Skip to main content

SỰ TẠO DỰNG ÁNH SÁNG TRONG SÁNG THẾ KÝ 1:3-5

·3048 words·15 mins·
Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God

JOURNAL ARTICLES - GENESIS

GIỚI THIỆU
#

Ngay cả người đọc bình thường cũng thường nhận thấy sự khó khăn về mặt logic trong mô tả về sự sáng tạo ánh sáng và sự phân rẽ giữa ánh sáng với bóng tối vào ngày thứ nhất của công cuộc sáng tạo trong Sáng thế ký 1:3–5, khi mà theo các câu 16–19, vào ngày thứ tư Đức Chúa Trời mới tạo nên các thiên thể và đặt chúng trong bầu trời để soi sáng trên đất và để phân rẽ ánh sáng khỏi bóng tối.

Ngày của Đức Giê-hô-va, tức là ngày đầu năm mới, là sự lặp lại của ngày sáng tạo. Đó là một ngày của ánh sáng (A-mốt 5:18), và mặt trời mọc vào ngày ấy là bằng chứng rằng các thế lực của bóng tối và hỗn mang đã bị đánh bại. Trong bóng tối trước đó, con rồng của hỗn mang đã bị khuất phục, gió của Đức Chúa Trời đã thổi mạnh trên mặt nước và làm sạch các tầng trời, cuộc chiến giữa biển cả và các dòng sông với Đức Chúa Trời đã chấm dứt, và giờ đây công cuộc sáng tạo có thể được thực hiện. Vực thẳm tối tăm, với gió của Đức Chúa Trời thổi mạnh trên mặt nước trong Sáng thế ký 1:2, thuộc về huyền thoại quen thuộc ngày nay. Trong huyền thoại Ba-by-lôn, hành động kế tiếp là việc tạo dựng bầu trời, điều này trong tường thuật Kinh Thánh của chúng ta thì mãi đến câu 7 mới xảy ra. Những câu xen giữa, mô tả Đức Giê-hô-va tạo ra ánh sáng bằng lời phán, và cũng bằng lời phán khiến bầu trời hiện ra, thuộc về phần biên tập lại của huyền thoại sáng tạo nguyên thủy hơn.

Từ lâu, người ta đã công nhận rằng Sáng thế ký 1:1–2 là một đoạn văn tổng hợp. Schwally vào năm 1906, và gần đây hơn là Lambert, đã cho rằng chúng ta đang có hai bản hiệu đính khác biệt của câu chuyện sáng thế, mà theo Lambert, ta có thể gọi là bản “Hành động” và bản “Lời phán”. Morgenstern cũng công nhận tính tổng hợp của tường thuật này, và cho rằng có một bản gốc dựa trên “mệnh lệnh thần thượng” (divine fiat) đã được các tác giả hoặc biên tập viên sau này chỉnh sửa lại.

Tác giả bài viết này không đồng tình với cả Lambert lẫn Morgenstern khi họ đặt cơ cấu cấu trúc về ngày Sa-bát vào bản “Hành động”. Tuy nhiên, tác giả bài viết này đồng ý với Morgenstern rằng tính tổng hợp của tường thuật này nên được giải thích bằng lý thuyết biên tập, chứ không phải bằng giả định về hai bản hiệu đính riêng biệt. Việc cơ cấu ngày Sa-bát thuộc về bản đã được chỉnh sửa là điều hợp lý. Nhưng Lambert đưa ra lập luận thuyết phục hơn về tính ưu tiên của bản “Hành động”. Thật khó để tưởng tượng một người biên tập thuộc truyền thống tế lễ về sau lại làm hỏng tính siêu việt tinh tế của bản “Lời phán”. Việc bản “Hành động” cổ hơn và có niên đại trước thời lưu đày được chứng minh qua sự ám chỉ đến nó trong Giê-rê-mi 4:23–26 và trong Thi thiên 8 trước thời lưu đày, nơi ta có thể so sánh các câu 6 trở đi với Sáng thế ký 1:27, 28.

