1. Giới Thiệu#
Các nhà bình luận Kinh Thánh thời cổ đại, trung cổ và hiện đại có những quan điểm khác nhau về ý nghĩa của Sáng Thế Ký 1:5: “… có buổi tối và có buổi sáng, một ngày.”
Không còn nghi ngờ gì nữa, Do Thái giáo chính thống hiểu rằng “ngày” bắt đầu từ lúc mặt trời lặn và kết thúc vào lúc đêm hôm sau. Do đó, ngày Sa-bát được xem là kéo dài từ tối thứ Sáu [erev Shabbat] đến tối thứ Bảy [b’motza’ei Shabbat].
Vấn đề này được đề cập trong các trước tác của các giáo sĩ Do Thái thời kỳ đầu. Vào thời Trung Cổ, nhà bình luận Talmud và nhà giải nghĩa Kinh Thánh là Samuel Ben Meir, được biết đến với tên Rashbam (khoảng năm 1080 - khoảng năm 1160), và Abraham Ibn Ezra (khoảng năm 1089 - khoảng năm 1167) đã có những quan điểm khác nhau về ý nghĩa chính xác của cụm từ này.
Trong phần bình luận của mình về Sáng Thế Ký 1:5, Rashbam viết rằng “ánh sáng luôn đến trước và bóng tối đến sau,” một tuyên bố có thể, nhưng không nhất thiết, được hiểu là ngày đến trước đêm.
Ibn Ezra, trong phần bình luận của ông về Sáng Thế Ký 1:5 và được mở rộng trong Thư về ngày Sa-bát [Iggeret haShabbat], đã phản bác lại Rashbam. Ông cho rằng trong phần đầu của câu: “Đức Chúa Trời gọi ánh sáng là ngày, và bóng tối là đêm,” ánh sáng được đặt trước bóng tối và do đó có thể được hiểu là ủng hộ quan điểm của Cơ Đốc giáo. Tuy nhiên, phần sau của câu: “và có buổi tối và có buổi sáng, một ngày,” lại đặt buổi tối trước buổi sáng, và vì vậy có thể được xem là xác nhận lập trường truyền thống của người Do Thái.
Các lập luận ủng hộ và phản đối đều không đưa ra được bằng chứng rõ ràng theo hướng nào. Cho đến ngày nay, câu hỏi này vẫn chưa được giải quyết dứt khoát. Cassuto cho rằng Rashbam chứ không phải Ibn Ezra đã đưa ra lời giải thích đúng về câu Kinh Thánh. Tuy nhiên, cuối cùng ông cũng cố gắng dung hòa cả hai quan điểm, và vì thế ông viết:
“Phương pháp tính ngày bắt đầu từ buổi tối, vốn phổ biến trong giới du mục, là cách dùng cổ xưa hơn. Nhưng khi đời sống dân sự áp dụng một hệ thống mới, xem bình minh là thời điểm bắt đầu ngày theo điều kiện đang hiện hành tại xứ Ca-na-an, thì sự thay đổi ấy không ảnh hưởng đến truyền thống tôn giáo, vốn có tính bảo thủ. Và cũng như xưa kia các ngày thánh bắt đầu từ buổi tối, thì tập tục ấy vẫn được giữ nguyên và được ghi lại trong luật pháp của Kinh Thánh.”
Câu hỏi về thời điểm bắt đầu và kết thúc của một ngày có liên hệ đến một vấn đề rộng lớn hơn: liệu trong thời cổ đại, dân Y-sơ-ra-ên có theo lịch mặt trời hay lịch mặt trăng để xác định mùa và các kỳ lễ?
Theo chu kỳ mặt trời, ngày bắt đầu từ lúc mặt trời mọc; còn theo cách tính của lịch mặt trăng, ngày bắt đầu từ lúc mặt trăng mọc. Trong nửa sau của thời kỳ Đền Thờ thứ hai, cuộc tranh luận giữa lịch mặt trời và lịch mặt trăng đã gây chia rẽ trong cộng đồng Do Thái cả ở đất Israel lẫn trong vùng lưu đày. Việc không có một tuyên bố rõ ràng rằng ngày Sa-bát phải được biệt riêng từ tối thứ Sáu đến tối thứ Bảy là một điểm trọng tâm trong cuộc tranh luận.
