Skip to main content

Và Đức Chúa Trời Thấy Điều Đó Là Tốt Lành

·8241 words·39 mins·
Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God

JOURNAL ARTICLES - GENESIS

GIỚI THIỆU
#

Một chuỗi những sự chấp thuận của Đức Chúa Trời (“Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt lành”; Sáng-thế Ký 1:4, 10, 12, 18, 21, 25), kết thúc bằng lời tuyên bố tổng kết rằng “Đức Chúa Trời thấy mọi vật Ngài đã dựng nên đều là rất tốt lành” (Sáng-thế Ký 1:31), đã cấu thành phần mở đầu của sách Sáng-thế Ký (1:1–2:3, sau đây gọi là Sáng-thế Ký 1). Theo công thức, những sự chấp thuận tương tự cũng xuất hiện trong Sáng-thế Ký 3:6, 6:2, 40:16, và 49:15, với điểm khác biệt quan trọng là chủ từ của động từ “thấy” không phải là Đức Chúa Trời, mà là loài người, và một lần là các “con trai của Đức Chúa Trời.” Giới học giả thường tập trung vào ý nghĩa của chữ “tốt lành” trong các sự chấp thuận của Sáng-thế Ký 1. Những nghiên cứu gần đây về mối liên hệ giữa các sự chấp thuận của Đức Chúa Trời trong Sáng-thế Ký 1 và các đoạn 3:6 và 6:2, cách sách Sáng-thế Ký được định khung bằng các tham chiếu đến điều thiện và điều ác, cùng với chủ đề xung đột giữa thiện và ác, đã mở rộng cuộc đối thoại.

Việc lặp lại theo công thức động từ “thấy” trong bảy sự chấp thuận của Đức Chúa Trời (Sáng-thế Ký 1:4, 10, 12, 18, 21, 25, 31) cho thấy rằng “tốt lành” chỉ mang ý nghĩa theo cách Đức Chúa Trời nhìn nhận là tốt lành. Vì vậy, sự sáng tạo được mô tả trong Sáng-thế Ký 1 là hoàn toàn tốt lành; không có chút dấu hiệu nào của sự căng thẳng vốn có trong các thần thoại sáng thế của thế giới cổ đại ngoài dân Y-sơ-ra-ên. Nhìn chung, giới học giả cho rằng sự tốt lành này liên quan đến mục đích. Claus Westermann viết rằng: “Thế giới mà Đức Chúa Trời đã dựng nên và định đoạt là tốt lành chính là thế giới trong đó lịch sử có thể bắt đầu và đạt đến mục tiêu, nhờ đó hoàn thành mục đích của sự sáng tạo.” Đối với C. F. Keil và F. Delitzsch, chữ “tốt lành” trong sự chấp thuận của Đức Chúa Trời có nghĩa là “mọi loài thọ tạo đều có thể đạt đến mục tiêu mà Đấng Tạo Hóa đã định, và hoàn thành mục đích của sự hiện hữu của nó.” Khi bình luận về Sáng-thế Ký 1:31, họ thêm rằng:

“Bằng việc áp dụng từ ‘tốt lành’… và với sự nhấn mạnh ‘rất’… sự hiện hữu của bất kỳ điều ác nào trong công cuộc sáng tạo của Đức Chúa Trời đều bị phủ nhận hoàn toàn, và giả thuyết cho rằng công việc sáu ngày chỉ nhằm chế ngự và trói buộc một nguyên lý gian ác, vô đạo đã len lỏi vào trong đó, bị bác bỏ hoàn toàn.”

Theo Benno Jacob, những sự chấp thuận của Đức Chúa Trời cho thấy rằng “mỗi vật mà Đức Chúa Trời đã dựng nên đều được trang bị đầy đủ các kỹ năng và phương tiện cho công việc của nó, và bày tỏ tư tưởng của Đấng Chủ Tể một cách hoàn hảo nhất. Không thể tưởng tượng được điều gì tốt hơn, và cũng sẽ không bao giờ có điều gì tốt hơn được dựng nên. Sự sáng tạo ban đầu là tối hậu.” Michelle Knight đồng ý rằng sự đánh giá của Đức Chúa Trời liên quan đến việc thực hiện ý muốn của Ngài, rằng điều đó là tốt lành cho mục đích của Đấng Tạo Hóa, rằng “Ngài đã dựng nên đúng điều Ngài định dựng nên.” Bà đồng nhất chữ “tốt lành” với sự sinh sản của loài vật, nhưng khẳng định rằng vai trò của Ê-va vượt xa nhiệm vụ đó. Tuy nhiên, vẫn còn những câu hỏi. Mục đích của sự sáng tạo là gì để phù hợp với ý muốn của Đức Chúa Trời? Những công việc và kỹ năng mà Benno đề cập là gì?

Điều đáng chú ý là những sự chấp thuận của Đức Chúa Trời chỉ theo sau sự sáng tạo của các vật không phải là loài người; nhân loại, nam và nữ, không nhận được sự chấp thuận rõ ràng như vậy. Giống như các loài sinh vật trong Sáng-thế Ký 1:22, họ được ban phước và có khả năng sinh sản, nhưng sau đó được giao một chức vụ đặc biệt giữa muôn loài — là chế phục và cai trị, tức là quản trị các loài khác như những kẻ mang hình ảnh của Đấng Tạo Hóa (Sáng-thế Ký 1:26, 28). Vì vậy, các loài không phải là người nhận được sự chấp thuận rõ ràng từ Đức Chúa Trời; còn nhân loại thì gián tiếp qua lời tổng kết trong Sáng-thế Ký 1:31. Điều này đặt ra câu hỏi: Tại sao nhân loại không nhận được sự chấp thuận rõ ràng từ Đức Chúa Trời?

Bài luận này cho rằng chữ “tốt lành” trong các sự chấp thuận của Sáng-thế Ký 1 ám chỉ một trật tự thế giới tự nhiên đầy sự sinh sản, phong phú và phì nhiêu; rằng các vật không phải là người có khả năng sinh sản và phong phú một cách bẩm sinh, nhưng được đặt dưới sự quản trị của loài người (Sáng-thế Ký 1:28). Các sự chấp thuận trong Sáng-thế Ký 3:6 và 6:2 mô tả một phản ứng trái ngược với điều Đức Chúa Trời đã thấy, phản ánh một cách đối nghịch sự quan tâm của sách Sáng-thế Ký đến sự sinh sản (Sáng-thế Ký 1:26–28; 2:15–17; 12:1–3) và khởi đầu cho cuộc xung đột giữa điều thiện và điều ác. Tôi sẽ lập luận rằng sự quan tâm của sách Sáng-thế Ký đến sự thịnh vượng, phong phú và sinh sản của con người được phát triển qua cấu trúc toledot của sách; rằng cuộc xung đột giữa điều thiện và điều ác được giới thiệu trong hai toledot đầu tiên được giải quyết bằng sự chiến thắng của điều thiện trong toledot cuối cùng; rằng điều này củng cố luận điểm rằng các sự chấp thuận trong Sáng-thế Ký 1 ám chỉ đến sự phong phú và sinh sản, và giải thích lý do vì sao không có sự chấp thuận rõ ràng sau khi loài người được dựng nên. Cuối cùng, tôi sẽ khảo sát các sự chấp thuận của loài người trong Sáng-thế Ký 3:6 và 6:2, và cách chúng định nghĩa sự suy thoái trong công cuộc sáng tạo vốn được Đức Chúa Trời định đoạt là tốt lành.

