Skip to main content

Vai Trò Hình Mẫu của Sáng Thế Ký 3 trong Việc Đọc Hiểu Các Tường Thuật Kinh Thánh về Dục Vọng

Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God

JOURNAL ARTICLES - GENESIS

GIỚI THIỆU
#

Tình dục là một khía cạnh quan trọng trong đời sống con người. Quả thật, Kinh Thánh bàn luận về các mối quan hệ tình dục dưới nhiều hình thức, kể cả những mối quan hệ không tương thích (xem Sáng thế ký 26:8; 38:1-30; 2 Sa-mu-ên 13). Trong những đoạn nói rõ về quan hệ tình dục, Kinh Thánh ghi nhận nhiều trường hợp rối loạn hơn là những hoàn cảnh thuận lợi. Mọi hình thức tình dục đều bắt nguồn từ sự đam mê hoặc ham muốn. Mục tiêu của bài luận này là khảo sát chương 3 sách Sáng thế ký qua cách đọc gần gũi theo lối kể chuyện, nhằm khám phá các chủ đề lặp lại trong cấu trúc của nó. Là một văn bản nói về ham muốn nguyên thủy, Sáng thế ký 3 thể hiện những phương pháp để đọc hiểu theo cách đạo đức các tường thuật Kinh Thánh về ham muốn quá độ. Những trang mở đầu của mọi tác phẩm văn chương tốt đều đưa ra những dấu hiệu để hiểu những gì sẽ tiếp diễn; và điều này cũng đúng với văn chương Kinh Thánh: vị trí mở đầu của sách Sáng thế ký trong lịch sử dân Israel (từ Sáng thế ký đến Các vua) cho thấy vai trò của nó trong việc đọc hiểu lịch sử và vị trí trọng yếu của lịch sử nguyên thủy.

Các văn bản nói về ham muốn quá độ trong các tường thuật Kinh Thánh tiếng Hê-bơ-rơ đã được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau. Robin Parry, chẳng hạn, khi phác họa một lối đi để khai thác tiềm năng đạo đức của các tường thuật Kinh Thánh tiếng Hê-bơ-rơ, đã khảo sát các phương pháp đạo đức thần học Kinh Thánh hiện nay đối với các tường thuật Cựu Ước và lịch sử diễn giải chương 34 sách Sáng thế ký. Sau đó, ông thực hiện một cách đọc gần gũi văn bản trong bối cảnh kinh điển của nó, làm nổi bật những cách hiểu khác nhau về tường thuật này trong các bối cảnh phụ hệ, Môi-se, và Cơ Đốc. Ông kết luận bằng cách phản hồi các cách đọc theo khuynh hướng nữ quyền và khẳng định tính phụ hệ trong kinh điển của văn bản. Parry đọc tường thuật cùng với người kể chuyện, nhưng cũng sẵn lòng lên tiếng thay cho những người nữ không có tiếng nói trong đó. Những nhận định từ công trình của ông và những người khác cùng chiều hướng cung cấp một định hướng chung cho việc ứng dụng đạo đức các tường thuật Cựu Ước trong bài luận hiện tại.

Dựa theo bài diễn văn mang tính bước ngoặt của James Muilenburg tại Hội Văn học Kinh Thánh khoảng nửa thế kỷ trước, tôi sẽ nêu ra những câu hỏi và tìm kiếm câu trả lời từ chính các mô hình cấu trúc và kết cấu văn chương đã định hình văn bản như một thể thống nhất, chứ không từ một chương trình nghị sự áp đặt từ bên ngoài. Đề xuất của Muilenburg về các văn bản Kinh Thánh có thể áp dụng cho toàn bộ Kinh Thánh; và đây chính là nơi một trong những nguyên lý trọng yếu của phép giải nghĩa theo Cải chánh trở nên thiết yếu, đó là: Kinh Thánh là người giải nghĩa tốt nhất cho chính mình. Vì vậy, sách Sáng thế ký trở nên quan trọng ngay cả khi chúng ta tìm cách đọc hiểu đúng các tường thuật Hê-bơ-rơ khác.

