GIỚI THIỆU#
Tường thuật về sự sáng tạo trong Sáng-thế Ký đoạn 2–3 đã chiếm lĩnh tâm trí và trí tưởng tượng của người Do Thái và Cơ Đốc nhân từ thời cổ đại. Đây là một câu chuyện trang nhã, và những phức tạp tinh tế của nó đã truyền cảm hứng cho sự suy tư thần học cũng như những tác phẩm nghệ thuật và văn chương vĩ đại. Câu chuyện trong Sáng-thế Ký 2–3 xoay quanh hai nhân vật chính là A-đam và Ê-va, cùng một cây gọi là cây biết điều thiện và điều ác. Theo lời Kinh Thánh, Đức Chúa Trời đã cấm loài người nguyên thủy ăn trái cây ấy, nhưng họ đã không vâng lời và phạm điều răn của Ngài. Hậu quả là Đức Chúa Trời đuổi họ ra khỏi vườn và rủa sả người nam và người nữ, cùng với con rắn và đất đai.
Trong Sáng-thế Ký 2–3, sự hiểu biết về điều thiện và điều ác hoàn toàn bị cấm đối với A-đam và Ê-va; đối với họ, đó là nguồn gốc của sự chết. Sáng-thế Ký 2:16–17 chép rằng: “Rồi, Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán dạy rằng: Ngươi được tự-do ăn hoa-quả các thứ cây trong vườn; nhưng về cây biết điều thiện và điều ác thì chớ hề ăn đến; vì một mai ngươi ăn, chắc sẽ chết.” Dựa trên phân đoạn này, các nhà giải nghĩa sau này xem hành động bất tuân của A-đam (hoặc Ê-va) là khoảnh khắc khi tội lỗi và sự chết bước vào thế gian. Một số người bình luận còn cho rằng cây biết điều thiện và điều ác vốn được định là cây sự chết, đối nghịch với cây sự sống.
Không nghi ngờ gì, câu chuyện vườn Ê-đen trong Sáng-thế Ký 2–3 đã có ảnh hưởng lớn đến văn chương Do Thái và Cơ Đốc sau này, và phần lớn đã định hình cách các nhà giải nghĩa Kinh Thánh hiện đại suy nghĩ về sự sáng tạo của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, mặc dù có tầm quan trọng rõ ràng, các học giả ngày càng nhận thức rằng tường thuật sáng tạo trong Sáng-thế Ký không phải là truyền thống sáng tạo duy nhất được người Do Thái cổ đại tôn trọng và sử dụng. Chẳng hạn, một số người bình luận đã nhận thấy rằng sách Gióp và Ê-xê-chi-ên đều dựa vào một tường thuật sáng tạo có liên hệ với câu chuyện Ê-đen trong Sáng-thế Ký. Tương tự, rõ ràng sách 1 Enoch đoạn 6–36, tức là “Sách của các kẻ canh giữ,” dựa trên một truyền thống sáng tạo độc lập với Sáng-thế Ký 2–3.
Bài viết này sẽ lập luận rằng có một truyền thống sáng tạo rất ảnh hưởng và phổ biến trong thời cổ đại, khác biệt với câu chuyện Ê-đen trong cách nhìn về sự khôn ngoan thiên thượng. Không giống như Sáng-thế Ký 2–3, truyền thống sáng tạo này khẳng định rằng Đức Chúa Trời ban cho loài người nguyên thủy sự hiểu biết và khôn ngoan như một món quà nhân từ, và chính sự khôn ngoan sâu sắc ấy khiến loài người nguyên thủy vượt trội hơn các sinh vật khác trên đất. Những bằng chứng hiện có cho thấy truyền thống sáng tạo này đã có ảnh hưởng rộng rãi ít nhất từ thời Ba Tư, và dường như đã là truyền thống chủ đạo trong việc hiểu mối liên hệ giữa loài người nguyên thủy và sự khôn ngoan. Vào khoảng giữa thời kỳ Đền thờ thứ hai, truyền thống cho rằng Đức Chúa Trời ban sự khôn ngoan cho loài người nguyên thủy bắt đầu va chạm với câu chuyện Ê-đen trong Sáng-thế Ký. Như chúng ta sẽ thấy trong các văn bản dưới đây, nhiều văn sĩ Do Thái từ giữa thời kỳ Đền thờ thứ hai trở đi đã tìm cách dung hòa cả hai tường thuật sáng tạo này.
1 - SỰ KHÔN NGOAN CỦA LOÀI NGƯỜI NGUYÊN THỦY TRONG KINH THÁNH HÊ-BƠ-RƠ#
Có một số đoạn văn trong Kinh Thánh Hê-bơ-rơ xác nhận ý tưởng rằng Đức Chúa Trời đã dựng nên loài người nguyên thủy với sự khôn ngoan và tri thức. Ê-xê-chi-ên 28:11–19 là một ví dụ sớm và quan trọng của truyền thống này. Trong phân đoạn ấy, Ê-xê-chi-ên công bố một lời tiên tri nghịch cùng vua Ty-rơ, trong đó ông lên án vị vua bằng cách so sánh ông với một nhân vật nguyên thủy giống như A-đam. Trong Ê-xê-chi-ên 28:12–17, nhà tiên tri viết:
Hỡi con người, hãy làm một bài ca thương về vua Ty-rơ và nói cùng người rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Ngươi gồm đủ tất cả, đầy sự khôn-ngoan, tốt-đẹp trọn-vẹn. Ngươi vốn ở trong Ê-đen, là vườn của Đức Chúa Trời. Ngươi đã có đầy mình mọi thứ ngọc báu, là ngọc mã-não, ngọc vàng lợt, ngọc kim-cương, ngọc thủy-thương, ngọc sắc biếc, ngọc bích, ngọc sắc chàm, ngọc sắc xanh, ngọc thông-hành, cùng vàng nữa. Nghề làm ra trống-cơm ống-sáo thuộc về ngươi; từ ngày ngươi mới được dựng nên đã sắm-sẵn rồi. Ngươi là một chê-ru-bim được xức dầu đương che-phủ; ta đã lập ngươi lên trên hòn núi thánh của Đức Chúa Trời; ngươi đã đi dạo giữa các hòn ngọc sáng như lửa. Đường-lối ngươi trọn-vẹn từ ngày ngươi được dựng nên, cho đến lúc thấy sự gian-ác trong ngươi. Nhân ngươi buôn-bán thạnh-lợi, lòng ngươi đầy sự hung-dữ, và ngươi đã phạm tội; vậy ta đã xô ngươi như là vật ô-uế xuống khỏi núi Đức Chúa Trời; hỡi chê-ru-bim che-phủ kia, ta diệt ngươi giữa các hòn ngọc sáng như lửa! Lòng ngươi đã kiêu-ngạo vì sự đẹp ngươi, và sự vinh-hiển của ngươi làm cho ngươi làm hư khôn-ngoan mình. Ta đã xô ngươi xuống đất, đặt ngươi trước mặt các vua, cho họ xem thấy.
Dù có nhiều điểm tương đồng giữa phân đoạn này và Sáng-thế Ký 2–3, nhưng có một sự khác biệt căn bản trong cách nhìn về sự khôn ngoan của loài người nguyên thủy. Theo Ê-xê-chi-ên 28:12, Đức Chúa Trời đã dựng nên loài người nguyên thủy “đầy dẫy sự khôn ngoan và đẹp đẽ toàn vẹn.” Sự khôn ngoan là món quà được ban cho người ngay từ khi được dựng nên. Trong sách Ê-xê-chi-ên, loài người nguyên thủy không bị đuổi đi vì đã đạt được tri thức cấm; trái lại, chính sự khôn ngoan và vẻ đẹp vốn có đã khiến người trở nên kiêu ngạo, và chính lòng tự cao ấy đã khiến cơn giận của Đức Chúa Trời giáng xuống (28:17). Người tưởng mình ngang hàng với Đức Chúa Trời, và trong sự ngạo mạn, người đã làm hư sự khôn ngoan mà Đức Chúa Trời đã ban cho.
Gióp 15:7–8, giống như Ê-xê-chi-ên 28, cho thấy rằng loài người nguyên thủy từng cư ngụ trong hội đồng thiên thượng của Đức Chúa Trời và có sự khôn ngoan lớn lao. Trong phân đoạn này, Ê-li-pha tìm cách làm giảm lòng kiêu ngạo của Gióp bằng cách hỏi ông có nghĩ mình vĩ đại như người đầu tiên không. Ê-li-pha hỏi: “Có phải ông sanh ra đầu trước hết chăng? Há đã được dựng-nên trước non-núi sao? Chớ thì ông có nghe điều bàn định trong ý-nhiệm của Đức Chúa Trời sao? Há chỉ một mình ông được khôn-ngoan ư?” Những câu hỏi của Ê-li-pha hàm ý rằng người nguyên thủy là một nhân vật có sự khôn ngoan vô song, còn Gióp thì không. Phân đoạn này cũng cho chúng ta biết rằng người nguyên thủy đã có thể tiếp cận hội đồng thiên thượng của Đức Chúa Trời, và có lẽ chính tại đó người đã nhận được sự khôn ngoan. Gióp 15:7–8 mô tả người nguyên thủy theo cách tương tự như các tiên tri, là những người có thể bước vào hội đồng kín nhiệm của Đức Chúa Trời để nhận biết ý muốn của Ngài.