CÁC TOLEDOT TRONG SÁNG-THẾ KÝ
#

Ngoại trừ Sáng-thế Ký 2:4, danh từ giống cái số nhiều toledot (xuất phát từ động từ “sanh, sinh ra, đem đến”) trong các đoạn Sáng-thế Ký 2:4; 5:1; 6:9; 10:1; 11:10; 11:27; 25:12; 25:19; 36:1; 37:2 là phần mở đầu của các gia phả hoặc các tường thuật tiếp theo, mô tả cách con cháu của người nam và người nữ trong vườn Ê-đen hành động theo sự ban phước và mạng lịnh trong Sáng-thế Ký 1:26, 28. Chuỗi mười toledot — “biểu thị tương lai, một ý nghĩa về chuyển động thúc đẩy câu chuyện tiến về phía trước,” một chuyển động trong đó “một khuôn mẫu thu hẹp tiêu điểm diễn ra khi trong mỗi thế hệ, sự chú ý của người đọc được hướng về một hậu tự duy nhất” — đã định khung cho mối quan tâm chính của sách Sáng-thế Ký về sự sinh sản của loài người, vốn bắt nguồn từ Sáng-thế Ký 1. Bắt đầu với sự sáng tạo người nam và người nữ trong vườn, câu chuyện tiến triển theo dòng gia phả và kết thúc với Giô-sép cùng các anh em của ông tại xứ Ê-díp-tô. Họ là dòng dõi xa của Áp-ra-ham, hậu tự của Sem, hậu tự của Sết, con trai của A-đam và Ê-va (Sáng-thế Ký 4:26; 5:4). Sáng-thế Ký 1:22 và 28 giới thiệu chủ đề sinh sản của loài vật và loài người, nhưng các toledot chỉ tập trung vào phản ứng của loài người đối với chức vụ được giao (1:28) và mạng lịnh của Đức Chúa Trời là giữ và canh giữ vườn, không ăn trái cây của cây biết điều thiện và điều ác (2:15–17).

Hai toledot đầu tiên khởi đầu và phát triển cuộc xung đột giữa điều thiện và điều ác trong bối cảnh thức ăn và sinh sản (2:17; 3:5; 6:2, 5), còn toledot cuối cùng giải quyết xung đột ấy, cũng trong bối cảnh thức ăn và sinh sản (41:56–57; 42:1–2; 47; 50:20–21). Khi Giô-sép nói với các anh em rằng điều họ toan tính làm điều ác thì Đức Chúa Trời lại toan tính làm điều lành (Sáng-thế Ký 50:20), ông gợi lại ngôn ngữ của Sáng-thế Ký 6:5: “Đức Chúa Trời thấy sự gian ác của loài người rất nhiều trên đất, và các ý tưởng của lòng họ chỉ là xấu luôn luôn.” Hành vi gian ác của các anh em gợi lại hành vi của nhân loại trước thời kỳ nước lụt, qua đó liên kết hành vi của dòng dõi được hứa của Áp-ra-ham với dòng dõi của A-đam trước lời hứa (6:2–4). Vai trò của Giô-sép trong việc cung cấp lương thực cho cả thế gian gợi lại điều mà người nữ đã thấy là tốt cho thức ăn, nhưng lần này đem lại hậu quả khôn ngoan và công chính thật sự. Gordon McConville viết rằng: “Kết luận của câu chuyện về Giô-sép vang vọng một sự căng thẳng nền tảng trong sách Sáng-thế Ký giữa điều được mô tả là khả năng của lòng người để toan tính điều ác (6:5) và khải tượng của Đức Chúa Trời về thế giới khi sáng tạo là ‘tốt lành’” (1:31). Vậy thì chữ “tốt lành” trong Sáng-thế Ký 1 có nghĩa gì, và điều gì đã xảy ra với nó trong các tường thuật trước thời kỳ nước lụt từ Sáng-thế Ký 2:4–6:7?

Ý NGHĨA CỦA CHỮ “TỐT LÀNH” TRONG CÁC SỰ CHẤP THUẬN CỦA SÁNG-THẾ KÝ 1
#

Giới học giả được trích dẫn ở trên đồng thuận rằng chữ “tốt lành” trong Sáng-thế Ký 1 ám chỉ sự sáng tạo có mục đích trong ý muốn của Đức Chúa Trời, rằng các vật được dựng nên là tốt lành cho một điều gì đó. Tuy nhiên, bản chất của điều đó lại không được xác định rõ. Việc giải thích rằng các sự chấp thuận này nói đến điều tốt lành về mặt đạo đức của con người sẽ gặp phải các vấn đề về bản chất của các vật mà Đức Chúa Trời đã dựng nên. Việc Sa-ra làm điều tốt theo mắt mình (Sáng-thế Ký 16:6) hay Lót bảo những người nam ở Sô-đôm và Gô-mô-rơ làm điều tốt theo mắt họ (Sáng-thế Ký 19:8) đối với các con gái ông là không liên quan, vì các sự chấp thuận trong Sáng-thế Ký 1 nói đến các vật không phải là người, chứ không phải các tác nhân con người. Sách Sáng-thế Ký không gán đạo đức cho các loài không phải là người. Thay vào đó, sách đánh giá hành vi của con người. Điều này đặc biệt rõ trong các sự chấp thuận ở Sáng-thế Ký 3:6 và 6:2. Vậy nếu chữ “tốt lành” có nghĩa là các vật không phải là người có mục đích, lợi ích, hay mục tiêu, thì những điều đó là gì? “Tốt lành cho một điều gì đó” của các loài được Đức Chúa Trời chấp thuận là gì?

Đức Chúa Trời đã dựng nên các loài không phải là người trong ngày thứ năm “để sanh sản và thêm nhiều, làm đầy dẫy nước biển… và loài chim sanh sản trên đất” (Sáng-thế Ký 1:22). Sự ban phước này, theo sau sự chấp thuận của Đức Chúa Trời (Sáng-thế Ký 1:21), định nghĩa sự chấp thuận ấy: mục đích của các loài không phải là loài người này là để làm cho phong phú và sanh sản. Việc dựng nên súc vật và các loài sinh vật khác trong ngày này, cùng với chế độ ăn được chỉ định cho loài vật và loài người (mà đất sanh ra cây cỏ và cây có hột giống — Sáng-thế Ký 1:29), và việc Đức Giê-hô-va khiến mọc lên nhiều cây (Sáng-thế Ký 2:8–9) để làm thức ăn khi “chưa có ai cày đất” (Sáng-thế Ký 2:5) đều xác nhận điều đó. Qua sự sáng tạo, mọi loài sống không phải là người đều có khả năng sanh sản một cách bẩm sinh. Việc điều đó là “tốt lành” có nghĩa là đó chính là mục đích của chúng.