NHỮNG KHÍA CẠNH TRONG VIỆC NGHIÊN CỨU ĐẠO ĐỨC CỰU ƯỚC
#

Vì bài luận này thuộc lĩnh vực đạo đức Cựu Ước, nên sẽ hữu ích khi trình bày một sự hiểu biết cơ bản về ngành học này. Allen Verhey định nghĩa đạo đức là “sự suy tư có kỷ luật về hành vi và nhân cách đạo đức.” Đạo đức — như triết lý đạo đức — liên quan đến các vấn đề về giá trị và hành vi luân lý. Đặc biệt, những cuộc thảo luận về đạo đức Kinh Thánh cần phải giả định một niềm tin vào lẽ thật được Đức Chúa Trời mặc khải qua Kinh Thánh. Tuy nhiên, điều này không phải lúc nào cũng đúng.

Cách thức đạo đức Kinh Thánh được nghiên cứu có thể được phân loại rộng rãi thành ba cách, sử dụng các cụm từ giới từ: “phía sau văn bản,” “trong văn bản,” và “của văn bản.” Đạo đức phía sau văn bản chủ yếu là một “ngành công nghiệp” lịch sử. Những nghiên cứu theo hướng này thường tập trung vào việc phác họa sự phát triển lịch sử của luân lý dân Y-sơ-ra-ên, chú ý đến các nguồn gốc văn hóa và lịch sử của những hình thức đạo đức được hình thành trong văn bản được khảo sát. Trọng tâm của sự phát triển hiện đại trong cách tiếp cận này là nỗ lực phơi bày những thô sơ trong sự phát triển đạo đức của dân Y-sơ-ra-ên cổ đại, điều khiến người đọc hiện đại cảm thấy khó chịu.

Các tác phẩm viết về đạo đức Cựu Ước trong thời kỳ hiện đại, theo khung đạo đức “trong văn bản,” có thể truy nguyên từ cuối thế kỷ XIX. Trọng tâm ở đây là văn bản Kinh Thánh và những gì văn bản nói. Nhiều nghiên cứu theo chiều hướng này chỉ đơn thuần mô tả những gì được tìm thấy trong văn bản, từ đó áp dụng các quan điểm lịch sử, nhân chủng học, và xã hội học để tái dựng sự đa dạng của các quan điểm đạo đức đang vận hành trong văn bản, tùy theo lịch sử phân tầng, hệ tư tưởng, và bối cảnh xã hội của nó.

Nhóm thứ ba gồm các cách tiếp cận đạo đức “của văn bản.” Cách tiếp cận này nói đến đạo đức được hình thành từ những khả thể (possibilities) của thế giới trong văn bản. Những cách tiếp cận này thường mang định hướng văn chương hoặc kinh điển, công nhận thẩm quyền (về mặt văn chương, qua các chiến lược tu từ trong cấu trúc văn bản, hoặc về mặt kinh điển — từ một lập trường tín lý) của văn bản trong việc định hình đạo đức. Trong khuôn khổ này, có hai cách tiếp cận chính được sử dụng: Đạo đức như sự ra quyết định, tập trung vào luật pháp, các tiên tri, và sự khôn ngoan; và đạo đức như sự hình thành nhân cách đạo đức, tập trung vào tường thuật và phần nào đó vào sự khôn ngoan.

