Skip to main content

THỜI GIAN TRONG SÁNG THẾ KÝ 1

·19219 words·91 mins·
Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God
Table of Contents

JOURNAL ARTICLES - GENESIS

Làm sao chúng ta có thể liên hệ thời gian trong Sáng thế ký 1 với thời gian theo các tuyên bố khoa học chính thống? Câu hỏi này có nhiều khía cạnh và tiếp tục thu hút nhiều cuộc thảo luận sâu rộng. Tuy nhiên, chúng ta sẽ chỉ khảo sát một khía cạnh mà thôi, đó là việc đo lường thời gian.

I. ĐO THỜI GIAN
#

Sự đo lường thời gian có mức độ phức tạp mà chúng ta hiếm khi chú ý đến trong đời sống thường nhật. Chúng ta chỉ có thể nói một cách có ý nghĩa về độ dài của một khoảng thời gian khi so sánh với một chuẩn mực cụ thể nào đó. Chẳng hạn, nếu chúng ta nói rằng, “đã mất năm mươi phút để dùng bữa tối”, thì phút chính là đơn vị tiêu chuẩn.

Về nguyên tắc, chúng ta có thể lựa chọn nhiều tiêu chuẩn khác nhau như giây, phút, giờ, ngày, tháng, năm, hay thế kỷ. Phần lớn thời gian, chúng ta không mấy bận tâm đến tiêu chuẩn này, bởi vì chúng ta đang sống trong một thế giới có những quy luật thời gian đều đặn, được gìn giữ bởi sự quan phòng của Đức Chúa Trời trong sự thành tín của Ngài. Tuy nhiên, như chúng ta sẽ thấy, việc chọn tiêu chuẩn đo thời gian có thể ảnh hưởng đến cách chúng ta giải thích Sáng thế ký 1.

Vậy hãy cùng nhau xem xét nhanh các cách đo thời gian. Để trở nên hữu ích, các tiêu chuẩn thời gian cần gắn liền với những hiện tượng lặp lại trong thế giới. Chúng ta đo thời lượng của một sự kiện mới bằng cách đếm các hiện tượng có chu kỳ đều đặn mà chúng ta cho là ổn định.

Ví dụ, mặt trời hoàn tất một vòng quay trên bầu trời trong một ngày. Từ đó, chúng ta có thể chọn ngày làm đơn vị đo. Một sự kiện kéo dài bốn ngày nếu nó bao trùm bốn vòng quay của mặt trời. Chính xác hơn, tiêu chuẩn của một ngày là “ngày mặt trời”, bởi vì từ “ngày” cũng có thể chỉ phần thời gian có ánh sáng mặt trời trong một “ngày mặt trời” (ví dụ: Sáng thế ký 7:12). Khi đã hiểu rõ ý nghĩa của từ “ngày”, chúng ta có thể bàn luận cách có ý nghĩa về số ngày mà Y-sác đã sống khi Áp-ra-ham làm phép cắt bì cho ông ("tám ngày", Sáng thế ký 21:4).

Hoặc đối với khoảng thời gian dài hơn, chúng ta có thể dùng năm làm đơn vị đo lường. Ví dụ: “Áp-ram được bảy mươi lăm tuổi khi ông rời khỏi Cha-ran” (Sáng thế ký 12:4). Câu khẳng định này có ý nghĩa rõ ràng vì từ “năm” đã có một khái niệm nhất định, gắn liền với nhịp điệu của các mùa và chu kỳ hàng năm của mặt trời và các vì sao.

Khi xem xét một cách chi tiết, sự phối hợp giữa các tiêu chuẩn này có thể nảy sinh nhiều phức tạp. Các tháng trong lịch của chúng ta không có số ngày bằng nhau. Năm (dương) lịch là 365 ngày, trừ những năm nhuận có 366 ngày. Năm theo sao (sidereal year, được tính dựa trên vị trí của trái đất so với các sao cố định) và năm chí tuyến (tropical year, được tính dựa trên chu kỳ lặp lại của điểm xuân phân) là các tiêu chuẩn đo lường hơi khác nhau và khác với năm lịch.

Một hệ quả của việc có nhiều tiêu chuẩn đo lường khác nhau là chúng ta cần có cách để chuyển đổi qua lại giữa các tiêu chuẩn. Ví dụ: chúng ta nói một năm có 365 ngày, và một ngày kéo dài 24 giờ. Câu thứ hai xác định cách chúng ta chuyển đổi giữa phép đo sử dụng giờ làm tiêu chuẩn và phép đo sử dụng ngày làm tiêu chuẩn.

Nhưng “một giờ” có nghĩa là gì?

Trong nhiều thế kỷ, một giờ được định nghĩa là 1/24 của một ngày. Vậy nếu một ngày có 24 giờ, và một giờ là 1/24 của một ngày, thì chúng ta bắt đầu từ đơn vị nào? Nếu nói rằng cả giờngày đều có thể làm chuẩn khởi đầu, thì chính điều đó lại làm cho câu khẳng định trở nên mơ hồ.

Và ngay tại đây, chúng ta gặp phải một khó khăn nhỏ đầu tiên trong việc giải nghĩa Sáng thế ký 1:

  • Một số học giả Kinh Thánh cho rằng mỗi ngày trong sáu ngày được nhắc đến ở Sáng thế ký 1 là một ngày dài 24 giờ, đôi khi được gọi là “lý thuyết ngày 24 giờ”.

  • Tuy nhiên, nếu chúng ta định nghĩa rằng một “giờ” là 1/24 của một ngày, thì một “ngày” sẽ bao gồm 24 giờ. Như vậy, độ dài của một ngày sẽ tùy thuộc vào việc chúng ta muốn “giờ” có nghĩa là gì.

  • Điều này không cung cấp thông tin nào giúp chúng ta phân biệt giữa các cách diễn giải khác nhau về Sáng thế ký 1. Các lý thuyết khác như lý thuyết ngày-thời đại ("the day-age theory") và lý thuyết ngày tương tự ("the analogical day theory") cũng sẽ trở thành lý thuyết ngày 24 giờ, nếu chúng ta định nghĩa đơn giản một “giờ” là 1/24 của một ngày.

Khó khăn này thoạt nhìn có vẻ chỉ là một chi tiết vụn vặt. Chúng ta có thể hình dung một nhân vật đại diện tên là Bob - người sẽ trình bày quan điểm theo lối suy nghĩ thông thường. Bob đáp:

“Chắc chắn rồi, ý nghĩa đã rõ ràng. Dù cho các tên gọi có khác nhau, thì lý thuyết ngày 24 giờ đang nói về những ’ngày’ có độ dài gần giống so với các ’ngày’ hiện tại của chúng ta. Trong khi đó, ‘lý thuyết ngày-thời đại’ và ‘lý thuyết ngày tương tự’ lại nói về những ’ngày’ theo nghĩa ẩn dụ, vì những ’ngày’ gọi là ’ngày’ trong các lý thuyết thay thế này thực chất là một khoảng thời gian rất dài.”

Tôi đồng cảm với câu trả lời này. Đó là câu trả lời phù hợp và tự nhiên đối với lối suy nghĩ thông thường khi chúng ta nghĩ rằng mình đang đứng trên nền tảng vững chắc về khái niệm thời gian. Nhưng liệu nền tảng ấy có thật sự vững chắc?

Thực tế, bên dưới đó là những điều huyền nhiệm. Dù có vẻ như hợp lý, câu trả lời trên lại bỏ qua một điểm khó. Chúng ta có thể thấy sự hạn chế trong cách nhìn ấy nếu để ý rằng Bob đã dùng cụm từ “khoảng thời gian rất dài” khi mô tả các lý thuyết thay thế. Nhưng cụm từ “rất dài” lại ngụ ý rằng có một tiêu chuẩn đo lường nào đó. Nếu chúng ta chọn 100 tỷ năm làm đơn vị đo thời gian cơ bản, thì theo các nhà vũ trụ học chính thống, vũ trụ thậm chí còn chưa tồn tại “rất lâu” so với tiêu chuẩn này.

Tuy nhiên, Bob vẫn có câu trả lời, rằng đơn vị 100 tỷ năm là hoàn toàn nhân tạo. Đối với con người, các đơn vị như ngày, thángnăm mới là điều chúng ta cần lưu tâm.

Vâng, điều đó đúng. Vậy hãy xét đến các đơn vị gần gũi hơn với con người.

  • Bob dùng cụm từ “cùng độ dài” để so sánh sáu “ngày” trong Sáng thế ký 1 với các “ngày” trong trải nghiệm hiện tại của chúng ta. Cụm từ “cùng độ dài” ngụ ý rằng chúng ta có một tiêu chuẩn ổn định để đo lường độ dài. Và thực sự, chúng ta có sẵn một tiêu chuẩn phù hợp: đó là ngày. Dựa vào tiêu chuẩn này, mỗi ngày trong sáu ngày đầu tiên đều dài một ngày, và mỗi ngày trong cuộc sống hiện tại của chúng ta cũng dài một ngày.

  • Nhưng điều này lại là một lập ngữ (tautology): nếu ngày là đơn vị đo lường, và chúng ta đo một ngày, thì tất nhiên chúng ta có kết quả là một ngày. Theo định nghĩa này về độ dài thời gian, thì cả lý thuyết ngày-thời đạilý thuyết ngày tương tự cũng đều liên quan đến sáu ngày, mỗi ngày đều có độ dài là một ngày.

Do đó, để phân biệt giữa các quan điểm, chúng ta phải có một tiêu chuẩn đo lường thời gian mà không trùng với chính đối tượng đang được đo. Và thực tế, chúng ta đã cung cấp tiêu chuẩn này trước đó, khi nói về ngày mặt trời. Một ngày mặt trời là khoảng thời gian mặt trời hoàn thành một vòng quay trên bầu trời. Cụ thể hơn, sự lặp lại nhịp nhàng trong chuyển động của mặt trời đem đến cho chúng ta một tiêu chuẩn về thời gian, trong đó đơn vị tiêu chuẩn là một chu kỳ mặt trời. Sau đó, chúng ta đo các khoảng thời gian khác bằng cách quan sát xem mặt trời di chuyển bao nhiêu vòng hoặc bao nhiêu phần của một vòng quay trong khoảng thời gian mà chúng ta quan tâm.

Tuy nhiên, với định nghĩa này, ba ngày đầu tiên trong Sáng thế ký 1 không thể là “ngày mặt trời”. Vì trong các khoảng thời gian ban đầu đó, mặt trời hoàn toàn chưa thực hiện bất kỳ vòng quay nào, thậm chí không có một phần vòng quay nào. Việc mặt trời chưa hiện hữu đã dẫn đến cách giải thích như của E. J. Young, người nhận định rằng: “Độ dài của các ngày không được xác định.”

Nhưng một lần nữa, có một phản hồi theo lối tư duy thông thường xuất hiện. Bob nói:

“Không, ý tôi không phải là mặt trời thực sự đã hiện diện trong ba ngày đầu tiên, mà là độ dài của một trong các ngày ban đầu giống với độ dài của một ngày mặt trời về sau.”

Từ đó, chúng ta lại phải hỏi: Bob định nghĩa cụm từ “độ dài” như thế nào? Cụm từ ấy dường như ngụ ý rằng chúng ta đang sử dụng một đơn vị đo lường thời gian cụ thể. Và đơn vị ấy cần phải dựa trên một nhịp điệu tuần hoàn có thật trong thế giới được dựng nên. Và đây là điểm then chốt: Để có thể sử dụng trong thực tế, thì nhịp điệu ấy phải đã tồn tại trong ba ngày đầu tiên, chứ không phải chỉ xuất hiện sau đó.

1.1. Những Tiêu Chuẩn Khác Nhau của Việc Đo Lường
#

Thật ra có những nhịp điệu như vậy - rất nhiều là đằng khác. Nhưng nếu chúng ta muốn có ý nghĩa rõ ràng, thì chúng ta cần bắt đầu xác định cụ thể những nhịp điệu ấy là gì, để từ đó, một hay nhiều trong số các nhịp điệu được nhận diện có thể trở thành tiêu chuẩn đo lường. Vậy, hãy để Bob thử lại một lần nữa. Có thể ông ấy sẽ nói:

“Ý tôi là độ dài ấy được đo bằng đồng hồ bấm giờ.”

Một câu trả lời rất tốt. Nhưng trong câu trả lời này Bob đã đưa ra một tiêu chuẩn đo lường khác - chính là chiếc đồng hồ bấm giờ. Đồng hồ bấm giờ có những nhịp điệu riêng trong cơ chế bên trong của nó. Ngoài ra, nó còn có những nhịp điệu mà người sử dụng có thể quan sát được, khi nhìn kim giây hoặc màn hình kỹ thuật số thay đổi theo thời gian. Ý chính ở đây là - chúng ta không thể tránh khỏi việc phải dựa vào một tiêu chuẩn nào đó.

Dĩ nhiên, trong sáu ngày sáng tạo, chưa có đồng hồ bấm giờ tồn tại. Nhưng nguyên tắc rút ra vẫn có ích. Các nhịp điệu vật lý được tích hợp bên trong đồng hồ bấm giờ (hay một số nhịp điệu?) thì đã tồn tại trong sáu ngày đó. Bất kỳ nhịp điệu nào tồn tại vào thời điểm ấy đều có thể được dùng làm tiêu chuẩn để đo độ dài của các sự kiện diễn ra trong khoảng thời gian đó. Chúng ta có thể nói đến nhịp đung đưa của con lắc, sự co và giãn của lò xo, sự rung động của tinh thể thạch anh, hay dao động của dòng điện trong mạch điện. Và chúng ta có thể hỏi:

“Nhịp điệu này tương ứng thế nào với một trong sáu ngày? Đặc biệt, trong ngày thứ nhất thì con lắc đã đung đưa bao nhiêu lần? Và trong ngày thứ hai, rồi kế tiếp như thế?”

Bob có thể cảm thấy không thoải mái khi viện dẫn đồng hồ bấm giờ, bởi đó là phát minh hiện đại. Con lắc thì cổ hơn, nhưng vẫn chưa đủ cổ. Vì vậy, Bob có thể quay lại với nguồn tham chiếu quen thuộc: mặt trời. Ông có thể nói:

“Ý tôi là, nếu mặt trời có mặt, thì nó hẳn đã hoàn tất một vòng quay.”