Ý tưởng rằng loài người nguyên thủy được dựng nên với tri thức và sự khôn ngoan cũng là nền tảng cho câu chuyện về sự khôn ngoan của Sa-lô-môn trong I Các Vua đoạn 3. Trong I Các Vua 3:5, Đức Giê-hô-va hiện ra với vị vua mới được lập trong một giấc chiêm bao và hỏi: “Ngươi muốn ta ban cho điều chi?” Sa-lô-môn thưa rằng: “Vậy, xin Chúa ban cho kẻ tôi tớ Chúa một lòng khôn ngoan để xét đoán dân Chúa, và phân biệt điều thiện cùng điều ác; vì ai có thể xét đoán dân lớn nầy của Chúa?” (câu 9). Đức Giê-hô-va lấy làm đẹp lòng về lời cầu xin của Sa-lô-môn, nên Ngài ban cho ông một tâm trí khôn ngoan và thông sáng.
John Davies đã lập luận rằng sách I Các Vua mô tả Sa-lô-môn như một hình bóng của A-đam mới, người mà Đức Chúa Trời đã lập nên để xây dựng một vương quốc giống như vườn địa đàng. Davies nêu bật một số điểm tương đồng về chủ đề và thuật ngữ giữa mô tả về A-đam và Sa-lô-môn, nhưng điều quan trọng nhất đối với mục đích của chúng ta là việc Đức Chúa Trời ban cho Sa-lô-môn khả năng “phân biệt điều thiện cùng điều ác” ngay từ lúc ông bắt đầu trị vì (I Các Vua 3:9). Nếu Davies đúng rằng tác giả sách I Các Vua có ý liên hệ giữa A-đam và Sa-lô-môn, thì I Các Vua đoạn 3 có thể được xem như tương ứng với khởi đầu đời sống của A-đam và việc ông được lập làm người cai trị trên công trình sáng tạo của Đức Chúa Trời (xem Sáng-thế Ký 1:26–28). Trong I Các Vua 3, Đức Chúa Trời ban sự khôn ngoan thiên thượng cho Sa-lô-môn để ông có thể trị vì cách hiệu quả và thiết lập một vương quốc giống như địa đàng. Nếu giả định rằng tác giả sách I Các Vua 3 muốn phản ánh việc Đức Chúa Trời dựng nên A-đam, thì ông hẳn đã nghĩ rằng Đức Chúa Trời cũng đã ban sự khôn ngoan cho người nguyên thủy để người có thể cai trị trên công trình sáng tạo của Ngài.
Những đoạn văn từ Ê-xê-chi-ên, Gióp, và I Các Vua phản ánh một truyền thống rộng lớn hơn của vùng Cận Đông cổ đại, rằng loài người nguyên thủy đã được ban cho tri thức và sự khôn ngoan thiên thượng. Đặc biệt, mô tả về loài người nguyên thủy trong Gióp 15:7–8 thường được so sánh với nhân vật huyền thoại Mê-sô-pô-ta-mi là A-đa-pa. A-đa-pa là nhà hiền triết trước thời đại Hồng thủy (apkallu) của thành Ê-ri-đu, người đã được ban cho sự khôn ngoan ngang bằng với các thần. Một bảng đất sét từ thư viện của Ashurbanipal thuật lại cách thần Ea, vị thần của sự khôn ngoan, đã ban cho A-đa-pa sự khôn ngoan lớn lao. Bảng đất sét ghi rằng:
(3) Ngài [Ea] làm cho người trở nên hoàn hảo với trí tuệ lớn, để dạy dỗ về các luật lệ của đất.
(4) Ngài ban cho người sự khôn ngoan, nhưng không ban cho người sự sống đời đời.
(5) Trong những ngày ấy, trong những năm ấy, nhà hiền triết, người bản xứ của Ê-ri-đu,
(6) Ea lập người làm môn đồ của Ngài giữa loài người.
Sau khi nhận được sự khôn ngoan thiên thượng, A-đa-pa trở thành người có trách nhiệm truyền dạy các nghệ thuật của nền văn minh cho nhân loại. Sử gia thế kỷ thứ ba trước Công nguyên là Berossus, trong tác phẩm Babyloniacu, thuật lại rằng apkallu Oannes (người mà chúng ta nên đồng nhất với A-đa-pa) đã từ biển trồi lên để dạy dỗ loài người. Berossus viết: “Sinh vật này sống cùng với loài người vào ban ngày, hoàn toàn kiêng cữ mọi loại thức ăn, dạy dân chúng về chữ viết và các kỹ thuật của nhiều ngành nghệ thuật bao gồm xây dựng thành phố và đền thờ, kiến thức về luật pháp, bản chất của cân lượng, cách thu thập hạt giống và trái cây; thật vậy, ông đã dạy cho nhân loại mọi điều cần thiết cho đời sống gia đình trên đất. Từ thời điểm đó, không ai khám phá được điều gì vượt hơn.”
Berossus tiếp tục thuật lại một huyền thoại sáng tạo có nhiều điểm tương đồng với câu chuyện tạo dựng loài người trong Enuma Elish. Theo tường thuật này, loài người nguyên thủy được dựng nên với lý trí và sự khôn ngoan giống như các thần, bởi họ được tạo thành từ đất và máu chảy ra từ đầu của một vị thần. Berossus viết:
Tất cả các sinh vật nguyên thủy ấy đều bị cai trị bởi một người nữ tên là Markaye’, được gọi là T’aghatt’ay trong tiếng Canh-đê. Bản dịch tiếng Hy Lạp của T’aladday là ‘biển’. Khi các sinh vật pha trộn này đang xuất hiện, Belus tấn công. Ông chém người nữ ấy [tức là biển] làm hai, một nửa thành trời, nửa kia thành đất, và ông giết các sinh vật trong đó. Do đó, thông tin về thế giới tự nhiên được trình bày dưới hình thức một ngụ ngôn, có nghĩa là ban đầu chỉ có nước và hơi ẩm cùng các sinh vật trong đó. Sau đó, vị thần ấy chặt đầu sinh vật, và một vị thần khác lấy máu chảy ra, trộn với đất, và tạo nên loài người. Như vậy, họ trở nên khôn ngoan và được dự phần vào tư tưởng của các thần.
Những truyền thống liên quan đến A-đa-pa và các ghi chép của Berossus cho thấy rằng tại vùng Cận Đông cổ đại, có một niềm tin rằng loài người nguyên thủy đã được dựng nên với sự khôn ngoan thiên thượng. Như chúng ta đã thấy, ý tưởng này cũng hiện diện trong Kinh Thánh Hê-bơ-rơ, và tiếp tục là một niềm tin phổ biến trong Do Thái giáo thời kỳ Đền thờ thứ hai về sau.
2 - SỰ KHÔN NGOAN CỦA LOÀI NGƯỜI NGUYÊN THỦY TRONG DO THÁI GIÁO THỜI KỲ ĐỀN THỜ THỨ HAI MUỘN#
Khi bước vào thời kỳ Đền thờ thứ hai muộn, có một số lượng đáng kể các văn bản xác nhận truyền thống rằng Đức Chúa Trời đã ban tri thức và sự khôn ngoan cho loài người nguyên thủy. Những văn bản này trải dài qua nhiều thế kỷ và xuất phát từ nhiều bối cảnh khác nhau, cho thấy truyền thống này có ảnh hưởng sâu rộng và phổ biến trong thời kỳ ấy. Trong giai đoạn này, chúng ta cũng thấy bằng chứng rằng truyền thống sáng tạo này bắt đầu va chạm với câu chuyện Ê-đen trong sách Sáng-thế Ký. Như sẽ thấy dưới đây, nhiều văn bản từ thời kỳ này cố gắng dung hòa và điều chỉnh cả hai truyền thống sáng tạo ấy.
Văn bản đầu tiên cần xem xét là tác phẩm được gọi là Meditation on Creation C (4Q305), được phát hiện trong hang số 4 tại Qumran. Dù chỉ còn lại rất ít, tác phẩm này vẫn quan trọng vì nó chứa một khẳng định rõ ràng rằng Đức Chúa Trời đã ban tri thức cho A-đam ngay lúc Ngài dựng nên người. 4Q305 II 1–3 chép:
(1) và Ngài đã dựng nên trong đó các loài vật [. . .
(2) Ngài đã ban cho A-đam sự hiểu biế[t . . .
(3) và điều thiệ[n để biết [. . .