Mục đích của người biên tập thuộc truyền thống tế lễ, một phần, là để diễn giải lại các gốc từ asah (עשׂה) và bara (ברא) trong bản “Hành động” như những hành động bởi mệnh lệnh thần thượng. Ông không loại bỏ tuyên bố trong câu 7 rằng Đức Chúa Trời đã dựng nên bầu trời, nhưng ông thêm vào trước đó, ở câu 6, một lời giải thích rằng Đức Chúa Trời đã tạo nên bầu trời bằng lời phán. Vì vậy, các câu 14 và 15 được dùng để diễn giải các câu 16–18. Trong Sáng thế ký 2:2–4a, người biên tập thuộc truyền thống tế lễ muốn người đọc hiểu rằng Đức Chúa Trời siêu việt, Đấng hành động bằng mệnh lệnh thần thượng, đã nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy sau mọi công việc của Ngài. Câu “Đức Chúa Trời phán: ‘Chúng ta hãy tạo nên loài người’” trong câu 26 rõ ràng thuộc về bản “Lời phán”, nhưng lại sử dụng gốc từ asah. Từ đó, ta dễ dàng hiểu cách người biên tập sử dụng các gốc từ asahbara, và rằng cơ cấu Sa-bát phải là một phần của bản “Lời phán”. Việc cơ cấu Sa-bát thuộc về bản “Lời phán” còn được xác nhận bởi thực tế rằng nó được giới thiệu qua các câu 1:3–5, vốn rõ ràng thuộc về bản “Lời phán”. Câu chuyện sáng tạo nguyên thủy theo bản “Hành động” không có cơ cấu sáu ngày sáng tạo và một ngày nghỉ thứ bảy.

1. CƠ CẤU NGÀY SA-BÁT (The Sabbath Framework)
#

Những cuộc khảo cứu gần đây về ngày Sa-bát khiến cho giả thuyết về một cơ cấu Sa-bát trong thời kỳ trước lưu đày trở nên khó tin. Cơ cấu này hẳn phải xuất hiện sau bản Mười Điều Răn theo truyền thống Phục truyền, trong đó lý do được đưa ra để giữ ngày Sa-bát không hề có liên hệ đến câu chuyện sáng tạo - bởi nếu câu chuyện ấy đã tồn tại vào thời điểm đó, các tác giả của bản Mười Điều Răn ấy khó lòng bỏ qua. Điều răn về ngày Sa-bát trong bản Mười Điều Răn của Xuất Ê-díp-tô ký có sự ám chỉ rõ ràng đến câu chuyện sáng tạo đã được biên tập lại, và xuất hiện muộn hơn so với điều khoản tương ứng trong bản Phục truyền. Một niên đại muộn sau lưu đày được gợi ý bởi phần thêm vào theo truyền thống tế lễ trong điều luật về sự thánh khiết liên quan đến ngày Sa-bát trong Xuất Ê-díp-tô ký 31:17, nơi cơ cấu Sa-bát cũng được giả định.

Để đưa cơ cấu này vào, cần phải trình bày việc sáng tạo ánh sáng như hành động đầu tiên trong công cuộc sáng tạo, để chuỗi bảy ngày có thể bắt đầu. Ngay cả khi thần học truyền thống tế lễ cho phép điều đó, thì cũng không thể đặt việc tạo ra các thiên thể làm nguyên nhân cho ngày thứ nhất bằng cách đặt sự sáng tạo mặt trời ngay từ đầu - bởi các thiên thể không thể được tạo ra trước khi có bầu trời, vốn là hành động sáng tạo đầu tiên trong bản “Hành động”, ngay sau cuộc chiến vũ trụ. Lai thế học đương thời với người biên tập theo truyền thống tế lễ của chúng ta giả định về một Thời đại Vàng trong tương lai, khi sẽ không còn các thiên thể, nhưng ánh sáng sẽ đến từ chính Đức Chúa Trời. Với giả định đó, không có gì khó khăn khi đặt ánh sáng phi mặt trời làm hành động sáng tạo đầu tiên.

