh báo. Vì trong Sáng thế ký 2:16, Đức Chúa Trời chỉ cấm một cây duy nhất là cây biết điều thiện và điều ác, trong khi cho phép con người đầu tiên ăn trái từ “bất kỳ cây nào trong vườn” (מכל עץהגן, mikkōl ʿēṣ haggān).
Obbink, và sau đó là Stordalen, suy ra rằng Đức Chúa Trời đã đặt cây sự sống trong tầm với của con người, chính xác là để họ có thể ăn trái của nó - và họ quả thật đã làm như vậy, tận hưởng những lợi ích của cây sự sống cho đến khi họ bị đuổi khỏi vườn.
Để duy trì luận điểm này, Obbink phải chứng minh rằng từ “kẻo” (פן , pen), trong vế câu “kẻo (פן ) người nam giơ tay ra và cũng hái từ cây sự sống, và ăn, và sống đời đời” (3:22) còn có thể đóng vai trò báo hiệu một hành động để chấm dứt, ngoài chức năng quen thuộc hơn của nó là đánh dấu một hành động để chiếm quyền ưu tiên.
Obbink chỉ có hai trường hợp khác trong Kinh Thánh hỗ trợ cho lập luận của mình. Ông bắt đầu với Xuất Ê-díp-tô Ký 1:10, khi vua Ai Cập nói về dân Israel, “hãy khôn ngoan đối xử với họ, kẻo chúng sinh sôi (פן ירבה, pen yirbeh”)". Vì Xuất Ê-díp-tô Ký 1:7 cho biết dân Israel đã sinh sôi (וירב,vayyirbû), nên theo Obbink câu 10 có nghĩa là “kẻo chúng tiếp tục sinh sôi.”
Budde phản đối Obbink rằng sắc thái ý nghĩa dừng một quá trình đang diễn ra xuất phát từ ngữ cảnh, chứ không phải chỉ từ vai trò của từפן(“kẻo”). Nhưng phản đối của Buddle dẫn đến cùng một kết quả, vì rõ ràng từ này được sử dụng trong một tình huống dừng một hành động đang diễn ra. Budde đã quá chú tâm vào các lập luận bình luận nguồn mà bỏ lỡ trọng tâm.
Obbink tiếp tục trích dẫn 1 Sa-mu-ên 13:19, “Không tìm thấy thợ rèn nào trong toàn xứ Y-sơ-ra-ên, vì dân Phi-li-tin nói rằng, kẻo (פן) dân Hê-bơ-rơ rèn gươm hoặc giáo.” Obblink chỉ ra trong các phần tường thuật trước câu này cho thấy nghề rèn vốn có giữa dân Israel (Y-sơ-ra-ên), cho đến khi người Philistines (Phi-li-tin) cấm nghề này trong xứ.
Để phản đối Obbink, Budde cho rằng 1 Sa-mu-ên 13:22 cho biết người Philistines đã tước đoạt vũ khí cũng như thợ rèn của dân Israel. Tuy nhiên, lập luận này của Budde không thực sự lật đổ được quan điểm của Obbink. Cả Obbink và Budde đều đồng ý rằng trước đây đã từng có thợ rèn trên lãnh thổ của người Israel, nhưng bằng một cách nào đó, người Philistines đã đảm bảo dân Israel không thể tiếp tục rèn vũ khí, " kẻo (פן) dân Hê-bơ-rơ rèn gươm hoặc giáo." Sự khác biệt trong cách giải nghĩa của Obbink và phản biện được cho là của Budde là không đáng kể: “kẻo họ tiếp tục rèn gương hoặc giáo” và “kẻo họ lại bắt đầu rèn gươm hoặc giáo”.
Barr phản đối Obblink trên một cơ sở khác. Barr cho rằng cụm từ “giơ tay ra và làm điều gì đó” là một diễn đạt mang ý nghĩa khởi đầu của một hành động mới, chứ không đơn giản là tiếp tục làm những gì người đó vẫn làm bấy lâu.