Cuộc thảo luận của Höver-Johag về từ tabiś trong văn hóa Mê-sô-pô-ta-mi cũng hướng chúng ta theo chiều hướng này. Ông viết rằng tabiś, nghĩa là “một cách tốt lành, tốt đẹp,” cũng có thể được hiểu là “với điềm lành.” Trong biên niên sử của Ashurbanipal, sự vui lòng của các thần được gắn liền với mưa của thần Adad, tức là với sự phì nhiêu của đất và sự thịnh vượng đi kèm. Irene Winters lập luận rằng sự quan tâm đến nguồn gốc của sự phong phú là điều phổ biến trong thời kỳ Tân A-sy-ri. Assurnasirpal II tuyên bố rằng “trong thời trị vì của ta có sự phong phú và thịnh vượng”; ông cũng ước mong rằng một hoàng tử tương lai “sẽ thiết lập sự dư dật, thịnh vượng và phong phú trong xứ”; sự phong phú này ám chỉ đến nước dùng cho “sản xuất nông nghiệp… hơn là sự giàu có về vật chất.” Điều này gợi ý rằng các sự chấp thuận của Đức Chúa Trời trong Sáng-thế Ký 1 cho thấy rằng mọi loài không phải là người đều tốt lành trong việc cung cấp một tương lai phong phú, phì nhiêu và có trật tự, và rằng chúng tuyên bố điềm lành — trái ngược hoàn toàn với khía cạnh u ám trong các câu chuyện sáng thế của thế giới cổ đại.

Trước hết, nói chung, sự giải nghĩa của Giô-sép đem lại điềm lành cho quan tửu chánh (בִּי טוֹב, Sáng-thế Ký 40:16), cũng như những lời khuyên của ông nhằm duy trì một tương lai phong phú cho xứ Ê-díp-tô; Pha-ra-ôn lấy làm đẹp lòng (וַיִיטַב הַדָּבָר בְּעֵינֵי פַרְעֹה, Sáng-thế Ký 41:37). Cụ thể hơn, chữ טוֹב được dùng để mô tả những con bò mập, cùng với các bông lúa và những năm tốt lành; tất cả cùng biểu tượng cho sự phì nhiêu của đất Ê-díp-tô, đối lập với sự cằn cỗi sắp đến (bò, bông lúa, năm), được mô tả bằng chữ “gian ác” (רָע, Sáng-thế Ký 41:1–36). Sau đó, Giô-sép hứa với Gia-cốp và gia đình ông rằng họ sẽ “ăn phần béo của đất” (וְאָכְלוּ אֶת־חֵלֶב הָאָרֶץ, Sáng-thế Ký 45:18) và nhận được điều tốt nhất (טוּב, Sáng-thế Ký 45:18, 20, 23) của xứ Ê-díp-tô.

Nếu điều này là đúng, thì điều mà Đức Chúa Trời đã chấp thuận bảy lần trong Sáng-thế Ký 1 chính là một trật tự thế giới được quy định về mục đích bởi Đức Chúa Trời và có khả năng sanh sản một cách bẩm sinh — không có mối đe dọa nội tại nào về sự hỗn loạn.

VÌ SAO KHÔNG CÓ SỰ CHẤP THUẬN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI SAU KHI LOÀI NGƯỜI ĐƯỢC DỰNG NÊN?
#

Vì sự chấp thuận thứ bảy (Sáng-thế Ký 1:31) là bao quát, nên có thể hiểu rằng nó bao gồm cả loài người trong mục đích sinh sản phong phú của công cuộc sáng tạo. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời không tuyên bố rõ ràng rằng loài người là tốt lành sau khi được dựng nên. Thay vào đó, việc dựng nên loài người được tiếp nối bằng một chuỗi các động từ mô tả chức vụ đặc biệt của người nam và người nữ mà Ngài đã dựng nên (Sáng-thế Ký 1:28):

Mục đích định trước của loài người:

  • 1:26a: Đoạn Đức Chúa Trời phán rằng,
  • 1:26b: Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta, giống như ta;
  • 1:26c: và để họ cai trị… (ba cõi)

Sự sáng tạo loài người:

  • 1:27a: Đức Chúa Trời dựng nên loài người như hình Ngài;
  • 1:27b: Ngài dựng nên người như hình Đức Chúa Trời;
  • 1:27c: Ngài dựng nên người nam và người nữ.

Mục đích được truyền lịnh cho loài người:

  • 1:28a: Đức Chúa Trời ban phước cho họ.
  • 1:28c: Đức Chúa Trời phán cùng họ rằng:
  • 1:28d: Hãy sanh sản, thêm nhiều, làm đầy dẫy đất, và làm cho đất phục tùng;
  • 1:28e: Hãy cai trị… (ba cõi)

Sự định đoạt của Đức Chúa Trời (Sáng-thế Ký 1:26–27) để dựng nên loài người theo hình ảnh và tượng Ngài đã xác lập loài người là đại diện đặc biệt của Ngài với mục đích cai trị và quản trị thế giới. Giống như các loài sinh vật trong ngày thứ năm, loài người có khả năng sanh sản và làm đầy đất một cách bẩm sinh; nhưng khác với chúng, loài người được truyền lịnh phải làm cho đất phục tùng và cai trị các loài sinh vật trong ba cõi (Sáng-thế Ký 1:26c, 28c). Vì vậy, khả năng sinh sản của loài người là một điều tốt lành bẩm sinh, giống như các loài sinh vật của ngày thứ năm. Với sự thêm vào của nhiệm vụ đặc biệt là chế phục và cai trị, loài người nhận được một chức vụ có mục đích mà các loài không phải là người không có.

Lời kết rằng “Đức Chúa Trời thấy mọi vật Ngài đã dựng nên đều là rất tốt lành” (Sáng-thế Ký 1:31) cho thấy rằng các sự chấp thuận trong Sáng-thế Ký 1 mô tả một công cuộc sáng tạo có tiềm năng bẩm sinh cho một tương lai phong phú, phì nhiêu và có trật tự — mà mọi vật Đức Chúa Trời đã dựng nên, theo bản chất của chúng, sẽ góp phần vào đó, nhưng dưới sự quản trị của loài người. Việc thay thế công thức chấp thuận sau khi loài người được dựng nên bằng một chuỗi các mạng lịnh (Sáng-thế Ký 1:28) đã đặt loài người vào một vị trí riêng biệt.