Bài luận này khảo sát tường thuật và vai trò của nó trong việc (tái) hình thành nhân cách và biến đổi xã hội-đạo đức. Việc hiểu vai trò của các nhân vật/hành động viên là điều thiết yếu để khai mở ý nghĩa văn bản của tường thuật. Đức Chúa Trời cũng thường xuyên xuất hiện trong tường thuật Kinh Thánh như một nhân vật, vì vậy khi chú ý đến các nhân vật và vai trò của họ trong các tường thuật Kinh Thánh, người đọc cần đặc biệt lưu tâm đến Đức Chúa Trời, biết rằng vai trò của Ngài như một nhân vật (tư tưởng, lời nói, cảm xúc, hành động hoặc không hành động, và cách các nhân vật khác nhận diện Ngài) là trọng tâm. Juliana Claassens đã sử dụng việc khắc họa Đức Chúa Trời như một nguồn tài nguyên thần học trong việc bàn luận về tường thuật Ghi-đê-ôn trong Các Quan Xét 6–8. Gordon Wenham cho thấy rằng tiêu chuẩn cho hành vi đạo đức trong các sách tường thuật cao hơn trong các sách về luật pháp. Quan điểm của ông là luật pháp chỉ đặt ra giới hạn tối thiểu cho hành vi đạo đức, trong khi tường thuật nhắm đến điều cao hơn, và ông liên kết điều đó với hành động của Đức Chúa Trời trong các tường thuật. Ông cũng chứng minh rằng việc bắt chước Đức Chúa Trời trong đạo đức Cựu Ước ngày càng được nhiều học giả công nhận. Xét đến tầm quan trọng của vị trí Đức Chúa Trời trong sự phát triển đạo đức qua tường thuật, tôi sẽ sử dụng phản ứng của Đức Chúa Trời như một công cụ hướng dẫn trọng yếu (bên cạnh các công cụ khác) trong việc nghiên cứu đạo đức các tường thuật Kinh Thánh. Kết quả của cách đọc hiểu tường thuật chương 3 sách Sáng thế ký sẽ cung cấp một khuôn khổ để đọc các tường thuật Kinh Thánh về những ham muốn mãnh liệt đầy hiểm họa.

THĂM DÒ BẢN CHẤT CỦA HAM MUỐN
#

Khi bàn luận về chương 3 sách Sáng thế ký, tôi sẽ khảo sát vai trò của ham muốn (một yếu tố chính dẫn đến sự sa ngã) trong hành vi con người, cùng với những vấn đề khác. Sarah Coakley định nghĩa ham muốn là “sự khao khát về thể chất, cảm xúc, hoặc trí tuệ hướng đến một điều gì đó hoặc một ai đó được mong muốn.” Sự khao khát đối với nhiều loại đối tượng là điều mà con người trải nghiệm mỗi ngày, và nó chính là động lực thúc đẩy những hành động mà con người thực hiện. William Irvine nhận xét rằng mọi lựa chọn chúng ta đưa ra “thường phản ánh ham muốn của chúng ta: chúng ta chọn điều mà, xét trên mọi phương diện, chúng ta mong muốn.” Quả thật, ham muốn là phần không thể tách rời trong bản chất con người.

Kinh Thánh có rất nhiều điều để nói về ham muốn. Trong Cựu Ước, nó có thể mang ý nghĩa tích cực hoặc tiêu cực. Một cuộc khảo sát Kinh Thánh tiếng Hê-bơ-rơ cho thấy có năm thuật ngữ chính được sử dụng trong các hình thái ngữ pháp khác nhau (động từ, tính từ, và danh từ) để diễn đạt khái niệm ham muốn. Thuật ngữ đầu tiên là khamad (חָמַד), trong hình thức động từ có nghĩa là “ham muốn và cố gắng chiếm hữu.” Ý tưởng ở đây là khi có một sự khao khát mạnh mẽ đối với một điều gì đó hoặc một ai đó, con người sẽ bị thúc đẩy để tìm cách sở hữu điều đó. Từ này xuất hiện chủ yếu dưới dạng danh từ và có thể mang ý nghĩa tích cực hoặc tiêu cực (xem Sáng thế ký 2:9; Xuất Ê-díp-tô Ký 20:17; Giô-suê 7:21; Thi thiên 19:11; Nhã ca 2:3). Thuật ngữ thứ hai là 'awah (אִוָּה), có nghĩa là “ham muốn, khao khát, thèm muốn, ao ước, chờ đợi đầy mong mỏi, ước muốn, thở dài, thèm thuồng, muốn có, tham lam, ưa thích.”