Nhưng nếu Bob trả lời như vậy, thì chúng ta đang đối diện với một khẳng định phản sự kiện (counterfactual). Và không phải lúc nào cũng dễ dàng để kiểm chứng một tuyên bố phản sự kiện như vậy. Tuy nhiên, hãy cùng xem xét khả năng này. Giả sử Đức Chúa Trời quyết định đặt mặt trời vào thế giới sáng tạo trong ngày thứ nhất hoặc ngày thứ hai. Ngài có thể làm điều đó theo ý muốn của Ngài. Ngài có thể khiến mặt trời di chuyển theo chu kỳ ở tốc độ tùy ý Ngài. Với nhiều người, việc mặt trời chuyển động trong ba ngày đầu tiên với cùng một tốc độ như trong những ngày sau đó là điều hợp lý.

Nhưng như vậy, “cùng một tốc độ” có nghĩa là gì?

Chúng ta có thể xác định tốc độ giống nhau bằng cách sử dụng thiết bị đo lường. Chúng ta lấy đồng hồ bấm giờ và đo thời gian mặt trời di chuyển trên bầu trời. Nhưng nếu làm như vậy, chính đồng hồ bấm giờ lại trở thành tiêu chuẩn đo thời gian. Và như thế, chúng ta lại quay về điểm xuất phát.

Hoặc Bob có thể cố tránh việc dùng một thiết bị đo thời gian thuộc thế giới vật chất bằng cách viện dẫn Đức Chúa Trời:

“Đức Chúa Trời biết thế nào là tốc độ giống nhau đối với sự di chuyển của mặt trời.”

Nhưng sự hiểu biết đó không giúp gì cho loài người chúng ta một cách thực tiễn, nếu như chúng ta không biết điều gì xác định cái gọi là “giống nhau về tốc độ.” Và để biết điều đó, chúng ta cần có một tiêu chuẩn đo thời gian. Nếu không có tiêu chuẩn nào mà con người có thể tiếp cận được, thì bất kỳ ai ở đâu cũng có thể nói rằng một tốc độ nhất định nào đó là có tốc độ di chuyển “giống nhau.”

Trực giác của con người rất mạnh mẽ, và một số người có thể mong muốn rằng chúng ta nên kết thúc cuộc thảo luận này bằng trực giác con người. Chẳng hạn, Bob có thể nói:

“Nhưng chúng ta đơn giản là ‘biết’ khi chúng giống nhau.”

Vấn đề là trực giác của mỗi người lại không luôn đồng thuận. Nếu chỉ dựa vào cảm giác “biết” ở mức độ trực giác để làm điểm kết luận cho cuộc thảo luận, thì điều đó có nguy cơ biến trực giác con người thành một điểm cố định không thể bị thách thức - được coi như thể gần như tương đương với sự chắc chắn của Đức Chúa Trời. Và như vậy, không có cách nào để giải quyết sự bất đồng giữa các quan điểm trực giác khác nhau.

Hơn thế nữa, trực giác mạnh mẽ rằng chúng ta “biết” có thể vẫn ẩn giấu bên dưới một cảm thức vô thức về một tiêu chuẩn đo lường. Như chúng ta đã thấy, có hơn một khả năng cho tiêu chuẩn đó. Vì thế, việc viện dẫn trực giác có thể dẫn đến việc che khuất khó khăn thực sự - và rồi phủ nhận sự tồn tại của vấn đề - vì khó khăn nằm ở tầng sâu trong tiềm thức, chưa được phân tích rõ.

Chúng ta có thể minh họa thêm bằng cách hình dung Bob thực sự hỏi Đức Chúa Trời rằng liệu hai khoảng thời gian có cùng độ dài không, hoặc hai nhịp điệu không đồng thời có đang hoạt động với cùng tốc độ không. Bởi vì Đức Chúa Trời biết mọi sự, Bob kỳ vọng Ngài sẽ đưa ra một câu trả lời rõ ràng: “” hoặc “Không”. Nhưng cũng có khả năng Đức Chúa Trời sẽ đáp rằng: “Câu trả lời cho câu hỏi của con phụ thuộc vào nhịp điệu nào mà con chọn làm tiêu chuẩn.”

Đức Chúa Trời - Đấng biết mọi điều - cũng biết rõ mọi tiêu chuẩn đo thời gian của loài người. Không chỉ thế, chính Ngài đã thiết lập mọi khía cạnh của sự phức tạp đó, và các mối liên hệ giữa những tiêu chuẩn có thể có. Câu hỏi của Bob biểu hiện một nỗ lực vượt ra ngoài điều Đức Chúa Trời đã định. Và trong khi làm như vậy, Bob đã phóng chiếu lên tâm trí của Đức Chúa Trời một ý tưởng chủ quan về sự đo lường tuyệt đối không dựa trên bất kỳ nhịp điệu nào trong thế giới được tạo dựng. Nhưng không có gì đảm bảo rằng sự phóng chiếu ấy thực sự phản ánh tâm trí của Đức Chúa Trời. Vì nó trái ngược với điều Ngài đã định, nên có vẻ như nó không phải là điều đến từ Đức Chúa Trời.

Mục đích của tôi không phải là giải quyết ngay lập tức các câu hỏi, hay gạt bỏ những lo ngại của Bob, nhưng là để chỉ ra rằng có một nan đề cần được suy ngẫm. Thông thường, khi nói về độ dài của một phân đoạn thời gian, chúng ta biết mình đang đề cập đến điều gì, là bởi vì chúng ta có một nền tảng của những nhịp điệu ổn định - trong đó có nhịp điệu thể hiện qua chu trình vận hành của mặt trời. Nhưng nhịp điệu của mặt trời hay của đồng hồ bấm giờ chỉ là một trong nhiều nhịp điệu có thể được sử dụng.

Bây giờ, chúng ta có thể đối chiếu độ đều đặn của một nhịp điệu bằng một nhịp điệu khác. Ví dụ, chúng ta kiểm tra độ đều đặn của chuyển động mặt trời bằng cách đo bằng đồng hồ bấm giờ. Hoặc ngược lại, chúng ta kiểm tra độ chính xác của đồng hồ bấm giờ bằng cách dùng mặt trời làm chuẩn. Nhưng tất cả những nhịp điệu ấy đều nằm trong thế giới hữu hình. Chúng ta hiểu chúng qua sự tương quan giữa hai nhịp điệu. Ý nghĩa của từng nhịp điệu được hiểu qua mối liên hệ của nó với những nhịp điệu khác. Để đo lường bất kỳ nhịp điệu nào, ta phải xác định một nhịp điệu khác làm chuẩn.

Giả sử chúng ta thực hiện một cuộc thí nghiệm tưởng tượng. Hãy hình dung rằng vào một ngày nọ, Đức Chúa Trời đột ngột nhân đôi tốc độ của mọi nhịp điệu tồn tại trong vũ trụ. Mọi thứ đều vận hành nhanh gấp đôi. Và dĩ nhiên, tất cả các định luật vật lý đều được điều chỉnh cho phù hợp: ánh sáng truyền nhanh gấp đôi, tim chúng ta đập nhanh gấp đôi, trí óc chúng ta hoạt động nhanh gấp đôi, và cứ thế.

Vậy sự khác biệt là gì? Không có khác biệt nào có thể nhận ra. Tốc độ của một nhịp điệu trong vũ trụ chỉ có thể được đo lường khi có một nhịp điệu khác làm chuẩn để so sánh. Nói về việc “nhân đôi tốc độ” của mọi nhịp điệu là điều vô nghĩa, vì sự nhân đôi giả định ấy chỉ có thể được hiểu nếu có thứ gì đó không bị nhân đôi. Việc thay đổi tất cả các chuẩn đo thời gian theo cách tương tự sẽ không làm thay đổi điều gì cả.

Tóm lại, việc thảo luận về độ dài của một phân đoạn thời gian chỉ có ý nghĩa khi được đặt trong bối cảnh một chuẩn mực đo lường nào đó. Và điều đó vẫn đúng ngay cả khi phân đoạn thời gian ấy chính là một trong những chuẩn mực có thể được sử dụng.

1.2. Khó Khăn Của Việc Bắt Đầu Một Thế Giới Mới
#

Sáng thế ký 1 là một thách thức đặc biệt, bởi vì chương này nói về khởi đầu của muôn vật - không chỉ là khởi đầu tuyệt đối của thế giới được dựng nên, mà còn là khởi đầu của ánh sáng, khởi đầu của đất khô, khởi đầu của thực vật và các loài sinh vật, và khởi đầu của các vì sao trên trời. Đức Chúa Trời trình bày câu chuyện theo cách dễ tiếp cận cho con người thường nhật. Nhưng Ngài cũng nói về những sự kiện đã xảy ra một lần đủ cả, những sự kiện mà người nghe ban đầu không trực tiếp chứng kiến. Tuy vậy, họ vẫn có thể hiểu điều Đức Chúa Trời muốn nói, vì những sự kiện khai nguyên ấy tương tự với những điều diễn ra trong sự quan phòng của Đức Chúa Trời - nơi chúng ta đang sống hiện nay.

Chúng ta có thể hiểu. Nhưng không phải hiểu một cách toàn diện. Hiển nhiên là sự quan phòng hiện tại của Đức Chúa Trời không hoàn toàn giống với những gì được mô tả trong Sáng thế ký 1. Nếu con người chỉ đơn thuần suy luận ngược từ kinh nghiệm thường nhật - gắn liền với nhịp sống mỗi ngày - chúng ta có thể tưởng tượng một quá khứ nơi mọi thứ tiếp diễn theo cách tương tự, kéo dài vô hạn qua hàng thiên niên kỷ. Nhưng Đức Chúa Trời bảo chúng ta rằng điều đó không phải lúc nào cũng như vậy. Không phải mọi ngày đều có một ngày trước đó. Dòng giống của loài chiên hay loài người không kéo dài mãi mãi về các thế hệ trước đó.

Vì thế, chúng ta không thể chỉ suy luận ngược. Trong sáu ngày sáng tạo, có những điều diễn ra khác thường. Và Đức Chúa Trời không kể hết cho chúng ta mọi chi tiết về những điểm khác biệt đó. Trình thuật trong Sáng thế ký 1 là tường thuật cô đọng. Nó không lấp đầy mọi chỗ trống. Chúng ta có thể đoán về các chi tiết. Một vài suy đoán có thể khá sát, vì chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời và chúng ta có thể “suy nghĩ giống như Ngài.” Nhưng chúng ta không phải là Đức Chúa Trời. Chúng ta vẫn đang suy đoán.

Vậy sáu ngày đó đã như thế nào? Chúng ta hình dung một ngày trong sáu ngày ấy ra sao? Cụ thể, chúng trông thế nào xét về phương diện nhịp điệu thời gian? Trong sự quan phòng của Đức Chúa Trời, có rất nhiều sự phối hợp tuyệt vời giữa hàng chục hay hàng trăm loại công cụ đo thời gian, giữa chúng với nhịp điệu của mặt trời, các ngôi sao, và chính cơ thể cũng như tâm trí chúng ta. Có những đồng hồ dựa vào dao động của con lắc, đồng hồ cơ học bằng lò xo, đồng hồ dựa vào rung động của tinh thể thạch anh. Có đồng hồ kỹ thuật số, và đồng hồ kim. Sự quan phòng của Đức Chúa Trời mang đến cho chúng ta một sự đa dạng kỳ diệu về những quy luật nhịp nhàng trong thời gian - bao gồm những nhịp điệu khó hiểu mà các nhà khoa học mới phát hiện ra trong vòng một thế kỷ qua.

Bên cạnh những nhịp điệu gắn với các thiết bị kỹ thuật, còn có những nhịp điệu “gần gũi” hơn: cảm nhận tâm lý về thời gian đang trôi qua; nhịp điệu của ăn uống, lao động, nghỉ ngơi và giấc ngủ trong xã hội loài người; nhịp thở, nhịp nhai, nhịp bước chân khi đi bộ, hay nhịp vung rìu chặt củi. Có nhịp điệu khi bò nhai lại, hay khi hải âu vỗ cánh, hay khi sóng vỗ vào đá, hoặc nước chảy xuống sườn đồi. Có những nhịp điệu theo đó một số loài vật có giờ ngủ mỗi ngày; nhịp điệu hoa nở đón nắng ban ngày và khép lại ban đêm; nhịp tăng trưởng theo mùa của cây cối; nhịp sinh sản định kỳ của một số loài vật theo mùa. Danh sách này cứ tiếp tục kéo dài.

Trong sự quan phòng của Đức Chúa Trời, rất nhiều nhịp điệu đang vận hành đồng bộ một cách đáng kinh ngạc. Ví dụ, mỗi ngày mặt trời kéo dài khoảng 86.400 giây, được đo bằng đồng hồ con lắc. Vậy tất cả những nhịp điệu ấy có tồn tại từ thời sáu ngày sáng tạo trong Sáng thế ký 1 không? Và chúng có đồng bộ với nhau như ngày nay không? Có lẽ là có. Nhưng chúng ta phải cẩn trọng, bởi sáu ngày sáng tạo trong Sáng thế ký 1 là thời điểm độc đáo. Có thể nhiều nhịp điệu đã tồn tại, nhưng cũng có thể có một vài cái thì chưa.

Khi chúng ta xem xét chi tiết, mọi thứ bắt đầu trở nên phức tạp. Một số nhịp điệu không kéo dài ngược về đến khởi đầu tuyệt đối. Nhịp điệu của công việc, nghỉ ngơi và giấc ngủ nơi loài người không tồn tại trước ngày thứ sáu - ngày mà loài người đầu tiên được tạo dựng. Nhịp nhai lại của bò không có trước ngày thứ sáu - ngày bò được tạo dựng. Nhịp chuyển động của mặt trời có lẽ cũng không có trước ngày thứ tư. Nhịp sinh hoạt của một số loại thực vật - chúng có hoạt động khác nhau vào ban ngày và ban đêm - không hiện hữu trước khi những thực vật ấy được tạo nên, tức là ngày thứ ba. Một số nhịp khác - như nhịp dao động của ánh sáng phát ra từ một vạch phổ xác định thuộc về một loại nguyên tử nhất định - có thể đã hiện hữu từ ngày thứ nhất, khi ánh sáng được tạo dựng.

Chúng ta cũng có thể đặt câu hỏi liệu những nhịp điệu khác nhau ấy có luôn vận hành đồng bộ với nhau hay không. Chẳng hạn, nhịp của đồng hồ bấm giờ - đo từng giây hay thậm chí phần trăm của một giây - tương ứng với nhịp của mặt trời, bởi vì mỗi ngày mặt trời kéo dài gần như đúng 60 × 60 × 24 giây, theo như đồng hồ bấm giờ đo được. Những mối tương quan về thời gian như thế có kéo dài ngược về thời kỳ của sáu ngày sáng tạo không?