Tuy nhiên, Barr không đưa ra bất kỳ bằng chứng nào cho tuyên bố này và rất khó để tìm được sự ủng hộ. Chỉ có mười lăm trường hợp trong Kinh Thánh tiếng Hebrew phù hợp với mô tả của Barr, trong đó động từ “giơ” (שׁלח) lấy “bàn tay” (יד, yād) làm tân ngữ, theo sau bởi là một dạng động từ giới hạn (tức động từ phải chia ngôi, thì, …).
Nếu chúng ta khoan tính đến Sáng thế ký 3:22, và tạm thời bỏ qua những trường hợp dùng từ ngữ của con người để áp dụng cho Đức Chúa Trời, thì trong mười trường hợp còn lại, việc đưa tay ra thực sự là một phần của hoạt động cơ thể: “ông giơ tay ra và bắt (chim bồ câu)” (Sáng thế ký 8:9), “hai người đưa tay ra và kéo Lót vào nhà với họ” (Sáng thế ký 19:10), v.v. Tương tự, Sáng thế ký 3:22 có nghĩa là người nữ và người nam giơ tay hái và ăn trái cây, trừ khi chúng ta giải nghĩa một cách khôi hài rằng “người nam và người nữ ăn trái vẫn còn treo trên cây, mà không giơ tay ra hái”.
Bốn trường hợp còn lại mô tả Đức Chúa Trời “giơ tay ra” để đánh Ai Cập (Xuất Ê-díp-tô ký 3:20; 9:15) và trong Gióp 1:11; 2:5. Bốn trường hợp này khiến cho tuyên bố của Barr thậm chí còn khó đứng vững hơn, vì trong Gióp 2:5, Satan thúc giục Đức Chúa Trời tiếp tục tiếp tục các hành động đã bắt đầu từ Gióp 1:11.
Một trường hợp khác 2 Sa-mu-ên 15:5 sử dụng cụm từ אתידו ושׁלח (vĕšālaḥ ʾet yādô), nghĩa là “giơ tay ra” trong câu "(Áp-sa-lôm) giơ tay ra đỡ lấy người và hôn" để mô tả hành động mà Absalom đã thực hiện nhiều lần. Do đó, việc Barr lập luận rằng Sáng thế ký 3:22 có sắc thái ý nghĩa là “bắt đầu giơ tay ra và làm điều gì đó” là không hợp lý khi chúng ta xem xét kỹ cấu trúc này.
Quan niệm của Obbink rằng con người đã ăn trái của cây sự sống trước khi bị trục xuất làm nổi bật một câu hỏi muôn thuở: Liệu trái của cây sự sống có mang lại sự bất tử chỉ với một lần ăn hay phải ăn nhiều lần? Câu trả lời dường như phụ thuộc vào hướng mà các học giả áp dụng suy luận loại suy 5:
Các học giả, giống như Obbink, chủ yếu dựa vào sự tương đồng giữa Kinh Thánh và các nền văn hóa Lưỡng Hà có xu hướng cho rằng việc ăn nhiều lần trái của cây sự sống là cần thiết để có được hiệu quả. Quan điểm này xuất pháp từ sự tương đồng giữa cây sự sống trong Kinh Thánh với loại cây trẻ hóa của Gilgamesh 6. Gilgamesh đã sở hữu cây “cải lão hoàn đồng” này trong một thời gian ngắn nhưng về sau đã đánh mất nó. Ngoài ra, trong nền văn hóa Lưỡng Hà, các vị thần phải ăn các loại thức ăn đặc biệt nhiều lần nếu muốn duy trì sự sống đời đời. Vì vậy, các học giả lập luận cho rằng điều tương tự cũng đúng với trái của cây sự sống trong Kinh Thánh.