Trong tường thuật nguyên thủy theo bản “Hành động” có bảy hành động sáng tạo: (1) bầu trời, (2) các thiên thể, (3) đất, (4) cây cỏ, (5) cá và chim, (6) thú trên đất, và (7) loài người. Khi thêm ánh sáng như một hành động sáng tạo riêng biệt, tổng cộng có tám hành động, và người biên tập, để sắp xếp chúng vào trong sáu ngày, đã phải áp dụng một sơ đồ tùy ý, trong đó có hai hành động vào ngày thứ ba và ngày thứ sáu. Chính sự sắp xếp này cho thấy rõ ràng rằng cơ cấu Sa-bát là yếu tố thứ cấp so với câu chuyện nguyên thủy.

2. NGÀY CỦA SỰ SÁNG TẠO VÀ NGUỒN GỐC CỦA ÁNH SÁNG
#

Từ một số ám chỉ trong Thi Thiên, Gióp và các tiên tri, chúng ta có thể tái dựng phần nào quan niệm của người Hê-bơ-rơ về sự sáng tạo, qua đó có thể hiểu được phiên bản nguyên thủy của “Hành động”. Thi Thiên 18 cho chúng ta một hình ảnh tương đương với huyền thoại Ugarit về cuộc chiến giữa Baal và các dòng nước. Cuộc chiến vũ trụ diễn ra trong bóng tối, với bóng tối là nơi ẩn náu của Đức Giê-hô-va, và xung quanh Ngài là bóng tối của các tầng trời, những đám mây dày đặc không có ánh sáng. Ánh sáng duy nhất là những tia chớp và than hồng mà Ngài ném vào các dòng nước phản loạn. Hàm ý rõ ràng là: khi cuộc chiến kết thúc và Đức Chúa Trời đã “bằng hơi thở của cơn giận Ngài” chinh phục các dòng nước, thì ngày sáng tạo có thể xuất hiện - ngày của ánh sáng.

Điều này càng rõ ràng hơn trong Gióp 3:2–10, cũng sử dụng biểu tượng của cuộc chiến chống lại các dòng nước hỗn loạn, được gọi là Leviathan. Bóng tối của đêm chiến đấu được đặt đối lập với ánh sáng của ngày sáng tạo, mặc dù Gióp, trong tâm trạng bi quan khi nói về đêm ông được hoài thai và ngày ông được sinh ra, lại mong rằng đêm của cuộc chiến sẽ không kết thúc bằng chiến thắng, và mặt trời sẽ không mọc:

“Nguyện nó chờ ánh sáng mà không có; Và nguyện nó không thấy mi mắt của bình minh.”

Quan niệm về một ngày sáng tạo duy nhất, được đi trước bởi bóng tối của cuộc chiến chống lại các dòng nước, lại xuất hiện trong Gióp 38:4 trở đi. Nền móng của đất được đặt và kích thước của nó được xác định không phải vào ngày thứ hai như trong phiên bản “Lời nói”, mà vào ngày đầu năm của sự sáng tạo, “khi các ngôi sao ban mai cùng nhau hát vang và tất cả các thần linh đều reo mừng.” Cùng một ngày sáng tạo ấy, gắn liền với sự mọc lên của mặt trời, cũng được ngụ ý trong biểu tượng huyền thoại về rồng trong Ê-xê-chi-ên 32:2 trở đi, nơi mà sau cuộc chinh phục, Đức Giê-hô-va đảo ngược tiến trình thông thường, và thay vì một ngày của ánh sáng, thì Ai Cập lại nhận lấy một ngày của bóng tối, vì mặt trời không được phép xuất hiện.

Trong phân đoạn này, Đức Giê-hô-va kiểm soát ánh sáng, nhưng chỉ thông qua các thiên thể. Dĩ nhiên, trong một số phân đoạn khác, Đức Chúa Trời được mô tả là Đấng tối hậu chịu trách nhiệm về ánh sáng ban ngày và bóng tối ban đêm, nhưng - ngoại trừ một vài đoạn muộn sẽ được bàn đến sau - không có dấu hiệu nào cho thấy ánh sáng tồn tại độc lập với mặt trời. Chúng ta có thể lấy Thi Thiên 74 làm ví dụ. Sau phần mô tả chiến thắng của Đức Chúa Trời trước con rồng nhiều đầu, chúng ta đọc thấy:

“Ngày và đêm đều thuộc về Ngài; Ngài đã lập nên mặt trời và mặt trăng.”