Có thể nhiều trong số ấy đã hiện hữu. Nhưng có vài điểm cần được xem xét. Khi Đức Chúa Trời trồng các cây trong Vườn Ê-đen, Kinh Thánh chép rằng Ngài “làm cho các cây có vẻ đẹp nổi lên khỏi đất” (Sáng thế ký 2:9). Lời chép không chỉ nói rằng Ngài tạo dựng cây, mà là Ngài làm chúng “mọc lên.” Mô tả đó giống như cách con người, bắt chước Đức Chúa Trời, cũng làm cho cây cối và các loại thực vật mọc lên trong khu vườn mình vun trồng. Nếu Đức Chúa Trời trồng Vườn Ê-đen trong khoảng thời gian một vòng quay của mặt trời, ta có thể so sánh nhịp điệu của vòng quay mặt trời với nhịp điệu tăng trưởng của cây trong khu vườn ấy. Có vẻ như mối quan hệ giữa hai nhịp điệu này trong Vườn Ê-đen đã khác so với hiện nay.

Một cách giải thích có thể là Đức Chúa Trời đã khiến cây tăng trưởng một cách kỳ diệu - để trong vòng một ngày, từ hạt giống hay mầm nhỏ, cây đã lớn lên thành cây trưởng thành. Nhưng khi dùng cụm từ “tăng trưởng nhanh,” ta lại gặp câu hỏi về chuẩn mực đo lường. Việc cây lớn nhanh được xác định là nhanh bởi vì nó được đo theo chuẩn mực là một ngày. Điều mà trong trật tự quan phòng hiện tại có thể mất nhiều năm thì trong ngày sáng tạo chỉ mất một ngày. Tương tự, chúng ta cũng có thể nói rằng sự trôi qua của ngày ấy là chậm, nếu dùng chuẩn mực là sự trưởng thành của cây để đo. Trong trật tự quan phòng hiện tại, một ngày trôi qua trong phần rất nhỏ của chu kỳ trưởng thành của cây. Nhưng vào ngày thứ sáu của sáng tạo, phải mất cả thời gian trưởng thành ấy hoặc lâu hơn để ngày ấy trôi qua.

Mục đích ở đây không phải là tìm ra chính xác phương cách và phương tiện nào mà Đức Chúa Trời đã sử dụng trong ngày thứ sáu. Chúng ta có thể suy đoán, nhưng Sáng thế ký chương 1-2 không nói rõ. Có vẻ như đúng là hai nhịp điệu - nhịp tăng trưởng của cây và nhịp quay của một ngày mặt trời - có lẽ không tương quan với nhau như cách chúng tương quan trong trật tự được quan phòng ổn định hiện nay.

Tương tự, chúng ta có thể xem xét Sáng thế ký 1:12: “Đất sanh sản cỏ cây, cây cỏ kết hột tùy theo loại mình, và cây có trái, trong trái có hột tùy theo loại mình.” Nhịp điệu tăng trưởng của thực vật trong ngày thứ ba có thể được so sánh với nhịp của chính ngày thứ ba đó. Có vẻ như mối quan hệ giữa hai nhịp điệu này lúc ấy đã khác với hiện nay. Sự tăng trưởng của cây có thể đã được làm cho nhanh hơn, hoặc thời gian của ngày ấy được làm cho chậm lại. Chúng ta có thể làm cho vấn đề bớt khó hiểu bằng cách giả định rằng cụm từ “kết hột” ở đây là lời báo trước điều mà thực vật sẽ làm trong cả mùa sinh trưởng, chứ không phải điều chúng đã làm xong vào cuối ngày thứ ba. Có thể là vậy.

Tuy nhiên, câu văn nghe như thể vào cuối ngày thứ ba, đất đã sanh sản cỏ cây, thực vật, và cây trái. Hoạt động này xảy ra trong phạm vi của một ngày. Nếu chúng ta nghĩ rằng cần phải giữ cho mọi nhịp điệu vận hành đồng bộ, ta có thể hình dung cây cối lúc đó chỉ mới là những mầm cây tí hon, hầu như không phân biệt được với các loại thực vật khác. Có lẽ mọi cỏ cây lúc ấy vẫn còn trong hình dạng của những mầm bé nhỏ vào cuối ngày thứ ba. Ngôn ngữ trong Sáng thế ký 1:12 không cung cấp cho chúng ta mọi chi tiết. Nhưng điều mà câu Kinh Thánh ấy trình bày khiến chúng ta suy nghĩ bằng cách so sánh với thực vật hiện nay - mà sự phát triển của chúng không chỉ bao gồm việc nẩy mầm ban đầu, mà còn kéo dài suốt quá trình lớn lên để trở thành cây trưởng thành.

Vì thế, chúng ta có thể đặt câu hỏi: nhịp tăng trưởng của thực vật trong ngày thứ ba có vận hành đồng bộ với nhịp của ngày thứ ba ấy, theo cách giống hệt như ngày nay chăng? Hoặc có thể sự tăng trưởng ấy đã được làm cho nhanh một cách kỳ diệu. Nhưng nếu vậy thì làm sao chúng ta đo được mức “nhanh” đó? Chúng ta lại đối mặt với chính nan đề về chuẩn mực đo lường từng được nêu ra trong sự tăng trưởng của cây trong Vườn Ê-đen.

Kết luận: Đức Chúa Trời không ban cho chúng ta một sự bảo đảm rõ ràng rằng mọi nhịp điệu quen thuộc trong trật tự quan phòng đều đã có mặt đầy đủ trong suốt sáu ngày đầu tiên. Ngài cũng không ban cho chúng ta sự bảo đảm rằng các nhịp điệu ấy đã vận hành đồng bộ với nhau đúng theo cách mà chúng đang vận hành hiện nay.

1.3. Hai Nhịp Điệu Khác
#

Có hai nhịp điệu khác cũng đã được xem là ứng viên đáng chú ý để giải thích ý nghĩa của ba ngày đầu tiên.

  • Một là nhịp điệu lao động và nghỉ ngơi của Đức Chúa Trời. Nhịp điệu này có ý nghĩa như một chuẩn đối chiếu, bởi vì nhịp lao động và nghỉ ngơi của Đức Chúa Trời chính là hình mẫu cho nhịp điệu lao động và nghỉ ngơi của con người - như Xuất Ê-díp-tô ký 20:8–11 nhắc chúng ta.

  • Nhịp thứ hai là nhịp giao động giữa ngày và đêm. Rất dễ suy đoán rằng nhịp điệu này đã được Đức Chúa Trời khởi động khi kết thúc ngày thứ nhất, một phần vì nhịp điệu đó đặc trưng cho những ngày trong kinh nghiệm sống của chúng ta trong trật tự quan phòng. Thêm vào đó, Kinh Thánh có đề cập đến buổi chiều và buổi sáng (Sáng thế ký 1:5).

Nhưng rất nhiều điều phụ thuộc vào trọng tâm mà ta chú ý. Trong hoàn cảnh sống của chúng ta trong trật tự quan phòng của Đức Chúa Trời, nếu chúng ta tập trung vào bối cảnh vũ trụ, thì chúng ta sẽ chú ý đến sự luân chuyển của ánh sáng và bóng tối trên bầu trời. Còn nếu chúng ta tập trung vào sinh hoạt cá nhân, thì chúng ta sẽ chú ý đến lao động và nghỉ ngơi. Trong trải nghiệm của chúng ta dưới sự quan phòng, buổi sáng không chỉ là thời điểm ánh sáng bắt đầu xuất hiện (theo nghĩa vũ trụ), mà còn là lúc công việc bắt đầu (theo nghĩa cá nhân). Buổi tối không chỉ là lúc bóng tối bắt đầu đến, mà còn là khi sự nghỉ ngơi bắt đầu.

Sáng thế ký 1:3–5 thuật lại mô hình công việc của Đức Chúa Trời. Nhưng đoạn này không nói trực tiếp về sự giao động giữa ánh sáng và bóng tối. Nó chỉ nói rằng Đức Chúa Trời gọi ánh sáng là Ngày và bóng tối là Đêm. Đoạn này không nói rằng ngay lập tức có một sự giao động giữa hai điều đó. Cũng không nói rằng tốc độ giao động đó - nếu được đo bằng các thiết bị đo thời gian hiện đại - sẽ tương ứng hoàn toàn với cách chúng ta đo ngày nay, trong trật tự quan phòng ổn định của chúng ta.

Vậy sự luân chuyển giữa ban ngày và ban đêm có bắt đầu trong Sáng thế ký 1:3–5 không? Và có phải chính sự luân chuyển ấy là điều Đức Chúa Trời gọi là “ngày thứ nhất”? Hay Ngài gọi “ngày thứ nhất” là chu kỳ làm việc và nghỉ ngơi? Hay là cả hai?

Sự tò mò của con người thường dẫn đến những suy luận và giả định về những vấn đề mà chúng ta không luôn có câu trả lời rõ ràng. Ở một mức độ nào đó, thực tế có vẻ hợp lý khi giả định rằng sáu ngày trong Sáng thế ký 1 giống hệt như những ngày trong kinh nghiệm quan phòng của chúng ta, và giống y hệt về mọi mặt mà ta có thể nghĩ đến. Nhưng dĩ nhiên không có hai ngày trong kinh nghiệm của chúng ta là hoàn toàn giống nhau. Có thể chúng gần giống nhau nếu xét về phương diện số giây (được đo bằng đồng hồ bấm giờ). Nhưng ở cấp độ kinh nghiệm sống, mỗi ngày chứa đựng cả những điểm tương đồng và điểm khác biệt với các ngày trước đó và sau đó. Mỗi ngày được lấp đầy với đủ loại hoạt động của con người - cá nhân và cộng đồng. Đức Chúa Trời chắc chắn đảm bảo rằng sáu ngày sáng tạo có điểm tương đồng đáng kể với ngày của chúng ta. Nhưng điều gì là quan trọng nhất? Là số giây trên đồng hồ, hay là các sinh hoạt của chúng ta, sự giao tiếp với người khác, với thế giới thực vật và động vật? Tất cả tùy thuộc vào cách nhìn của chúng ta.

Giả sử chúng ta giả định rằng “buổi chiều” và “buổi sáng” trong Sáng thế ký 1 chỉ về những chuyển tiếp từ ánh sáng sang bóng tối và ngược lại. Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng hoàn toàn giống với trải nghiệm ánh sáng và bóng tối trong một buổi chiều của thời nay. Trong thời đại của chúng ta, buổi chiều là lúc mặt trời lặn về phía chân trời phía tây. Và có thể có màu đỏ trong các đám mây ở đó. Ánh sáng trên bầu trời từ từ nhạt đi. Trong một thời gian, phía tây sẽ còn sáng hơn phía đông. Và vào buổi sáng, chúng ta có thể thấy mô hình ngược lại. Vậy tất cả những phức tạp trong mô hình ấy có phải là đặc điểm của buổi chiều và buổi sáng trong Sáng thế ký 1 không? Có phải mô hình ấy tương ứng hoàn toàn với những gì mặt trời tạo ra ngày nay, ngoại trừ việc chưa có mặt trời? Sáng thế ký 1 không nói cho chúng ta biết hiện tượng ánh sáng và bóng tối trong ba ngày đầu tiên giống bao nhiêu phần hoặc giống như thế nào so với những gì chúng ta quen nhìn thấy vào các buổi sáng và buổi chiều trong thời hiện đại.

Tương tự như vậy, Sáng thế ký 1 không cho chúng ta biết mỗi ngày kéo dài bao lâu nếu được đo bằng một thiết bị đo thời gian hiện đại. Có thể một ngày khi ấy có độ dài giống như một ngày mặt trời hiện nay (khoảng 86.400 giây theo đồng hồ bấm giờ), nhưng cũng có thể không. Và nếu có thể là không, thì điểm chính của trình thuật ấy chắc chắn không phải là để thông báo cho chúng ta về độ dài của mỗi ngày theo một thiết bị đo thời gian kỹ thuật cụ thể. Mục đích phải là một điều khác. Và điều khác ấy liên quan đến hoạt động của Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa. Công việc của Ngài diễn ra theo những chu kỳ lao động và nghỉ ngơi. Và đó là điều cốt lõi trong trình thuật Sáng thế ký chương 1. Theo quan điểm mà Sáng thế ký sử dụng, một ngày trước hết - xét theo tầm quan trọng - là một chu kỳ lao động và nghỉ ngơi.

Nhưng Bob có thể cảm thấy chưa yên lòng. Ông có một sự phản bác:

“Thừa nhận rằng Sáng thế ký không đưa ra chi tiết về độ dài của từng ngày, thì có phải ta vẫn có thể suy ra rằng mỗi ngày có độ dài giống nhau? Dù sao, cả sáu ngày đều được gọi là ’ngày’, và Xuất Ê-díp-tô ký 20:8–11 liên hệ chúng với các ngày sau này, mà chúng ta biết rõ độ dài của những ngày ấy.”

Câu trả lời là: đúng vậy. Nhưng kết quả thực tế của suy luận của Bob sẽ phụ thuộc vào chuẩn mực được dùng để đo độ dài ấy. Trong trích dẫn trên, Bob đã dùng từ “độ dài” hai lần. Và từ đó vẫn chưa rõ ràng cho đến khi ông xác định được chuẩn để đo. Nếu ông nói đến đồng hồ bấm giờ, đó là một khả năng. Nhưng cũng hoàn toàn có thể không cần phải lao vào việc đo lường chính xác theo thiết bị kỹ thuật hiện đại. Câu trả lời có thể là:

“Vâng, tất cả đều có độ dài như nhau, nếu đo theo chuẩn mực của chu kỳ lao động và nghỉ ngơi cá nhân. Mỗi ngày có độ dài bằng nhau vì đều bao gồm đúng một chu kỳ lao động và nghỉ ngơi.”

Sự quy chiếu đến chu kỳ lao động và nghỉ ngơi này có vẻ kỳ lạ - nếu chúng ta đang sống trong một nền văn hóa đã dạy chúng ta điều chỉnh đời sống theo đồng hồ. Nhưng không phải mọi nền văn hóa đều như thế. Nhiều nền văn hóa không có công nghệ hiện đại và đồng hồ kỹ thuật. Họ có “hướng tương tác”, tức là tập trung vào hành động của con người và sự tương tác xã hội. Ngay cả từ “độ dài” cũng có thể là vấn đề đối với chúng ta, bởi vì khi dùng nó, chúng ta thường đã mặc định rằng phải chú trọng đến phương pháp định lượng thời gian. Và chúng ta còn có thể cảm thấy rằng cách tiếp cận ấy phải phù hợp với các thiết bị khoa học hiện đại để đo thời gian một cách chính xác.