Khác với các loài không phải là loài người, vốn hành động một cách tự nhiên hài hòa với trật tự của muôn vật và vì thế là tốt lành một cách bẩm sinh, thì mệnh đề mục đích (Sáng-thế Ký 1:26c) và sự ban phước kèm theo mạng lịnh (Sáng-thế Ký 1:28) lại để ngỏ câu hỏi: liệu loài người có phải là tốt lành bẩm sinh (không thể phạm tội - non posse peccare) hay là có khả năng phạm tội (có thể không phạm tội - posse non peccare)?

Liệu hành vi của người nam và người nữ có giữ được trong ranh giới mà Đấng Tạo Hóa đã định giữa chính Ngài và mọi vật Ngài đã dựng nên, và giữa chức vụ đặc biệt của họ với chức năng của các loài không phải là người? Nghĩa là, liệu họ có nhìn thấy mục đích tốt lành và tương lai phong phú của công cuộc sáng tạo như Đức Chúa Trời đã thấy và đã dựng nên không? Điều gì sẽ xảy ra nếu những kẻ được ban phước, được đặt làm nổi bật và được giao quyền cai trị như những người mang hình ảnh của Đức Chúa Trời lại không trung tín thi hành chức vụ đặc biệt đã được giao và giới hạn cho họ?

Câu trả lời nằm trong sự từ chối của loài người trong việc trung tín thi hành chức vụ đặc biệt của mình (Sáng-thế Ký 3:6; 6:2). Việc loài người không bao giờ nhận được sự chấp thuận rõ ràng từ Đức Chúa Trời là một lời nhắc nhở liên tục cho những người đọc đầu tiên và về sau của sách Sáng-thế Ký rằng vấn đề căn bản chính là sự sai lệch trong chức vụ của loài người.

SỰ CHẤP THUẬN TRONG SÁNG THẾ KÝ 2:4–6:8
#

Các sự chấp thuận trong Sáng Thế Ký 3:6 và 6:2 mô tả điều loài người đã làm với quyền tự chủ được ban cho. Sự chấp thuận đầu tiên tập trung vào việc không vâng theo mạng lệnh trong vườn, dẫn đến việc loài người bị đuổi khỏi sự hiện diện của Đức Chúa Trời; sự chấp thuận thứ hai dẫn đến sự hủy diệt của mọi sinh vật trên đất, ngoại trừ những người ở trong tàu.

1 - Khi người nữ thấy rằng… (Sáng Thế Ký 3:6)
#

Tương tự như sự chấp thuận của Đức Chúa Trời trong Sáng-thế Ký 1:31, sự chấp thuận của người nữ xảy ra sau phần mở rộng trong Sáng-thế Ký 2:8–17 về việc tạo dựng các loài cây có hạt giống trong Sáng-thế Ký 1:11–12, các chỉ dẫn về thực phẩm trong 1:29–30, và việc Đức Giê-hô-va Đức Chúa Trời trồng các cây đẹp mắt và tốt cho thức ăn trong vườn (2:8–9). Sự sắp xếp song song này nhấn mạnh sự chu cấp của Đức Chúa Trời về thực phẩm cho loài người và các loài vật như một phần của trật tự thế giới chuẩn mực. Đây là điều tốt lành trong Sáng-thế Ký 1:31. Trật tự tạo dựng là tốt lành, được định sẵn để sinh sản và phong phú; khu vườn trên đất có khả năng thực hiện mục đích ấy dưới sự quản trị của con người là minh chứng cho tiềm năng tốt lành đó.

Sự sinh sản trong trật tự tạo dựng chuẩn mực (Quan điểm của Đức Chúa Trời)Sự sinh sản trong khu vườn (Quan điểm của con người/thế gian)
Sáng Thế Ký 1:11–12: Đức Chúa Trời tạo dựng cây cỏ có hạt giốngSáng Thế Ký 2:8–9b: Đức Chúa Trời sắp đặt khu vườn, đặt người vào đó với các cây tốt cho thức ăn
Sáng Thế Ký 1:20–25: Tạo dựng các loài vật trong ba cõi (hãy sinh sản)
Sáng Thế Ký 1:28 – Mạng lệnh của Đức Chúa Trời ban cho loài người: “Hãy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy đất.”Sáng Thế Ký 2:9cd – “Ở giữa vườn có cây sự sống, và cây biết điều thiện và điều ác… cây thì coi đẹp mắt và tốt cho đồ ăn.”
Sáng Thế Ký 1:29–30 – Chỉ dẫn về thực phẩm cho loài người và loài vật: “Ta ban cho các ngươi mọi thứ cỏ kết hột ở trên mặt đất, và các cây có trái kết hột, để dùng làm đồ ăn.”Sáng Thế Ký 2:17a – “Nhưng về cây biết điều thiện và điều ác, thì ngươi không nên ăn.”
Sáng Thế Ký 1:31 – “Đức Chúa Trời thấy các việc Ngài đã làm đều rất tốt lành.”

Đoạn này cũng giới thiệu điều đối lập tiềm tàng của sự tốt lành — cây sự sống và cây biết điều thiện và điều ác, là cây không tốt cho đồ ăn (Sáng-thế Ký 2:9d, 17). Việc giới thiệu cây biết điều thiện và điều ác là thông tin trung lập: chưa có sự lựa chọn nào từ phía con người; vẫn là nói về đời sống tốt lành. Sự căng thẳng xuất hiện khi có mạng lệnh không được ăn từ cây đó, vì điều ấy hàm ý một quyền tự chủ vượt ra ngoài điều tốt lành.

Sự nhận xét của Đức Chúa Trời rằng “không tốt lành” (לא טוב, Sáng Thế Ký 2:18) khi người nam không có bạn đồng hành không phải là một phán xét giá trị về bản chất của sự sáng tạo. Trái lại, điều đó nhắc nhở người đọc rằng sự sinh sản của công cuộc sáng tạo, đặc biệt là việc ăn uống và điều đẹp mắt, sẽ là một hoạt động cộng đồng do người nam và người nữ hướng dẫn (Sáng-thế Ký 1:27). Người nam một mình có thể ăn, nhưng không thể sanh sản và thêm nhiều.

Liên kết theo chủ đề với các chỉ dẫn về thực phẩm trong Sáng-thế Ký 1:29 (việc thấy, sự ưa thích, đồ ăn và các cây trong Sáng-thế Ký 2:8–9, 17), Sáng-thế Ký 3:1–5 gợi lại thực đơn của Sáng-thế Ký 1–2; sự chấp thuận trong Sáng-thế Ký 3:6 gợi lại những điều trong Sáng-thế Ký 1 nhưng với một sự đứt gãy triệt để.

Người nữ, được giới thiệu là người giúp đỡ của người nam trong Sáng-thế Ký 2:18–25, chứ không phải Đức Chúa Trời, là chủ từ của động từ “thấy”; nàng thấy cây bị cấm.

