Skip to main content

SÁNG THẾ KÝ 1 TRONG SÁCH JUBILEES

Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God

JOURNAL ARTICLES - GENESIS

Những người đọc Kinh Thánh thời xưa, giống như nhiều người sau này, đều hiểu rằng sách Sáng-thế ký là sự mặc khải dành cho một tác giả duy nhất, là Môi-se. Những người Do Thái đầu tiên giải thích Kinh Thánh là những người đọc cực kỳ sâu sắc. Họ nhận thấy vô số chi tiết trong bản văn, và chắc chắn không mù mờ trước những “bằng chứng” - mà các nhà chú giải Kinh Thánh về sau sử dụng để đưa ra giả thuyết về sự tồn tại của nhiều tác giả của các nguồn văn bản sơ khai và các biên tập viên khác nhau của sách Sáng-thế ký. Họ biết rõ các vấn đề liên quan đến bản văn, nhưng họ xử lý chúng theo cách phù hợp với đức tin của mình về bản văn và phương cách khai triển ý nghĩa của nó.

Tác giả của sách Julilees (thế kỷ thứ hai trước Công nguyên), có lẽ đã tận dụng nhiều tư liệu truyền thống để giúp hiểu sâu hơn văn bản cổ, đã biên soạn một tác phẩm cho thấy ông đã nhận ra và giải quyết những nan đề trong sách Sáng-thế ký, nhằm truyền đạt điều ông tin là thông điệp đến từ Đức Chúa Trời.

Tôi muốn tập trung vào một ví dụ trong cách ông đọc và hiểu văn bản: cách ông viết lại phần nội dung của công cuộc tạo dựng trong Sáng-thế ký - để xem ông thực hiện điều đó ra sao, những nan đề ông cho là cần phải được giải quyết, và thông điệp ông rút ra từ bản văn cổ xưa vốn được xem là có thẩm quyền này.

I. MỘT BỐI CẢNH MỚI CHO TƯỜNG THUẬT VỀ CÔNG CUỘC SÁNG TẠO
#

Có những thông tin mà bất kỳ người ham học hỏi nào cũng muốn biết khi cầm lấy sách Sáng-thế ký và bắt đầu đọc từ Sáng-thế ký 1:1. Chẳng hạn, người ấy có thể tự hỏi: ai đang phán dạy tôi qua bản văn này? Và, bất cứ ai đang phán dạy tôi, họ căn cứ vào đâu để nói về những điều đã xảy ra từ lâu, khi chưa có con người nào hiện diện để chứng kiến? Và tại sao họ lại kể điều này cho tôi?

Câu trả lời cho những câu hỏi như thế không hề tầm thường, vì chúng sẽ ảnh hưởng đến cách người ta đọc bản văn. Đối với những thắc mắc dạng này, việc trả lời rằng P và J đang phán với chúng ta trong Sáng-thế ký đoạn 1–2 có lẽ không đem lại sự thỏa mãn. Bởi vì, người đọc vẫn sẽ đặt lại những câu hỏi như: họ là ai, họ biết điều đó bằng cách nào, và tại sao họ lại công bố điều này?

Tác giả sách Jubilees đã xem các câu hỏi trên là nghiêm túc và đưa ra câu trả lời trong sách của mình. Dù thuật lại nội dung trong Sáng-thế ký, nhưng sách Jubilees không bắt đầu từ việc Đức Chúa Trời tạo dựng vũ trụ. Sách có một chương mở đầu giả định bối cảnh được mô tả trong Xuất Ê-díp-tô ký 24:2 - vào ngày sau khi giao ước được thiết lập tại núi Si-nai, Môi-se - theo lệnh của Đức Chúa Trời- lên núi và ở đó bốn mươi ngày bốn mươi đêm. Theo sách Jubilees, trong thời gian ấy Đức Chúa Trời đã phán dạy Môi-se, và cả hai có một cuộc đối thoại chiếm trọn chương 1. Chúa giải thích cho Môi-se rằng dân Y-sơ-ra-ên sắp sa ngã khỏi giao ước vừa được lập, và sau những lời cảnh báo thích đáng, họ sẽ bị lưu đày khỏi đất hứa như một hình phạt.

Những thông tin được ghi lại trong sách Jubilees nhằm xác chứng rằng Đức Chúa Trời đã công bình hơn dân Y-sơ-ra-ên trong cách Ngài thi hành giao ước với họ (Jubilees 1:7–18). Môi-se đáp lại bằng cách cầu xin Ngài ban cho dân sự một bản chất mới để họ không còn vi phạm giao ước và phải chịu hậu quả đi kèm (các câu 19–21; ông dùng ngôn ngữ từ Thi-thiên 51). Nhưng Đức Chúa Trời khẳng định rằng lịch sử phải diễn ra theo tiến trình của nó, trước khi Ngài thực hiện sự đổi mới căn bản nơi dân sự và phục hồi mối liên hệ trọn vẹn với Ngài (các câu 22–25). Ngay sau đó, Chúa truyền lệnh cho Thiên sứ Hiện diện viết cho Môi-se theo bản văn khắc trên các bia đá, nơi ghi lại mọi biến cố từ sáng tạo ban đầu cho đến sự tạo dựng mới. Đây chính là bối cảnh cho phần còn lại của sách - Môi-se ghi chép theo sự phán truyền nội dung từ chương 2 đến chương 50, bao gồm các sự kiện từ Sáng-thế ký 1 cho đến giữa sách Xuất Ê-díp-tô ký.

Vì vậy, người đọc sách Jubilees nhận được câu trả lời cho những câu hỏi đã nêu trước đó. Người đang nói trong sách - người thuật lại câu chuyện - là Thiên sứ Hiện diện được Đức Chúa Trời chỉ định, và nguồn thông tin của vị ấy là những bia đá hoàn toàn đáng tin cậy. Thiên sứ kể lại câu chuyện cho Môi-se - một người có độ tin cậy tuyệt đối - để chỉ ra cho dân Y-sơ-ra-ên tầm quan trọng của việc sống vâng phục trong mối quan hệ giao ước với Đức Chúa Trời. Giao ước giữa Chúa và dân Y-sơ-ra-ên cùng với các luật lệ của Ngài cần được ghi sâu vào tâm trí người đọc ngay sau khi họ kết thúc chương 1 và bước sang phần nói về công cuộc tạo dựng trong chương 2.