Hai từ khamad'awah cùng thuộc một miền ngữ nghĩa, liên quan đến sự khao khát hoặc thèm muốn điều gì đó khiến người ta bị thúc đẩy đi tìm kiếm, và chỉ khi ham muốn ấy được thỏa mãn thì mới đem lại sự mãn nguyện (xem Châm ngôn 13:12,19). Dù đôi khi hai từ này được dùng như từ đồng nghĩa, nhưng vẫn có sự khác biệt tinh tế giữa chúng: khamad nói đến sự ham muốn đối với bản chất hiện hữu của đối tượng (thuộc bản thể), còn 'awah tập trung vào những đặc điểm thuộc hình thức bên ngoài (thuộc hiện tượng). Minh họa rõ ràng nhất cho điều này được thấy trong sách Nhã ca, nơi khamad chỉ xuất hiện trên môi của người nữ đang yêu - người khao khát người yêu của mình vì toàn bộ con người của chàng (Nhã ca 2:3; 5:16), trong khi 'awah chỉ xuất hiện trong lời nói của người nam đang yêu - người bị cuốn hút bởi vẻ đẹp hình thể của người nữ (Nhã ca 1:5; 2:14; 4:3; 6:4). Trong Sáng thế ký 3:6, nơi cả hai từ cùng xuất hiện, mô hình này được thể hiện rõ: 'awah phản ánh sự tác động của vẻ ngoài, còn khamad biểu hiện điều phát xuất từ sâu thẳm bên trong (như sự khao khát sự khôn ngoan).

Từ thứ ba là khaphets (חָפֵץ), điểm khác biệt của nó nằm ở sự nhấn mạnh nhiều hơn đến yếu tố cảm xúc so với các từ chỉ ham muốn khác. Ý chính của từ này là sự vui thích hoặc khoái lạc. Nó liên quan nhiều đến sự ảnh hưởng hoặc ấn tượng mà đối tượng tạo ra trên chủ thể (xem 1 Các vua 5:23-24; Châm ngôn 3:15; 8:11; Truyền đạo 12:10; Ê-sai 54:12). Thuật ngữ thứ tư là kasaph (כָּסַף), có nghĩa là “khao khát, mong mỏi.” Từ này chỉ xuất hiện ở hai nơi với ý nghĩa rõ ràng như vậy (Sáng thế ký 31:30; Thi thiên 84:3). Nó thuộc cùng miền ngữ nghĩa với khamad'awah, nhưng theo những gì đã trình bày ở trên, nó gần với khamad hơn là 'awah. Từ thứ năm, teshuqah (תְּשׁוּקָה), xuất hiện rất ít và mang một phổ ý nghĩa phức tạp hơn các từ còn lại. Vì vậy, tôi sẽ bàn luận về nó trong phần thảo luận về chương 3 sách Sáng thế ký, một trong số ít đoạn Kinh Thánh có chứa từ này.

Từ sự tổng hợp của khảo sát trước về ham muốn, tôi đã xác định ba loại ham muốn chính:

  • Loại đầu tiên là những ham muốn duy trì sự sống. Đây là những ham muốn đối với những điều thiết yếu cho sự tồn tại của đời sống con người, bao gồm thức ăn, chỗ ở, quần áo, và sự an toàn.
  • Nhóm thứ hai là những ham muốn hưởng thụ, vốn nhằm đem lại khoái lạc đơn thuần vì chính nó. Trong nhóm này bao gồm thẩm mỹ, vẻ đẹp và thời trang, sự thèm muốn xác thịt, và một số loại hoạt động giải trí.
  • Cuối cùng là những ham muốn về danh vọng. Đây là những ham muốn mà khi đạt được sẽ đem lại cảm giác có ý nghĩa, sự mãn nguyện, quyền lực, cũng như mức độ ảnh hưởng đối với người khác.