Những người ủng hộ lịch mặt trời lập luận rằng cả phần luật pháp đa dạng lẫn các phần tường thuật trong Kinh Thánh đều không có quy định nào cho rằng ngày phải được tính từ lúc trời tối đến tối hôm sau. Để củng cố lập trường của mình, họ viện dẫn điều răn về ngày Sa-bát trong sách Xuất Ê-díp-tô Ký 20:10–11 và Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:12–14, cũng như các chương về Sự Sáng Tạo (Sáng Thế Ký 2; Xuất Ê-díp-tô Ký 31 và 35; Lê-vi Ký 23), nơi không có đề cập đến buổi tối trước đó. Những đoạn này nói đến “yom ha’shabbat” (ngày Sa-bát), “yom hashvi’i” (ngày thứ bảy), hoặc “b’etzem hayom haʼzeh” (chính ngày này). Trường hợp người nhặt củi vào “yom ha’shabbat” và bị xử phạt là một ví dụ không thuyết phục, vì hành động ấy thường được thực hiện vào ban ngày chứ không phải ban đêm.
Ibn Ezra cũng ghi nhận rằng không có một mệnh lệnh nào biệt riêng buổi tối trước ngày Sa-bát, nhưng ông cho rằng điều đó không quan trọng. Vì không thể đưa ra bằng chứng Kinh Thánh cho tập tục và truyền thống đã trở thành dòng chính của Do Thái giáo trong hơn một thiên niên kỷ, ông đã viện đến lý luận, như chúng ta thấy trong phần bình luận của ông về Xuất Ê-díp-tô Ký 16:25:
“Nhiều người không tin đã giải nghĩa sai câu này và nói rằng phải giữ ngày Sa-bát (ban ngày) và cả đêm sau đó, bởi vì Môi-se đã nói: ‘Hôm nay là ngày Sa-bát cho Đức Chúa Trời’ chứ không phải đêm trước đó… Họ cũng tự ý giải nghĩa cụm từ ‘có buổi tối và có buổi sáng’ (Sáng Thế Ký 1:5-31) rằng ngày đầu tiên chỉ hoàn tất vào buổi sáng hôm sau.
Nhưng họ đã sai, Môi-se chỉ nói với dân Y-sơ-ra-ên theo tập tục của những người khác… Vì tập tục của những người không chịu phép cắt bì thì không giống với những gì được thực hành tại đất Israel về thức ăn, trang phục và các điều khác. Tập tục của họ là nấu nướng, làm bánh và lao động chỉ vào ban ngày, cả mùa hè lẫn mùa đông. Vì vậy, Môi-se nói ‘ngày mai’.
Giờ hãy chú ý đến sự ngu dốt của những người giải nghĩa cụm từ ‘có buổi tối và có buổi sáng’ theo cách tôi vừa nêu. Văn bản chép rằng Đức Chúa Trời gọi ánh sáng là ngày, tức là khoảng thời gian từ lúc mặt trời mọc đến lúc mặt trời lặn; và bóng tối là đêm, tức là khoảng thời gian từ lúc mặt trời lặn đến lúc mặt trời mọc. Nhưng theo cách giải nghĩa của những người không tin, thì đêm trở thành ngày, và bóng tối trở thành ánh sáng. Làm sao có thể gọi khoảng thời gian từ ‘erev’ (nghĩa là hoàng hôn) đến ‘boker`’ (buổi sáng) là ‘ngày’, trong khi thực tế đó là đêm? Về những người bình luận này, có câu Kinh Thánh rằng: ‘Họ biến đêm thành ngày’ (Gióp 17:12).”