Sự song hành trong câu này liên kết trực tiếp ngày với mặt trời và đêm với mặt trăng. Giê-rê-mi, khi nhắc đến phiên bản “Hành động” của tường thuật sáng tạo trong 4:23, quy ánh sáng cho các tầng trời, tức là cho các thiên thể. Nếu so sánh các câu 12 và 19 trong Gióp 38, nơi có ám chỉ đến huyền thoại sáng tạo, thì rõ ràng ánh sáng và bóng tối đều gắn liền với các thiên thể.

Cũng đáng chú ý là Thi Thiên 19:2–7, nơi sự sáng tạo là công việc của tay Đức Chúa Trời, và tại đây mặt trời là nguyên nhân duy nhất của ánh sáng. Thi Thiên 8, vốn có ám chỉ đến câu chuyện sáng tạo theo phiên bản “Hành động”, với các tầng trời là công trình của ngón tay Đức Chúa Trời, có nhắc đến mặt trăng và các ngôi sao trên trời, nhưng không có dấu hiệu nào về một ánh sáng huyền nhiệm, phi mặt trời. Thi Thiên 8 là một bài thánh ca cho Tết mùa thu, như tiêu đề (עַל־הַגִּתִּית, dùng về đàn Ghi-tít) cho thấy, và việc sử dụng mô-típ sáng tạo trong đó phù hợp với quan niệm về một vở kịch sáng tạo vũ trụ diễn ra hàng năm.

Những phân đoạn này cung cấp đủ cơ sở để kết luận rằng phiên bản “Hành động” của sự sáng tạo không hề chứa tường thuật về một hành động sáng tạo đầu tiên của ánh sáng phi mặt trời. Vũ trụ luận của Philo Byblius cũng cho thấy rằng trong thần thoại Phoenicia, không có sự sáng tạo đầu tiên của ánh sáng phi mặt trời. Hỗn mang và gió sinh ra Mot, từ đó nảy sinh hạt giống của sự sáng tạo. Mot làm phát ra các thiên thể, và chúng được liên kết trực tiếp với ánh sáng trong ngữ cảnh tiếp theo.

3. ÁNH SÁNG VÀ KHÁI NIỆM LAI THẾ HỌC
#

Trong thời kỳ cuối lưu đày và sau lưu đày, xuất hiện sự nhấn mạnh đến Đức Giê-hô-va như là Đấng Tạo Hóa của ánh sáng và bóng tối - một quan niệm sau đó phát triển thành tư tưởng rằng Đức Giê-hô-va, không phụ thuộc vào mặt trời, chính là nguồn sáng thiên thượng, sẽ trở thành ánh sáng duy nhất của thế giới trong Thời đại Vàng tương lai. Ngôn ngữ được sử dụng trong bài Thi Thiên của Ha-ba-cúc 3, đặc biệt là câu 4, khiến giả thuyết này trở nên hợp lý: rằng quan niệm sau này phần nào hình thành qua tiến trình gán cho Đức Giê-hô-va những đặc tính của thần mặt trời, nhưng đồng thời tách Ngài khỏi mặt trời vật lý. Trong tiến trình đó, hình ảnh Đức Giê-hô-va trong sách Ê-xê-chi-ên, xuất hiện như một vị thần mặt trời với ngai xe ngự, có thể đã đóng vai trò quan trọng.