Dòng thứ nhất tóm lược các sự kiện trong Sáng-thế Ký 2:18–19, nơi Đức Chúa Trời dựng nên các loài vật và đem đến cho A-đam trong vườn để người đặt tên cho chúng. Dòng tiếp theo khẳng định rõ ràng rằng Đức Chúa Trời đã ban tri thức cho A-đam, và dòng thứ ba gợi ý rằng tri thức ấy là sự hiểu biết về điều thiện và điều ác. Vì Ê-va không được nhắc đến trong phần văn bản còn lại, có vẻ như Đức Chúa Trời đã ban sự hiểu biết về điều thiện và điều ác cho A-đam trước khi Ngài dựng nên bà. Nếu trình tự các sự kiện trong văn bản này theo sát Sáng-thế Ký đoạn 2, thì có thể hiểu rằng Đức Chúa Trời ban tri thức cho A-đam sau khi Ngài dựng nên các loài vật (Sáng-thế Ký 2:18–19), nhưng trước khi Ngài dựng nên Ê-va (Sáng-thế Ký 2:21–22). Nói cách khác, Đức Chúa Trời ban tri thức cho A-đam vào khoảng thời gian người được giao nhiệm vụ đặt tên cho các loài vật (Sáng-thế Ký 2:20).
Một ý tưởng tương tự cũng xuất hiện trong một số văn bản về sau, như Kinh Qur’an, Ecclesiastes Rabbah, và Pseudo-Clementine Homilies, trong đó khẳng định rằng A-đam đã thể hiện sự hiểu biết sâu sắc của mình bằng cách đặt tên cho tất cả các loài vật. Meditation on Creation C có thể là một đại diện sớm của niềm tin này.
Một văn bản khác được tìm thấy tại Qumran, Meditation on Creation A, cũng bày tỏ quan điểm rằng Đức Chúa Trời đã ban cho A-đam một tri thức đặc biệt (sự hiểu biết về điều thiện và điều ác) để người có thể đặt tên cho mọi loài vật. 4Q303 dòng 7–10 chép:
(7) […] ở giữa chúng, một vua cho tất cả […]
(8) […] và sự hiểu biết về điều thiện và điều ác cho […]
(9) […] chọn từ đó A-đam để […]
(10) […] dựng nên cho người một kẻ giúp đỡ thích hợp […]
Dòng thứ 7 ám chỉ việc Đức Chúa Trời lập A-đam làm chủ trên các loài vật (kết hợp giữa Sáng-thế Ký 1:28 và 2:19), và các dòng 9–10 mô tả việc Đức Chúa Trời dựng nên Ê-va (Sáng-thế Ký 2:21–22). Nếu trình tự các sự kiện trong văn bản này theo sát Sáng-thế Ký đoạn 2, thì dòng 8 đề cập đến sự hiểu biết về điều thiện và điều ác trước khi Ê-va được dựng nên, và điều này tương ứng với sự kiện trong Sáng-thế Ký 2:20 (việc đặt tên cho các loài vật). Trong trường hợp này, “sự hiểu biết về điều thiện và điều ác” có thể được hiểu là tri thức toàn diện của A-đam, cho phép người đặt tên cho mọi loài vật. Nếu cách giải thích này là đúng, thì Meditation on Creation A và Meditation on Creation C có điểm tương đồng, đó là cả hai đều khẳng định rằng Đức Chúa Trời đã ban cho A-đam tri thức đặc biệt (sự hiểu biết về điều thiện và điều ác) để người có thể đặt tên cho các sinh vật mà Đức Chúa Trời đã dựng nên.
Một văn bản thứ ba được phát hiện tại Qumran, gọi là Words of the Luminaries, mô tả hành động Đức Chúa Trời hà hơi vào A-đam như là khoảnh khắc Ngài truyền tri thức vào người đầu tiên. 4Q504 đoạn 8, mặt trước, dòng 4–7 thuật lại sự kiện sáng tạo loài người như sau:
(4) … A-đam] tổ [phụ] của chúng tôi, Ngài đã tạo dựng theo hình ảnh vinh hiển của [Ngài].
(5) … hơi sống] Ngài đã [hà] vào lỗ mũi người, và [Ngài đã đầy dẫy người bằng] sự hiểu biết và tri thức […]
(6) … trong vườn Ê-đen mà Ngài đã trồng. Ngài ban cho [người] quyền cai trị […]
(7) … và để bước đi trong một vùng đất vinh hiển […]
Phân đoạn này trong Words of the Luminaries kết hợp các yếu tố từ Sáng-thế Ký 1:26–28 và Sáng-thế Ký 2:7–8. Dòng thứ 4 nói rằng Đức Chúa Trời đã dựng nên A-đam theo hình ảnh vinh hiển của Ngài — một sự tham chiếu rõ ràng đến Sáng-thế Ký 1:26–27. Dòng tiếp theo, tác giả dựa vào Sáng-thế Ký 2:7 khi nói rằng Đức Chúa Trời đã hà hơi vào người đầu tiên và làm đầy người bằng tri thức. Liên từ “và” trong dòng 5 cho thấy sự song hành bổ sung giữa hành động Đức Chúa Trời hà hơi vào người và hành động Ngài ban cho người sự hiểu biết và tri thức. Nói cách khác, tác giả của Words of the Luminaries đã hiểu Sáng-thế Ký 2:7 theo nghĩa rằng Đức Chúa Trời đã truyền tri thức cho A-đam khi Ngài hà hơi vào người.
Vì cả dòng 4 và 5 đều mô tả việc dựng nên loài người nguyên thủy, nên có vẻ như tác giả đã hiểu Sáng-thế Ký 1:26–27 và 2:7 là nói về cùng một sự kiện. Ông xem hơi thở của Đức Chúa Trời và việc Ngài ban tri thức (dòng 5) là những yếu tố thiết yếu khiến A-đam trở thành hình ảnh vinh hiển của Đức Chúa Trời (dòng 4). Words of the Luminaries không phải là văn bản duy nhất có cách hiểu này; cùng một quan điểm cũng được thể hiện trong Wisdom of Ben Sira, Wisdom of Solomon, và các tác phẩm của Philo.
Trong Ben Sira 17:1–12, nhà hiền triết viết:
“Chúa đã dựng nên loài người từ đất, và khiến mỗi người trở về đất một lần nữa. Ngài ban cho họ những ngày sống có hạn, cùng quyền cai trị mọi vật khác trên đất. Ngài ban cho họ sức mạnh tương xứng; theo hình ảnh của Đức Chúa Trời, Ngài đã dựng nên họ. Ngài đặt sự kính sợ loài người trong mọi xác thịt, và cho họ quyền trên thú vật và chim trời. Ngài ban cho họ sự khôn ngoan, với lưỡi, mắt, tai, và lòng hiểu biết. Ngài làm đầy họ bằng sự khôn ngoan và tri thức; Ngài chỉ cho họ điều thiện và điều ác. Ngài đặt sự kính sợ Ngài trong lòng họ, bày tỏ cho họ sự oai nghi của công việc Ngài, để họ khoe mình trong các việc kỳ diệu của Ngài, và ngợi khen danh thánh của Ngài. Ngài đặt trước mặt họ tri thức, một luật pháp hứa ban sự sống làm cơ nghiệp; Ngài lập giao ước đời đời với họ, và bày tỏ các điều răn của Ngài cho họ.”
Trong các câu 1–7, Ben Sira mô tả sự sáng tạo loài người bằng cách kết hợp các yếu tố từ Sáng-thế Ký 1:26–28 với 2:7–9. Ông nói rằng Đức Chúa Trời đã dựng nên loài người đầu tiên từ bụi đất và mặc cho họ sức mạnh để họ trở nên hình ảnh của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời cũng làm đầy loài người đầu tiên bằng sự khôn ngoan và sự hiểu biết khi ban cho họ sự hiểu biết về điều thiện và điều ác (câu 6–7). Ben Sira không hề cho thấy rằng Đức Chúa Trời đã cấm loài người đầu tiên có sự hiểu biết về điều thiện và điều ác. Trái lại, ông nhấn mạnh rằng Đức Chúa Trời đã cố ý ban tri thức ấy cho họ. Ben Sira không nói rõ cách Đức Chúa Trời đã ban tri thức ấy cho A-đam, nhưng động từ ἐμπίπλημι trong câu 7 dường như ám chỉ đến Sáng-thế Ký 2:7. Ben Sira xem hành động Đức Chúa Trời hà hơi vào loài người đầu tiên trong Sáng-thế Ký 2:7 như tương tự với việc Ngài làm đầy những bình đất sét trống rỗng (xem Sirach 33:10–13). Do đó, theo Ben Sira, loài người đầu tiên đã được ban tri thức vào chính khoảnh khắc Đức Chúa Trời hà hơi của Ngài vào họ.