Sự khác biệt giữa cách trả lời của Bob và câu trả lời theo chu kỳ lao động và nghỉ ngơi đưa chúng ta đến những câu hỏi lớn hơn. Điều gì là quan trọng hơn trong lâu dài? Điều gì là “trọng tâm” hơn? Và phục vụ cho mục đích nào? Là việc đo lường bằng thiết bị kỹ thuật hiện đại? Hay là hoạt động cá nhân? Và nếu đó là hoạt động cá nhân, thì sáu ngày trong Sáng thế ký 1 không tập trung vào hoạt động của loài người, mà là về hoạt động của Đức Chúa Trời là Đấng có ngôi vị, Đấng hoạch định, làm việc, và hoàn tất. Ngài nghỉ ngơi vào cuối mỗi ngày, và rồi Ngài kỷ niệm một sự nghỉ ngơi lớn vào ngày thứ bảy.

Vậy, một ngày là một chu kỳ lao động và nghỉ ngơi. Và điều đó cũng đúng với chúng ta. Chúng ta cũng có một chu kỳ dài hơn là một tuần lễ, như Xuất Ê-díp-tô ký 20:8–11 chỉ ra. Chuỗi sáu ngày trong kinh nghiệm của chúng ta là chuỗi của sáu chu kỳ lao động và nghỉ ngơi. Những chu kỳ ấy thật sự là những “ngày”. Và tương tự, sáu ngày đầu tiên ấy cũng thật sự là những “ngày”. Ta chỉ cần điều chỉnh cách nhìn từ một trọng tâm hiện đại về độ chính xác định lượng bằng công nghệ để thấy rằng Sáng thế ký 1 có thể không hề có ý nói đến việc đo bằng đồng hồ bấm giờ.

II. NHỮNG NỀN TẢNG THẦN HỌC
#

Vậy tại sao chúng ta lại thích đồng hồ bấm giờ? Để trả lời câu hỏi ấy, hãy bắt đầu bằng một phần điểm qua ngắn gọn các nền tảng thần học giúp phân biệt thế giới quan Cơ Đốc với triết lý duy vật - thứ đã ảnh hưởng sâu sắc đến cách hiểu của khoa học hiện đại. Chúng ta chỉ có thể chạm đến một vài khía cạnh căn bản của nền tảng này.

Thế giới đã có khởi đầu trong thời gian. Đức Chúa Trời thì không. Ngài luôn hiện hữu. Theo kế hoạch mà Ngài đã định sẵn từ trước vô tận, Ngài đã đưa thế giới vào hiện hữu tại một thời điểm cụ thể - “ban đầu” (Sáng thế ký 1:1).

2.1. Đức Chúa Trời là Đấng có thân vị
#

Khi Ngài tạo dựng thế giới và duy trì nó, Ngài thực hiện điều đó bằng hành động chủ đích và cá nhân, có sự tham gia của ba ngôi trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời. Thế giới của các vật thể bao gồm những tạo vật “hạ thân vị” (subpersonal) như loài vật, thực vật, và các vật vô tri. Nhưng Đức Chúa Trời cai trị chúng bằng chính thân vị của Ngài. Không có một cơ chế vô thân vị (impersonal) nào đang vận hành thế giới. Thay vào đó, chính Đức Chúa Trời là Đấng giữ mọi vật lại với nhau bởi sự thành tín của Ngài (Cô-lô-se 1:17). Ngài thành tín và nhất quán đến mức chúng ta có thể mô tả nhiều quy luật thường xuyên - chẳng hạn như sự kiện cỏ mọc cho súc vật (Thi thiên 104:14). Nhưng Đức Chúa Trời cũng có thể hành động cách bất ngờ theo mục đích cá nhân của Ngài, điều mà chúng ta gọi là “phép lạ.”

Đức Chúa Trời tạo dựng con người theo hình ảnh Ngài (Sáng thế ký 1:26–27). Ngài ban cho chúng ta quyền quản trị (Sáng thế ký 1:28). Là những tạo vật có thân vị, con người được thiết kế để có sự thông công cá nhân với Đức Chúa Trời. Chúng ta có thể có sự mật thiết cá nhân với Ngài, có thể biết Ngài, và có thể thờ phượng Ngài với lòng kính sợ. Những điều này là không thể có nơi loài vật. Chúng ta nắm giữ một vai trò trung tâm độc nhất trong kế hoạch sáng tạo của Đức Chúa Trời.

Tất cả những điều này là nền tảng cơ bản của thế giới quan Cơ Đốc. Chúng cần được phân biệt rõ ràng với bầu không khí của thế giới phương Tây hiện đại - nơi bị ảnh hưởng sâu sắc bởi triết lý duy vật (materialist philosophy). Triết lý duy vật cho rằng yếu tố cơ bản của thế giới là vật chất - hoặc nói đầy đủ hơn là vật chất, năng lượng, chuyển động, và các tương tác vật lý giữa các phân tử đó. Duy vật là một thế giới quan. Có một quan niệm phổ biến rằng khoa học hiện đại ủng hộ thế giới quan ấy, vì khoa học thường được diễn giải là thứ tiết lộ cho chúng ta cấu trúc sâu nhất của thế giới - những gì thực sự hiện hữu ở mức sâu nhất. Và tầng sâu nhất ấy chính là vật chất vật lý (physical matter).

Nhưng nếu Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời và là Đấng có thân vị, thì thế giới quan duy vật ấy là một ảo tưởng. Đức Chúa Trời là nền tảng cho mọi điều khác. Và chúng ta, là những thân vị, giữ vai trò trung tâm trong chương trình của Ngài. Khoa học tồn tại được là bởi vì Đức Chúa Trời cai trị thế giới bằng sự thành tín và khôn ngoan. Suy nghĩ khoa học của con người là một cách để chúng ta suy tưởng theo tư tưởng của Đức Chúa Trời - trên phương diện tạo vật. Khoa học cũng như mọi lĩnh vực học thuật khác đều nên nhất quán với thực tại, mà thực tại thì xoay quanh trung tâm của con người. Các phân tử trong thân thể chúng ta quả thật tồn tại, nhưng thân vị con người không thể chỉ đơn thuần bị quy về những “túi” phân tử.

2.2. Vai Trò Trung Tâm của Trải Nghiệm Nhân Loại
#

Vậy nếu Đức Chúa Trời thật là Đức Chúa Trời, thì chúng ta phải suy xét cẩn trọng về bản chất của thế giới. Việc ấy cần được thực hiện đối nghịch với triết lý duy vật và những người đại diện cho nó - những người tự xưng đang nhân danh khoa học, và sử dụng uy tín của khoa học để lập luận. Chúng ta cần suy nghĩ về điều gì là thực tại, tức là về bản thể học (metaphysics).

Để khởi đầu, chúng ta hãy xem xét John Calvin, người trong thời đại của mình đã đối thoại với những sự hiểu biết đang bắt đầu ló rạng cùng với buổi bình minh của ngành thiên văn học hiện đại:

“Môi-se nói đến hai vật thể sáng lớn [mặt trời và mặt trăng]; nhưng các nhà thiên văn học chứng minh bằng những lý lẽ thuyết phục rằng sao [tức hành tinh] Thổ, vì ở rất xa nên trông nó như nhỏ nhất, kỳ thực lại lớn hơn cả mặt trăng. Đây là chỗ khác biệt: Môi-se viết theo phong cách thông dụng, những điều mà dù không qua trường lớp, mọi người bình thường với sự tỉnh táo đều có thể hiểu được; còn các nhà thiên văn học thì đào sâu với rất nhiều công phu bất cứ điều gì mà sự khôn ngoan của tâm trí con người có thể hiểu nổi…

Môi-se không hề có ý ngăn cản việc theo đuổi [thiên văn học hiện đại] khi ông không nhắc tới những điều thuộc về chuyên ngành; nhưng vì ông được đặt làm giáo sư cho cả người dốt nát và thô lậu lẫn người có học, nên ông buộc phải giảng dạy theo phương pháp đơn giản hơn… Nếu nhà thiên văn học muốn tìm hiểu kích thước thực của các ngôi sao, họ sẽ thấy mặt trăng nhỏ hơn sao Thổ - nhưng đó là điều sâu nhiệm, bởi vì bằng mắt thường thì ta thấy khác. Vì vậy, Môi-se đã viết cách thích hợp với sự sử dụng phổ thông.”

Calvin đã khẳng định tầm quan trọng của hai góc nhìn khác biệt: góc nhìn phổ thông, nơi sao Thổ chỉ là một điểm sáng trên bầu trời; và góc nhìn của nhà thiên văn học, người truy vấn về “kích thước thực của các vì sao.” Nếu tổng quát hóa, thì có một góc nhìn cảm nghiệm - gắn với đời sống thường ngày của con người - và một góc nhìn chuyên sâu - được phát triển trong các ngành khoa học khác nhau. Calvin ngầm thừa nhận rằng cả hai góc nhìn đều là hợp pháp. Việc Môi-se đã “thích nghi bài giảng theo cách dùng phổ thông” là điều chính đáng, bởi vì mục đích của ông (và mục đích của Đức Chúa Trời) là để phán dạy “mọi người bình thường”; trong khi nhà thiên văn học có mục tiêu khác: khám phá “những điều tâm trí con người khôn ngoan có thể hiểu được.”

Sau những nhận xét này, Calvin không đi sâu vào sự tương phản giữa góc nhìn cảm nghiệm và góc nhìn chuyên sâu. Ông chuyển ngay đến việc giải thích chi tiết hơn về mục đích của Kinh Thánh và của Môi-se. Đó chính là ơn kêu gọi của ông. Calvin không phải là nhà thiên văn học, mà là một giáo sư, một mục sư, và một nhà viết chú giải Kinh Thánh. Chúng ta cũng có thể nói thêm rằng ông không phải là nhà nhận thức luận hay tâm lý học nhận thức - những người có thể muốn khám phá cách sâu sắc về việc làm sao con người lại có khả năng sử dụng hai góc nhìn khác nhau như vậy - một cách thật kỳ diệu và đầy huyền nhiệm.

Hóa ra, sự tương phản giữa hai góc nhìn đó lại đóng vai trò quan trọng trong sự hiểu biết của chúng ta về thời gian. Trong thế kỷ hai mươi mốt, sau nhiều bước tiến của các ngành khoa học, chúng ta có ít nhất hai cách nhìn về thời gian: một là góc nhìn cảm nghiệm, và một là góc nhìn chuyên sâu.

Và bây giờ chúng ta bước vào một vấn đề lớn. Có phải một góc nhìn mang lại cho chúng ta thực tại, trong khi góc nhìn kia chỉ mang lại “cảm nhận” hay thậm chí là ảo tưởng?

Nếu thế giới thật sự là thế giới được hình dung theo triết lý duy vật, thì đó sẽ là một thế giới nơi con người chỉ là kết quả ngẫu nhiên. Mô tả của nhà thiên văn học có thể dường như mang lại thực tại, bởi vì nó được xem là độc lập với việc sao Thổ trông lớn như thế nào đối với mỗi người quan sát. Trái với góc nhìn “ưu việt” ấy, thế giới quan sát theo cảm nhận thông thường - tức góc nhìn mang tính cá nhân và trải nghiệm - lại chỉ là ngẫu nhiên, là sản phẩm của cơ hội tình cờ. Chỉ đơn thuần là ngẫu nhiên mà con người xuất hiện trong một vũ trụ duy vật, và họ có hệ thống cảm nhận thị giác. Thị giác, trong thế giới duy vật, phải được phân tích thành phản ứng của những photon có bước sóng nhất định với các phân tử và tế bào nhất định trong võng mạc của con người - mà tất cả những điều ấy có thể sẽ khác hẳn, nếu sự ngẫu nhiên vận hành theo cách khác.

Ngược lại, nếu chúng ta sống trong một vũ trụ được tạo dựng bởi Đức Chúa Trời là Đấng có ngôi vị, thì Ngài đã thiết kế chúng ta cùng với khả năng cảm nhận của chúng ta như một phần trong món quà sự sống. Việc nhìn thấy là thật, và nó giúp chúng ta đối diện với thực tại, bởi vì Đức Chúa Trời đã dựng nên nó theo đúng như cách nó đang vận hành. Vâng, Đức Chúa Trời là Đấng đã thiết kế những sự phức tạp mà các nhà thiên văn học đang khám phá. Nhưng Ngài cũng là Đấng cai trị từng khoảnh khắc của sự cảm nhận của con người trong suốt lịch sử. Trên phương diện bản thể học cơ bản, mỗi góc nhìn đều có tính thực tại như nhau, bởi vì cả hai đều thuộc vào sự thiết kế và lời phán của Đức Chúa Trời là Đấng cai quản toàn vũ trụ.

Xét theo phương diện này, mỗi tạo vật đều ở cùng một cấp độ bản thể học như mọi tạo vật khác. Tất cả đều là những vật được dựng nên. Và từng chi tiết đều được định bởi lời phán của Đức Chúa Trời là Đấng cai trị vũ trụ (Thi thiên 33:6, 9; 147:15, 18). Tuy vậy, ở hai phương diện quan trọng, kinh nghiệm cá nhân phổ thông lại có vị trí căn bản hơn so với khoa học chuyên sâu.

  • Thứ nhất, nếu không có kinh nghiệm con người thường ngày - bao gồm cảm nhận thị giác và thính giác cơ bản - thì khoa học, như một dự án nhân văn, không thể hình thành được. Chúng ta phải quan sát thế giới và học các phương pháp của Đức Chúa Trời trong đó. Việc phủ nhận tính bản thể học của cảm nhận con người cũng đồng nghĩa với việc làm suy yếu độ tin cậy nhận thức của cảm nhận ấy. Và nếu không có điều đó, thì không thể có chuyện khoa học tự nhiên trở thành hình thức tri thức - mà chỉ còn là những giấc mơ ngẫu hứng.

  • Thứ hai, Đức Chúa Trời đã dựng nên chúng ta theo hình ảnh Ngài và Ngài yêu thương chúng ta. Ngài bày tỏ chính mình qua sự mặc khải bằng lời trong Kinh Thánh, và qua sự mặc khải không lời thông qua thế giới mà Ngài đã dựng nên (Rô-ma 1:18–23). Cầu vồng là đẹp đẽ và là chứng cứ về vẻ đẹp của Đức Chúa Trời. Các ngôi sao không chỉ đẹp trong dáng vẻ mà còn trong đường đi của chúng - là minh chứng cho sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời (Thi thiên 19:1–6). Chúng ta được tạo ra để đáp lại sự chứng nghiệm ấy bằng việc nhận biết Đức Chúa Trời, yêu mến Ngài, và thờ phượng Ngài. Với mục đích hướng đến sự thông công cá nhân với Đức Chúa Trời, thì sự chứng nghiệm trong kinh nghiệm thường nhật là trọng tâm - trọng tâm hơn so với những phát hiện chuyên sâu trong khoa học tự nhiên, thứ không phải lúc nào cũng dễ tiếp cận với mọi người. Dĩ nhiên các phát hiện chuyên sâu cũng có giá trị chứng nghiệm (testimony). Nhưng sự chứng nghiệm đó không cạnh tranh hay làm lu mờ sự chứng nghiệm rõ ràng hơn mà chúng ta nhận được qua cảm nhận từ các giác quan.