  • 3:6a Khi người nữ thấy
  • 3:6b rằng cây đó tốt cho đồ ăn
  • 3:6c và đẹp mắt
  • 3:6d và đáng ưa thích để được khôn ngoan
  • 3:6e nàng bèn hái trái cây đó
  • 3:6f và ăn
  • 3:6g rồi đưa cho chồng mình
  • 3:6h là người ở cùng nàng
  • 3:6i và người cũng ăn.

Điều người đọc biết về các mạng lệnh của Đức Chúa Trời liên quan đến thực phẩm và cây cối trong Sáng-thế Ký 1:29–30 và 2:5–17 khác biệt về chất so với điều người nữ thấy là tốt lành và đáng ưa thích trong Sáng-thế Ký 3:6. Giờ đây, chính mắt nàng, chứ không phải của Đức Chúa Trời, xác định điều gì là thuận lợi cho sự sống; và bởi vì “nàng cũng đưa cho chồng mình, là người ở cùng nàng,” thì người nữ đã làm gì trong việc giúp người nam ăn điều bị cấm?

Nghiên cứu của Malcom Clark về cụm từ “biết điều thiện và điều ác” là rất sáng tỏ. Ông chỉ ra ước muốn của vua Sa-lô-môn để phân biệt điều thiện và điều ác (1 Các Vua 3:9) và lời mô tả của người nữ ở Thê-cô-a về khả năng của vua Đa-vít trong việc làm điều ấy (2 Sa-mu-ên 14:17), và ông kết luận rằng:

Một sự tuyên bố về “điều thiện” hay “điều ác” hoạt động gần như một quyết định “có” hay “không”… trong mọi văn bản liên quan, điều thiện và điều ác phải được xem là hai lựa chọn thực sự… Chúng ta có hai phạm trù bao hàm toàn bộ: mọi sự đều thuộc về một trong hai — không có vùng trung gian… đằng sau việc dùng chữ טוב (tốt) để nói “có” là ý tưởng, đặc biệt được nhấn mạnh trong các vòng triết lý khôn ngoan, nhưng không chỉ giới hạn ở đó, về một trật tự thế giới được Đức Chúa Trời thiết lập, vốn biểu hiện trong mọi lĩnh vực (ví dụ: thiên nhiên, xã hội, và nghi lễ). “Điều thiện” vì thế là điều phù hợp với trật tự thế giới này (Maat), và rốt cuộc chỉ những gì hòa hợp với điều ấy mới có thể tồn tại… Áp dụng vào Sáng-thế Ký chương 2 trở đi… chính loài người tuyên bố điều gì là tốt. Người làm điều tốt theo mắt mình, chứ không theo mắt của Đức Chúa Trời.

Khi người nữ nói “không” với điều Đức Chúa Trời xem là tốt lành — đặc biệt là mạng lệnh không được ăn trái cây biết điều thiện và điều ác — và nói “có” với điều nàng cho là tốt và đáng ưa thích theo mắt mình, thì nàng đã làm sai lệch hình ảnh mà mình mang lấy. Nàng đã không vâng theo mạng lệnh của Đức Chúa Trời trong sự hiện diện của Ngài tại vườn. Khi vượt qua ranh giới phân định hành vi “tốt lành” của loài người, người nữ và người nam không trở nên thần thánh, nhưng họ đã gia tăng sự “nhận biết về ranh giới giữa họ và Đức Chúa Trời.” Ranh giới ấy vốn đã tồn tại từ ban đầu, vì Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa, còn loài người là tạo vật; sự nhận biết mới về ranh giới ấy “gây đau đớn.”

Hành vi của họ, giờ đây trái ngược với điều Đức Chúa Trời xem là tốt lành, mang theo hậu quả lâu dài — theo bản chất của trật tự tốt lành do Đấng Tạo Hóa thiết lập, người nam và người nữ sẽ tiếp tục cai trị các loài vật, sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy đất, quản trị đất (Sáng-thế Ký 1:28b), và làm việc trên đất (so sánh Sáng-thế Ký 2:15; 3:23), nhưng việc sanh sản và làm đất sẽ bị cản trở bởi sự lao khổ đau đớn (עצבון; Sáng-thế Ký 3:16–17; so sánh 4:12; 9:2). Họ sẽ làm những điều ấy bên ngoài sự hiện diện thân mật của Đức Chúa Trời trong vườn, nơi mà việc nói “không” với điều Đức Chúa Trời xem là tốt lành sẽ trở thành chuẩn mực mới và sẽ gây khó chịu như việc cày bừa đất đai.

Người nữ tìm kiếm điều gì khi ăn trái cấm? Van Selms cho rằng ba mệnh đề phụ trong Sáng-thế Ký 3:6bcd thể hiện điều mà Robert Alter mô tả là “sự lặp lại tăng tiến, vốn cung cấp sự tăng cường hoặc khai triển dần dần của một tuyên bố ban đầu.” Nếu vậy, thì Sáng-thế Ký 3:6d nêu rõ động lực cao điểm dẫn đến hành động hái và ăn — đó là sự ham muốn được khôn ngoan (לְהַשְׂכִּיל הַנֶּחְמָד).

Sự ham muốn có thể “trung lập về đạo đức khi nó chỉ đơn giản nói đến những điều tốt lành mà việc sở hữu chúng đem lại sự vui thích”: những áo đẹp (Sáng-thế Ký 27:15), đồ ăn ngon (Đa-ni-ên 10:3), kho báu lấp lánh (Thi-thiên 39:12; Đa-ni-ên 11:38). Hơn nữa, một điều bị ham muốn nhưng bị cấm không nhất thiết là xấu; nó chỉ đơn giản bị đặt ra ngoài tầm với bởi một mạng lệnh như “chớ ăn” hay “chớ đụng đến” trái cây bị cấm (Sáng-thế Ký 2:17; 3:3; Lê-vi Ký 11), “ngươi chớ tham vợ kẻ lân cận ngươi” (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:17), hoặc lời của A-can: “ta thấy và tham muốn, rồi lấy” những vật đã được biệt riêng cho Đức Giê-hô-va để bị diệt (Giô-suê 7:21; so sánh 6:17).

Vì là điều cấm kỵ, những vật bị cấm thiết lập ranh giới cho hành vi loài người. Sách Lê-vi dạy dân Y-sơ-ra-ên xưa về những ranh giới ấy trong chế độ ăn uống: “Ấy là luật pháp… để phân biệt giữa vật ô uế và vật sạch, giữa loài sanh vật nào được ăn và loài nào không được ăn” (Lê-vi Ký 11:47; so sánh 20:25–26). Những sự phân biệt mà Y-sơ-ra-ên được dạy phải giữ lại chính là sự phản chiếu của những điều vốn có trong công cuộc sáng tạo (Sáng-thế Ký 1:4, 6, 7, 14; so sánh Ê-sai 59:2; Ê-xê-chi-ên 22:26; Ê-xơ-ra 9:2; Nê-hê-mi 10:28–29; 13:23–27). Người nữ đã vượt qua ranh giới của thực đơn được chỉ định khi ham muốn điều mà theo mạng lệnh của Đức Chúa Trời là không tốt lành.