Ben Sira tiếp tục trong các câu 8–12 để giải thích chi tiết hơn về nội dung của tri thức mà Đức Chúa Trời đã ban. Trong các câu 8–10, ông viết rằng Đức Chúa Trời đã đặt sự kính sợ Ngài trong lòng họ để họ có thể hiểu các công việc kỳ diệu của Ngài và ngợi khen danh thánh của Ngài. Những câu này ám chỉ đến “sự kính sợ Đức Giê-hô-va” vốn đồng nghĩa với sự khôn ngoan. Khi Ben Sira nói rằng Đức Chúa Trời đặt sự kính sợ Ngài trong lòng họ, ông thực chất khẳng định rằng Đức Chúa Trời đã làm đầy loài người nguyên thủy bằng sự khôn ngoan thiên thượng. Trong các câu 11–12, ông tiếp tục nói rằng Đức Chúa Trời đã đặt trước mặt họ một luật pháp của sự sống, và bày tỏ một giao ước đời đời cùng các điều răn của Ngài cho họ. Ngôn ngữ trong các câu này nhằm ám chỉ đến sự hiện ra của Đức Chúa Trời tại núi Si-nai. Thực chất, Ben Sira khẳng định rằng Đức Chúa Trời đã ban cho loài người nguyên thủy cùng một tri thức về Luật pháp mà Ngài sẽ bày tỏ cho Môi-se tại Si-nai sau này.
Ben Sira rõ ràng biết và sử dụng tường thuật về sự sáng tạo trong Sáng-thế Ký 1–3, và ông quen thuộc với truyền thống rằng A-đam và Ê-va đã phạm tội khi ăn trái cây biết điều thiện và điều ác. Trong đoạn 24:28, ông viết: “Người đầu tiên chẳng hiểu hết sự khôn ngoan, và người cuối cùng cũng chẳng dò thấu được nàng.” Một lần nữa, trong đoạn 25:24, ông nói: “Từ người nữ mà tội lỗi khởi đầu, và bởi nàng mà hết thảy chúng ta đều chết.” Những câu này ám chỉ đến sự vi phạm của A-đam và Ê-va trong Sáng-thế Ký đoạn 3. Tuy nhiên, mặc dù có những ám chỉ ấy, Ben Sira không bao giờ trực tiếp cáo buộc A-đam đã sai lầm khi nhận lấy sự hiểu biết về điều thiện và điều ác. Cùng lắm, ông chỉ cho rằng A-đam có sự khôn ngoan chưa trọn vẹn. Gerald Sheppard đã nhận xét đúng rằng Ben Sira cố ý làm mờ đi ý tưởng về sự vi phạm trong vườn Ê-đen xuyên suốt văn bản. Đối với Ben Sira, sự hiểu biết về điều thiện và điều ác (tức là sự khôn ngoan) là điều căn bản có ích, và là phần thiết yếu trong công cuộc sáng tạo loài người của Đức Chúa Trời.
Tôi cho rằng Ben Sira đã chủ ý vật lộn với hai truyền thống sáng tạo khác nhau. Theo một truyền thống, Đức Chúa Trời ban đầu đã ban sự khôn ngoan và tri thức cho loài người nguyên thủy. Ben Sira nghiêng về truyền thống này vì ông xem sự khôn ngoan và sự hiểu biết về điều thiện và điều ác là điều vốn tốt lành cho nhân loại. Tuy nhiên, ông cũng phải điều hòa truyền thống ấy với tường thuật được ghi lại trong Sáng-thế Ký 2–3. Trong Sáng-thế Ký, Đức Chúa Trời chỉ cho A-đam cây biết điều thiện và điều ác, nhưng cấm người ăn trái cây ấy. Ben Sira biết cả hai truyền thống và cố gắng dung hòa chúng bằng cách làm mờ đi một số yếu tố trong câu chuyện Sáng-thế Ký, nhưng những căng thẳng chưa được giải quyết vẫn hiện diện trong văn bản.
Sách Wisdom of Solomon cũng bày tỏ quan điểm rằng Đức Chúa Trời ban đầu đã dựng nên A-đam với sự khôn ngoan thiên thượng. Trong đoạn 7:25–26, tác giả giả danh Sa-lô-môn liên kết sự khôn ngoan thiên thượng với hơi thở của Đức Chúa Trời (Sáng-thế Ký 2:7) và hình ảnh của Đức Chúa Trời (Sáng-thế Ký 1:26–27). Ông viết: “Vì nàng là hơi thở của quyền năng Đức Chúa Trời, là sự phát ra của sự vinh hiển tinh sạch của Đấng Toàn Năng; bởi vậy, chẳng có điều ô uế nào được vào nơi nàng. Vì nàng là sự phản chiếu của ánh sáng đời đời, là gương không vết của công việc Đức Chúa Trời, và là hình ảnh của sự nhân lành Ngài.” Trong phân đoạn này, tác giả giải nghĩa Sáng-thế Ký 1:26–27 kết hợp với Sáng-thế Ký 2:7, và ông xem cả hai đoạn đều nói về khoảnh khắc khi Đức Chúa Trời hà hơi sự khôn ngoan vào người đầu tiên, khiến người trở nên hình ảnh của Đức Chúa Trời.
Trong đoạn 10:1–2, tác giả giả danh Sa-lô-môn tuyên bố: “Nàng [sự khôn ngoan] đã gìn giữ người cha đầu tiên của thế gian, khi người được dựng nên một mình, và đã cứu người khỏi sự vi phạm của chính mình; nàng ban cho người sức mạnh để cai trị muôn vật.” Trong phân đoạn này, tác giả nói rằng chính sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời đã ban cho A-đam khả năng cai trị trên công trình sáng tạo, qua đó làm trọn mạng lịnh thiên thượng trong Sáng-thế Ký 1:28.
Dù tác giả giả danh Sa-lô-môn tuyên xưng rằng A-đam đã được ban sự khôn ngoan thiên thượng khi Đức Chúa Trời hà hơi vào người, ông cũng nhận biết truyền thống trong Sáng-thế Ký 2–3 rằng A-đam đã vi phạm mạng lịnh của Đức Chúa Trời. Wisdom 10:2 chép rằng sự khôn ngoan “đã cứu người khỏi sự vi phạm của chính mình.” Trong Wisdom 2:23–24, tác giả viết: “Vì Đức Chúa Trời đã dựng nên loài người để không hư mất, và làm họ theo hình ảnh của bản chất Ngài; nhưng bởi lòng ghen ghét của ma quỉ mà sự chết đã vào thế gian, và những kẻ thuộc về nó thì nếm trải điều ấy.” Dù tác giả giả danh Sa-lô-môn thừa nhận rằng A-đam đã phạm tội, ông không bao giờ nói rõ bản chất của sự vi phạm ấy; ông không nói rằng A-đam đã sai lầm khi ăn trái cây biết điều thiện và điều ác. Nếu nói như vậy thì sẽ mâu thuẫn với lời khẳng định rằng Đức Chúa Trời đã ban sự khôn ngoan cho A-đam cách tự do.
Giống như Ben Sira, tác giả của Wisdom of Solomon đang cố gắng dung hòa hai truyền thống sáng tạo khác nhau. Theo một truyền thống, Đức Chúa Trời đã ban sự khôn ngoan cho loài người nguyên thủy ngay lúc họ được dựng nên; nhưng theo truyền thống kia (Sáng-thế Ký 2–3), Đức Chúa Trời đã cấm A-đam nhận lấy tri thức. Tác giả đã cố gắng điều hòa hai truyền thống mâu thuẫn này bằng cách sử dụng cấu trúc tường thuật tổng quát của Sáng-thế Ký 2–3 nhưng thay đổi ở những điểm then chốt. Ông nhấn mạnh món quà khôn ngoan mà Đức Chúa Trời ban cho A-đam bằng cách liên kết sự khôn ngoan với hình ảnh của Đức Chúa Trời (Sáng-thế Ký 1:26–27) và hơi thở của Đức Chúa Trời (Sáng-thế Ký 2:7), và đồng thời làm mờ đi những phần trong câu chuyện Ê-đen có thể khiến người ta hiểu sai về sự khôn ngoan, chẳng hạn như tính chất cấm đoán của cây biết điều thiện và điều ác.
Triết gia Do Thái Philo là một ví dụ khác về một tác giả rõ ràng tin rằng Đức Chúa Trời đã dựng nên A-đam với sự khôn ngoan. Trong các tác phẩm của mình, Philo mô tả sự sáng tạo loài người của Đức Chúa Trời theo hai giai đoạn. Ông nói rằng trước hết Đức Chúa Trời đã dựng nên con người phi vật chất, lý tưởng, là một lý trí nguyên mẫu được mô phỏng trực tiếp theo Logos của Đức Chúa Trời (tức là lý trí hay sự khôn ngoan của Ngài). Theo Philo, Logos của Đức Chúa Trời là hình ảnh của Đức Chúa Trời (Opif. 25; Conf. 146–47), vì vậy ông gọi con người lý tưởng, phi vật chất ấy là người được dựng nên theo hình ảnh của Đức Chúa Trời (Opif. 69–71; so với Sáng-thế Ký 1:26–27).