Vì vậy, tôi kết luận rằng: thế giới hiện ra trước mắt con người thường nhật không phải chỉ là vẻ bề ngoài mà còn là thực tại. Đó là một thực tại được Đức Chúa Trời ban cho để con người thờ phượng Ngài. Đó là thực tại trong cái nhìn của Đức Chúa Trời, và vì thế cũng phải là thực tại trong cái nhìn của chúng ta. Nó là một chiều kích - và là một chiều kích trung tâm - mà sự khảo cứu khoa học sau này có thể bổ sung thêm những tầng hiểu biết sâu sắc.

Calvin không bận tâm đến những vấn đề liên quan đến bản thể học của thực tại. Ông không cần phải bận tâm, bởi vì đối với ông, giá trị và tính xác thực của kinh nghiệm con người không hề bị nghi ngờ. Tuy nhiên, ông sử dụng những thuật ngữ có tiềm năng tạo ra, trong những diễn biến lịch sử sau này, sự tự cao về tính ưu việt của khoa học, cùng với quan điểm cho rằng những gì thuộc về thường nhật thì không phải là thật.

Ví dụ, Calvin nói rằng ngành thiên văn học xuất phát từ việc vận dụng “sự thông sáng.” Điều đó dĩ nhiên là đúng. Và Calvin có thể hoàn toàn ngưỡng mộ sự thông sáng như một món quà đến từ Đức Chúa Trời. Nhưng một khi sự thông sáng ấy bị tách ra khỏi nguồn ban phát là Đức Chúa Trời, nó trở thành một cớ cho sự kiêu ngạo. Khi đó, “cách dùng thông dụng” sẽ bị xem là thấp kém và tầm thường.

Calvin cũng sử dụng vài cụm từ khác để miêu tả tầng lớp kinh nghiệm phổ thông: “người dốt nát và thô kệch”; “phải hạ mình xuống với phương pháp giảng dạy thô thiển.” Ở đây có một ranh giới mong manh giữa hai thái độ: một bên là sự ngưỡng mộ đối với ân sủng từ Đức Chúa Trời mà chúng ta nhận được khi chuyên tâm học hỏi; bên kia là sự khinh miệt đối với những người không có học thức bằng những người thuộc tầng lớp ưu tú.

Tôi không nghĩ rằng Calvin khinh thường điều phổ thông. Thật ra, ngay trong cùng một trang, ông kêu gọi tất cả chúng ta phải thức tỉnh tâm linh để tôn vinh và ngợi khen Đức Chúa Trời vì sự oai nghiêm của Ngài được bày tỏ trong tạo vật bằng những phương tiện thông thường. Tuy nhiên, cánh cửa vẫn đang mở ra cho những thế hệ sau - những thế hệ ít khiêm nhường trước sự oai nghi của Đức Chúa Trời hơn Calvin - có thể rơi vào thái độ khinh miệt.

Vậy những điều này có liên hệ gì đến cách giải nghĩa Sáng thế ký chương 1? Có liên hệ, bởi vì một thế giới quan đề cao góc nhìn sâu nhiệm và hạ thấp tính thực tại của góc nhìn trải nghiệm sẽ làm thay đổi kỳ vọng của chúng ta khi đọc Sáng thế ký 1.

  • Một mặt, chúng ta có thể bị cám dỗ để cố tìm ra những chân lý sâu nhiệm trong Sáng thế ký 1, nhằm chứng tỏ rằng Kinh Thánh đủ tầm vóc để so sánh với sự uy tín của các ngành khoa học hiện đại.

  • Mặt khác, nếu chúng ta thừa nhận rằng nội dung ấy vốn thuộc về góc nhìn trải nghiệm, chúng ta lại có thể bị cám dỗ để xem thường Kinh Thánh như thể nó cổ lỗ sĩ hay bị ràng buộc bởi nền văn hóa nguyên thủy.

2.3. Không Gian Trải Nghiệm và Không Gian Trừu Tượng
#

Chúng ta có thể minh họa bằng cách sử dụng các góc nhìn về không gian và chuyển động. Cuộc cách mạng Copernicus là ví dụ tiêu biểu ở đây. Cuộc cách mạng Copernicus đã đặt mặt trời vào vị trí trung tâm của hệ mặt trời, với trái đất quay quanh mặt trời và cũng tự quay quanh trục bắc-nam của chính nó. Hình ảnh này vốn trừu tượng - dù không trừu tượng bằng một số tiến triển trong khoa học thế kỷ hai mươi - nhưng vẫn đòi hỏi nỗ lực trí tuệ (“sự minh mẫn”) để hiểu được, và còn cần thêm công sức để nhận định liệu nó có ưu việt hơn mô hình cũ (hệ thống Ptolemaic) hay không, và nếu có, thì nó đúng trong ý nghĩa nào. Góc nhìn Copernicus tương phản với góc nhìn trải nghiệm, theo đó trái đất đứng yên và mặt trời di chuyển theo một cung qua bầu trời.

Xét về lịch sử, những xung đột xoay quanh thuyết Copernicus có nhiều chiều kích. Nhưng ít nhất một chiều kích liên quan đến sự khác biệt giữa góc nhìn trừu tượng mà thuyết Copernicus thể hiện, và góc nhìn trải nghiệm. Một giải pháp đơn giản nằm sẵn ngay trước mắt: đó là thừa nhận cả hai góc nhìn đều phản ánh các chiều kích khác nhau của thực tại, nhưng khởi điểm và mục đích của mỗi góc nhìn lại riêng biệt. Và thực tế, có ba tiền lệ vững chắc cho cách giải quyết này.

  • Tiền lệ đầu tiên nằm trong chính góc nhìn trải nghiệm. Mỗi cá nhân con người đều có trải nghiệm riêng của mình về không gian, khác biệt với trải nghiệm của những người khác. Ví dụ, Emily và Samantha có thể cùng quan sát một con thỏ trong sân sau. Emily thì ở trong sân và nhìn con thỏ ở khoảng cách gần, còn Samantha thì ở trong nhà và nhìn từ xa hơn. Con thỏ “to hơn” đối với mắt của Emily. Emily nhìn con thỏ từ phía trước, thấy cả hai mắt nó. Samantha thì nhìn từ bên hông và chỉ thấy một mắt. Một người thứ ba, Victoria, quan sát từ phía sau nên không thấy mắt nào. Đó vẫn là cùng một con thỏ. Và cách mỗi người nhìn thấy nó đều là thực: đó chính là điều mà Đức Chúa Trời đã định. Hình ảnh này cho thấy có thể tồn tại những góc nhìn khác nhau nhưng vốn dĩ hòa hợp với nhau. Nó cũng chỉ ra rằng “kích thước” thị giác của một vật thể phụ thuộc vào góc nhìn của mỗi người.

  • Tiền lệ thứ hai nằm trong bản chất của góc nhìn trừu tượng. Ngay cả những góc nhìn trừu tượng cũng có sự tham gia của nhà khoa học như một người quan sát mang tính cá nhân. Không thể hiểu được thuyết Copernicus nếu không xem nó như là lời giải thích gắn liền với những điều chúng ta nhìn thấy từ góc độ trải nghiệm. Khởi điểm để chúng ta hiểu về không gian là kinh nghiệm về hướng không gian so với thân thể của chính mình. Hơn nữa, bản thân thuyết Copernicus cũng liên quan đến việc hình dung hệ mặt trời; và bất cứ hình ảnh nào - dù là trong trí óc hay trực quan - cũng sử dụng một góc nhìn không gian. Ví dụ, chúng ta hình dung hệ mặt trời như thể đang nhìn từ một điểm bên ngoài mặt phẳng các hành tinh, để có thể tưởng tượng rằng mình đang nhìn xuống những chuyển động vòng tròn (chính xác hơn là hình elip) của chúng quanh mặt trời.

  • Tiền lệ thứ ba nằm trong bản chất của loài người, được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời. Khi chúng ta suy gẫm về ý nghĩa của hình ảnh Đức Chúa Trời, suy nghĩ ấy cuối cùng sẽ dẫn ta trở lại sự hiệp một và đa dạng trong chính Đức Chúa Trời - một Đức Chúa Trời trong ba thân vị. Sự hiệp một và đa dạng trong con người, và từ đó là sự hiệp một và đa dạng trong các góc nhìn khác biệt, có nền tảng tối hậu và mẫu mực nơi sự hiệp một và đa dạng trong Đức Chúa Trời.

Thật tiếc, sự khẳng định về tính đa góc nhìn lại không phải là con đường chính yếu được chọn trong các cuộc tranh luận ban đầu về thuyết Copernicus. Nhiều người có vẻ nghĩ rằng nếu chọn theo Copernicus thì phải phủ nhận rằng trái đất là cố định. Không phải họ thực sự phủ nhận những gì mắt họ trông thấy, nhưng có lẽ họ nghĩ rằng hoặc là thuyết Copernicus hoặc một quan điểm nào đó giữ trái đất đứng yên phải là góc nhìn siêu hình tối hậu (ultimate metaphysics) duy nhất. Do đó, việc khẳng định điều này lại trở thành sự phủ nhận điều kia. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ siêu hình học sai lầm - giả định rằng phải có một góc nhìn là tối hậu, và do đó làm giảm giá trị của tất cả các góc nhìn khác.

2.4. Ám Ảnh về Sự Độc Tôn của Một Quan Điểm
#

Tôi không biết hết mọi lý do vì sao con người lại bỏ qua khả năng khẳng định cả góc nhìn trải nghiệm lẫn góc nhìn trừu tượng. Nhưng tôi có thể gợi ý rằng một trong những lý do nằm ở chỗ đã tồn tại một góc nhìn trừu tượng từ trước thời Copernicus, đó là hệ thống Ptolemaic để lý giải chuyển động của các thiên thể. Hệ thống này được Aristotle xác nhận, và Aristotle thì được kính trọng như là “nhà triết học”, một số quan điểm của ông đã được tiếp thu và ăn sâu vào truyền thống Công giáo La Mã. Aristotle tự nhận rằng ông cho chúng ta biết điều gì là siêu hình học tối hậu. Nhưng vì Aristotle đã bỏ qua tri thức về Đức Chúa Trời duy nhất, chân thật và cá nhân, nên hệ thống siêu hình học của ông về bản chất là phi cá nhân. Chúng ta không thể có mối tương giao cá nhân với quan niệm về “Đấng Không Lay Chuyển” (unmoved Mover) của ông. Do đó, con người không thể giữ vai trò trung tâm trong hệ thống siêu hình học của thế giới.

Đúng là con người có thể khao khát hiểu biết về hệ thống siêu hình ấy. Nhưng họ làm điều đó thông qua lý trí, vốn được xem là khái quát và vì thế là phi cá nhân. Nếu đi tới tận đáy, siêu hình học kiểu Aristotle phải gạt bỏ các góc nhìn cá nhân. Nó chủ trương rằng có một hệ siêu hình tối hậu tách biệt khỏi các quan điểm cá nhân. Từ đó, người theo trường phái Aristotle sẽ mong đợi một hệ thống thiên văn tối hậu, vốn cũng phi cá nhân vì không xét đến người quan sát.

Trong khuôn khổ phi cá nhân đó, góc nhìn Copernicus trừu tượng, góc nhìn Ptolemaic trừu tượng và góc nhìn trải nghiệm thông thường sẽ phải tranh đấu để xem góc nào là tối hậu. Và góc nhìn trải nghiệm đã thua trong cuộc chiến đó ở cấp độ nền tảng. Từ nhiều thế kỷ trước Copernicus, nó đã bị gạt bỏ để nhường chỗ cho hệ thống Ptolemaic.

Tất cả điều này giờ đã là lịch sử. Nhưng nó vẫn để lại ảnh hưởng. Một số học giả vẫn tiếp tục nhắc đến câu chuyện về Copernicus nhằm thuyết phục chúng ta rằng, cũng như Hội Thánh đã từng chấp nhận thuyết Copernicus, thì giờ đây chúng ta cũng phải chấp nhận những “kết quả chắc chắn” mới nhất của khoa học hiện đại, dù đó là tuổi của vũ trụ, thuyết Darwin, hay quan điểm cho rằng không hề tồn tại một A-đam duy nhất là tổ tiên của cả nhân loại. Những lập luận như vậy cần được phân tích ở nhiều cấp độ. Đâu là sự kiện, đâu là giả định, và đâu là diễn giải trong các tuyên bố mới nhất từ giới khoa học?

Hơn nữa, các lập luận ấy cần được làm chậm lại bằng cách từ chối nhượng bộ trước quan niệm rằng con người và tầm quan trọng của con người đã biến mất khỏi hiện trường. Trước hết, thiên văn học của Copernicus không bao giờ nên được biến thành một hệ thống siêu hình tối hậu. Nó không nên cạnh tranh với góc nhìn trải nghiệm. Và cũng không nên chấp nhận rằng thuyết Copernicus hay bất kỳ lý thuyết nào khác lại độc lập với những con người đã xây dựng nên nó như một góc nhìn. Các lý thuyết luôn được đặt trong một khuôn khổ rộng lớn hơn của sự hiểu biết cá nhân - một mạng lưới phức tạp giải thích ý nghĩa của góc nhìn trừu tượng ấy cho thế hệ kế cận, vốn cũng là những con người, và điểm khởi đầu của họ không thể khác ngoài góc nhìn trải nghiệm.

Và nếu con người là không thể thiếu, thì định hướng của tấm lòng họ cũng vậy. Như Abraham Kuyper và Cornelius Van Til từng yêu thích chỉ ra, con người hoặc là tái sinh hoặc chưa tái sinh - hoặc là thuộc về Đức Chúa Trời, hoặc là chống lại Ngài. Điều đó ảnh hưởng đến thế giới quan của họ, và thế giới quan của họ ảnh hưởng đến công cuộc nghiên cứu khoa học lẫn hệ thống siêu hình học mà nghiên cứu ấy đang đặt nền trên đó.