2. Lịch của Cộng Đồng Giao Ước tại Qumran#
Theo Talmon, những mảnh văn bản lịch được phát hiện tại Qumran chứng minh rằng các thành viên của Cộng Đồng Giao Ước Được Đổi Mới (the Community of the Renewed Covenant) đã tuân theo lịch mặt trời gồm 364 ngày mỗi năm, ngắn hơn lịch mặt trời La Mã (còn gọi là Lịch Julius) do Julius Caesar thiết lập vào năm 46 TCN khoảng 30 giờ. Cách tính lịch của Qumran, rất có thể, đã được các thành viên Giao Ước xứ Giu-đê (Judean Covenanters) biết đến qua các sách Jubilees và Enoch, chứ không phải là sự sáng tạo của riêng họ. Trái lại, với tư cách là những người bất đồng, họ tuyên bố rằng mình đang gìn giữ một tập tục cổ xưa của dân Y-sơ-ra-ên, có từ thời Sáng Thế. Hơn nữa, họ không ngần ngại cáo buộc cộng đồng Do Thái chính thống và các lãnh đạo của nó đã từ bỏ lịch mặt trời vốn là hợp pháp duy nhất, để chạy theo lịch mặt trăng của dân ngoại, và cùng với đó là cách tính ngày (bao gồm cả ngày Sa-bát) từ buổi tối đến buổi tối, như người ta vẫn thấy ở những người giữ lịch mặt trăng.
Lập luận của những người giữ Giao Ước (the Covenanters) chống lại cách tính lịch dựa trên chu kỳ mặt trăng, vốn là tập tục trong Do Thái giáo chính thống, đã không bị các giáo sư Do Thái bỏ qua. Dấu vết của cuộc tranh luận này vẫn có thể nhận thấy trong văn học giáo sư (rabbinic literature). Các giáo sĩ không thể phớt lờ hay che giấu thực tế rằng những người bất đồng này, giống như người Sa-ma-ri, đã “giữ mọi điều răn mà họ giữ… một cách nghiêm ngặt hơn cả dân Y-sơ-ra-ên.” Vì vậy, phe Do Thái giáo chính thống thấy cần phải đưa ra những cáo buộc chống lại họ, nhằm biện minh cho việc kết tội và khai trừ họ khỏi cộng đồng. Câu nói được truyền lại nhân danh Eleazar xứ Modi’in rất có thể là nhằm vào những người bất đồng, chứ không phải các Cơ Đốc nhân:
“Kẻ nào làm ô uế ngày Sa-bát, khinh thường các kỳ lễ, xúc phạm Giao Ước trong thân thể, và đọc vào Kinh Luật những điều không có trong đó - dù người ấy có giữ Kinh Luật và làm việc lành - thì cũng không có phần trong đời sau.”
Câu nói này, rất có thể, là nhằm công kích những người Do Thái bất đồng quan điểm - những người tận tâm trong việc giữ các điều răn cách nghiêm ngặt, có “sự vâng giữ và việc lành” đáng ghi nhận, nhưng lại bất đồng với các giáo sư Do Thái về các vấn đề như phép cắt bì, cách giải nghĩa Torah, và việc giữ ngày Sa-bát cùng các kỳ lễ. Những người này không ai khác chính là cộng đồng Giao Ước tại Qumran, là những người đã bác bỏ các ngày lễ của Do Thái giáo và ấn định chúng theo lịch riêng của họ. Hơn thế nữa, họ đã làm ô uế buổi tối trước ngày Sa-bát, vốn không được xem là thánh theo hệ thống tính ngày bắt đầu từ lúc mặt trời mọc của họ.
3. Buổi Tối Trước Ngày Sa-bát#
“Ghi nhớ/ngày Sa-bát và giữ nó làm ngày thánh” (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:8 và Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:12) đã được các giáo sư Do Thái sử dụng làm nền tảng có thẩm quyền để đưa buổi tối trước ngày Sa-bát vào trong luật Sa-bát. Vì vậy, R. Juda ben Bathyra đã dạy rằng:
“Từ cách diễn đạt của điều răn ‘giữ ngày Sa-bát’ thì có thể hiểu rằng điều này chỉ áp dụng cho ban ngày. Vậy làm sao chúng ta có thể bao gồm cả ban đêm? Điều này được dạy qua cụm từ bổ sung ‘để giữ nó làm ngày thánh.’ Nếu vậy, tại sao lại nói ‘ngày’? Bởi vì ban ngày đáng được tôn trọng hơn ban đêm.”