Mặt khác, xét theo Sáng thế ký 3:22, trái của cây biết điều thiện và điều ác đã tác động đến con người, gây ra một sự thay đổi ngay lập tức, một lần và vĩnh viễn. Do đó, phép loại suy gần nhất (sử dụng chính Kinh Thánh thay vì các nguồn tài liệu ngoài Kinh Thánh) là một sự thay đổi tương tự sẽ xảy ra (ngay lập tức, một lần, và vĩnh viễn) nếu con người ăn trái của cây sự sống. Đây là cách Budde lập luận chống lại Obbink. Từ “cũng” (גם , gam) trong cụm từ “cũng hái trái cây sự sống” của Sáng thế ký 3:22 chỉ ra một sự tương đồng giữa hai loại cây, có lẽ ngụ ý chức năng tương đồng của chúng. Tuy nhiên, hai cây này cũng không có nghĩa vụ phải phản ánh chức năng của nhau.
Vì bản thân câu chuyện không nói rõ, nên sự thận trọng khi đưa ra các kết luận là điều cần thiết:
Nếu cho rằng con người đã ăn trái của cây sự sống trước khi bị trục xuất khỏi vườn, thì đặc tính mang lại sự sống của cây phải được hiểu là sự trẻ hóa theo kiểu “người già trở nên trẻ hơn” giống trong câu chuyện kể về Gilgamesh.
Nếu chỉ cần ăn một lần là có sự bất tử, thì rõ ràng là con người đã không ăn trái của cây sự sống.
Đây là hai khả năng có mức độ chắc chắn cao nhất mà chúng ta có thể suy ra từ bản văn.
Cho dù con người đã ăn hay không ăn trái của cây sự sống, thì việc ngăn không cho họ tiếp cận cây sự sống sẽ đảm bảo con người sẽ phải chết, hoàn toàn phù hợp với hậu quả của lệnh cấm trong Sáng thế ký 2:17. Điều này không có nghĩa cụm từ מות תמות, môt tāmût (“chắc sẽ chết”) ngụ ý “con người trở nên có khả năng chết” , vì như phần thảo luận bên trên, việc con người được tạo thành từ אדמה (“đất”) và עפר (“bụi đất”) đã ngụ ý ngay từ đầu con người đã có khả năng chết.
Tuy nhiên, miễn là con người có thể tiếp cận cây sự sống - cho dù họ có tận dụng quyền tiếp cận đó hay không - thì khả năng thoát khỏi cái chết mặc định của cơ thể “có khả năng chết” vẫn nằm ngay trước mắt, tương tự như cách cây biết điều thiện và điều ác cung cấp những khả năng vượt quá những hạn chế về nhận thức mặc định của con người. Vì vậy, một khi con người mất quyền được tiếp cận cây sự sống, cái chết của họ chắc chắn sẽ xảy ra.
Trong số các học giả nắm giữ các quan điểm khác, Barr cho rằng câu “vào ngày ngươi ăn nó, ngươi sẽ chết” (אכלך ממנו מות תמות ביום , bĕyôm ʾăkālkā mimmenû môt tāmût) đòi hỏi cái chết – hậu quả của việc vi phạm lệnh cấm – phải được xảy ra ngay lập tức.
Tuy nhiên, bản thân cấu trúc מות תמות , môt tāmût (“chắc chắn sẽ chết”) không nhất thiết báo trước cái chết sẽ xảy ra ngay lập tức như cấu trúc אכל תאכל , ʾākōl tōʾkēl(“ngươi được tự do ăn”) trong 2:16 (cấu trúc trong 2:16 báo trước rằng con người sẽ ngay lập tức ăn).
Trong 2 Các Vua 1, tiên tri Elijah (“Ê-li”) liên tục gửi thông điệp מות תמות (“chắc chắn sẽ chết”) cho vua Ahaziah. Một quá trình dường như phải mất ít nhất vài ngày mới xảy ra.
Trong Ê-xê-chi-ên 3:18; 33:8,14 lời Đức Giê-hô-va phán: “Mầy chắc chết (מות תמות)” thì cái chết không xảy ra ngay lập tức, mà ít nhất chỉ có thể xảy ra sau một khoảng thời gian để lời tiên tri được rao giảng và sự ăn năn có thể xảy ra.