II. CHÍNH CÂU CHUYỆN SÁNG THẾ
#

Thiên sứ phán truyền thuật lại cho Môi-se một phiên bản về nguồn gốc có liên quan nhưng khác biệt đáng kể so với những gì được ghi trong sách Sáng-thế ký. Các đoạn Sáng-thế ký 1–2 được xem là nền tảng chủ đạo, nhưng tác giả sách Jubilees đã chỉnh sửa và bổ sung ở một số điểm then chốt.

2.1. Một Khuôn Mẫu Khác
#

Một trong những điểm ấy là cách sắp xếp hay hình thức để thuật lại công việc Đức Chúa Trời đã thực hiện trong sáu ngày đầu tiên. Thật vậy, khi đem so sánh thì thấy hai bản văn được trình bày rất khác nhau.

Sáng thế ký 1Jubilees 2
Và Đức Chúa Trời phánVào ngày thứ …
Một mạng lệnhĐộng từ của sự tạo dựng
Động từ của hành độngDanh sách những thứ được tạo dựng
Và việc xảy ra y như lời phánSố các công việc trong ngày đó
Và Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt lànhMà Đức Chúa Trời đã làm trong ngày thứ …
Có buổi chiều và buổi mai
Ngày thứ …

Như chúng ta sẽ thấy, những thay đổi này là có chủ đích và phục vụ cho những mục đích lớn hơn.

2.2. Những Yếu Tố Bị Thiếu
#

Có một số điểm đáng chú ý bị lược bỏ trong phần thuật lại trong sách Jubilees chương 2:

1️⃣ - Việc tạo dựng bằng lời phán, một chủ đề nổi bật trong Sáng-thế ký 1, không xuất hiện trong Jubilees 2

Trong Sáng-thế ký 1, mỗi ngày Đức Chúa Trời đều ban mạng lệnh, nhưng trong Jubilees 2, Ngài không nói lời nào (chỉ có một lời nhắc đến lệnh truyền của Ngài trong câu 5). Sự thay đổi này có thể xuất phát từ bối cảnh kể chuyện trong sách Jubilees và xu hướng của tác giả là kể lại các biến cố thay vì phát triển nội dung qua đối thoại (ví dụ: so sánh cách trình bày các đoạn Sáng-thế ký 24 và 32–33, vốn gần như biến mất hoàn toàn trong Jubilees 19:10 và 29:13).

2️⃣ - Việc nhấn mạnh gần như mỗi ngày về sự tốt lành của công cuộc tạo dựng cũng không hiện diện trong Jubilees 2

Trong Sáng-thế ký, yếu tố này xuất hiện ở tất cả các ngày trừ ngày thứ hai, và được nhấn mạnh mạnh mẽ ở cuối tiến trình khi Đức Chúa Trời thấy mọi điều Ngài đã dựng nên đều “rất tốt lành” (Sáng-thế ký 1:31). Tác giả Jubilees, dĩ nhiên, không phủ nhận rằng Đức Chúa Trời đã tạo dựng một vũ trụ tốt lành, nhưng ông trình bày ý đó ít hơn và dùng ngôn ngữ khác biệt. Chẳng hạn, sau bảy công cuộc tạo dựng trong ngày thứ nhất, các thiên sứ ngợi khen Đức Chúa Trời vì những công trình ấy (được gọi là “các việc lớn lao”; Jubilees 2:3). Và vào các ngày thứ ba và thứ năm, Ngài được mô tả là đã dựng nên những loại tạo vật lớn lao (trong Jubilees 2:7 là bốn loại, và trong 2:12 là ba loại).

3️⃣ - Sự đề cập đến “buổi chiều và buổi sáng” cho mỗi ngày không hiện diện trong Jubilees 2

Có thể dễ dàng xem sự thiếu vắng này là không đáng kể trong bối cảnh từ “ngày” được lặp lại nhiều lần, nhưng tác giả Jubilees lại rất quan tâm đến lịch pháp và niên đại, và ông cũng giả định rằng ngày bắt đầu vào buổi tối, như cách Sáng-thế ký 1 dường như đã trình bày.

Tác giả sách Jubilees xem việc trình bày sự tạo dựng trong sáu ngày là điều quan trọng và đã lồng ghép một số yếu tố từ Sáng-thế ký chương 2, chẳng hạn như danh xưng “Đức Chúa Trời” (እግዚአብሔር አምላክ / ’egzi’abḥēr ’amlāk) và Vườn Ê-đen. Tuy nhiên, ông chỉ cung cấp phần cốt lõi của trình thuật. Mối quan tâm thực sự của ông nằm ở chỗ khác.

2.3. Những Điểm Nhấn Mạnh trong Sách Jubilees
#

Ngay từ phần mở đầu của trình thuật về sự tạo dựng trong sách Jubilees, người đọc cảm nhận rằng có điều gì đó khác biệt đang diễn ra. Trong khi Sáng-thế ký 1 bắt đầu bằng những lời đã gợi nên nhiều cuộc tranh luận và thường được dịch là: “Ban đầu, Đức Chúa Trời dựng nên trời và đất,” thì sách Jubilees hoàn toàn không có câu mở đầu như vậy.

a. Ngày Sa-bát
#

Đúng theo bối cảnh kể chuyện của sách, những lời đầu tiên trong Jubilees chương 2 lại nêu bật một điểm khác biệt khi giới thiệu câu chuyện về sự tạo dựng.

1️⃣ - Jubilees 2:1 ghi rằng: “Theo lệnh của Chúa, Thiên sứ Hiện diện nói với Môi-se: Hãy chép tất cả những lời về sự tạo dựng - về việc vào ngày thứ sáu, Đức Chúa Trời đã hoàn tất mọi công việc của Ngài, mọi điều Ngài đã tạo dựng, và Ngài đã giữ ngày Sa-bát vào ngày thứ bảy. Ngài biệt riêng ngày đó cho muôn đời và lập nó làm dấu hiệu cho mọi công việc của Ngài.”

Rõ ràng từ lời mở đầu của thiên sứ với Môi-se, tác giả sách Jubilees muốn đi ngay vào trọng tâm khác - và điểm ấy chính là ngày Sa-bát. Thiên sứ không chỉ nhấn mạnh rằng Đức Chúa Trời đã hoàn tất toàn bộ công cuộc tạo dựng vào cuối ngày thứ sáu, mà còn thêm rằng Ngài đã kỷ niệm ngày Sa-bát vào ngày thứ bảy.