Chúng ta cũng thấy ảnh hưởng của điều này trong cảm giác về sự nhỏ bé của con người. Người ta nói rằng nhân loại thật sự rất nhỏ bé, đặc biệt là khi ta nhận ra vũ trụ lớn đến mức không thể tưởng tượng được. Vũ trụ thật to lớn - vượt quá sức tưởng tượng. Và rồi người ta nói rằng chúng ta chỉ là những hạt bụi tí hon. Nhưng hãy chú ý rằng những con số đo lường kích thước của vũ trụ và số lượng các ngôi sao là thuộc về góc nhìn trừu tượng. Những con số ấy quá lớn đến mức không ai có thể “tiếp nhận” được chúng một cách trực tiếp, bằng trải nghiệm thường nhật của con người.

Con người bị xem là tầm thường bởi vì góc nhìn trừu tượng đã nuốt chửng và phá hủy góc nhìn trải nghiệm. Đó là siêu hình học sai lầm đang hoạt động - một thế giới quan sai lầm. Thế giới quan ấy đang gặm nhấm nhân tính của chính những con người mà nhân tính của họ - bao gồm cả những năng lực trí tuệ kỳ diệu mà Đức Chúa Trời ban cho - đã khiến cho họ có thể hiểu được độ trừu tượng rộng lớn của vũ trụ học hiện đại. Chúng ta cần thương xót những người như thế, và cũng cần, nhân danh Đức Chúa Trời và vì chân lý, đứng lên để nói với họ rằng họ còn là trung tâm của vũ trụ hơn tất cả những con số lớn mà họ có thể hình dung - chính bởi vì họ có thể hình dung ra những con số ấy. Nói cách khác, họ được dựng nên theo hình ảnh của Đức Chúa Trời.

2.5. Thời Gian Trải Nghiệm và Thời Gian Trừu Tượng
#

Giờ đây, chúng ta chuyển sang chủ đề về thời gian trải nghiệm và thời gian trừu tượng. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên, vì cùng với sự phát triển của các ngành khoa học hiện đại, ngày càng có nhiều cách tiếp cận mang tính trừu tượng đối với thời gian. Đây không phải điều xấu. Con người được giao nhiệm vụ trị vì, và điều này bao gồm sự minh mẫn và khả năng khám phá trí tuệ mà Calvin đã tán thành. Trong quá trình vận dụng sự minh mẫn, các nhà khoa học đã khám phá ra những tầng nghĩa trừu tượng sâu sắc liên quan đến thời gian.

Thời gian giờ đây có thể được đo lường bằng các thiết bị phức tạp như đồng hồ nguyên tử. Theo thuyết tương đối đặc biệt, và càng rõ hơn trong thuyết tương đối tổng quát, việc đo lường trừu tượng về thời gian và không gian được kết nối với nhau một cách tuyệt vời, và người quan sát đóng một vai trò không thể thay thế. Người quan sát! Hóa ra ngay cả trong những lý thuyết trừu tượng nhất, vẫn vang vọng đâu đó âm hưởng của góc nhìn trải nghiệm.

Một số bài học rút ra từ đây mang tính tương đồng với những gì chúng ta đã quan sát về không gian, chuyển động và thuyết Copernicus. Ví dụ, các cuộc thảo luận trừu tượng về thời gian đưa ra những con số khổng lồ: 4,5 tỷ năm cho lịch sử trái đất, và 14 tỷ năm cho lịch sử vũ trụ. Một góc nhìn trải nghiệm thông thường thì không thể “nắm bắt” được những khoảng thời gian mênh mông như thế - cũng giống như không thể nắm bắt được độ rộng của không gian. Một số người bị thu nhỏ trong chính đánh giá của họ về bản thân. Nhân loại chỉ là một vết chấm nhỏ trên màn hình. Than ôi, đó là siêu hình học sai lầm - nơi góc nhìn trừu tượng trở thành một tuyên bố siêu hình loại trừ, và chính tuyên bố đó hủy hoại con người.

Một số kết quả từ công trình trừu tượng về thời gian vẫn đang hiện diện quanh chúng ta hằng ngày. Có đồng hồ cơ, đồng hồ điện tử, và đồng hồ trong máy tính, điện thoại di động. Ở một khía cạnh nào đó, chúng rất quen thuộc với chúng ta. Nhưng cấu trúc bên trong của chúng lại rất trừu tượng. Rất ít người từng kiểm tra hoặc hiểu sâu nguyên lý vận hành của các đồng hồ ấy. Theo một nghĩa nào đó, có bao nhiêu loại đồng hồ thì có bấy nhiêu cách đo lường thời gian. Và rồi có những lý thuyết khác nhau mà thời gian đóng vai trò quan trọng trong đó: thuyết Newton, thuyết tương đối, và thuyết lượng tử.

Một bài học ở đây là: sự hiện diện của các đồng hồ ấy, cùng với tư duy trừu tượng về thời gian nằm sau quá trình chế tạo chúng, không hề thay thế hay vô hiệu hóa thời gian trải nghiệm. Vậy thời gian trải nghiệm là gì? Đó là thời gian mà chúng ta trải nghiệm trong tương tác thể chất và tâm trí với thế giới. Không có góc nhìn trải nghiệm về thời gian, thì mọi nỗ lực của giới khoa học và kỹ thuật liên quan tới thời gian trừu tượng đều không thể xảy ra. Thời gian trừu tượng là một lớp phát triển khái niệm bổ sung, được xây dựng dựa trên thời gian trải nghiệm.

Thêm nữa, chúng ta cần đối diện với câu hỏi siêu hình học: điều gì là thật về thời gian?

Cách lập luận ở đây tương tự như khi ta khảo sát các góc nhìn trải nghiệm và trừu tượng về không gian và chuyển động. Thời gian trải nghiệm thì siêu hình học vẫn thực như bất kỳ góc nhìn trừu tượng nào. Đức Chúa Trời đã hoạch định tất cả; Ngài xác lập tất cả. Tất cả đều là thật. Ngược lại, nếu chúng ta chọn theo quan điểm của triết học duy vật, thì hệ quả là con người chỉ là một sự tình cờ, và trải nghiệm sống của họ về thời gian cũng chỉ là ngẫu nhiên. Thời gian “thật” là thời gian phi cá nhân gắn liền với các hiện tượng vật lý, và mọi điều khác đều được xây dựng dựa trên nền tảng phi cá nhân đó.

Tương tự như với không gian, thì đối với thời gian cũng có nhiều góc nhìn trải nghiệm: mỗi người có một góc nhìn riêng. Sự đa dạng này rất dễ thấy khi chúng ta ngủ. Nếu ta ngủ say, thì sau đó ta không thể tự biết mình đã ngủ bao lâu. Nhưng một người khác tỉnh táo có thể nói - dù không dùng đến các thiết bị hiện đại phức tạp. Người ấy nói: “Chỉ là một khoảng ngắn thôi, thời gian vừa đủ để tôi ăn một chùm nho.” Hoặc: “Thời gian dài lắm, tôi đã đi chợ và trò chuyện với nhiều người.” Trải nghiệm cá nhân của mỗi người về thời gian sẽ hòa quyện với trải nghiệm của người khác trong xã hội rộng lớn hơn.

Có hai khía cạnh trong đó góc nhìn trải nghiệm về thời gian thực sự mang tính trung tâm về mặt siêu hình hơn bất kỳ dạng thời gian trừu tượng nào.

  • Thứ nhất, như chúng ta đã thấy, con người cần có ý thức về thời gian để khởi đầu cho việc nghiên cứu trừu tượng về thời gian. Nếu không có ý thức ấy, ta không thể biết ta đang khảo cứu điều gì.

  • Thứ hai, Đức Chúa Trời quan tâm đến con người, và Ngài đã định cho họ một vai trò trung tâm trong kế hoạch của Ngài. Sự chết và sự phục sinh của Chúa Giê-xu là trung tâm của sự cứu chuộc, là trọng tâm của lịch sử cứu chuộc. Những sự kiện ấy diễn ra trong bối cảnh tương tác giữa con người với nhau. Trải nghiệm cá nhân về thời gian chính là khuôn khổ căn bản để hiểu về các sự kiện đó. Việc hiểu thấu ý nghĩa của các sự kiện ấy không phụ thuộc vào khả năng của chúng ta trong việc hiểu các đơn vị thời gian siêu nhỏ, hay hiểu được sự gắn kết giữa thời gian và không gian trong các lý thuyết tương đối đặc biệt và tổng quát.

III. SUY NGẪM VỀ SÁNG THẾ KÝ 1
#

3.1. Sáng Thế Ký 1 Như Một Cái Nhìn Trải Nghiệm về Không Gian
#

Cuối cùng, giờ đây chúng ta có thể chuyển sang Sáng thế ký 1. Như nhiều người đã nhận xét, Sáng thế ký 1 thuật lại câu chuyện theo góc nhìn mà một người quan sát từ trái đất có thể nhìn thấy. Nó không bắt đầu với Ngân Hà, mà bắt đầu với trái đất. Theo một nghĩa nào đó, nó mang tính tập trung vào trái đất. Nhưng đó là một góc nhìn hợp lệ. Bởi vì Đức Chúa Trời đang phán dạy với con người - về những điều quan trọng đối với con người và không hề mang tính trừu tượng - nên việc Ngài sử dụng góc nhìn trải nghiệm về không gian và chuyển động trong lời tường thuật là hoàn toàn thích hợp và đầy khôn ngoan.

3.2. Sáng Thế Ký 1 Như Một Cái Nhìn Trải Nghiệm về Thời Gian
#

Tương tự, tiến trình của thời gian diễn ra trong sáu ngày, bao gồm các buổi chiều tối và buổi sáng. Bản tường thuật rõ ràng sử dụng góc nhìn trải nghiệm, chứ không phải một góc nhìn hiện đại, trừu tượng - vốn thường kêu gọi tới các công cụ công nghệ như đồng hồ cơ học hay điện tử.

Hãy cùng suy gẫm một ít về thời gian trải nghiệm. Từ cảm nhận trực giác, tâm lý về thời gian và sự trôi qua của nó, con người dần trở nên quen thuộc với nhiều khuôn mẫu và nhịp điệu thời gian. Họ tham gia vào các hoạt động như trò chuyện, ăn uống, làm việc, đi bộ, chạy nhảy và nghỉ ngơi. Họ cũng nhận thức được tiến trình sinh sản và trưởng thành của con người, từ trẻ sơ sinh tới tuổi già và cái chết. Nhờ khả năng vượt qua tập trung vào khoảnh khắc hiện tại, con người có thể nhận biết hành động có tính dài hạn - thường là lập kế hoạch, lao động, và đạt được (hoặc đôi khi không đạt được) mục tiêu đã định. Một số kế hoạch và mục tiêu chỉ kéo dài ngắn hạn: tìm rìu và cầm lấy nó; chuẩn bị món ăn và ăn nó. Nhưng có những kế hoạch kéo dài nhiều ngày hay nhiều năm.

Một khuôn mẫu nền tảng là chu kỳ một ngày. Trong sự tồn tại thể xác, ban ngày thường bao gồm nhiều hành động nhỏ, nhưng trò chuyện, ăn uống, làm việc, đi bộ và nghỉ ngơi là các phần chủ yếu. Vào ban đêm, chúng ta ngủ (so sánh với Thi thiên 104:23). (Và nhiều nền văn hóa có thói quen nghỉ trưa - 2 Sa-mu-ên 4:5; Sáng thế ký 18:1.) Nhịp điệu làm việc và nghỉ ngơi hằng ngày phù hợp với nhịp sinh học khiến chúng ta thấy buồn ngủ vào ban đêm, đồng thời cũng hài hòa với nhịp điệu của ánh sáng và bóng tối, và chu kỳ hàng ngày của mặt trời và các vì sao trên bầu trời.

Các nhịp điệu này lan rộng ra: nhiều loài động vật ngủ theo chu kỳ ngày. Một số loài hoa nở ra dưới ánh mặt trời theo chu kỳ. Ngoài ra còn có những chu kỳ dài hơn, như chu kỳ mùa (Sáng thế ký 8:22) và chu kỳ năm (Sáng thế ký 1:14). Các chu kỳ đó có thể phục vụ nhiều mục đích khác nhau theo kế hoạch của Đức Chúa Trời, là Đấng vốn có thân vị. Nhưng giữa các mục đích ấy, và là trọng tâm trong mối tương giao giữa con người với Đức Chúa Trời, có một mục đích để ban phước cho nhân loại. Các chu kỳ đều liên quan đến đời sống con người, có chu kỳ tác động trực tiếp hơn (chu kỳ làm việc, nghỉ ngơi và giấc ngủ hằng ngày), có chu kỳ tác động gián tiếp hơn (mùa gieo trồng và mùa thu hoạch).

Có một sự tương quan có nhịp điệu giữa (1) nhịp điệu làm việc và nghỉ ngơi của con người, và (2) nhịp điệu của mặt trời trên bầu trời. Vậy điều nào là quan trọng hơn hay trung tâm hơn?

Cả hai đều quan trọng, mỗi mặt theo cách riêng, nhưng từ những góc nhìn khác nhau. Tuy nhiên, theo một nghĩa nào đó, có vẻ như mặt trời và các thiên thể được tạo ra là vì con người, chứ không phải con người vì chúng. Chúng được dựng nên “để làm dấu hiệu, để định mùa, định ngày và năm” (Sáng thế ký 1:14) trong đời sống của con người. “Ngày Sa-bát được lập nên vì loài người, chứ không phải loài người vì ngày Sa-bát” (Mác 2:27).

Chúng ta có thể thấy một ví dụ trong Kinh Thánh, nơi nhịp điệu diễn ra khác thường. Theo Giô-suê 10:13: “Mặt trời dừng lại giữa trời, không vội lặn gần suốt một ngày trọn.” Hãy suy nghĩ về cụm từ “một ngày trọn.”

Như thường lệ, ta có thể hỏi: “Một ‘ngày trọn’ được đo theo tiêu chuẩn nào?” Phải là tiêu chuẩn dựa trên hoạt động của con người, cụ thể là trận chiến của Giô-suê (câu 10–12), chứ không phải dựa trên chuyển động chu kỳ của mặt trời. Trong bối cảnh đặc biệt này, Đức Chúa Trời chọn kể lại biến cố theo tiêu chuẩn của hành động con người, chứ không phải theo chu kỳ của mặt trời. Hai tiêu chuẩn ấy không hòa hợp như thông thường, bởi vì việc mặt trời dừng lại là điều phi thường.

Phân đoạn này cũng khẳng định rõ ràng tầm quan trọng của mối tương giao cá nhân giữa Đức Chúa Trời và dân sự của Ngài: “Trước và sau ngày ấy, chẳng có ngày nào giống vậy, bởi vì Đức Giê-hô-va lắng nghe tiếng của một người, vì Đức Giê-hô-va đã chiến đấu cho dân Y-sơ-ra-ên” (Giô-suê 10:14). Đức Chúa Trời chứng tỏ rằng ý nghĩa gắn liền với mối liên hệ cá nhân có ưu tiên vượt trên chu kỳ của mặt trời.