Khi nhìn thấy điều tốt lành theo mắt mình, người nữ (và người nam ở cùng nàng) đã trở nên khôn ngoan theo mắt mình, một cách kiêu ngạo và không thể tránh khỏi sự ngu dại (Châm-ngôn 12:15; 16:2; 26:12). Khi vui thích với “bánh ăn cách kín đáo” (Châm-ngôn 9:17; so sánh 6:16–19), người nữ và người nam đã trở thành khách “trong nơi sâu thẳm của âm phủ” (Châm-ngôn 9:18; Sáng-thế Ký 2:17).

Tiếp tục khai triển động từ “thấy,” sách Sáng-thế Ký mô tả hậu quả của sự ham muốn ấy: mắt họ mở ra để thấy sự trần truồng của mình trước mặt Đức Chúa Trời (Sáng-thế Ký 3:7a). Sự hiểu biết mới này (họ vốn đã biết mình trần truồng [Sáng-thế Ký 2:25]) nhưng đầy xấu hổ khiến họ phải che đậy sự trần truồng của mình trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời (Sáng-thế Ký 3:7b; Xuất Ê-díp-tô Ký 20:26).

Biết điều thiện và điều ác như Đức Chúa Trời, và vì thế được sống đời đời (Sáng-thế Ký 3:22), là một sự hiểu biết chỉ giới hạn nơi Đức Chúa Trời. Việc bị đuổi khỏi Ê-đen khiến tương lai ấy trở nên bất khả thi (Sáng-thế Ký 3:23).

Tuy nhiên, nếu “tốt lành” trong Sáng-thế Ký 1 ám chỉ sự dư dật và một tương lai hài hòa tùy thuộc vào sự vâng phục của loài người đối với mạng lệnh của Đức Chúa Trời, thì điều đối nghịch của nó - “ác” - chỉ có thể là sự hỗn loạn và một cuộc tranh đấu liên tục để hưởng sự dư dật, sanh sản, và làm việc trên đất (עצבון, Sáng-thế Ký 3:16–17). Điều đáng chú ý là sách Sáng-thế Ký không mô tả việc ăn trái cấm là điều ác; nó chỉ áp dụng chữ “ác” cho hành vi của loài người khi “Đức Giê-hô-va thấy sự gian ác của loài người rất nhiều trên đất, và mọi ý tưởng của lòng họ chỉ là ác luôn luôn” (Sáng Thế Ký 6:5a).

Mọi sự bắt đầu từ đó…

2 - Khi Các Con Trai của Đức Chúa Trời Thấy Rằng… (Sáng Thế Ký 6:2)
#

Trong bối cảnh hy vọng rằng Nô-ê sẽ đem lại sự yên nghỉ khỏi sự lao khổ đau đớn đã giáng trên người nam và người nữ (עצבון, Sáng-thế Ký 5:29; so sánh 3:16–17), và sau khi ghi nhận rằng Nô-ê đã sinh (ויולד, Sáng-thế Ký 5:32) Sem, Cham và Gia-phết (5:32), thì văn bản tiếp tục:

  • 6:1a Khi loài người bắt đầu thêm nhiều trên mặt đất
  • 6:1b và các con gái được sinh ra cho họ,
  • 6:2a thì các con trai của Đức Chúa Trời thấy rằng các con gái của loài người là tốt lành (טבת).
  • 6:2b Và họ lấy những người nữ ấy làm vợ, tùy ý mình chọn…
  • 6:4c … và những người nữ ấy sinh con cho họ.

Sáng-thế Ký chương 6 tiếp tục chủ đề về sự sanh sản đã được khởi đầu trong chương 5, tuy nhiên theo một cách khác thường. Sáng-thế Ký 6:1–4 chỉ rõ “các con gái,” chứ không phải “các con trai và con gái” hay “con trai”; những người nữ này “được sinh ra,” chứ không phải “được sinh bởi,” là động từ thường dùng cho sự sanh sản trong các tường thuật trước thời tổ phụ ở Sáng-thế Ký 5 và 11:10–26.

Hơn nữa, các con trai của Đức Chúa Trời “đến cùng” (בא אל, Sáng-thế Ký 6:4) các con gái của loài người, và những người nữ ấy sinh “con cái” (ילדם, 6:4), chứ không phải “các con trai và con gái.” Sau cùng, không một người con nào của họ được đặt tên, như đã thấy trong Sáng-thế Ký 4 và 5.

Những khác biệt này vang lên như một điềm gở.

Các con trai của Đức Chúa Trời (Elohim) thấy rằng các con gái của loài người (האדם) là tốt lành (טבת, Sáng-thế Ký 6:2a). Dù hình thức tương tự với các sự chấp thuận trong Sáng-thế Ký 1 và 3:6, nhiều bản dịch Kinh Thánh đã dịch chữ טוב trong 6:2a là “hấp dẫn” (ESV), “đẹp” (NIV, NJPS) hoặc “xinh” (NRSV, KJV). Việc dịch như vậy làm giảm đi sự gợi nhớ đến các sự chấp thuận trong Sáng-thế Ký 1 và 3:6, và vì thế loại bỏ đoạn văn này khỏi cuộc thảo luận về điều đã xảy ra với những gì Đức Chúa Trời xem là tốt lành.

Carol Kaminski lập luận rằng cách dịch như vậy chỉ đúng khi tính từ đó đứng trong mối liên hệ cấu trúc, như trong trường hợp của Rê-bê-ca: “người nữ trẻ tuổi rất đẹp về hình dạng” (טבת מראה מאד, Sáng-thế Ký 24:16), và “nàng đẹp về hình dạng” (היא ראית מראה היך, Sáng-thế Ký 26:7). Ở những chỗ khác trong sách Sáng-thế Ký, “đẹp” hoặc “hấp dẫn” là cách dịch của tính từ יפה, khi nó đứng một mình (Sáng-thế Ký 12:14) hoặc trong mối liên hệ cấu trúc (מראה, Sáng-thế Ký 12:11; 29:17; 39:6; 41:2, 4 – các con bò trong giấc mộng của Giô-sép; תאר, Sáng-thế Ký 29:17; 39:6; 41:18 – các con bò trong giấc mộng của Giô-sép).

Tuy nhiên, khác với những cách dùng đó, chữ טוב trong Sáng-thế Ký 6:2 đứng một mình. Tương tự, trong Xuất Ê-díp-tô Ký 2:2, Các Quan Xét 15:2, 1 Sa-mu-ên 9:2, và 1 Các Vua 20:3, tính từ טוב cũng xuất hiện một mình.