Sách Sáng-thế ký có đề cập đến việc Đức Chúa Trời nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy, nhưng dùng động từ chứ không dùng danh từ “Sa-bát.” Hơn nữa, sách Sáng-thế ký chỉ đề cập đến ngày nghỉ sau khi đã liệt kê sáu ngày tạo dựng. Trong sách Jubilees, ngày Sa-bát được nêu ra ngay đầu chương về sự tạo dựng, cho thấy tầm quan trọng áp đảo của ngày này và những ý nghĩa đi kèm mà tác giả muốn truyền đạt sẽ sớm được làm rõ.

2️⃣ - Xuất Ê-díp-tô ký 31:12–17 (so sánh thêm với 35:1–3):

Một sự kiện liên quan đến ngày Sa-bát đã được nhắc đến ngay trong câu 1, đó là Đức Chúa Trời đã biệt riêng ngày Sa-bát (động từ có thể xuất phát từ Sáng-thế ký 2:3) cho muôn đời và lập nó làm “dấu hiệu cho mọi công việc của Ngài.” Cách diễn đạt này hướng sự chú ý của người đọc đến Xuất Ê-díp-tô ký 31:12–17 - phần cuối của các chỉ thị thiên thượng về việc dựng nên đền tạm - cũng đang bàn về ngày Sa-bát. Phân đoạn này, vốn nằm trong bối cảnh văn học mà sách Jubilees sử dụng (Môi-se ở lại trên núi Si-nai bốn mươi ngày đêm lần đầu tiên), được xem là rất quan trọng trong đoạn này vì nó cũng nói đến ngày Sa-bát liên kết với công cuộc tạo dựng (tương tự như Xuất Ê-díp-tô ký 20:8–11).

Trong Xuất Ê-díp-tô ký 31, ngày Sa-bát được gọi là “dấu hiệu” hai lần (câu 12 và 17), và được miêu tả như là biểu tượng Đức Chúa Trời đã biệt riêng dân Y-sơ-ra-ên (câu 12: “ngày được ban ra để ngươi biết rằng Ta là Đức Chúa Trời, Đấng biệt riêng ngươi”) và rằng “Đây là dấu hiệu vĩnh viễn giữa Ta và dân Y-sơ-ra-ên: trong sáu ngày Đức Chúa Trời đã tạo dựng trời và đất, còn ngày thứ bảy Ngài nghỉ ngơi và được phục hồi” (câu 17). Các chủ đề gắn với ngày Sa-bát trong Jubilees 2:1 (và những đoạn sau trong chương) cũng hiện diện ở đây trong Xuất Ê-díp-tô ký 31.

Việc tác giả Jubilees rút ra lời văn và tư tưởng từ Xuất Ê-díp-tô ký 31 là một ví dụ rõ ràng trong nhiều trường hợp khi ông đọc sách Sáng-thế ký trong một bối cảnh rộng lớn hơn. Ông thường xuyên lồng ghép những phần liên quan để đưa ra một cái nhìn đầy đủ hơn. Ý tưởng về ngày Sa-bát sẽ tiếp tục giữ vai trò trọng yếu trong phần tạo dựng và cả trong đoạn tiếp theo ngay sau đó.

3️⃣ - Dành riêng cho dân Y-sơ-ra-ên

Việc sử dụng bối cảnh sách Xuất Ê-díp-tô ký đã mang lại một kết quả khác cho tác giả. Ở đó, “ngày Sa-bát là ‘dấu hiệu’ của mối quan hệ đặc biệt giữa Đức Chúa Trời và dân sự Ngài, một mối quan hệ mà cả thế gian phải nhận biết sự hiện diện của nó (câu 13b), chính mối liên hệ này khiến dân Y-sơ-ra-ên trở nên ’thánh,’ nghĩa là được biệt riêng ra khỏi các dân khác.” Theo phân đoạn ấy, ngày Sa-bát là dấu hiệu liên kết với mối quan hệ độc đáo giữa Y-sơ-ra-ên và Đức Chúa Trời, Đấng đã biệt riêng cả hai.

Trong khi đó, Sáng-thế ký 1:1–2:3 có thể dễ dàng khiến người đọc suy luận rằng ngày Sa-bát là hình mẫu cho toàn thể nhân loại, vì mọi người đều là con cháu của người nam và nữ đầu tiên. Nhưng tác giả sách Jubilees đã dứt khoát bác bỏ ý tưởng này ngay trước khi mô tả các sự kiện trong ngày thứ nhất. Khi làm điều này, ông đi theo khuôn mẫu của Xuất Ê-díp-tô ký 31:12–17.

Rốt cuộc, trong cả chương 1 và chương 2 của Jubilees, mối quan hệ giữa dân Y-sơ-ra-ên và Đức Chúa Trời là trọng tâm - chứ không phải mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời và mọi dân tộc hay quốc gia. Tác giả Jubilees nhất quán theo đuổi luận điểm rút ra từ Xuất Ê-díp-tô ký 31 bằng cách không đề cập đến ngày Sa-bát trong những chỉ dẫn mà Nô-ê và Áp-ra-ham dành cho con cháu mình - những người bao gồm tổ tiên của các dân tộc không thuộc Y-sơ-ra-ên. Chỉ khi ông nói đến dân Y-sơ-ra-ên trong sách thì ông mới đề cập đến ngày Sa-bát.