Sự nhấn mạnh đến Đức Giê-hô-va là Đấng Tạo Hóa của ánh sáng và bóng tối, như được thấy chẳng hạn trong Ê-sai 45:7, có thể phần nào là phản ứng đối với thuyết nhị nguyên của Ba-by-lôn hoặc Ba Tư. Niên đại muộn của tuyên bố rằng Đức Giê-hô-va tạo nên ánh sáng và dựng nên bóng tối làm suy yếu nỗ lực của Lambert khi ông dùng nó làm bằng chứng cho rằng tường thuật sáng tạo theo phiên bản “Hành động” cổ xưa có chứa phần nói về sự sáng tạo đầu tiên của ánh sáng. Đức Giê-hô-va là Đấng Tạo Hóa của ánh sáng và bóng tối cũng được nhấn mạnh trong bài tụng ca được thêm vào muộn trong A-mốt 4:13. Thi Thiên 139, được viết sau lưu đày, hoàn toàn tách biệt các thiên thể khỏi ánh sáng thiên thượng thuộc về Đức Giê-hô-va:

“Bóng tối cũng không làm tối tăm đối với Ngài, Nhưng đêm sáng như ban ngày; Bóng tối và ánh sáng đều như nhau đối với Ngài.”

Trái ngược rõ rệt với Gióp 3:2 trở đi, 38:4–11, và Thi Thiên 18:10 trở đi, tác giả của Ha-ba-cúc 3:3 trở đi mô tả Đức Giê-hô-va tiến đến cuộc chiến với các dòng nước trong sự bao phủ của ánh sáng huyền nhiệm:

“Có ánh sáng rực rỡ dưới chân Ngài, Tia sáng phát ra từ bên cạnh Ngài; Ngài dùng chúng làm màn che cho sự oai nghi của Ngài.”

Trong Thi Thiên 104:2 cũng xuất hiện một hình ảnh tương tự từ thời kỳ sau lưu đày:

“Ngài mặc ánh sáng như áo choàng, Ngài căng các tầng trời như cái trại.”

Quan niệm này trở thành một phần không thể tách rời trong lai thế học của người Hê-bơ-rơ, như được thấy trong Xa-cha-ri 14:7. “Trong ngày đó,” tức là ngày đầu năm của sự sáng tạo mới, sau cuộc chiến của Đức Giê-hô-va với các dân tộc thù địch, sẽ có một ngày liên tục - không còn phân biệt ngày và đêm - nhưng sẽ có ánh sáng ngay cả trong ban đêm. Như phần ba (đoạn 56-66) của sách Ê-sai cho biết trong chương 60, Đức Giê-hô-va sẽ là nguồn sáng; các dân tộc sẽ bước đi trong ánh sáng của Ngài, và các vua sẽ bước đi trong sự rực rỡ khi Ngài xuất hiện. Mặt trời sẽ không còn là ánh sáng ban ngày, mặt trăng cũng không còn là ánh sáng ban đêm, vì Đức Giê-hô-va sẽ là ánh sáng không bao giờ tắt. Tác giả của Giô-ên 3:3–4 nói tiên tri rằng mặt trăng và mặt trời sẽ tan biến trước khi Ngày mới của Đức Giê-hô-va đến. Sự trở lại cuối cùng của Vinh quang Đức Giê-hô-va sẽ không phải là hiện tượng mặt trời, vì theo tác giả muộn trong Ê-sai 24:23, mặt trăng sẽ trở nên nhợt nhạt, và mặt trời sẽ che mặt vì hổ thẹn, bởi Đức Giê-hô-va sẽ làm Vua trên núi Si-ôn và sẽ bày tỏ vinh quang Ngài tại Giê-ru-sa-lem.

Chính trong ánh sáng của tư tưởng này mà Sáng thế ký 1:3–5 cần được hiểu. Các biên tập viên đã có trong tay một ánh sáng thiên thượng không đến từ mặt trời, có thể được dùng để giới thiệu cơ cấu Sa-bát, và theo đánh giá của họ, điều này không mâu thuẫn với thực tế rằng, theo cách họ hình dung, vào ngày thứ tư mặt trời và mặt trăng được tạo ra để phân biệt ánh sáng với bóng tối, ngày với đêm. Giờ đây chúng ta có thể hiểu vì sao bản biên tập “Lời nói” lại đưa vào tường thuật sáng tạo một điều có vẻ như là mâu thuẫn về mặt logic. Tuy nhiên, đối với người Hê-bơ-rơ sau lưu đày, câu chuyện sáng tạo này không hề phi lý. Nó hoàn toàn phù hợp với thần học của họ.