Sáng-thế Ký 6:1–4 cũng chia sẻ từ vựng một cách độc đáo với phần còn lại của Sáng-thế Ký 1–11 — mười một lần xuất hiện của chữ טוב (bao gồm việc các con trai của Đức Chúa Trời thấy rằng các con gái của loài người là טוב) và sự vắng mặt của tính từ đẹp (יפה). Những từ vựng liên quan khác gồm có “khởi đầu” (חלל, Sáng-thế Ký 4:26; 6:1; 9:20; 10:8; 11:6), và sau đó chỉ xuất hiện trong câu chuyện về Giô-sép (Sáng-thế Ký 41:54; 44:12; so sánh 49:4); “loài người” (אדם, 36 lần trong Sáng-thế Ký 1–11, và thêm một lần nữa trong 12:16); “các con gái” (בנות, 18 lần trong Sáng-thế Ký 5 và 11; và sau đó chỉ xuất hiện trong 17:17).

Những lập luận liên văn bản này củng cố kết luận của Kaminski rằng việc dùng chữ טוב và ראה trong Sáng-thế Ký 6:2 “thiết lập một sự kết nối… không phải với mô-típ về vẻ đẹp trong các tường thuật về tổ phụ sau đó, mà với trình thuật sáng tạo trong lịch sử nguyên thủy — giống như Đức Chúa Trời thấy rằng sự sáng tạo của Ngài là tốt lành, thì các con trai của Đức Chúa Trời thấy rằng các con gái của loài người là tốt lành.”

Sự kết hợp “Các con trai của Đức Chúa Trời thấy… tốt lành… và họ lấy làm vợ” gợi lại “người nữ thấy cây… tốt lành… rồi hái trái” (Sáng-thế Ký 3:6), qua đó duy trì sự liên kết giữa các đoạn văn này.

Các con trai của Đức Chúa Trời thấy rằng các con gái của loài người là “tốt lành,” chứ không phải “đẹp,” vì vậy hành vi của họ tương đồng với việc người nữ thấy “tốt lành” trong Sáng-thế Ký 3:6; họ đã sai lầm trong việc đánh giá điều họ cho là tốt lành, giống như người nữ đã sai trong sự đánh giá của nàng về điều tốt lành.

Vì Đức Chúa Trời chỉ thấy sự gian ác trên đất (רע כל–היום, Sáng-thế Ký 6:5), thì chỉ có thể kết luận rằng các con trai của Đức Chúa Trời đã xem điều gian ác là điều tốt lành. Theo cách nói của Malcolm Clark, họ đã tuyên bố một sự “đồng ý” hợp pháp đối với một điều tốt lành bị cấm — trong trường hợp này là sự sanh sản lai giống nhằm bảo đảm một tương lai dư dật. Các con trai của Đức Chúa Trời hành động như thể họ là Đức Chúa Trời, qua đó vi phạm ranh giới nghiêm trọng giữa Đấng Tạo Hóa và tạo vật.

Bührer liên kết hành vi này với Sáng-thế Ký 3:22:

Trong Sáng-thế Ký 3:22; 6:3 — cũng như trong Sáng-thế Ký 11:6 trở đi — trọng tâm là ranh giới giữa lĩnh vực thần thượng và nhân loại, giữa Đức Chúa Trời và con người (biết như Đức Chúa Trời, nhưng vẫn là loài chết), tức là giữa quyền năng của Đức Chúa Trời và của loài người (so sánh Sáng-thế Ký 11:6 với Gióp 42:2).

Chủ từ của động từ “thấy” trong Sáng-thế Ký 3:6 và 6:2 đều chấp thuận điều bị cấm. Người nữ tìm kiếm sự khôn ngoan qua việc ăn; các con trai của Đức Chúa Trời ham muốn các con gái của loài người như một phương tiện để bảo đảm dòng dõi trong tương lai. Cả hai đều không ham muốn điều tốt lành mà Đức Chúa Trời thấy.

Trình thuật bắt đầu với điều các con trai của Đức Chúa Trời thấy kết thúc bằng một mệnh đề nghịch chuyển tổng kết: “Nhưng Nô-ê được ơn trước mặt Đức Giê-hô-va” (Sáng-thế Ký 6:8), qua đó cho thấy hành vi của Nô-ê khác biệt với những người đi trước trong trình thuật (הָאָדָם, Sáng-thế Ký 6:1, 5).

Những người đi trước ấy là ai, và dòng dõi của họ kéo dài đến đâu?

ĐIỀU GÌ XẢY RA SAU KHI ĐỨC CHÚA TRỜI THẤY MỌI SỰ LÀ TỐT LÀNH?
#

Kaminski lập luận rằng sự đánh giá tiêu cực của Đức Giê-hô-va về loài người “tương phản rõ rệt với công cuộc sáng tạo ‘tốt lành’” trong Sáng-thế Ký 1, và điều đó dẫn đến “sự hối tiếc của Ngài về việc sáng tạo” (Sáng-thế Ký 6:6–7), qua đó đưa ra một chuyển động trong trình thuật từ việc Đức Chúa Trời thấy điều tốt lành trong Sáng-thế Ký 1 đến việc Ngài thấy sự gian ác của loài người trong Sáng-thế Ký 6:5.

Tuy nhiên, sự thiếu vắng lời chấp thuận của Đức Chúa Trời sau khi loài người được tạo dựng khiến cho điều này khó có thể đúng. Không giống như các tạo vật phi nhân loại, loài người không được gọi là “tốt lành” khi được tạo dựng; trái lại, loài người được định nghĩa bởi quyền tự chủ có mục đích — sự sanh sản và quản trị các tạo vật phi nhân loại, bao gồm cả mạng lệnh làm vườn và giữ gìn đất. Việc thực hiện những điều ấy có thể sẽ nhận được sự chấp thuận của Đức Chúa Trời là “tốt lành.”

Việc chuyển từ sự tuyên bố rằng tạo vật phi nhân loại là tốt lành trong Sáng-thế Ký 1 sang việc gọi loài người là gian ác trong Sáng-thế Ký 6 là một sai lệch về phạm trù. Tốt hơn là nên bắt đầu với Sáng-thế Ký 5, mô tả sự vâng phục của loài người đối với mạng lệnh sanh sản trong Sáng-thế Ký 1:28, bắt đầu từ A-đam trong Sáng-thế Ký 5:1 và kết thúc với Nô-ê trong Sáng-thế Ký 5:32.

Chuỗi gia phả này được tiếp nối bởi trình thuật về sự sanh sản vượt ranh giới, việc Đức Giê-hô-va thấy sự gian ác của loài người (Sáng-thế Ký 6:5), và sự phán xét của Ngài để hủy diệt mọi sinh vật sống. Việc đặt Sáng-thế Ký 6:1–4 bên cạnh Sáng-thế Ký 5 cho thấy hai hình thức sanh sản: hình thức thứ nhất không bị phê phán (Sáng-thế Ký 5:1–32), nhưng phải chịu chết theo như Sáng-thế Ký 2:17; hình thức thứ hai là sự sanh sản vượt ranh giới, tiếp theo là sự không chấp thuận của Đức Chúa Trời rằng “mọi ý tưởng của lòng họ chỉ là ác luôn luôn” (רַק רַע כָּל־הַיּוֹם, Sáng-thế Ký 6:5) và quyết định hủy diệt “mọi xác thịt” (Sáng-thế Ký 6:13).