4️⃣ - Ngày thứ nhất

Khi nhìn vào đoạn mô tả về ngày thứ nhất, người đọc sẽ thấy rõ hơn những phản ánh liên quan đến ngày Sa-bát. Trong Sáng-thế ký 1:3–5, Đức Chúa Trời tạo nên ánh sáng vào ngày thứ nhất, phân rẽ ánh sáng khỏi bóng tối, và gọi ánh sáng là “ngày,” bóng tối là “đêm.” Phần trình bày ngày thứ nhất trong Jubilees thì được mở rộng rất nhiều. Jubilees 2:2–3 ghi như sau:

“Vào ngày thứ nhất, Ngài đã dựng nên các tầng trời ở trên cao, đất, nước, và mọi linh thể phục vụ trước mặt Ngài, tức là: các thiên sứ hiện diện; thiên sứ của sự thánh khiết; thiên sứ của các linh thể lửa; thiên sứ của các luồng gió thổi; thiên sứ của các linh thể mây mù dùng cho bóng tối, băng giá, sương mù, sương mai, tuyết, mưa đá, và giá lạnh; thiên sứ của sấm sét; và thiên sứ của các luồng gió […]; và thiên sứ của các linh thể dùng cho lạnh và nóng, cho mùa đông và mùa hè, và cho mọi linh thể của các tạo vật mà Ngài đã dựng nên ở trên trời và dưới đất, và ở mọi nơi. [Cũng có] vực thẳm, bóng tối và rạng đông, ánh sáng và buổi chiều mà Ngài đã sắp đặt qua sự hiểu biết của Ngài. Sau đó, chúng tôi nhìn thấy các công việc của Ngài và chúc tụng Ngài về mọi công việc Ngài đã làm; chúng tôi dâng lời ngợi khen trước mặt Ngài vì Ngài đã dựng nên bảy công việc vĩ đại vào ngày thứ nhất.”

Trong đoạn mô tả dài về ngày thứ nhất này, người đọc có thể nhận ra một số yếu tố từ sách Sáng-thế ký - chẳng hạn như bóng tối và ánh sáng xuất hiện gần cuối danh sách, mặc dù các từ “ngày” và “đêm” không hiện diện ở đó. Có vẻ như ngày đầu tiên là một ngày rất hiệu quả, bởi vì trời và đất đều nằm trong số những điều được tạo dựng. Nhưng điểm bổ sung nổi bật nhất chính là phần mô tả về các thiên sứ.

Một câu hỏi mà nhiều người đọc sách Sáng-thế ký đặt ra là: khi nào Đức Chúa Trời tạo dựng các thiên sứ? Trong sách Sáng-thế ký, các thiên sứ xuất hiện ở nhiều phân đoạn sau, nhưng sách không bao giờ nói đến gốc gác của họ. Sách Jubilees thì đưa ra câu trả lời nơi mà Sáng-thế ký giữ im lặng - Đức Chúa Trời đã tạo nên họ vào ngày thứ nhất của tuần lễ đầu tiên - một điều được khơi gợi bởi thuật ngữ ḥôr trong Sáng-thế ký 1:2. Việc thêm thông tin này vào đoạn mô tả ngày thứ nhất làm nổi bật một đặc điểm rất đáng chú ý trong cách sách Jubilees viết lại trình thuật tạo dựng.

Như các học giả đã nhận xét, trong phần trình bày về ngày thứ nhất, tác giả đã không giới hạn nội dung của mình trong Sáng-thế ký 1:3–5, mà đã lồng ghép toàn bộ từ Sáng-thế ký 1:1–5. Và khi làm như vậy, ông đã đối diện với một câu hỏi khác mà nhiều người đọc cũng từng đặt ra: Hai câu đầu tiên của sách Sáng-thế ký thực sự nói gì? Ngay tại đây, người ta cũng thấy được những gợi nhắc về ngày Sa-bát trong phần văn bản được viết lại. Việc tác giả đưa cả đoạn 1–5 vào đã cho phép ông khẳng định rằng các thiên sứ - những tạo vật được dựng nên trong ngày thứ nhất - đã chúc tụng và ngợi khen Đức Chúa Trời vì những việc Ngài đã làm trong ngày ấy: “vì Ngài đã làm nên bảy công trình vĩ đại trong ngày thứ nhất” (Jubilees 2:3).

Tôi tin rằng bảy công trình ấy chính là:

Công trìnhĐịa chỉ
1. Trờitừ Sáng 1:1
2. Đất1:1,2
3. Nước1:2
4. Thần (của Chúa)1:2
5. Vực sâu1:2
6. Tối/sáng1:2, 4, 5
7. Ngày/đêm1:3, 4, 5

Tác giả có lý do để đưa vào bảy công trình vào ngày thứ nhất - vì trong năm ngày tạo dựng còn lại, không ngày nào có hơn bốn công trình. Con số bảy công trình trong ngày đầu tiên tạo thành một dạng đối xứng với ngày thứ bảy - ngày Sa-bát. Như vậy, trong sách của ông, những con số bảy bao quanh toàn bộ trình thuật tạo dựng. Hình thức mà ông dựng nên đã buộc ông phải thay đổi phần mô tả về các ngày thứ hai và thứ ba, vốn theo Sáng-thế ký là thời điểm Đức Chúa Trời dựng nên “trời” và “đất.”

Những phản ánh về ngày Sa-bát vượt xa con số bảy công trình của ngày thứ nhất. Tác giả đã khai triển phần ở giữa trong danh sách bảy công trình ấy - tức các linh thể ở vị trí thứ tư - và liệt kê ra bảy loại thiên sứ, trong đó hai loại đầu tiên cùng dự ngày Sa-bát với Đức Chúa Trời và dân Y-sơ-ra-ên (Jubilees 2:17–21). Để các linh thể ấy chiếm vị trí thứ tư trong danh sách các công trình tạo dựng ngày thứ nhất, ông buộc phải hoán đổi hai yếu tố trong Sáng-thế ký 1:1–5.

Theo trình tự của Sáng-thế ký, thứ tự là: trời, đất, bóng tối, vực sâu, thần khí/gió, nước, và cuối cùng là ánh sáng - với thần khí/gió ở vị trí thứ năm. Tác giả đã cố ý chuyển thần khí/gió lên trước vực sâu. Việc lập danh sách các thiên sứ và phạm vi công việc của họ không phải là điều đơn giản, mặc dù có khá nhiều bằng chứng văn bản cho phân đoạn ấy. 4Q216 5:5–9, các trích dẫn trong các nguồn tiếng Hy Lạp và Syria, cùng với các bản sao chép bằng tiếng Ê-thi-ô-pi đầy đủ cho thấy bảy loại thiên sứ gồm:

  1. Thiên sứ Hiện diện
  2. Thiên sứ của sự thánh khiết
  3. Thiên sứ của các linh thể lửa
  4. Thiên sứ của các luồng gió thổi
  5. Thiên sứ của các linh thể mây, bóng tối, băng giá, sương mù, sương mai, tuyết, mưa đá và giá lạnh
  6. Thiên sứ của âm thanh/sấm sét
  7. Thiên sứ của các linh thể về lạnh, nóng, mùa đông, và mùa hè

Vậy là có bảy loại thiên sứ mà Đức Chúa Trời đã dựng nên như là hành động tạo dựng ở giữa trong danh sách bảy công trình của ngày thứ nhất.