3.3. Một Bài Học Cho Những Tuyên Bố Khoa Học Hiện Đại
#

Điều này có những hệ quả trong việc đánh giá các tuyên bố của khoa học hiện đại, cũng như việc đánh giá các nỗ lực nhằm hài hòa khoa học với Sáng thế ký 1. Hãy bắt đầu với các tuyên bố khoa học hiện đại. Những tuyên bố khoa học về quá khứ xa xôi đều dựa trên các suy diễn mang tính suy đoán, được thực hiện bằng cách quay ngược thời gian, dựa trên khuôn khổ các định luật vật lý vốn được suy ra từ trật tự quan phòng hiện tại của Đức Chúa Trời. Các định luật cơ bản của vật lý và hóa học, cũng như các quy luật căn bản trong sự phát triển và sinh sản sinh học, đều được giả định là giống hệt trong quá khứ như cách chúng được mô tả khoa học ở hiện tại.

Bây giờ, giả sử rằng các suy diễn đó là đúng. Có thể Đức Chúa Trời, trong sự thành tín của Ngài, đã duy trì các quy luật vật lý cơ bản đó xuyên suốt đến tận thời điểm đầu tiên của sự sáng tạo. Nhưng điều mà các nhà khoa học dòng chính xem là quy luật nền tảng lại mang tính trừu tượng. Và như chúng ta đã thấy, xét về mặt siêu hình học thì chúng ngang hàng với góc nhìn trải nghiệm. Đức Chúa Trời là Đấng có thân vị (person). Ngài có thể hành động khác với những gì chúng ta hiện thấy. Vì vậy, không có gì đảm bảo rằng những suy diễn đó thật sự đúng, dù là về ước tính thời gian (14 tỷ năm cho tuổi của vũ trụ, theo cách đo lường trừu tượng), hay về bản tường thuật tổng thể về quá khứ xa xôi được xây dựng từ các suy diễn đó.

Không có gì đảm bảo - cũng giống như không có gì đảm bảo rằng trời mới đất mới trong lai thế học sẽ thể hiện chính xác các nguyên lý vật lý căn bản mà các nhà vật lý hiện nay đang vận dụng. Điều mà chúng ta được đảm bảo là sự liên tục trong thân vị (persons). Đó chính là điều chúng ta mong đợi từ việc con người giữ vị trí trung tâm trong chương trình của Đức Chúa Trời.

3.4. Thuyết Vũ Trụ Được Tạo Dựng Với Độ Trưởng Thành Sẵn Có
#

Có thể có một bài học cho thuyết sáng tạo trưởng thành. Thuyết này cho rằng, vào cuối sáu ngày, Đức Chúa Trời đã đưa công trình sáng tạo đến trạng thái trưởng thành - một trạng thái có vẻ như đã cổ xưa. Chính xác hơn, trạng thái trưởng thành ấy sẽ mang vẻ cổ kính một cách nhất quán đối với một nhà khoa học khi họ khảo sát nó bằng phương pháp suy diễn từ hiện tại quay ngược về quá khứ. Ví dụ, những cây trong Vườn Ê-đen có thể trông như đã nhiều năm hay nhiều thập kỷ tuổi nếu nhìn qua lăng kính khoa học suy diễn. A-đam có thể trông như người 20 hay 30 tuổi. Nhưng các ước tính thời gian ấy lại trái với thực tế. Chúng dựa trên giả định sai lầm rằng những quy luật của sự quan phòng - mà nhà khoa học dựa vào - vẫn tiếp diễn y hệt khi được suy chiếu ngược về quá khứ xa xưa.

Một điểm tích cực của thuyết sáng tạo trưởng thành là thuyết này nhìn thấu tính độc đáo của sáu ngày đầu tiên. Công cuộc sáng tạo trong sáu ngày ấy không thể được xác định một cách tự tin chỉ bằng suy diễn giản đơn. Do đó, thuyết sáng tạo trưởng thành trở thành một lựa chọn khả thi.

Nhưng thuyết này cũng mang trong mình một điểm yếu tiềm ẩn, nhất là khi xét đến việc đo lường thời gian trong sáu ngày của Sáng thế ký 1. Một trong những mục đích của thuyết này là điều hòa các suy diễn ngược của khoa học với sáu ngày trong Kinh Thánh. Có lý luận rằng những hoạt động trong sáu ngày ấy phải mang tính phi thường, vì các đại đa số các nhà khoa học, qua suy diễn, cho rằng vũ trụ đã tồn tại 14 tỷ năm. Nhưng tuyên bố khoa học về tuổi của vũ trụ là một góc nhìn trừu tượng.

Khi chúng ta tiếp cận Sáng thế ký 1 bằng góc nhìn trải nghiệm, thì chúng ta không biết sáu ngày ấy kéo dài bao lâu nếu đo bằng các thiết bị đo thời gian khoa học hiện đại. Thật vậy, thuyết sáng tạo trưởng thành đồng tình với nguyên tắc này, vì nó xác nhận rằng khi bước vào thời kỳ sáu ngày, mọi thứ đều khác biệt. Như vậy, không thể giả định rằng các thiết bị đo thời gian hiện đại vẫn vận hành trong sáu ngày theo cách chúng đang vận hành trong thế giới trưởng thành sau đó.

Nhưng nếu thế, thuyết sáng tạo trưởng thành đã tước mất chính phương tiện để đo độ dài của ba ngày đầu tiên bằng thiết bị kỹ thuật. Và điều này dường như phần nào làm suy yếu lý do tồn tại ban đầu của thuyết này. Suy cho cùng, thuyết ấy ra đời phần nào để giải quyết sự chênh lệch giữa một ước tính thời gian dựa trên suy diễn khoa học ngược và một “độ dài” dựa trên Sáng thế ký 1. Nhưng sự chênh lệch đó sẽ tan biến nếu không có chuẩn kỹ thuật rõ ràng nào để đo độ dài của các ngày được đề cập trong Sáng thế ký 1.

Nguyên tắc ấy cũng làm suy yếu khả năng của thuyết trong việc xác định độ dài ba ngày cuối cùng. Dĩ nhiên, trong ba ngày cuối, mặt trời đã hiện diện. Nhưng sự khác biệt giữa sáu ngày sáng tạo và sự vận hành quan phòng có thể đồng nghĩa với việc mặt trời không quay đều theo những phương tiện đo thời gian khác - như đồng hồ hiện đại. Nếu chúng ta không thể dùng thiết bị khoa học để đo độ dài của sáu ngày, thì thật khó để nói rằng thuyết sáng tạo trưởng thành mang lại điều gì khác hơn ngoài một khẳng định tiêu cực tối thiểu: rằng chúng ta không thể quá giáo điều về các quá trình trong sáu ngày ấy. Vậy thì, có thể thuyết này sẽ tương thích với những lý thuyết khác cũng tin rằng công trình sáng tạo kết thúc ở một trạng thái trưởng thành - tức là gần như bất kỳ lý thuyết lớn nào khác trong nỗ lực hài hòa Sáng thế ký 1–2 với các tuyên bố khoa học hiện đại.

3.5. Thuyết Ngày Tương Tự
#

Thuyết ngày tương tự cũng có điều cần học hỏi. Trong hình thức phổ biến nhất của mình, thuyết này nói rằng sáu ngày trong Sáng thế ký 1 có tính tương tự với các ngày lao động của con người trong trật tự quan phòng hiện tại - tương tự, nhưng không hoàn toàn bằng nhau. Sáng thế ký 1 không xác định độ dài của mỗi ngày, nếu đo bằng một thiết bị đo thời gian công nghệ hiện đại. Các ngày ấy có thể ngắn hoặc dài. Sáng thế ký 1 không nói rõ. Nhưng một phần của lý do tồn tại của thuyết ngày tương tự thường là nhằm đề xuất một sự hài hòa với khoa học hiện đại. Vì thế, khi người ta tìm cách hài hòa, thì có người cho rằng các ngày trong Sáng thế ký 1 thật ra là những khoảng thời gian rất dài - hàng triệu năm.

Vấn đề nằm ở ngôn ngữ mô tả, đặc biệt là ở từ “thật ra” trong câu vừa rồi. Dù ý định ban đầu của những người khai triển thuyết ngày tương tự có thể thế nào đi nữa, thì người khác khi nghe lý thuyết ấy lại có xu hướng gán cho nó các cụm từ như “thật ra” hay “khoảng thời gian dài.” Khi sử dụng những cách diễn đạt như vậy, họ đã đẩy ngôn ngữ đi theo hướng chấp nhận quan điểm triết học hiện đại, rằng các mô tả trừu tượng về thời gian là siêu hình học tối hậu. Từ “thật ra” có thể ngầm cho rằng việc đo lường thời gian bằng thiết bị kỹ thuật hiện đại mới là “thực tại.” Với tôi, câu trả lời là không.

Khuôn khổ trừu tượng về thời gian chỉ cho ta một góc nhìn - và góc nhìn đó không hề mang tính tối hậu hơn góc nhìn trải nghiệm. Hơn nữa, nó đưa ra điều gì đó vốn mang tính trừu tượng - ít liên hệ mật thiết với các vấn đề trọng tâm của đời sống và sự vật lộn của con người. Vậy nên, thật ra thì sáu ngày đó là sáu ngày. Thật sự, thực tế - nếu nhìn từ góc nhìn trải nghiệm. Mô tả vũ trụ học hiện đại đưa ra một mô tả trừu tượng có thể đúng, nếu ta chấp nhận những định nghĩa đặc thù, chuyên biệt của nó về cách đo thời gian. Nhưng chính những định nghĩa đó là phi thường, và chúng không loại bỏ góc nhìn trải nghiệm, cũng không làm mất hiệu lực của sự “đo lường” các ngày bằng chu kỳ lao động và nghỉ ngơi cá nhân.

Tôi có thể diễn đạt điều này theo cách khác. Tôi không ngần ngại trước ý định nền tảng của thuyết ngày tương tự, mà ngần ngại trước những giả định có thể len lỏi vào trong phần giải thích về nó. Một số ngôn từ mà những người ủng hộ lý thuyết này sử dụng có thể vô tình khiến ta chấp nhận các tuyên bố siêu hình học hiện đại.

Những người theo triết học siêu hình hiện đại, nhân danh khoa học, ám chỉ rằng hệ thống của họ về thời gian đã tiếp cận được tầng sâu - hoặc gần chạm đáy - của siêu hình học vũ trụ. Nếu ta chấp nhận góc nhìn của họ, thì Sáng thế ký 1 chỉ là một sự “nhượng bộ” đối với những giới hạn đáng tiếc của nền văn hóa nhân loại thời xưa. Với tuyên bố đó, tôi nói không. Chính tuyên bố siêu hình học hiện đại mới bị giới hạn bởi chủ nghĩa giản lược của nó. Nó đã bỏ qua điều hiển nhiên - rằng chính sự minh mẫn của những con người cụ thể, được dựng nên theo hình ảnh Đức Chúa Trời, đã đóng vai trò trong việc xây dựng các lý thuyết. Họ chính là những người hình thành nên vũ trụ học hiện đại - một góc nhìn sắc bén nhưng giới hạn về thời gian.

3.6. Những Bài Học Liên Quan đến Các Khẳng Định Căn Bản về Sáng Thế Ký Chương 1
#

Cũng có thể rút ra những bài học cho các độc giả khác của Sáng thế ký 1. Một số người ở phương Tây, cũng như nhiều người khác trên khắp thế giới, tin rằng Đức Chúa Trời đã dựng nên thế giới trong sáu ngày - và họ giữ vững niềm tin ấy mà không đi xa hơn. Với nhiều nhà phân tích hiện đại, điều đó có thể trông giống như họ theo thuyết “sáu ngày 24 giờ.” Nhưng nếu họ không chọn mở rộng khỏi khẳng định đơn sơ ấy, thì họ vẫn chưa gắn bó với một lý thuyết cụ thể nào về mối liên hệ giữa Sáng thế ký 1 với các tuyên bố khoa học thuộc đại đa số; họ cũng chưa cam kết với bất kỳ lý thuyết nào về độ dài của sáu ngày ấy nếu đo bằng các thiết bị khoa học trừu tượng. Nếu họ thuộc về các nền văn hóa ngoài phương Tây, họ thậm chí có thể chẳng hề quen thuộc với các thiết bị đo thời gian như thế. Do đó, những người này có thể không thể hiện rõ sự cam kết với bất kỳ lý thuyết hiện đại chi tiết nào về sự hài hòa giữa Sáng thế ký và khoa học. Hãy gọi cách tiếp cận này là “lập trường xác tín đơn sơ” về các ngày trong Sáng thế ký 1.

Theo một nghĩa nào đó, một số người như vậy có thể gần với thuyết ngày tương tự hơn là thuyết sáu ngày 24 giờ, vì họ có thể nhận thấy một điểm trọng yếu trong Sáng thế ký 1: đó là mối liên hệ tương tự giữa công việc sáng tạo của Đức Chúa Trời và công việc của con người. Người hài lòng với cách mô tả giản lược trong Sáng thế ký 1 biết rằng sáu ngày sáng tạo đầu tiên giống như những ngày trong trật tự quan phòng hiện tại - nhưng đồng thời cũng khác, vì đó là những ngày mà Đức Chúa Trời hành động để sáng tạo ban đầu, thay vì hành động để duy trì sự quan phòng. Nói cách khác, người ấy hài lòng với việc biết rằng sáu ngày ấy “giống như” các ngày về sau, mà không cho rằng sự giống nhau ấy phải lan rộng tới từng chi tiết - nhất là những chi tiết mà khoa học suy đoán cố gắng tái dựng lại quá khứ.

3.7. Những Bài Học Cho Thuyết 24 Giờ Một Ngày
#

Cuối cùng, lý thuyết về ngày 24 giờ cũng mang đến những bài học. Vậy lý thuyết ngày 24 giờ là gì? Có nhiều hình thức khác nhau. Trong các hình thức nổi bật nhất trong thế kỷ qua, lý thuyết ngày 24 giờ nhằm giải quyết sự căng thẳng rõ ràng giữa các tuyên bố của nó với những giải thích của khoa học đại đa số. Nhưng trong cách tiếp cận đó, nó đặt ra thêm một số giả định.