Thứ hai, Đức Chúa Trời đã nắn nên một con người vật chất từ bụi đất (tức là A-đam nguyên thủy) và hà hơi thần linh của Ngài vào người (Opif. 134–35), qua đó ban cho người một tâm trí lý trí (Opif. 139; Leg. 1.39–42; Her. 55–57). Philo giải thích rằng thần khí mà Đức Chúa Trời hà vào A-đam thực chất là lý trí nguyên mẫu, vốn là hình ảnh của Logos của Đức Chúa Trời (Plant. 18–20; Her. 230–36; Somn. 2.45). Vì Logos của Đức Chúa Trời là hình ảnh của Ngài, Philo nói rằng tâm trí lý trí của A-đam là hình ảnh của hình ảnh Đức Chúa Trời (Plant. 44; Her. 231; Spec. 1.171, 3.207; QG. 2.62). Khi hà hơi thần linh của Ngài vào A-đam, Đức Chúa Trời đã làm đầy người bằng sự khôn ngoan thiên thượng và một trí tuệ lý trí phản chiếu tâm trí của chính Ngài (Opif. 145, 151). Philo tuyên bố rằng A-đam là đỉnh cao của sự hoàn hảo loài người vì người có một tâm trí đẹp đẽ và vinh hiển, được mô phỏng trực tiếp theo Logos của Đức Chúa Trời (Opif. 136–48).
Sau khi Đức Chúa Trời dựng nên A-đam, Philo nói rằng Ngài đã đặt tâm trí của A-đam trong vườn Ê-đen. Đối với Philo, vườn ấy tượng trưng cho một nơi của sự khôn ngoan và đức hạnh được gieo vào trong linh hồn con người (Leg. 1.56; Plant. 36–47; QG 1.6). Đức Chúa Trời có ý định để tâm trí của A-đam cư ngụ trong vườn đức hạnh ấy và vun trồng sự khôn ngoan để người có thể đạt được sự sống đời đời. Trong trước tác On the Planting of Noah 36–37, Philo nói về hai loại cây ban tri thức hiện diện trong vườn ngụ ngôn. Ở giữa vườn là cây sự sống, mà Philo gọi là cây của sự khôn ngoan và sự hiểu biết (Leg. 1.59; 3.52; QG 1.6). Bằng cách vun trồng sự khôn ngoan trong linh hồn mình, A-đam có thể đạt được sự sống đời đời (QG 1.10, 56).
Cũng có cây biết điều thiện và điều ác, mà Philo giải nghĩa là cây của sự gian ác (Leg. 1.61–62). Cây này chỉ là tri thức về điều thiện và điều ác mà không có sự thực hành điều thiện (Leg. 1.55; QG 1.11). Khi A-đam ăn trái cây này, người bị đuổi ra khỏi vườn khôn ngoan và từ bỏ sự sống đời đời.
Theo Philo, Đức Chúa Trời đã làm đầy A-đam bằng sự khôn ngoan sâu nhiệm và một tâm trí lý trí trọn vẹn—là hình ảnh của Logos của chính Ngài—khi Ngài hà hơi thần linh vào sinh vật được dựng nên từ bụi đất. Giống như Ben Sira, Words of the Luminaries, và Wisdom of Solomon, Philo sử dụng một truyền thống xem hơi thở của Đức Chúa Trời là phương tiện qua đó Ngài ban cho loài người đầu tiên sự khôn ngoan và tri thức. Dù Philo nắm giữ truyền thống ấy trong một tay, ông cũng gắn bó chặt chẽ với tường thuật sáng tạo trong sách Sáng-thế Ký. Vì ông dựa vào Sáng-thế Ký 2–3, nên ông buộc phải giải nghĩa cây biết điều thiện và điều ác là nguyên nhân khiến A-đam bị đuổi khỏi địa đàng. Theo cách hiểu này, ông xem cây biết điều thiện và điều ác là cây của sự gian ác đạo đức (Virt. 205), trong khi cây sự sống là cây của đức hạnh và điều lành (Leg. 1.59). Đối với Philo, cây tri thức không phải là nguồn khôn ngoan cho A-đam; trái lại, nó là cây của sự ngu muội. Cây tri thức tượng trưng cho sự chọn lựa của A-đam khi người từ bỏ sự khôn ngoan chân thật và trọn vẹn mà người đã được dựng nên với.
Dù Philo bám sát hơn vào cấu trúc tường thuật của Sáng-thế Ký 2–3 so với Ben Sira và Wisdom of Solomon, ông vẫn phải đối diện với nhiệm vụ khó khăn là dung hòa hai truyền thống sáng tạo mâu thuẫn nhau. Philo chắc chắn trân trọng tường thuật sáng tạo trong Sáng-thế Ký, nhưng ông cũng tin rằng sự khôn ngoan vốn là điều tốt lành cho nhân loại, và rằng loài người đầu tiên đã được dựng nên với sự khôn ngoan giống như của Đức Chúa Trời. Thay vì làm mờ đi các yếu tố trong câu chuyện Ê-đen như Ben Sira và Wisdom of Solomon, Philo đã vượt qua vấn đề này bằng cách giải nghĩa ẩn dụ cây tri thức và biến nó thành cây của sự ngu muội và gian ác.
Hai văn bản được tìm thấy tại Qumran, gọi là Instruction và Hodayot (tức là Thánh Thi Tạ Ơn), khẳng định rằng Đức Chúa Trời, trong thời hiện tại, đã bày tỏ cho một số người công chính sự tri thức sâu nhiệm giống như A-đam từng có trong vườn Ê-đen. Cả hai văn bản này đều tuyên bố rằng con người có thể phục hồi trạng thái vinh hiển nguyên thủy của A-đam bằng cách nhận lấy tri thức mà A-đam từng sở hữu.
Tác phẩm được gọi là Instruction đã thu hút sự chú ý đáng kể trong hai thập kỷ qua vì nó truyền đạt những giáo huấn khôn ngoan cổ điển trong khuôn khổ một thế giới quan mang tính khải huyền. Văn bản này là một tập hợp các lời chỉ dẫn khôn ngoan, chủ yếu dành cho người được gọi là מבין (“người hiểu biết”), nhưng xen kẽ trong đó là những lời nhắc đến công cuộc sáng tạo của Đức Chúa Trời, các thiên sứ, và thời kỳ cuối cùng trong chương trình lai thế học của Ngài.
Một trong những chủ đề chính của Instruction là sự mặc khải của Đức Chúa Trời về một số רזי חר (“sự mầu nhiệm”), đặc biệt là רז נהיה (“sự mầu nhiệm về điều sẽ đến”). Trong Instruction, người công chính được gọi là מבין được khuyên phải tìm kiếm và suy gẫm về רז נהיה của Đức Chúa Trời (ví dụ: 4Q417 1 i 1–13). רז נהיה biểu thị cho chương trình vũ trụ vĩ đại của Đức Chúa Trời—đó là tổng thể ý muốn và kế hoạch của Ngài điều phối toàn thể vũ trụ. Torleif Elgvin định nghĩa וְרָז נִהְיֶה là “một thuật ngữ bao quát cho chương trình mầu nhiệm của Đức Chúa Trời về sự sáng tạo và lịch sử, kế hoạch của Ngài cho loài người và sự cứu chuộc dành cho những người được chọn.” Bằng cách suy gẫm về וְרָז נִהְיֶה, người מבין có thể hiểu cách vũ trụ vận hành và vị trí của mình trong chương trình thiên thượng ấy.
Điều đáng chú ý đối với mục đích của chúng ta là tác giả của Instruction mô tả וְרָז נִהְיֶה theo cách gợi nhớ đến cây biết điều thiện và điều ác trong vườn Ê-đen. Sự tương đồng này được thể hiện rõ trong nhiều đoạn, nơi tác giả nói rằng người tìm kiếm וְרָז נִהְיֶה sẽ biết điều thiện và điều ác. Chẳng hạn, trong 4Q417 1 i 6–8, tác giả tuyên bố: “Ngày và đêm hãy suy gẫm về sự mầu nhiệm của điều sẽ đến và tìm kiếm không thôi. Rồi ngươi sẽ biết lẽ thật và sự gian ác, sự khôn ngoan và sự ngu muội… hành động trong mọi đường lối của họ cùng với sự báo trả đời đời và phần thưởng vĩnh cửu. Rồi ngươi sẽ phân biệt điều thiện và điều ác theo công việc của họ” (xem thêm 4Q416 1 i 15; 4Q417 1 i 18; 4Q423 5 6).