Danh từ “Sa-bát” xuất hiện trong phần thuật về ngày thứ tư, khi Đức Chúa Trời tạo nên các thiên thể. Các thiên thể ấy dùng để đánh dấu chu kỳ lịch pháp, các kỳ lễ, và những ngày Sa-bát (Jubilees 2:9). Khi tác giả đến ngày thứ bảy trong tiến trình liệt kê, ông dành trọn phần còn lại của chương hai để nói về ngày ấy và ý nghĩa của nó đối với dân Y-sơ-ra-ên (bao gồm cả các luật lệ cụ thể, Jubilees 2:17–33). Ông không bỏ lỡ bất kỳ cơ hội nào trong Jubilees 2 để nhấn mạnh đến ngày Sa-bát và ý nghĩa của nó dành cho dân Israel.

b. Đức Chúa Trời là Đấng Sáng Tạo Duy Nhất
#

Có thể nói rằng Jubilees chương 2, hơn cả Sáng-thế ký chương 1, nhấn mạnh rõ ràng rằng Đức Chúa Trời là Đấng duy nhất tham dự vào công cuộc tạo dựng thế giới. Sách trình bày sứ điệp này theo cách không hề để lộ một chút ám chỉ nào về việc bất kỳ ai hoặc điều gì khác đã mang vũ trụ hay bất kỳ phần nào của nó vào sự hiện hữu. Hãy lưu ý những điểm thay đổi trong Jubilees chương 2 khi so sánh với Sáng-thế ký chương 1.

1️⃣ - Sáng-thế ký 1:2 trong sách Jubilees

Sáng-thế ký 1:2, không nghi ngờ gì, đã thu hút rất nhiều bình luận khi người đọc cố gắng xác định chức năng của nó trong chương. Nếu Sáng-thế ký 1:1 được dịch là “Khi Đức Chúa Trời bắt đầu dựng nên…,” thì Sáng-thế ký 1:2 sẽ liên quan đến những điều đã hiện hữu khi Đức Chúa Trời bắt đầu tạo dựng. Cách diễn giải này tất nhiên sẽ dẫn đến những câu hỏi về nguồn gốc của các thực thể ấy, nhưng tác giả sách Jubilees đã xử lý vấn đề theo cách khiến nó không còn là trở ngại.

Tác giả sách Jubilees rất quen thuộc với Sáng-thế ký 1:2, vì câu này cung cấp bốn trong số bảy hiện tượng mà Đức Chúa Trời đã tạo dựng trong ngày thứ nhất (nước, linh thể, vực sâu, và bóng tối). Bằng cách liệt kê những yếu tố này vào các tạo vật của ngày đầu tiên, ông khẳng định rằng chính Đức Chúa Trời đã tạo dựng chúng, và như thế loại bỏ hoàn toàn khả năng cho rằng chúng đã hiện hữu trước công cuộc tạo dựng hay rằng chúng mang tính tiêu cực (ví dụ: chống đối Ngài).

Chỉ một mình Đức Chúa Trời đã dựng nên mọi sự và tất cả đều nằm dưới quyền tể trị của Ngài. Trong cách diễn giải này, tác giả sách Jubilees đi theo sự hướng dẫn của Ê-sai 44:24: “Ta là Đức Chúa Trời, Đấng đã làm nên muôn vật; một mình Ta căng rộng các tầng trời, một mình Ta trải đất ra.” Không có điều gì nằm ngoài quyền kiểm soát của Ngài. Như Menahem Kister nhận xét:

“Động lực để thêm việc tạo dựng tất cả các yếu tố được đề cập trong Sáng-thế ký 1:1–2 vào danh sách các công trình của ngày thứ nhất là cảm nhận rằng cần phải nhấn mạnh rằng không có nguyên tố nguyên thủy nào chưa được tạo dựng. Việc các yếu tố nguyên thủy hiện diện được tác giả sách Jubilees xem là một vấn đề thần học.”

2️⃣ - Các thiên sứ

Một cách thứ hai mà tác giả sách Jubilees cho thấy hoặc nhấn mạnh rằng Đức Chúa Trời là Đấng duy nhất tạo dựng muôn vật liên quan đến việc Ngài tạo nên các thiên sứ vào ngày thứ nhất. Như đã được đề cập trước đó, sách Sáng-thế ký không đưa ra lời giải thích nào về nguồn gốc của các thiên sứ, dù một số đoạn khác trong Kinh Thánh như Gióp 38:7 (so sánh Thi-thiên 104:4) đặt các thiên sứ vào thời điểm ban đầu (xem thêm “cùng toàn thể đạo binh của chúng” [םאבצ] trong Sáng-thế ký 2:1).

Khi muốn tìm hiểu về nguồn gốc của các thiên sứ, nhiều người đọc đã tra cứu kỹ Sáng-thế ký 1 để tìm manh mối. Tác giả sách Jubilees, cùng với những người giải nghĩa Kinh Thánh thời ban đầu, đã lấy manh mối về thời điểm các thiên sứ được dựng nên từ từ ḥôr trong Sáng-thế ký 1:2. Tuy nhiên, suy luận của ông vẫn để ngỏ khả năng rằng các thiên sứ đã hỗ trợ Đức Chúa Trời trong công cuộc tạo dựng.

Chẳng hạn, theo sách Genesis Rabbah 1,3: “Các thiên sứ được tạo dựng khi nào? R. Johanan nói: Họ được tạo dựng vào ngày thứ hai, như có chép rằng, ‘Ngài đặt xà nhà nơi thượng cung trên nước’ (Thi-thiên 104:3), rồi tiếp theo, ‘Ngài làm các thần khí thành thiên sứ’ (câu 4).” Đối với R. Johanan, câu 3 của Thi-thiên mô tả việc phân chia các tầng nước trên và dưới - một việc Đức Chúa Trời đã thực hiện vào ngày thứ hai. Thi-thiên 104:4 đề cập đến các thiên sứ; từ đó, ông kết luận rằng họ được tạo nên cùng lúc với sự phân chia nước.