Nói chung, cấu trúc này thường dùng để nhấn mạnh một tình huống đã, đang hoặc sẽ diễn ra - tính chắc chắn của sự kiện , chứ không phải thời điểm xảy ra sự kiện. Trong lệnh cấm của Sáng thế ký 2:17, thời điểm xảy ra cái chết không nằm ở cụm từ “chắc sẽ chết” mà nằm ở cụm từ ביום (“trong ngày”). Tuy nhiên cụm từ này cũng không nhất thiết ám chỉ sự tức thời tuyệt đối. Sáng thế ký 2:17 tốt nhất nên được hiểu là nếu vi phạm lệnh cấm, con người chắc chắn chết (מות תמות) hơn chỉ “chết (תמות)” mà thôi.
Barr lập luận phản đối, cho rằng “người có khả năng chết (tức người phàm) biết rằng cuối cùng họ sẽ chết”, nhưng hai người phàm đầu tiên này, sống trong vườn Ê-đen gần cây sự sống, có thể không biết điều đó. Từ khi được dựng nên, đến khi ăn trái của cây biết điều thiện và điều ác, và sau đó bị trục xuất khỏi vườn Ê-đen, cái chết đối với họ chỉ là khả năng có thể xảy ra, chứ không chắc chắn. Việc không còn được tiếp cận cây sự sống đã xóa tan mọi cơ hội được sống đời đời, và đảm bảo theo thời gian, họ sẽ chết.
Mặc dù Barr bác bỏ cách hiểu này, nhưng nó lại hoàn toàn phù hợp với sự nhấn mạnh của ông rằng chủ đề chính của câu chuyện trong vườn Ê-đen là “khái niệm về sự bất tử của con người - có thể đã đạt được nhưng thực tế đã bị bỏ lỡ”. Lập luận của Barr sẽ vững chắc hơn chỉ khi người kể chuyện dùng từ תדע כי , tēdaʿ kî (nghĩa là “biết rằng”, so sánh 1 Các vua 2:37) trước מות תמות (“chắc sẽ chết”) để tạo thành: “vì một mai ngươi ăn, ngươi biết rằng ngươi chắc sẽ chết”.
Tóm lại, chúng ta có thể hiểu bản văn quy điển như bên dưới (cùng quy ước như lần trước). Một lần nữa, tôi không khẳng định rằng bản tóm tắt này trình bày cách hiểu mạch lạc duy nhất của câu chuyện hiện có, chỉ là nó trình bày một khả năng giúp giữ nguyên tính toàn vẹn của bản văn.
- Đức Chúa Trời tạo ra một con người có khả năng chết từ đất.
- Đức Chúa Trời đã trồng hai loại cây đặc biệt: Cây sự sống ở giữa vườn và cây biết điều thiện và điều ác cũng ở giữa vườn. Đức Chúa Trời đã chỉ cho con người đầu tiên cách phân biệt cây biết điều thiện và điều ác với các cây khác và bảo con người đầu tiên không được ăn trái của cây đó. Đức Chúa Trời có thể đã hoặc đã không chỉ rõ đâu là cây sự sống cho con người.
- Con người có thể đã ăn hoặc không ăn trái của cây sự sống khi sống trong vườn, nhưng sự hiện diện của cây sự sống đặt ra câu hỏi liệu thân thể vốn được dựng nên từ đất của con người có chết hay không. Sau khi con người ăn trái của cây biết điều thiện và điều ác, Đức Chúa Trời đã trục xuất họ khỏi vườn, sau đó, vì không thể tiếp cận cây sự sống, cái chết của họ đã được đảm bảo, mặc dù không phải ngay lập tức.
Chắc chắn bản văn quy điển có thể có một số biến thể của cách hiểu trên, đặc biệt là liên quan đến trải nghiệm của con người đối với cây sự sống khi họ còn ở trong vườn. Tuy nhiên, vì tôi đã trình bày một cách hiểu mạch lạc mà vẫn giữ nguyên sự toàn vẹn của bản văn (Sáng thế ký 2:4–3:24), cho thấy không cần thiết phải loại bỏ Sáng thế ký 3:22, 24 để giải quyết các chỗ khó hiểu (được cho là mâu thuẫn), và câu chuyện trong vườn Ê-đen sẽ bị tổn hại nếu loại bỏ cây sự sống trong 3:22, 24.