Talmon nhận xét:
“Việc mở rộng luật Sa-bát để bao gồm cả buổi tối trước ngày Sa-bát rõ ràng là không phù hợp trong một hệ thống luật pháp gắn liền với lịch mặt trời, và không thích hợp cho một cộng đồng mà các thành viên của nó lấy từ lịch ấy danh hiệu tôn quý ‘Con cái của sự sáng’… Vì lý do đó, sự mở rộng này đã được cộng đồng Do Thái chính thống trong thời kỳ Đền Thờ thứ hai chấp nhận, và sau đó bởi cả các Rabbi lẫn đa số người Karaite thời Trung Cổ.”
Do không có một tuyên bố rõ ràng nào quy định việc giữ ngày Sa-bát bắt đầu từ tối thứ Sáu, nên việc biệt riêng buổi tối trước đó được suy luận từ các đoạn văn liên quan đến việc giữ Ngày Chuộc Tội và ngày đầu tiên của Lễ Bánh Không Men. Các câu trong sách Lê-vi ký đưa ra một quy định rõ ràng về việc giữ Ngày Chuộc Tội từ buổi tối ngày thứ chín cho đến buổi tối ngày thứ mười trong tháng thứ bảy: “Các ngươi phải tự hạ mình từ ngày thứ chín của tháng vào buổi tối [ba’erev]; từ buổi tối đến buổi tối của ngày thứ mười [m’erev ad erev] các ngươi phải giữ sự nghỉ ngơi của ngày Sa-bát” (Lê-vi Ký 23:26–32).
Luật về Lễ Bánh Không Men (Xuất Ê-díp-tô Ký 12:15, 19; Phục Truyền Luật Lệ Ký 16:3–4) quy định việc ăn bánh không men trong bảy ngày, nhưng không nêu rõ ngày tháng cụ thể. Tuy nhiên, theo ngữ cảnh thì rõ ràng việc giữ lễ bắt đầu vào buổi sáng của ngày kế tiếp sau nghi lễ dâng sinh tế chiên con lễ Vượt Qua, vốn được thực hiện vào buổi chiều (bein ha’arba’im) ngày thứ mười bốn của tháng thứ nhất (Xuất Ê-díp-tô Ký 12:2; Phục Truyền Luật Lệ Ký 16:7–8). Như vậy, Lễ Bánh Không Men kéo dài bảy ngày được định là từ ngày thứ mười bốn đến ngày thứ hai mươi mốt của tháng, với ngày thứ nhất và ngày thứ bảy được biệt riêng làm ngày nhóm họp thánh. Nhưng quy định rằng chiên con lễ Vượt Qua phải được ăn cùng với bánh không men và rau đắng (u’matzot al marrorim yochluhu) hàm ý rằng thời gian ăn bánh không men bắt đầu từ ngày thứ mười bốn.
Nê-hê-mi 13:19 dùng các cụm từ lifne hashabbat [trước ngày Sa-bát] và ahar hashabbat [sau ngày Sa-bát] để thuật lại lệnh của tổng đốc đóng các cổng thành Giê-ru-sa-lem nhằm ngăn chặn việc làm ô uế ngày Sa-bát. Rất có thể Nê-hê-mi đã ban hành lệnh này vào chiều thứ Sáu. Điều chưa rõ là liệu lifne hashabbat có chỉ thời điểm trong ngày trước ngày Sa-bát hay không. Ta cũng có thể đặt câu hỏi tương tự với cụm từ ahar hashabbat: liệu nó có chỉ đến tối thứ Bảy hay bất kỳ thời điểm nào trong khoảng 24 giờ sau ngày Sa-bát?