Sau đó, trong cùng một phân đoạn, xuất hiện một quan điểm khác: “R. Hanina nói: Các thiên sứ được tạo dựng vào ngày thứ năm, vì có chép rằng, ‘Chim bay lượn phía trên đất’ (Sáng-thế ký 1:20), và cũng có chép, ‘Với hai cánh, họ bay lượn’ (Ê-sai 6:2).” Theo Kinh Thánh, các thiên sứ là những tạo vật có cánh; những sinh vật như thế được dựng nên vào ngày thứ năm.

Kết luận của cuộc tranh luận giữa các giáo sư Do Thái liên hệ trực tiếp đến luận điểm rằng Đức Chúa Trời đã tạo dựng các thiên sứ vào ngày thứ nhất:

“R. Luliani b. Tabri nói nhân danh R. Isaac: Dù chúng ta chấp nhận quan điểm của R. Hanina hay của R. Johanan, tất cả đều đồng ý rằng không có thiên sứ nào được dựng nên vào ngày thứ nhất, kẻo có người nói rằng Mi-ca-ên căng rộng thế giới về phía nam, Gáp-ri-ên về phía bắc, còn Đấng Thánh - Đáng Chúc Tụng - đo chính giữa. Nhưng Ta là Đức Chúa Trời, Đấng dựng nên mọi sự; Đấng một mình căng rộng các tầng trời; Đấng một mình trải đất ra (Ê-sai 44:24): “me-’itti” (ai đã ở cùng Ta) có chép: ai đã cộng tác cùng Ta trong công cuộc tạo dựng thế giới?”

Sách Jubilees xác nhận luận điểm rằng, trái với quan điểm trong sách Genesis Rabbah rằng “mọi người đều đồng thuận”, ý kiến ấy là sai: Đức Chúa Trời đã tạo dựng các thiên sứ vào ngày đầu tiên, để họ có thể trở thành những trợ giúp tiềm năng cho mọi công việc trong những ngày còn lại.

Tuy nhiên, tác giả của Jubilees hết sức cẩn trọng trong việc đặt toàn bộ công trình sáng tạo - kể cả các thiên sứ - dưới quyền năng sáng tạo tuyệt đối của Đức Chúa Trời. Các thiên sứ chỉ là một phần trong danh sách dài những tạo vật được Đức Chúa Trời tạo dựng. Dù là sinh vật sống đầu tiên, tác giả không nhấn mạnh đặc điểm đó (xem thêm tường thuật về ngày thứ năm).

Tác giả phân biệt hai nhóm thiên sứ đầu tiên: các thiên sứ hiện diện (angels of the presence) và thiên sứ thánh khiết (angels of holiness), được đề cập trong các phân đoạn khác - ví dụ Jubilees 15:27, nơi cho biết rằng đây là hai loại thiên sứ duy nhất được nói là đã chịu phép cắt bì. Điều đáng chú ý là trong Jubilees 2:2, các thiên sứ ấy không đảm nhận chức năng gì. Năm nhóm thiên sứ còn lại gắn liền với các hiện tượng tự nhiên - phần lớn liên quan đến thời tiết. Họ có trách nhiệm quản lý chúng, nhưng không tạo ra chúng.

Sau đó (Jubilees 2:17-21), ta thấy hai nhóm đầu tiên cùng Đức Chúa Trời và dân Y-sơ-ra-ên giữ lễ Sa-bát; còn năm nhóm kia dường như vẫn ở vị trí của mình ngay cả trong ngày thứ bảy. Nhưng không thể bỏ qua kết luận rõ ràng rằng: các thiên sứ được tạo dựng, và họ không tham gia vào bất kỳ công việc sáng tạo nào. Chỉ riêng Đức Chúa Trời thực hiện điều đó.

3️⃣ - Hình ảnh của Đức Chúa Trời

Một kết luận tương tự nảy sinh từ cách mà tác giả xử lý chủ đề Đức Chúa Trời tạo dựng con người theo hình ảnh Ngài. Sáng-thế ký 1:26 chép: “Đức Chúa Trời phán rằng: ‘Chúng ta hãy tạo nên loài người theo hình ảnh của chúng ta, theo sự giống như chúng ta; và để họ cai quản.’”

Một cách hiểu khá phổ biến về cụm “Chúng ta hãy tạo nên” là Đức Chúa Trời đang nói với triều đình thiên sứ của Ngài. Chẳng hạn:

  • Bản Targum Pseudo-Jonathan về Sáng-thế ký 1:26 diễn giải câu ấy như sau: “Và Đức Chúa Trời nói với các thiên sứ phục vụ trước mặt Ngài, là những người đã được tạo dựng vào ngày thứ hai của công cuộc sáng thế rằng: ‘Chúng ta hãy tạo nên loài người theo hình ảnh của chúng ta, theo sự giống như chúng ta; và để họ cai quản.’”
  • Genesis Rabbah 8:4 (so với 8:3, 8:5), ghi lại một cuộc tranh luận giữa Đức Chúa Trời và các thiên sứ về việc có nên tạo dựng loài người hay không, trích dẫn lời của R. Hanina: “Khi Ngài đến để tạo dựng A-đam, Ngài đã hỏi ý kiến các thiên sứ phục vụ, phán với họ: ‘Chúng ta hãy tạo nên loài người.’”

Tác giả của Jubilees dĩ nhiên là rất quen thuộc với khái niệm con người được tạo theo hình ảnh của Đức Chúa Trời, và minh chứng điều đó trong Jubilees 6:8, nơi ông trích lại cụm từ từ Sáng-thế ký 9:6. Nghĩa là ông cảm thấy thoải mái khi dùng biểu tượng này trong đoạn mô tả giao ước với Nô-ê. Nhưng sự xuất hiện của cụm từ ấy trong Sáng-thế ký 1 lại khác biệt. Tác giả đã lược bỏ phần đó vì những lời mở đầu đi kèm.

Sáng-thế ký 9:6 chỉ nói đơn giản: “vì Đức Chúa Trời đã tạo nên loài người theo hình ảnh của chính Ngài.” Nó không đặt biểu tượng ấy trong một câu văn có thể bị hiểu sai như “Chúng ta hãy tạo nên loài người,” - chính ngôn ngữ này dường như là điều khiến tác giả cảm thấy khó chịu. Cách diễn đạt trong Sáng-thế ký 1 có thể dễ dàng bị suy diễn rằng Đức Chúa Trời đã có sự trợ giúp trong công cuộc sáng tạo. Nhưng ý tưởng đó là không thể chấp nhận được - Đức Chúa Trời không hề có sự giúp đỡ nào khi sáng tạo thế giới, kể cả con người.