KẾT LUẬN#
Nghiên cứu này được hướng dẫn bởi câu hỏi liệu Sáng thế ký 2:4–3:24 có những mâu thuẫn văn học, không thể lý giải, ở cấp độ cốt truyện đến mức bản văn quy điển không thể được hiểu một cách mạch lạc, mà phải được bóc tách thành các nguồn rời rạc. Hay hình thức quy điển của Sáng thế ký 2:4–3:24 trình bày cho độc giả một bản văn khó hiểu nhưng cuối cùng vẫn có thể hiểu được mà vẫn giữa nguyên sự toàn vẹn của nó.
Nguyên nhân của các câu hỏi này chủ yếu đến từ (1) sự khác biệt trong cách người kể chuyện và người nữ sử dụng cụm từ “ở giữa vườn”, (2) cây sự sống không xuất hiện trong suốt Sáng thế ký 2:10–3:21, và (3) sự trùng lặp trong 3:22–24 và một số chỗ khác. Các nghiên cứu về Sáng thế ký 2–3 có xu hướng tái dựng các nguồn giả định của bản văn quy điển để giải thích cho các đặc điểm này.
Các quan điểm tái dựng các nguồn giả định nổi bật bao gồm:
Quan điểm xem Sáng thế ký 2–3 có nguồn gốc là một câu chuyện chỉ có cây biết điều thiện và điều ác, và cây sự sống sau đó được ghép vào.
Quan điểm xem Sáng thế ký 2-3 phát triển từ sự kết hợp của hai câu chuyện, một câu chuyện có cây biết điều thiện và điều ác và câu chuyện còn lại có cây sự sống.
Quan điểm cho rằng Sáng thế ký 2-3 là sự kết hợp giữa một câu chuyện về sự sáng tạo (chủ yếu được thể hiện trong Sáng thế ký 2) và một câu chuyện về thiên đàng (chủ yếu được thể hiện trong Sáng thế ký 3) để tạo thành bản văn của hình thức quy điển.
Một số yếu tố của quá trình tái dựng này có thể gần như là quá trình mà cuối cùng tạo thành Sáng thế ký 2–3 như chúng ta biết ngày nay. Tuy nhiên, như phân tích trước đó đã chỉ ra, bản văn của hình thức quy điển không cần phải bị mổ xẻ thành nhiều mảnh để có thể được hiểu một cách mạch lạc.
Sáng thế ký 2–3, như hiện tại, trên thực tế không làm cho người đọc vướng vào một nút thắt mâu thuẫn ở cấp độ cốt truyện. Cấu trúc của Sáng thế ký 2:9b được chứng minh là đã đặt cả cây biết điều thiện và điều ác và cây sự sống “ở giữa vườn”, ít nhất là theo cách người kể chuyện nhìn nhận mọi thứ.
Việc người nữ chỉ đề cập đến một cây “ở giữa vườn” (mặc dù có một cây đặc biệt khác mọc gần đó) không làm mất hiệu lực hoặc mâu thuẫn với lời của người kể chuyện, vì người kể chuyện có sự hiểu biết trọn vẹn hơn. Nó chỉ đơn giản cho thấy người nữ chỉ quan tâm đến cái cây bị cấm mà thôi.
Sáng thế ký 3:22 và 24 không phải là những câu thừa thãi của Sáng thế ký 3:23. Câu 22 cho biết động cơ trục xuất con người khỏi vườn, câu 24 tường thuật những gì xảy ra sau đó, kết hợp hài hòa với câu 23 ở giữa.
Hơn nữa, việc loại bỏ cây sự sống để lại một lỗ hổng nghiêm trọng đối với cốt truyện về hậu quả của việc vi phạm lệnh cấm trong Sáng thế ký 2:17. Trong bản văn của hình thức quy điển, cây sự sống đóng vai trò khiến cái chết của con người chuyển từ khả năng sang chắc chắn.