Từ Nê-hê-mi 7:3, chúng ta biết rằng vì lý do an ninh, Nê-hê-mi đã ra lệnh không mở lại các cổng thành cho đến khi mặt trời lên cao, điều này cho thấy rõ rằng câu 19 đang nói đến ngày kế tiếp chứ không phải đêm sau ngày Sa-bát.
Việc dùng cụm từ ahar hashabbat với nghĩa là “ngày kế tiếp” cũng xuất hiện trong văn học Rabbinic (xem: Mishna, Sa-bát 19:4), nơi có trường hợp “hai trẻ sơ sinh, một được làm phép cắt bì sau ngày Sa-bát và một được làm phép cắt bì vào ngày Sa-bát.” Cụm từ “ahar hashabbat” ở đây rõ ràng phải chỉ đến ngày kế tiếp (tức Chúa Nhật), chứ không phải đêm sau ngày Sa-bát (tức motzae Shabbat), vì phép cắt bì (brit milah) thường được thực hiện vào ban ngày.
4. Sự Thay Đổi từ Lịch Mặt Trời sang Lịch Mặt Trăng#
Kinh Thánh không nói rõ về sự thay đổi lịch từ lịch mặt trời sang lịch mặt trăng. Tuy nhiên, chúng ta có thể giả định rằng sự thay đổi này đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống cộng đồng và cá nhân. Có thể có một gợi ý về sự chuyển đổi ấy trong khải tượng về Bốn Con Thú của Đa-ni-ên (Đa-ni-ên 7:15–28), tượng trưng cho các vương quốc, trong đó vương quốc thứ tư được nói là khác biệt hoàn toàn so với ba vương quốc trước. Trong vương quốc thứ tư sẽ xuất hiện một kẻ nói lời chống lại Đấng Tối Cao và toan tính thay đổi thời kỳ và luật pháp, chiếm lấy cho mình một thuộc tính vốn chỉ thuộc về Đức Chúa Trời, Đấng duy nhất có quyền định đoạt thời gian và mùa vụ.
Saadia Gaon hiểu lời buộc tội này như một ám chỉ đến hoàng đế La Mã Titus, “người đã tìm cách thay đổi thời kỳ, bãi bỏ ngày Sa-bát, các kỳ lễ thánh, và Kinh Luật.” Những người không đồng ý với việc định niên đại cho sự thay đổi lịch vào thời Titus trị vì (79–81 CN) chỉ ra rằng các lãnh đạo Do Thái, đặc biệt là giới tư tế, sẽ không chấp nhận một cách im lặng những thay đổi triệt để do một kẻ cai trị ngoại bang thù địch áp đặt. Theo họ, hợp lý hơn là định niên đại cho sự chuyển sang cách tính lịch mặt trăng của Do Thái giáo chính thống, như được ám chỉ trong khải tượng của Đa-ni-ên, vào khoảng quý đầu tiên của thế kỷ thứ hai TCN, khi Antiochus IV Epiphanes đưa lịch mặt trăng vào đế quốc của ông.
Solomon Zeitlin định thời điểm bắt đầu việc tính ngày từ lúc mặt trời lặn theo lịch mặt trăng là vào giai đoạn đầu của thời kỳ Tái Thiết Quốc Gia. Theo Julian Morgenstern, sự thay đổi này được đưa vào Y-sơ-ra-ên khoảng một thế kỷ hoặc một thế kỷ rưỡi sau thời Nê-hê-mi.
Talmon đã viện dẫn các nguồn ngoài Kinh Thánh để củng cố giả thuyết rằng việc giữ ngày Sa-bát từ tối thứ Sáu đến tối thứ Bảy thực sự đã được thực hành hoặc được khởi xướng tại Y-sơ-ra-ên cổ đại sau thời Nê-hê-mi. Sự thay đổi từ cách tính này sang cách tính kia là kết quả của việc thay thế lịch mặt trời cổ đại bằng lịch mặt trăng. Sự thay đổi này được thực hiện bởi một dòng tư tế đã đạt được quyền lực tối cao trong Đền Thờ tại Giê-ru-sa-lem vào khoảng giữa thời kỳ Đền Thờ thứ hai.