4️⃣ - Những thay đổi khác

Một nhóm đoạn văn thứ tư, nơi tác giả nhấn mạnh Đức Chúa Trời là Đấng Sáng Tạo duy nhất, liên quan đến các đoạn mô tả ngày thứ ba, thứ năm và thứ sáu. Với ba trường hợp này, sẽ rất hữu ích khi so sánh cách diễn đạt trong sách Jubilees và sách Genesis.

  • Ngày thứ ba:

Sách Jubilees đã đặt công cuộc tạo dựng đất vào ngày thứ nhất, nên dĩ nhiên không thể nói giống sách Genesis rằng đất được tạo ra vào ngày thứ ba. Do đó, ở ngày thứ ba, Jubilees chỉ ghi rằng nước tụ lại ở một nơi và phần đất khô hiện ra. Tuy nhiên, hãy lưu ý sự khác biệt trong cách hai văn bản nói về đất trong bối cảnh này.

Sáng-thế ký 1:11-13Jubilees 2:7
Đức Chúa Trời lại phán rằng: Đất phải sanh cây-cỏ; cỏ kết hột giống, cây-trái kết quả, tùy theo loại mà có hột giống trong mình trên đất; thì có như vậy. Đất sanh cây-cỏ: Cỏ kết hột tùy theo loại, cây kết quả có hột trong mình, tùy theo loại. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt-lành. Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ ba.Vào ngày ấy, Đức Chúa Trời đã tạo nên cho đất mọi biển cả - mỗi biển với vị trí riêng nơi nước tụ lại - tất cả các sông ngòi, và các chỗ nước tụ lại trên núi non và khắp đất; tất cả các hồ chứa, mọi sương móc của đất; các giống hạt được gieo - từng loại một - mọi vật mọc mầm, cây ăn quả, các khu rừng, và vườn Ê-đen (nằm trong vùng đất Ê-đen) để con người được hưởng sự vui thích và có thức ăn. Bốn loại hình lớn ấy đã được Ngài tạo dựng trong ngày thứ ba.

Trong sách Jubilees, đất không “đưa ra” hay “tự sinh” những điều này; chính Đức Chúa Trời đã tạo dựng chúng.

  • Ngày thứ năm:

Một hiện tượng tương tự có thể được nhận thấy trong các phần liên quan đến ngày thứ năm (Sáng Thế Ký 1:20). Có thể rằng sách Jubilees đơn giản chỉ đang làm rõ điều mà Genesis trình bày trong câu 21, tuy nhiên, tác giả đã khéo léo xóa bỏ mọi nghi ngờ có thể phát sinh từ ý nghĩa của câu 20.

Sáng-thế ký 1:20-21Jubilees 2:11-12
Đức Chúa Trời lại phán rằng: Nước phải sanh các vật sống cho nhiều, và các loài chim phải bay trên mặt đất trong khoảng không trên trời. Đức Chúa Trời dựng nên các loài cá lớn, các vật sống hay động nhờ nước mà sanh nhiều ra, tùy theo loại, và các loài chim hay bay, tùy theo loại. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt-lành.Ngày thứ năm, Đức Chúa Trời đã tạo dựng các loài quái vật biển vĩ đại trong lòng đại dương sâu thẳm, vì đó là những tạo vật bằng xác thịt đầu tiên từ tay Ngài; mọi loài cá di chuyển trong làn nước, mọi loài chim bay và tất cả các giống loài của chúng. Mặt trời chiếu sáng trên các sinh vật ấy để đem lại sự sống và sự lành cho chúng — cũng như soi sáng trên mọi sự vật ở trên đất: tất cả cây cỏ mọc lên từ mặt đất, các cây ăn quả, và mọi sinh vật có sự sống. Ba loại hình lớn ấy đã được Đức Chúa Trời dựng nên trong ngày thứ năm.

Người đọc có thể suy ra từ Sáng-thế ký 1:20 rằng nước đã sinh ra những đàn sinh vật sống trong đó. Tác giả sách Jubilees đơn giản khẳng định rằng chính Đức Chúa Trời đã tạo nên các sinh vật ấy, và không hề đề cập đến việc nước được truyền lệnh thực hiện bất kỳ chức năng sáng tạo nào.

  • Ngày thứ sáu:

Một sứ điệp tương tự xuất hiện trong phần mô tả công cuộc sáng tạo đầu tiên vào ngày thứ sáu. Sáng-thế ký 1:24 ghi rằng: “Đức Chúa Trời phán: ‘Đất hãy sinh ra các sinh vật sống theo từng loại,’” nhưng sách Jubilees lại ưu tiên dùng cách diễn đạt của Sáng-thế ký 1:25: “Đức Chúa Trời tạo dựng các loài thú hoang trên mặt đất.” Vì vậy, Jubilees 2:13 viết: “Vào ngày thứ sáu, Ngài tạo ra mọi loài sinh vật trên đất, mọi loài gia súc, và mọi loài di động trên mặt đất.”

Sáng-thế ký 1 rõ ràng thể hiện niềm tin rằng Đức Chúa Trời duy nhất là Đấng tạo dựng mọi sự - giống như lời giải thích về điều răn thứ tư đã khẳng định (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:11, xem thêm Sáng Thế Ký 2:1). Tuy nhiên, tác giả sách Jubilees một cách có hệ thống đã loại bỏ khỏi văn bản dường như đã rõ ràng này mọi dấu hiệu dù nhỏ nhất cho thấy có bất kỳ ai hợp tác với Đức Chúa Trời trong công cuộc sáng tạo. Vậy thì, mục đích của tác giả là gì?