CHÚ THÍCH#
Diachronic approach: Phương pháp tiếp cận theo lịch đại. Đây là phương pháp phân tích bằng cách xem xét cách mọi thứ thay đổi và duy trì theo thời gian. Phương pháp này thường được sử dụng trong ngôn ngữ học lịch sử, nghiên cứu cách ngôn ngữ thay đổi và phát triển theo thời gian. Ví dụ, một nghiên cứu theo “diachronic approach” về tiếng Anh có thể so sánh cách sử dụng phủ định kép trong thế kỷ 18 với cách sử dụng trong thế kỷ 19, 20 và 21. Thuật ngữ “diachronic” bắt nguồn từ các từ tiếng Hy Lạp, tiền tố “dia-” có nghĩa là “qua” và “khronos” có nghĩa là “thời gian”. Phương pháp này thường được đối lập với phương pháp “synchoronic approach”. ↩︎
Criticism: Bình luận. Thuật ngữ “bình luận” (criticism) được sử dụng để chỉ bất kỳ phương pháp diễn giải văn bản nào sử dụng hiểu biết khoa học hiện đại về bản chất của lịch sử, ngôn ngữ, văn hóa, và văn học. Cụ thể hơn, bình luận Kinh Thánh (biblical criticism) là nỗ lực diễn giải Kinh Thánh bằng cách khám phá ý nghĩa ban đầu của bản văn, hướng đến bối cảnh lịch sử ban đầu mà bản văn được viết ra mà không tham chiếu đến các truyền thống thần học sau này. Ngược lại, bình luận quy điển (canonical criticism) là nỗ lực diễn giải Kinh Thánh theo hình thức cuối cùng của Kinh Thánh như một tập hợp các sách có sự thống nhất về mặt thần học, thay vì tìm cách hiểu các sách theo hình thức và chức năng tiền quy điển của chúng. Bình luận hình thức (form criticism) là nỗ lực quay trở lại các nguồn gốc nằm sau các bản văn Kinh Thánh trước khi có hình thức chữ viết, chẳng hạn như phương pháp khám phá các truyền thống truyền miệng và các lớp tài liệu được thêm vào các câu nói trong Kinh Thánh trong quá trình truyền miệng. Bình luận biên tập (redaction criticism) là nỗ lực xác định những cách mà người viết hoặc biên tập viên (ví dụ: người viết Phúc âm) sử dụng các nguồn tài liệu khi biên soạn một sách trong Kinh Thánh để hiểu thần học và bối cảnh của tác giả. Bình luận nguồn (source criticism) là phương pháp đánh giá tính xác thực và độ tin cậy của một nguồn tài liệu. Bình luận nguồn được sử dụng trong phân tích lịch sử và văn bản để đánh giá nguồn gốc, tác giả, ngày tháng và hoàn cảnh tạo ra một nguồn tài liệu. Trong các nghiên cứu về Kinh Thánh, bình luận nguồn là một lĩnh vực chuyên biệt nhằm xác định các nguồn được sử dụng để phát triển hình thức cuối cùng của bản văn Kinh Thánh (tức hình thức quy điển). Ví dụ, một nhà bình luận nguồn có thể hỏi tác giả Sáng thế ký lấy thông tin từ đâu và những tài liệu viết hoặc truyền thống truyền miệng nào đã đóng góp vào các câu chuyện. ↩︎
Synchronic approach: Phương pháp tiếp cận đồng đại. Đây là phương pháp phân tích ngôn ngữ học bằng cách nghiên cứu ngôn ngữ tại một thời điểm cụ thể, mà không xem xét lịch sử của ngôn ngữ đó. Thuật ngữ này bắt nguồn từ các từ tiếng Hy Lạp cổ, tiền tố “syn-” nghĩa là “cùng nhau” và “khronos” nghĩa là “thời gian”. Phương pháp tiếp cận đồng đại và tiếp cận theo lịch đại là một trong hai phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ chính. Nhà ngôn ngữ học người Thụy Sĩ - Ferdinand de Saussure (1857–1913) - trong quyển Course in General Linguistics, phát hành năm 1916 (sau khi ông qua đời), được cho là cha đẻ của các thuật ngữ này. Saussure tin rằng phương pháp tiếp cận đồng đại cho phép các nhà ngôn ngữ học nhìn thấy những gì là vĩnh cửu và phổ quát bằng cách “đóng băng thời gian”. ↩︎