Matthew Goff đã nhận xét rằng trong Instruction, người מבין suy gẫm về וְרָז נִהְיֶה sẽ đạt được cùng một sự hiểu biết về điều thiện và điều ác mà A-đam đã từng sở hữu. Ông viết: “4Q417 1 i 6–8 khẳng định rằng người ấy [מבין] có thể học được sự hiểu biết về điều thiện và điều ác qua việc nghiên cứu raz nihyeh. Người mebin, giống như A-đam, có thể đạt được sự hiểu biết về điều thiện và điều ác.”
Theo Instruction, những ai tìm kiếm và học hỏi דעת נהיה không chỉ có thể đạt được sự hiểu biết về điều thiện và điều ác mà A-đam từng sở hữu, mà qua việc tiếp nhận tri thức, họ cũng có thể bước vào vườn Ê-đen. Họ có thể trở nên giống như A-đam trong trạng thái vinh hiển nguyên thủy. Niềm tin này được thể hiện trong 4Q423 1–2 i 1–3, nơi tác giả nói với những người đã tìm kiếm דעת נהיה:
(1) [… và mọi trái cây sinh ra cùng mọi cây đẹp đẽ, dễ chịu để ban sự hiểu biết. Há chẳng phải là một vườn [đẹp đẽ] sao?
(2) [và dễ chịu] để [ban] sự hiểu biết [sâu sắc]? Ngài đã lập ngươi cai quản nó để cày xới và giữ gìn nó. Một vườn [thú vị]…
(3) [… đất ấy,] gai góc sẽ mọc lên cho ngươi, và nó sẽ không ban sản vật cho ngươi, […]
Trong phân đoạn này, דעת נהיה được ví như vườn Ê-đen, và người suy gẫm về דעת נהיה được mô tả như một người làm vườn giống A-đam, người vun trồng trái của tri thức. 4Q423 1–2 i 1–3 mô tả A-đam và vườn theo cách rất khác với tường thuật trong Sáng-thế Ký. Phân đoạn này cho thấy rằng sự hiểu biết về điều thiện và điều ác là điều có ích cho nhân loại, và rằng A-đam từng sở hữu tri thức ấy.
Goff viết: “4Q423 1–2 ngụ ý, bằng cách đặt người mebin vào vườn một cách ẩn dụ, rằng người ấy có tiềm năng để đạt được cùng một tri thức mà A-đam từng sở hữu trong Ê-đen — một sự phục hồi tri thức nguyên thủy.”
Trong 1QHª 16:5–27, không có sự nhắc đến rõ ràng về cây sự sống hay cây biết điều thiện và điều ác, mặc dù cả sự sống lẫn tri thức đều là những chủ đề then chốt trong phân đoạn này. Thay vào đó, hai biểu tượng mang tính biểu trưng từ Sáng-thế Ký 2–3 đã được kết hợp thành một hình ảnh duy nhất: dòng sông của sự sống và tri thức tuôn ra từ thi sĩ. Bằng cách kết hợp hình ảnh Ê-đen này và áp dụng nó cho chính mình cùng với lời dạy của mình, thi sĩ đưa ra một tuyên bố đầy uy quyền: ông là nguồn sự sống và tri thức có thể phục hồi người công chính trở lại thiên đàng. Ông là một A-đam mới, người chăm sóc và vun trồng vườn của Đức Chúa Trời. Thi sĩ tuyên xưng rằng Đức Chúa Trời đã phục hồi ông về trạng thái vinh hiển mà A-đam từng có trong thiên đàng, và ông ngầm khẳng định rằng Đức Chúa Trời đã ban cho ông cùng một tri thức mà A-đam từng sở hữu. Đến lượt mình, thi sĩ có thể khiến cộng đồng của ông lớn lên thành một thiên đàng mới bằng cách truyền đạt tri thức của Đức Chúa Trời cho họ.
Tư tưởng nền tảng trong 1QHª 16:5–27 rất giống với điều chúng ta đã thấy trong Instruction. Cũng như trong Instruction, thi sĩ của Hodayot xem tri thức có sẵn trong thiên đàng (tức là sự hiểu biết về điều thiện và điều ác) là điều tích cực và có ích. Đức Chúa Trời ban đầu đã ban tri thức này cho A-đam như một món quà, và trong thời hiện tại Ngài lại bày tỏ nó một lần nữa cho những người công chính. Những ai tìm kiếm tri thức này và nhận được nó thì có thể bước vào thiên đàng, nơi họ chăm sóc nó như những người làm vườn giống A-đam.
3 - SỰ KHÔN NGOAN CỦA LOÀI NGƯỜI NGUYÊN THỦY TRONG CÁC VĂN BẢN DO THÁI, CƠ ĐỐC VÀ SA-MA-RI SAU NÀY#
Rõ ràng là vào cuối thời kỳ Đền thờ thứ hai, đã tồn tại một truyền thống sống động và phổ biến rằng Đức Chúa Trời đã dựng nên loài người đầu tiên với sự khôn ngoan và tri thức đặc biệt. Truyền thống này tiếp tục hiện diện dưới nhiều hình thức khác nhau trong các văn bản Do Thái, Cơ Đốc và Sa-ma-ri về sau. Cũng như trong thời kỳ Đền thờ thứ hai, nhiều văn bản sau này cố gắng dung hòa cả tường thuật sáng tạo trong sách Sáng-thế Ký lẫn truyền thống rằng Đức Chúa Trời đã ban sự khôn ngoan cho loài người nguyên thủy. Để làm được điều đó, các tác giả thường lược bỏ hoặc điều chỉnh một số yếu tố trong câu chuyện Ê-đen.
Một ví dụ đặc biệt rõ ràng có thể thấy trong 2 Enoch 30:10–12, nơi Đức Chúa Trời phán: “Từ các chất vô hình và hữu hình, ta đã dựng nên loài người. Từ cả hai bản chất ấy phát sinh sự chết và sự sống. Và như hình ảnh của ta, người biết lời như chẳng có sinh vật nào khác. Nhưng ngay cả khi người là lớn nhất, người vẫn là nhỏ bé, và khi người là nhỏ nhất, người lại là vĩ đại. Trên đất, ta lập người làm thiên sứ thứ hai, được tôn trọng, vĩ đại và vinh hiển. Ta lập người làm vua, để cai trị trên đất, và để có sự khôn ngoan của ta.”
Phân đoạn này dựa trên cách đọc kết hợp giữa Sáng-thế Ký 1:26–28 và Sáng-thế Ký 2:7. Trong câu 10, tác giả giải nghĩa Sáng-thế Ký 2:7 rằng Đức Chúa Trời đã dựng nên loài người đầu tiên từ hai yếu tố: đất và hơi thở thần linh. Sau đó, tác giả tiếp tục với cách giải nghĩa Sáng-thế Ký 1:26–28, khẳng định rằng loài người đầu tiên là hình ảnh của Đức Chúa Trời, và vì là hình ảnh của Ngài, người đã sở hữu sự khôn ngoan vô song, cho phép người cai trị trên đất như một vị vua.
2 Enoch 30:15 tiếp tục rằng: “Ta đã ban cho người ý chí tự do; và ta chỉ cho người hai con đường—sáng và tối. Ta phán cùng người rằng: ‘Điều này là tốt cho ngươi, còn điều kia là xấu’; để ta biết được người có yêu ta hay ghét ta, và để điều đó được tỏ ra rõ ràng giữa dòng dõi người ai là kẻ yêu mến ta.” Cụm từ “hai con đường” là một cách nói ám chỉ đến hai con đường của sự khôn ngoan, và các cặp đối lập “sáng”/“tốt” và “tối”/“xấu” là sự gợi nhắc đến sự hiểu biết về điều thiện và điều ác trong sách Sáng-thế Ký. 2 Enoch 30:15 cho thấy rằng Đức Chúa Trời đã ban sự khôn ngoan và quyền tự do chọn lựa giữa điều thiện và điều ác cho A-đam ngay từ lúc người được dựng nên.
Van Ruiten nhận xét đúng rằng: “Cây biết điều thiện và điều ác hoàn toàn bị lược bỏ trong 2 Enoch. Thay vào đó, Đức Chúa Trời đã ban tri thức cho loài người từ trước (30:12). Sự hiểu biết về điều thiện và điều ác có thể được xem là một phần trong bản thể của người, vì người là hình ảnh của Đức Chúa Trời. Tóm lại, Đức Chúa Trời đã cho loài người biết điều thiện và điều ác trước khi họ bước vào thiên đàng (30:15).”