III. MỘT SỐ GỢI Ý KẾT LUẬN
#

Tác giả của sách Jubilees đã theo bước Ê-sai 2 trong việc nhấn mạnh rằng Đức Chúa Trời là Đấng duy nhất tham gia vào công cuộc sáng tạo. Nhưng tôi vẫn băn khoăn liệu ông có một mục tiêu rộng hơn trong tâm trí khi viết lại chương 1 của sách Sáng-thế ký theo cách ông đã làm. Chúng ta có lý do chính đáng để nghĩ rằng có một số người đã gán thần tính cho đất và nước - một niềm tin dường như vẫn tồn tại vào thời của tác giả. Nếu đúng là như vậy, thì ông hoặc các nguồn mà ông dựa vào có lẽ đã cảm thấy cần thiết phải diễn đạt lại trình thuật sáng thế trong Sáng-thế ký nhằm tránh tiếp tay cho những người tin rằng đất và nước đã hợp tác cùng Đức Chúa Trời trong công cuộc sáng tạo.

Vì thế, khi viết lại câu chuyện sáng tạo, tác giả đã giải quyết một số vấn đề nổi lên từ văn bản của Sáng-thế ký, trong đó một số có thể có ý nghĩa rộng hơn trong bối cảnh tín ngưỡng thời ấy. Tuy nhiên, những điều đó không phải là đóng góp quan trọng nhất của ông. Điều ông thực sự nhấn mạnh là ngày Sa-bát trong trình thuật sáng thế, và ông đã kết nối ngày đó cách đặc biệt với dân Y-sơ-ra-ên.

Sa-bát đã kết nối Đức Chúa Trời - Đấng Sáng Tạo duy nhất, các thiên sứ lớn nhất, và dân sự giao ước của Ngài - trong một ngày nghỉ ngơi và vui mừng lập đi lập lại. Đó là một ngày mà Đức Chúa Trời và hai nhóm thiên sứ hàng đầu cùng nghỉ ngơi, y như dân Y-sơ-ra-ên phải làm vậy. Hơn một nửa chương 2 của sách Jubilees dành để nói về tầm quan trọng của ngày Sa-bát và việc giữ Sa-bát cách đúng đắn - cũng giống như phần mô tả về sự sáng tạo trong sách ấy đã nhiều lần nhắc đến ngày này.

Tác giả giải thích rằng mối liên hệ giữa Y-sơ-ra-ên và ngày Sa-bát gắn bó đến mức nó được khắc sâu vào chính công trình sáng tạo. Ông viện dẫn các tính từ “được ban phước” và “thánh khiết” như những phẩm chất áp dụng cho cả Y-sơ-ra-ên lẫn Sa-bát, và ông kết nối chúng với sự sáng tạo qua khẳng định rằng tổng số công việc sáng tạo là hai mươi hai. Đặc điểm này cũng hợp nhất ngày Sa-bát với dân Y-sơ-ra-ên: khi Đức Chúa Trời hoàn tất hai mươi hai công việc trong sáu ngày và sau đó đến ngày Sa-bát, thì cũng có hai mươi hai tổ phụ trước khi đến Gia-cốp, tổ phụ của dân Y-sơ-ra-ên.

Sa-bát, như vậy, chiếm vị trí thứ hai mươi ba sau hai mươi hai hành động sáng tạo; còn Gia-cốp/Y-sơ-ra-ên cũng chiếm vị trí thứ hai mươi ba sau hai mươi hai tổ phụ đầu tiên trong sách Sáng thế ký. Mối liên hệ đặc biệt của dân Y-sơ-ra-ên với Đức Chúa Trời đã được dệt nên vào chính cấu trúc của sự sáng thế - thông qua ngày Sa-bát.

Chương sách này cho thấy tác giả đã nhiệt tình nhấn mạnh vị thế độc nhất của dân Y-sơ-ra-ên và mối liên hệ không thể phá vỡ giữa họ với Đức Chúa Trời. Đây thực sự là thông điệp nền tảng xuyên suốt cả sách Jubilees, một thông điệp được khẳng định ngay từ phần mở đầu. Để tuyên bố điều này, ông luôn trung thành với lời dạy rõ ràng trong Xuất Ê-díp-tô ký 31:12–17 về mối liên hệ giữa Đức Chúa Trời, ngày Sa-bát, và dân Y-sơ-ra-ên.

Liệu có một số người đã có quan điểm khác về ngày Sa-bát, có thể cho rằng đó là ngày dành cho toàn thể nhân loại? Chúng ta chỉ có rất ít tư liệu từ giữa thế kỷ thứ hai TCN - khi sách Jubilees được biên soạn - nhưng về sau, ta thấy xuất hiện cách giải nghĩa như vậy với Sáng-thế ký chương 1. Có thể minh họa bằng hai ví dụ, và chỉ cần nêu một trường hợp tiêu biểu: Philo đã viết về ngày thứ bảy như sau:

“Khi cả thế giới đã được hoàn tất theo quy luật của số sáu - một con số trọn vẹn - thì Đức Cha đã ban cho ngày thứ bảy phẩm giá đặc biệt, tôn vinh ngày ấy và tuyên bố nó là thánh; bởi vì đó không phải là lễ hội của một thành phố hay một quốc gia đơn lẻ, mà là của cả vũ trụ, và nó là ngày duy nhất thực sự xứng đáng được gọi là “công cộng” - là của mọi dân tộc và là ngày khai sinh của thế giới.”

David Runia bình luận về đoạn văn như sau: “Ngày Sa-bát áp dụng cho tất cả mọi người, vì tất cả đều là hậu duệ của con người đầu tiên được Đức Chúa Trời tạo dựng, Đấng đã đặt ngày ấy vào vị trí đặc biệt trong sự kiện sáng thế.” Nhà triết học người Do Thái tên Aristobulus cũng đề cập đến ngày Sa-bát, có thể coi đó là một luật tự nhiên - và chắc chắn là một điều đã được Homer và Hesiod công nhận (tức là ngày thứ bảy là ngày thánh).

Dù chúng ta không thể có sự chắc chắn tuyệt đối về vấn đề này, nhưng có thể tác giả của sách Jubilees đã biết đến cách suy nghĩ này (từ bất kỳ nguồn nào) và chống lại nó một cách trực diện. Ông đã nỗ lực tranh luận mạnh mẽ dựa trên lời Kinh Thánh, theo sự hiểu biết của mình, rằng ngày Sa-bát và dân Y-sơ-ra-ên đã được gắn kết ngay từ công cuộc sáng tạo - y như Đức Chúa Trời đã gọi họ là dân của Ngài từ buổi ban đầu. Dân Y-sơ-ra-ên là dân tộc duy nhất; họ có mối liên hệ đặc biệt ấy mà không một dân nào khác được chia sẻ.