Documentary hypothesis: Giả thuyết Tài Liệu (DH) là một giả thuyết cho rằng năm cuốn sách đầu tiên của Kinh Thánh, được gọi là Ngũ kinh, được viết bởi nhiều tác giả, không chỉ Môi-se: Tài liệu Jahwist (J) sử dụng danh xưng Yahweh (Đức Giê-hô-va) cho Đức Chúa Trời và được viết vào giữa thế kỷ thứ chín trước Công nguyên tại vương quốc Judah ở phía nam. Tài liệu Elohist (E) Sử dụng từ Elohim (Chúa) cho Đức Chúa Trời và được viết vào thế kỷ thứ tám tại vương quốc Israel ở phía bắc. Tài liệu Deuteronomist (D) được sử dụng để viết sách Phục truyền Luật lệ ký và được viết vào thế kỷ thứ bảy dưới thời trị vì của vua Josiah. Tài liệu Priestly (P) được sử dụng để viết chương đầu tiên của Sáng thế ký, sách Lê-vi ký, các bảng gia phổ, các phần đề cập đến chức vụ tế lễ và thờ phượng. DH còn được gọi là giả thuyết JEDP hoặc “giả thuyết nhiều nguồn”. Nó gần như được chấp nhận rộng rãi trong hầu hết thế kỷ 20 và thường gắn liền với học giả người Đức Julius Wellhausen. DH dựa trên ý tưởng rằng Ngũ kinh được viết trong khoảng thời gian vài trăm năm và từ những câu chuyện được truyền miệng, điều này đã làm thay đổi các sự kiện ban đầu. DH được coi là một nỗ lực phủ nhận quyền tác giả của Môi-se đối với Ngũ kinh và loại bỏ các yếu tố siêu nhiên ra khỏi Ngũ kinh. ↩︎
Analogy: Suy luận loại suy (suy luận tương tự) là một loại suy luận logic, xuất phát từ các điểm chung có thực của hai đối tượng để đưa ra kết luận về các điểm chung khác của chúng. Suy luận loại suy cũng là bước đầu tiên trong quá trình nghiên cứu khoa học, khi người ta dựa vào so sánh, phân tích và tổng hợp để đưa ra những giả thuyết, phỏng đoán và kiểm chứng chúng. Suy luận loại suy có giá trị logic nhất định khi có đủ các điều kiện: (1) Sự giống nhau giữa hai đối tượng là phải yếu tố thiết yếu (tức yếu tố chi phối bản chất của đối tượng), (2) Có sự liên hệ tất yếu giữa tính chất được gán cho đối tượng thứ hai, với tính chất chung của hai đối tượng. Ví dụ: Trái đất là một hành tinh có bầu khí quyển và có nước. Sao hỏa cũng là hành tinh, cũng có bầu khí quyển. Suy ra (theo phép loại suy): Vậy sao hỏa cũng có (hoặc có thể có) nước. Trong ví dụ này, trái đất và sao hỏa có đặc điểm chung là đều là các hành tinh. Tính chất được gán cho đối tượng thứ hai (sao hỏa): có nước, dựa trên sự liên hệ giữa việc “có nước” với yếu tố giống nhau giữa trái đất và sao hỏa là đều “có bầu khí quyển”. ↩︎
Gilgamesh: là một vị vua trong lịch sử của thành bang Uruk của Sumer cổ đại, và là một nhân vật anh hùng trong thần thoại Lưỡng Hà cổ đại, là nhân vật chính của Sử thi Gilgamesh. Sử thi này được viết bằng tiếng Akkad vào cuối thiên niên kỷ 2 trước Công nguyên. Gilgamesh có thể đã trị vì vào khoảng 2800 - 2500 TCN và được thần thánh hóa sau khi chết. ↩︎