2 Enoch đoạn 31 và 32 tiếp tục mô tả các sự kiện trong Sáng-thế Ký đoạn 3, kết thúc bằng việc A-đam bị đuổi khỏi vườn. Trong hai chương này, tác giả của 2 Enoch theo sát cấu trúc tường thuật tổng quát của Sáng-thế Ký đoạn 3, nhưng ông diễn đạt một cách vòng vo và mơ hồ khi nói đến sự vi phạm mà A-đam đã phạm. Trong 2 Enoch 31:6–7, tác giả viết: “Hắn [ma quỉ] đã vào thiên đàng và làm hư hỏng Ê-va. Nhưng hắn không đụng đến A-đam. Nhưng vì sự ngu dốt, ta đã rủa sả họ.” Không có sự nhắc đến cây tri thức ở đây, cũng không có việc A-đam đạt được tri thức một cách bất hợp pháp. Vì A-đam đã sở hữu sự khôn ngoan (tức là sự hiểu biết về điều thiện và điều ác) trước khi người phạm tội (2 Enoch 30), nên việc người có được tri thức ấy không thể là lý do khiến người bị kết án. Trái lại, có vẻ như A-đam bị định tội vì người đã từ bỏ sự khôn ngoan mà Đức Chúa Trời đã ban cho, và người trở nên ngu muội hoặc thiếu hiểu biết. Trong ý chí tự do của mình, người đã chọn con đường của bóng tối và sự ngu dốt thay vì con đường của ánh sáng và sự khôn ngoan (so với 30:15).
Giống như các văn bản đã thảo luận ở trên, tác giả của 2 Enoch đang cố gắng dung hòa hai truyền thống sáng tạo khác nhau. Sự gắn bó của ông với cả cấu trúc tường thuật của Sáng-thế Ký 2–3 và truyền thống rằng Đức Chúa Trời đã dựng nên loài người đầu tiên với sự khôn ngoan đã buộc ông phải lược bỏ một số yếu tố trong câu chuyện Ê-đen, dẫn đến những điểm mơ hồ và những căng thẳng rõ rệt trong 2 Enoch.
Chúng ta cũng có thể thấy dấu vết của truyền thống rằng Đức Chúa Trời đã ban sự khôn ngoan cho loài người nguyên thủy trong các bài cầu nguyện trong nhà hội theo khuynh hướng Hy Lạp, được ghi lại trong Apostolic Constitutions thế kỷ thứ tư. Trong đoạn 12:36–39, Đức Chúa Trời phán với sự khôn ngoan của Ngài rằng: “Chúng ta hãy dựng nên loài người theo hình ảnh của chúng ta.” Sau đó, Đức Chúa Trời ban cho loài người đầu tiên một linh hồn có “sự phân biệt lý trí, khả năng phân biệt sự tin kính và sự vô đạo, sự quan sát điều đúng và điều sai.” Ngôn ngữ đối lập trong đoạn này là một sự ám chỉ đến sự hiểu biết về điều thiện và điều ác. Giống như 2 Enoch và một số văn bản khác đã được đề cập, tác giả của lời cầu nguyện này tin rằng chính sự hiểu biết về điều thiện và điều ác (tức là lý trí) đã biến A-đam thành hình ảnh của Đức Chúa Trời. Đoạn 43 tiếp tục nói rằng Đức Chúa Trời đã gieo vào người một luật pháp để “người có thể có hạt giống của tri thức thiên thượng.” Theo lời cầu nguyện này, Đức Chúa Trời đã dựng nên loài người nguyên thủy bằng sự khôn ngoan thiên thượng của Ngài, và do đó linh hồn của người đã được tạo nên với sự hiểu biết về điều thiện và điều ác.
Một ví dụ khác về truyền thống rằng Đức Chúa Trời đã dựng nên A-đam với tri thức được tìm thấy trong Pseudo-Clementine Homilies thế kỷ thứ tư. Trong bài giảng thứ ba, sứ đồ Phi-e-rơ tranh luận với kẻ dị giáo là Si-môn về bản chất của Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa. Si-môn lập luận rằng A-đam đã được dựng nên trong sự ngu dốt và không thể phân biệt điều thiện hay điều ác (3.39, 42). Phi-e-rơ, trái lại, lập luận rằng A-đam đã được dựng nên với tri thức, điều cho phép người nhìn thấy tương lai. Phi-e-rơ khẳng định rằng khi Đức Chúa Trời hà hơi vào A-đam, Ngài đã ban cho loài người đầu tiên “Đức Thánh Linh của sự biết trước” (3.17). Kết quả là, A-đam trở thành một nhà tiên tri thật (3.21).
Một số văn bản từ vài thế kỷ đầu sau Công nguyên cho rằng Môi-se là một đối trọng với A-đam, và rằng Đức Chúa Trời đã ban cho Môi-se trên núi Si-nai cùng một vẻ vinh hiển mà A-đam từng có trong thiên đàng. Theo các văn bản này, khi Môi-se lên núi và gặp sự hiện diện của Đức Chúa Trời, người đã nhận lấy sự vinh quang rực rỡ (tức là hình ảnh của Đức Chúa Trời) từng bao phủ A-đam, và kết quả là mặt của Môi-se rạng rỡ (cách giải nghĩa này dựa trên Xuất Ê-díp-tô Ký 34:29–35). Một số văn bản mở rộng sự so sánh này bằng cách khẳng định rằng Đức Chúa Trời ban đầu đã ban Luật pháp cho A-đam trước khi đặt người vào vườn, và sau đó Ngài đã bày tỏ cùng một Luật pháp ấy cho Môi-se trên núi Si-nai. Như vậy, theo các văn bản này, Đức Chúa Trời đã ban cho Môi-se cùng một tri thức mà A-đam từng sở hữu. Sự mặc khải tại Si-nai nhằm phục hồi dân Y-sơ-ra-ên về trạng thái thiên đàng mà A-đam từng có trong vườn, nhưng giống như A-đam, dân Y-sơ-ra-ên đã đánh mất trạng thái phước hạnh ấy vì tội lỗi của họ.
Một ví dụ tiêu biểu cho truyền thống này là văn bản Sa-ma-ri thế kỷ thứ tư gọi là Memar Marqah. Theo văn bản này, A-đam đã được ban sự khôn ngoan trọn vẹn ngay lúc người được dựng nên (2.1, 8–9; 6.3). Marqah viết: “Thân thể của A-đam từ bụi đất mà ra, và lửa đã đem quyền năng lớn và sự khôn ngoan vào người. Từ ban đầu người được nâng đỡ bởi thần linh, và từ đó sự khôn ngoan ngự trị trong tâm trí người” (2.8). Ở một chỗ khác, vị hiền triết mô tả sự sáng tạo của A-đam như sau: “Các thiên sứ đến để tôn vinh điều vinh hiển, và họ đều nhóm lại vì A-đam. Đấng Thiêng Liêng đã tạo dựng người và hà hơi sự sống vào người. Sự Vinh Hiển làm người nên trọn vẹn với một thần linh lớn; cả hai đều được đội hai mão triều của ánh sáng lớn. Đấng Thiêng Liêng đặt vào người một tâm trí trọn vẹn, và Sự Vinh Hiển ban cho người sự soi sáng đầy quyền năng. Đấng Thiêng Liêng cũng làm người vinh hiển với lời nói, và Sự Vinh Hiển làm người vinh hiển với tri thức trọn vẹn” (6.3).
Như chúng ta đã thấy trước đó, phân đoạn này dựa trên cách đọc kết hợp giữa Sáng-thế Ký 1:26–27 và Sáng-thế Ký 2:7. Khi Đức Chúa Trời hà hơi thần linh của Ngài vào A-đam, Ngài đã làm đầy người đầu tiên bằng tri thức trọn vẹn, và kết quả là A-đam trở nên hình ảnh rực rỡ của Đức Chúa Trời.
Giống như trong sách Sáng-thế Ký, Marqah khẳng định rằng A-đam đã vi phạm mạng lịnh của Đức Chúa Trời khi người lấy và ăn trái cây bị cấm (4.4–5; 5.2; đáng chú ý là Marqah không gọi cây ấy là cây biết điều thiện và điều ác). Kết quả là A-đam đã đánh mất trạng thái vinh hiển của mình. Tuy nhiên, Marqah tiếp tục nói rằng hình ảnh vinh hiển của Đức Chúa Trời và tri thức mà Ngài ban cho A-đam ban đầu đã được ban lại cho Môi-se trên núi Si-nai. Khi Môi-se lên núi, người bước vào cõi vô hình và đứng giữa các thiên sứ—người trở thành một A-đam mới cư ngụ trong vườn Ê-đen.
Marqah viết: “Các cửa của vườn đã mở ra cho người; trong vườn người cư ngụ. Mây bao phủ người và các thiên sứ tôn vinh người. Sự vinh hiển lớn đã tôn trọng người; ánh sáng trước mặt người soi rọi bóng tối và nó bị xua tan, gió đã cuốn nó đi. Chỗ của người đã được mở ra. Bóng tối sâu thẳm đối diện với người. Người đứng tại nền tảng của sự Sáng tạo và người biết sự mầu nhiệm của nó. Người đã bày tỏ điều đó cho mọi thế hệ” (4.3).
Trên núi Si-nai, Môi-se đã nhận lấy tri thức về Luật pháp mà Đức Chúa Trời từng ban cho A-đam, và khi người xuống núi, người mang theo tri thức ấy để truyền lại cho dân sự của Đức Chúa Trời.