Một điều dường như là yếu tố chính là quan niệm rằng các ngày trong Sáng thế ký chương 1 có độ dài 24 giờ. Nhưng điều này nghĩa là gì? Tuyên bố đó cần được xác định rõ hơn bằng cách làm rõ tiêu chuẩn để đo lường 24 giờ. Một giờ có nghĩa là 3.600 giây được đo bằng một thiết bị kỹ thuật chính xác chăng? Những người ủng hộ lý thuyết ngày 24 giờ gặp một vấn đề nhỏ, vì phần lớn họ không trực tiếp giải quyết việc làm thế nào để đo độ dài của sáu ngày đầu tiên. Nếu không xác định được độ dài ngày dựa trên một tiêu chuẩn đo thời gian rõ ràng, quan điểm của họ không được phân biệt rõ ràng với quan điểm về ngày mang tính biểu tượng. Nếu họ chọn cách đo cụ thể, họ phải xác định rõ đó là gì.

Về lựa chọn này, có một vài hướng đi:

  1. Người ủng hộ lý thuyết ngày 24 giờ có thể quyết định không chọn cách đo, mà đơn giản xác nhận rằng sáu ngày ấy là những ngày đúng nghĩa, và không nói thêm gì. Đây là quan điểm khẳng định đơn giản đã nêu ở trên.

  2. Một người ủng hộ lý thuyết có thể chọn tiêu chuẩn cụ thể - như chu kỳ sáng và tối. Nhưng như đã thấy, từ “chiều và sáng” có thể chỉ sự xuất hiện hoặc biến mất dần của ánh sáng, hoặc đơn giản là kết thúc và bắt đầu của một ngày làm việc. Hơn nữa, nếu có sự luân phiên sáng và tối trong ba ngày đầu tiên, thì nó diễn ra mà không có mặt trời “cai quản”, vì vậy chúng ta không thể khẳng định rằng chúng có độ dài “bằng nhau” khi đo bằng thiết bị kỹ thuật.

  3. Một lựa chọn khác là sử dụng một công cụ đo hiện đại như đồng hồ bấm giờ. Nhưng vì có nhiều phương pháp hiện đại khác nhau, câu hỏi đặt ra là tại sao chọn phương pháp này mà không phải phương pháp kia?

  4. Cuối cùng, có thể đo độ dài sáu ngày trong Sáng thế ký không phải bằng thiết bị cụ thể nào, mà bằng giả định rằng mọi nhịp điệu thời gian về cơ bản giống như hiện nay. Giả định này nghe có vẻ hợp lý - nếu đó là những ngày thực sự thì phải giống với những ngày được Chúa quan phòng hiện nay. Vì vậy, việc giả định sự giống nhau tối đa về nhịp điệu thời gian là hợp lý.

Nhưng liệu ta có thể chắc chắn? Các hành động của Đức Chúa Trời trong các ngày ấy thật sự phi thường. Những ngày đó không hoàn toàn giống ngày của chúng ta. Sẽ thuận tiện nếu chúng vẫn giống với các nhịp điệu hiện tại. Nhưng Đức Chúa Trời có đảm bảo điều đó không?

Một thách thức khác là một số nhịp điệu chưa tồn tại trong vài ngày đầu. Nhịp điệu cảm nhận thời gian của con người chưa xuất hiện cho đến khi con người được tạo dựng. Nhịp điệu của sự sống thực vật và động vật chưa hiện hữu cho đến khi các loài đó xuất hiện. Vườn Ê-đen dường như có cây mọc lên trong một ngày.

Người ủng hộ có thể vẫn giữ giả định về sự giống nhau tối đa trong nhịp điệu, nhưng chấp nhận một số ngoại lệ. Anh ta có thể bắt đầu với nguyên tắc: mọi nhịp điệu hiện nay đều có từ sáu ngày đầu tiên; và các nhịp điệu ấy tương đồng với nhau giống như hiện nay. Ngoại lệ đầu tiên: một số nhịp điệu chưa hiện hữu cho đến khi Đức Chúa Trời tạo ra đối tượng mang nhịp điệu đó. Thứ hai, có thể chấp nhận những nhịp điệu mới: nhịp điệu vừa được tạo ra trong ngày không đồng bộ với các nhịp khác cho đến cuối ngày hôm đó. Nhưng từ ngày tiếp theo trở đi, mọi nhịp điệu không mới đều được đồng bộ — giống như trong môi trường hiện tại.

Ví dụ: hành động tạo ra thực vật trong ngày thứ ba là phép lạ. Ngay sau đó, sự phát triển của chúng cũng có thể là phép lạ, không tuân theo nhịp điệu sinh trưởng thông thường. Nhưng sau ngày thứ ba, chúng sẽ có nhịp điệu đồng bộ với những thứ khác, và sự đồng bộ ấy vẫn tiếp diễn cho đến nay. (Dĩ nhiên, trừ trường hợp cây mọc trong Vườn Ê-đen.)

Đề xuất này có ba ưu điểm:

  1. Nó thừa nhận Đức Chúa Trời có thể hành động đặc biệt khi khởi tạo từng yếu tố trong thế giới sáng tạo — như thực vật, tinh tú, sinh vật biển, loài chim, thú đất, hoặc Vườn Ê-đen.

  2. Nó làm nổi bật sự liên tục giữa sáu ngày đầu và các ngày được quan phòng sau đó - giúp ta hiểu chi tiết hơn về từng ngày sáng tạo.

  3. Nó cung cấp nền tảng vững chắc để người nghiên cứu có thể suy luận từ hiện trạng thế giới quay ngược về sáu ngày sáng tạo. Nhờ giả định này, người khoa học có thể xác định quy luật nào có thể được ngoại suy trở lại, miễn là yếu tố tạo lập quy luật đó đã được dựng nên trong ngày trước đó.

Hãy gọi đề xuất này là giả thuyết liên tục về sáu ngày sáng tạo.

3.8. Những Bất Cập của Giả Thuyết Tính Liên Tục
#

Chúng ta nghĩ gì về giả thuyết liên tục? Nó mang một sức hút mang tính trực giác, vì có vẻ hợp lý khi giả định rằng sáu ngày đầu tiên giống với những ngày hiện tại của chúng ta ở mức tối đa. Tuy nhiên, có ba khó khăn cần lưu ý.

  • Thứ nhất, liệu các nhà lý luận về ngày 24 giờ có thực sự tin vào giả thuyết liên tục không? Điều này không rõ ràng. Một số người đôi khi có cách nói gợi ý rằng họ có thể tin vào điều ấy. Nhưng nhiều lần họ không đưa ra cách giải thích cụ thể. Nếu không cụ thể, thì có công bằng không khi xếp họ vào nhóm tin theo cách khẳng định đơn giản? Có lẽ không, vì nhiều đại diện đã mạnh mẽ bác bỏ các lý thuyết thay thế. Nhiều người ủng hộ lý thuyết ngày 24 giờ dùng các nhãn như “ngày thường” hay “ngày theo nghĩa đen,” và dường như muốn dùng các nhãn đó để phân biệt quan điểm của họ với các quan điểm lớn khác. Nhưng cho đến khi họ xác định rõ tiêu chuẩn đo lường, thì các nhãn đó vẫn không giải quyết được sự mơ hồ trong cách đo thời gian mà họ đang nghĩ đến.

  • Thứ hai, giả thuyết liên tục, rốt cuộc, vẫn chỉ là một giả thuyết. Nó là một suy luận hợp lý từ văn bản Sáng thế ký chương 1. Nhưng chương này không khẳng định hay ủng hộ giả thuyết đó cách rõ ràng. Sáng thế ký 1 không xác định cụ thể cách sáu ngày sáng tạo giống hay khác với những ngày hiện tại của chúng ta dưới sự quan phòng của Đức Chúa Trời. Vậy nên tôi đề xuất rằng, những người ủng hộ hình thức này của lý thuyết ngày 24 giờ nên tránh lối diễn đạt quá gay gắt, lên án mọi quan điểm khác là phi Kinh Thánh hoặc thiếu trách nhiệm.

  • Thứ ba, giả thuyết liên tục không mang lại sự hướng dẫn thực tiễn đối với một số phần của nghiên cứu khoa học hiện đại. Một điểm mạnh của giả thuyết này là nó cung cấp một vài nguyên tắc, ít nhất là ở mức độ tổng quát. Nó nói rằng các quy luật thường thấy trong sự quan phòng của Đức Chúa Trời đều hiện hữu từ một thời điểm nhất định. Nhưng khi chúng ta bước ra thế giới thực để khảo sát, một số câu hỏi vẫn còn đó.

Cụ thể, làm thế nào để dung hòa giả thuyết liên tục với các lời giải thích theo khoa học mà các nhà sáng tạo trẻ tuổi hiện đang đưa ra? Ví dụ:

  • Nếu tốc độ phân rã của các nguyên tố phóng xạ ổn định sau ngày thứ sáu, thì làm sao điều đó lại phù hợp với quan điểm cho rằng đã có sự thay đổi lớn về tốc độ ấy vào thời điểm sau này — khoảng thời kỳ lụt của Nô-ê?
  • Nếu các mô hình sinh sản động vật đã được thiết lập sau ngày thứ sáu, thì làm sao điều đó lại ăn khớp với đề xuất rằng có sự phân hóa siêu tốc về loài sau trận đại hồng thủy?
  • Nếu mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao được tạo dựng trong ngày thứ tư, sao ta không coi đó là phép lạ hoàn toàn, mà lại tìm đến các lời giải thích phi phép lạ phức tạp như một số nhà lý luận ngày 24 giờ đang làm? Và làm thế nào các lời giải thích phi phép lạ ấy có thể bao trùm toàn bộ dữ liệu thiên văn từ Ngân Hà chỉ trong khuôn khổ của ngày thứ tư?

Có vẻ như, trên thực tế, các nhà lý luận ngày 24 giờ không bám chặt vào giả thuyết liên tục. Họ đưa vào nhiều ngoại lệ. Nhưng nếu họ không giữ giả thuyết liên tục, thì họ đang giữ gì? Không rõ là họ có bất kỳ lý thuyết mạch lạc nào về cách các nhịp điệu trong quá khứ liên kết với hiện tại. Nếu không xác định được những điểm tương đồng giữa sự quan phòng và sáu ngày sáng tạo, thì không thể có bất kỳ phép suy luận khoa học nào dựa trên các điểm tương đồng ấy. Trong trường hợp đó, một hình thức hoàn chỉnh của thuyết sáng tạo theo quan điểm trái đất trẻ vẫn chưa thực sự hình thành.

Lý thuyết ngày 24 giờ bắt nguồn từ một động cơ đáng ngưỡng mộ: đó là khẳng định rằng Kinh Thánh là chân lý trong mọi điều mà Ngài phán, và rằng chúng ta không nên thỏa hiệp chân lý ấy bằng các phương pháp giải kinh lạ lùng khi đọc Sáng thế ký chương 1. Động cơ này thật sự rất đáng trân trọng. Nhưng làm thế nào để triển khai điều đó một cách cụ thể? Một số người theo lý thuyết ngày 24 giờ có thể nói rằng họ muốn dùng cách giải kinh “theo nghĩa đen.” Họ mong muốn khẳng định rằng các ngày trong Sáng thế ký 1 là “ngày thật theo nghĩa đen.” Nhưng điều này, tự nó, không cho chúng ta biết tiêu chuẩn nào được dùng để xác định độ dài của một ngày. Tiêu chuẩn đó là gì?

Từ “nghĩa đen” cũng có xu hướng thúc đẩy chúng ta hướng đến sự liên tục tối đa với những ngày trong sự quan phòng hiện tại. Người ta dễ mặc định rằng một trong sáu ngày sáng tạo chỉ thật sự là “ngày nghĩa đen” nếu nó giống với trải nghiệm của chúng ta. Và mong muốn này, nếu không được kiểm chứng kỹ lưỡng, dễ dẫn dắt chúng ta đến với giả thuyết liên tục — dù cách đọc Sáng thế ký 1 một cách cẩn trọng lại không dạy rằng có sự liên tục tối đa. Sự liên tục tối đa thực chất chỉ là một giả thuyết. Lý thuyết ngày 24 giờ gặp nguy cơ bị nhầm lẫn. Tên gọi như “nghĩa đen” dễ khiến người ta đánh đồng lòng trung thành với sự tối đa (về tính liên tục) với lòng trung thành với lời dạy trong Kinh Thánh.

Phải công nhận rằng, lập trường này vẫn nỗ lực đưa ra các câu trả lời tôn trọng Kinh Thánh. Nhưng thật tiếc, sự nhầm lẫn ban đầu về khái niệm “liên tục” đôi khi tạo nên một môi trường trong đó lối lập luận đi đến kết luận đúng lại lấn át dạng lập luận dám đặt câu hỏi khó và thẳng thắn thừa nhận những giới hạn hiện tại. Tôi mong rằng nhiều người có thể thành thật nói:

“Chúng tôi tin rằng Kinh Thánh là chân lý. Nhưng chúng tôi chưa có một lời giải thích đầy đủ để hòa hợp điều đó với các tuyên bố của khoa học chính thống. Chúng tôi có một vài ý tưởng sơ khởi và vẫn đang tìm kiếm thêm. Một phần của lời giải thích có thể là Đức Chúa Trời, vì các mục đích của Ngài, đã hành động khác với điều con người vẫn trông đợi.”

Và nếu được nói bằng chính giọng của mình, tôi muốn thêm rằng:

“Có thể một điều mà chúng ta không ngờ tới, ấy là Đức Chúa Trời mô tả sáu ngày ấy từ góc nhìn kinh nghiệm của con người - không phải từ một góc nhìn trừu tượng. Khi làm điều ấy, Ngài mô tả một ngày như là một chu kỳ lao động cá nhân và nghỉ ngơi.”

IV. KẾT LUẬN
#

Nhiều trong số các đề xuất lớn nhằm dung hòa Sáng thế ký chương 1 với khoa học hiện đại đã chưa đánh giá đầy đủ mức độ khó khăn trong việc đo lường thời gian, cũng như khả năng tồn tại nhiều góc nhìn khác nhau về thời gian. Khi chúng ta đưa yếu tố khó khăn này vào quá trình suy nghĩ, sẽ thấy rằng chính các đề xuất ấy đôi khi không thật sự rõ ràng về ý nghĩa của những tuyên bố liên quan đến thời gian trong Sáng thế ký 1.

Một sự khẳng định đơn giản rằng Đức Chúa Trời đã sáng tạo trong sáu ngày - được phát biểu bởi những người chưa quen dùng thiết bị đo thời gian kỹ thuật - thì đơn giản hơn nhiều so với các lý thuyết chi tiết khác, và về nguyên tắc, có thể tương thích với một vài lý thuyết trong số đó, bởi vì nó không quá cụ thể.