Dòng trình thuật này cho thấy rằng sự gian ác trong Sáng-thế Ký 6:5 ám chỉ đến sự sanh sản vượt ranh giới, khác với sự sanh sản bình thường trong Sáng-thế Ký 5. Nếu phần toledot thứ hai chuyển từ sự sanh sản vâng phục theo Sáng-thế Ký 1:28 sang sự sanh sản lai giống, và nếu Sáng-thế Ký 6:1–8 là một đơn vị trình thuật kết thúc bằng một mệnh đề nghịch chuyển tổng kết, thì điều đó cho thấy rằng sự sanh sản của Nô-ê được phân biệt với sự sanh sản bất hợp pháp của những người đi trước ông trong Sáng-thế Ký 6:1–7; và đó là lý do vì sao ông được ơn trước mặt Đức Chúa Trời.

Kaminsky lập luận rằng “vấn đề đặt ra là liệu Nô-ê được ơn là do hành động nhân từ và không dựa trên công trạng của Đức Chúa Trời dành cho ông, hay là do lòng đạo đức của ông,” và kết luận rằng “Đức Chúa Trời đã nhân từ với Nô-ê, ông không xứng đáng nhận được ơn ấy.” Ơn (חן) thường là không xứng đáng, nhưng khái niệm “ơn không xứng đáng” nằm ngoài phạm vi của sách Sáng-thế Ký. Trái lại, sách Sáng-thế Ký quan tâm đến sự vâng phục của loài người đối với ý muốn của Đức Chúa Trời — đó là trọng tâm của các mạng lệnh trong Sáng-thế Ký 1:28 và 2:15–17 — và sự nghiêm trọng của hậu quả khi không vâng phục (Sáng-thế Ký 3:6–24; 4:10–12; 6:1–7; 11:1–9) đối với điều mà Đức Chúa Trời xem là tốt lành.

Từ A-đam đến Nô-ê, Sáng-thế Ký 4 và 5 minh họa sự vâng phục mạng lệnh sanh sản trong Sáng-thế Ký 1:28. Nô-ê cũng vâng theo các chỉ dẫn của Đức Chúa Trời về việc xây dựng (Sáng-thế Ký 6:22; 7:5, 16), qua đó thể hiện vai trò quản trị công cuộc sáng tạo — để cai trị và làm cho phục tùng (Sáng-thế Ký 1:28).

B. Jacob hiểu ơn của Đức Chúa Trời là bằng chứng cho thấy Nô-ê là đầy tớ công bình của Đức Chúa Trời, nhưng không dựa vào Sáng-thế Ký 6:9. Thay vào đó, ông chỉ ra Sáng-thế Ký 9:7, nơi lặp lại mạng lệnh sau trận lụt: “Hãy sanh sản và thêm nhiều…” qua đó gợi ý rằng sự sanh sản của Nô-ê (Sáng-thế Ký 5:32) là lý do khiến ông được ơn. Ngoài ra, ông lưu ý rằng cụm từ “trước mặt Đức Giê-hô-va” (Sáng-thế Ký 6:8) đối nghịch với việc Đức Chúa Trời thấy loài người là gian ác (Sáng-thế Ký 6:5). Vì vậy, không phải là không thể hiểu câu nói “được ơn trước mặt Đức Giê-hô-va” như là một đáp ứng của Đức Giê-hô-va đối với sự vâng phục của Nô-ê theo Sáng-thế Ký 1:28.

Sách Sáng-thế Ký lặp lại sự quan tâm đến việc sanh sản của loài người sau khi người đọc biết rằng Nô-ê là người công bình, không chỗ trách được giữa đồng thời của mình, và đồng đi với Đức Chúa Trời: “Nô-ê sinh ba con trai, là Sem, Cham, và Gia-phết” (Sáng-thế Ký 6:10), một sự lặp lại giả định của Sáng-thế Ký 5:32. Qua việc sanh sản và sau đó là xây dựng tàu, niềm hi vọng được yên nghỉ khỏi lao khổ đau đớn được bày tỏ lúc Nô-ê ra đời (עצבון, Sáng-thế Ký 5:29; so sánh 3:16–17; 6:6: ויתעצב) sẽ xuất hiện.

Khác với dòng dõi của sự sanh sản bất hợp pháp, vốn không có tương lai vì gian ác và bị hủy diệt trong trận lụt, các con trai của Nô-ê sẽ sinh ra các dân tộc sau trận lụt (Sáng-thế Ký 9:19; 10:1–32), và đến cuối phần toledot thứ năm, Tha-rê sẽ sinh Áp-ra-ham (Sáng-thế Ký 11:26, 27). Với Áp-ra-ham, sách Sáng-thế Ký chuyển sang các trình thuật về lời hứa, tập trung vào dòng giống được hứa ban, vốn đạt đến cao điểm trong câu chuyện về Giô-sép, nơi xuất hiện nhóm thứ hai của những người được chấp thuận (Sáng-thế Ký 40:16; 49:15).

KẾT LUẬN
#

Bài luận này đã lập luận rằng các sự chấp thuận của Đức Chúa Trời trong Sáng-thế Ký chương 1 mô tả một trật tự thế giới trong đó các tạo vật phi nhân loại vốn dĩ sinh sản và phong phú — nghĩa là chúng vốn được tạo nên để thực hiện mục đích ấy một cách tốt lành. Đó là ý nghĩa của chữ טוב trong sáu sự chấp thuận đầu tiên của Đức Chúa Trời trong Sáng-thế Ký 1; nó không chỉ về điều tốt lành về mặt đạo đức, vì các vật phi nhân loại không phải là những tác nhân đạo đức.

Việc sử dụng chữ טוב trong câu chuyện về Giô-sép củng cố ý nghĩa này khi mô tả về mùa gặt tốt lành, sự thoát khỏi nạn đói và sự tốt lành của xứ Ê-díp-tô. Sách Sáng-thế Ký phát triển chủ đề về sự phong phú và sinh sản trong cấu trúc các toledot, đặc biệt khi nói đến dòng dõi loài người như là đối tượng của một sự sinh sản không đem lại tương lai dư dật (Sáng-thế Ký 3:6; 6:2). Bắt đầu từ toledot thứ sáu, dòng dõi của Sem được hứa ban một tương lai dư dật.

Việc Nô-ê sinh con cách công bình (Sáng-thế Ký 6:9; 7:2) tương phản rõ rệt với sự sanh sản lai giống của thế hệ ông, cho thấy rằng tương lai của công cuộc sáng tạo gắn liền với những thực hành sinh sản của loài người sao cho hòa hợp với điều Đức Chúa Trời thấy là tốt lành — và khi không hòa hợp (Sáng-thế Ký 3:6; 6:2), thì sự hỗn loạn sẽ xảy ra.