Như người ta có thể đoán, có một số văn bản được gọi là văn bản Ngộ đạo (Gnostic) tuyên xưng rằng loài người nguyên thủy đã được ban tri thức như một món quà nhân từ. Thường thì trong các văn bản này, các vị thần trọn vẹn ban tri thức cho loài người đầu tiên để người có thể vượt qua sự ngu dốt và đạt được sự cứu rỗi thật. Chẳng hạn, trong văn bản có tên On the Origin of the World, cây tri thức được trồng ở phía bắc của thiên đàng và được mở ra cho loài người nguyên thủy “để nó có thể đánh thức linh hồn khỏi sự mê muội của các quỉ dữ, hầu cho họ có thể đến gần cây sự sống và ăn trái của nó, và như vậy lên án các quyền lực và các thiên sứ của chúng” (NHC 11.110.24–29). Chính tri thức đã giải phóng A-đam khỏi ách thống trị của sự ngu dốt và khiến người có thể đạt được sự sống đời đời.
Một ý tưởng tương tự cũng được bày tỏ trong Gospel of Judas, trong đó chép: “Nhưng Đức Chúa Trời đã khiến tri thức được ban cho A-đam và những người cùng với người, để các vua của sự hỗn loạn và âm phủ không thể cai trị trên họ” (54.8–12). Giống như trong On the Origin of the World, tri thức được ban cho A-đam để người có thể có quyền trên các thế lực ma quỉ tìm cách áp bức người.
Trong Apocryphon of John, các thần hoàn hảo đã hai lần ban tri thức cho A-đam. Lần đầu tiên, Yaltabaoth, một Đấng Tạo Hóa giả mạo đầy quái dị, bị đánh lừa để hà hơi thần linh hoàn hảo của mình vào mặt A-đam linh khí, và kết quả là A-đam được đầy dẫy Epinoia sáng láng, tức là “tư tưởng.” Khi Yaltabaoth thấy rằng A-đam đã được đầy dẫy ánh sáng và tri thức vượt quá chính mình, hắn đã giam giữ A-đam linh khí trong một thân xác bằng thịt và đặt người vào thiên đàng. Tại đó, trong vườn, Sophia cải trang thành một con đại bàng, khiến A-đam và Ê-va nếm trái cây tri thức. Khi họ làm điều đó, họ được đánh thức khỏi giấc ngủ của sự ngu dốt.
Apocalypse of Adam lưu giữ một truyền thống tương tự như trong Apocryphon of John. Văn bản mở đầu với lời A-đam bày tỏ với con trai mình là Sết rằng người đã nhận được tri thức đời đời về Đức Chúa Trời chân thật từ Ê-va. A-đam nói:
Khi Đức Chúa Trời dựng nên ta từ đất cùng với Ê-va, mẹ của con, ta thường đi lại với bà trong sự vinh hiển mà bà đã thấy trong thời đại mà chúng ta đã đến. Bà đã dạy ta một lời tri thức về Đức Chúa Trời đời đời. Và chúng ta giống như các thiên sứ đời đời vĩ đại, vì chúng ta cao trọng hơn Đức Chúa Trời đã dựng nên chúng ta và các quyền lực đi cùng Ngài, mà chúng ta không biết. Rồi Đức Chúa Trời, Đấng cai trị các thời đại và các quyền lực, đã giận dữ phân rẽ chúng ta. Rồi chúng ta trở thành hai thời đại, và sự vinh hiển trong lòng chúng ta đã lìa khỏi chúng ta, ta và mẹ con là Ê-va, cùng với tri thức ban đầu từng hà hơi trong chúng ta.
Theo các văn bản Ngộ đạo này, A-đam đã được ban tri thức đặc biệt ngay lúc người được dựng nên, và chính tri thức ấy khiến người trở nên hình ảnh của Đức Chúa Trời hoặc là một hữu thể vượt trội hơn các thiên sứ. Trong một số văn bản như Apocryphon of John và Apocalypse of Adam, tri thức được truyền cho A-đam qua hơi thở thần linh. Điều này phù hợp với các văn bản khác mà chúng ta đã xem xét, trong đó các tác giả giải nghĩa hành động Đức Chúa Trời hà hơi vào A-đam trong Sáng-thế Ký 2:7 là khoảnh khắc người đầu tiên nhận lấy tri thức. Điều này cho thấy rằng quan niệm Ngộ đạo về việc A-đam được dựng nên với tri thức có thể bắt nguồn từ một truyền thống Do Thái cổ xưa vốn phổ biến trong thời kỳ Đền thờ thứ hai.
KẾT LUẬN#
Có một số suy luận có thể rút ra từ nghiên cứu này. Trước hết, chúng ta nên hiểu thế nào về mối liên hệ giữa tường thuật Ê-đen trong Sáng-thế Ký 2–3, nơi Đức Chúa Trời cấm sự khôn ngoan, và truyền thống sáng tạo được khảo sát ở trên, nơi Đức Chúa Trời ban sự khôn ngoan cho loài người nguyên thủy? David Carr đã lập luận rằng Sáng-thế Ký 2–3 bao gồm một câu chuyện sáng tạo sớm hơn, vốn “miêu tả loài người như những người trưởng thành có tri thức,” nhưng câu chuyện sáng tạo ban đầu ấy đã bị biên tập lại và biến thành một luận chiến chống lại sự khôn ngoan. Nếu Carr đúng, thì có thể câu chuyện sáng tạo nguyên thủy nằm bên dưới Sáng-thế Ký 2–3 đã thuật lại một câu chuyện tương tự như những gì chúng ta đã thấy trong các văn bản ở trên. Có lẽ trong bản gốc của câu chuyện sáng tạo ấy, Đức Chúa Trời đã ban sự khôn ngoan và tri thức cho loài người nguyên thủy cách tự do, nhưng như Carr lập luận, một người biên tập chống lại sự khôn ngoan về sau đã sửa đổi câu chuyện để sự khôn ngoan trở thành điều bị cấm. Nếu đánh giá này là đúng, thì hình thức hiện tại của Sáng-thế Ký 2–3 được viết ra nhằm phản bác lại truyền thống sáng tạo chủ đạo vào thời điểm đó.
Dù chúng ta có đồng ý hay không với quan điểm rằng Sáng-thế Ký 2–3 là một văn bản chống lại sự khôn ngoan, thì rõ ràng là tường thuật sáng tạo trong câu chuyện Ê-đen không phải là truyền thống sáng tạo duy nhất được lưu hành trong thời kỳ Đền thờ thứ hai và giai đoạn đầu của Cơ Đốc giáo và giáo sư Do Thái. Thật ra, có lẽ nó không phải là truyền thống sáng tạo chủ đạo, ít nhất là trong giai đoạn đầu của thời kỳ Đền thờ thứ hai. Trái lại, các văn bản được khảo sát trong bài viết này cho thấy rằng truyền thống phổ biến trong thời kỳ Đền thờ thứ hai là Đức Chúa Trời đã dựng nên loài người nguyên thủy với tri thức và sự khôn ngoan. Dù các tác giả Do Thái nhanh chóng tiếp nhận cấu trúc tường thuật của Sáng-thế Ký 2–3, họ vẫn giữ vững niềm tin rằng Đức Chúa Trời đã dựng nên người đầu tiên với sự khôn ngoan.
Các bằng chứng cũng cho thấy rằng vào khoảng giữa đến cuối thời kỳ Đền thờ thứ hai, tường thuật Ê-đen trong Sáng-thế Ký đã bắt đầu va chạm với truyền thống rằng Đức Chúa Trời đã dựng nên loài người nguyên thủy với sự khôn ngoan. Nhiều văn bản từ giai đoạn cuối Đền thờ thứ hai và sau đó chứa đựng bằng chứng cho thấy các tác giả đang cố gắng dung hòa hai truyền thống sáng tạo khác nhau. Việc một tác giả sử dụng một phần của Sáng-thế Ký 2–3, hoặc thậm chí toàn bộ cấu trúc tường thuật của Sáng-thế Ký 2–3, nhưng điều chỉnh hoặc lược bỏ một số yếu tố — chẳng hạn như chi tiết cụ thể về sự vi phạm của A-đam hoặc cách mô tả tiêu cực về cây tri thức — là điều không hiếm gặp.
Dù điều này vượt ra ngoài phạm vi của bài viết hiện tại, nhưng cần có thêm nghiên cứu về việc truyền thống rằng Đức Chúa Trời đã dựng nên loài người nguyên thủy với sự khôn ngoan có thể đã ảnh hưởng đến các tác giả như Phao-lô (và một số cuộn sách Biển Chết), những người đã hình dung về một sự phục hồi lai thế học trở lại trạng thái hoàn hảo và thiên đàng của A-đam. Nếu A-đam đã được dựng nên với sự khôn ngoan, thì vai trò của sự khôn ngoan trong sự phục hồi lai thế học của người công chính sẽ là gì?