Dĩ nhiên, ranh giới giữa các nhóm này có phần linh hoạt, vì một số ham muốn có thể thuộc về một nhóm, nhưng khi được đẩy lên một mức độ khác thì sẽ tràn sang nhóm khác. Chẳng hạn, ở cấp độ giống loài, tình dục dẫn đến khoái lạc lành mạnh và sự sinh sản, và có thể được xem là một ham muốn duy trì sự sống. Tuy nhiên, khuynh hướng thỏa mãn ham muốn này một cách tùy tiện và không kiềm chế, với nhiều người khác nhau, sẽ đưa nó vượt ra khỏi phạm vi duy trì sự sống và rơi vào sự hưởng thụ xác thịt.

Với khảo sát này, chúng ta có thể khảo nghiệm tường thuật về ham muốn nguyên thủy trong Sáng thế ký 3, những hệ quả của nó, và phản ứng của Đức Chúa Trời, bằng cách sử dụng phương pháp đọc hiểu tường thuật theo lối bình luận. Phân tích này nhằm đưa ra một mô hình để khảo sát các sự theo đuổi ham muốn, đặc biệt là những ham muốn hưởng thụ (nhất là tình dục) và ham muốn danh vọng (quyền lực), cùng với những hậu quả thảm khốc của chúng trong các tường thuật Kinh Thánh tiếng Hê-bơ-rơ về sau.

HAM MUỐN TRONG SÁNG THẾ KÝ 3: HỆ QUẢ VÀ PHẢN ỨNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
#

Chương 3 sách Sáng thế ký có một cốt truyện rõ ràng, với vị trí của con rắn giữa các loài thú và sinh vật khác (câu 1) được đặt làm tiền cảnh. Câu chuyện tiến triển với sự căng thẳng ngày càng tăng giữa ý muốn của Đức Chúa Trời và ham muốn của con người (câu 2–5). Cuộc xung đột thực sự và cao trào xảy ra khá sớm (câu 6–7), khi ham muốn của con người vượt qua ý muốn của Đức Chúa Trời. Đỉnh điểm thứ hai đến trong cuộc đối thoại của Đức Chúa Trời với cặp đôi đầu tiên (câu 9–13), và tiếp theo là đoạn hạ hồi, khi bản án của Đức Chúa Trời được tuyên phán cách rõ ràng trên tất cả các nhân vật trong tường thuật (câu 14–19). Cuối cùng là phần kết thúc, với những hệ quả của sự đoán phạt từ Đức Chúa Trời (câu 20–24).

Tường thuật này cũng có thể được phác họa theo hình thức trình bày của người kể chuyện, bắt đầu bằng phần đối thoại chia làm hai hồi (Sáng thế ký 3:1–7 và 3:8–19), rồi đến phần tường thuật hoặc báo cáo kết luận (Sáng thế ký 3:20–24). Phần thảo luận chi tiết dưới đây sẽ theo hình thức phác họa sau.

Hồi 1: Cặp Đôi Đầu Tiên và Sự Sụp Đổ Vì Ham Muốn của Họ (Sáng Thế Ký 3:1–7)
#

Cảnh 1: Cuộc Đối Thoại giữa Người Nữ và Con Rắn (Sáng Thế Ký 3:1–5)

Việc giới thiệu con rắn báo trước một hình ảnh đầy bất ngờ: một sinh vật biết nói và biết đi. Điều này có nét tương đồng với quan niệm ở vùng Cận Đông cổ đại, nơi con rắn được kính sợ hoặc tôn thờ như một thực thể có quyền năng huyền bí. Các văn bản còn sót lại cho thấy con rắn gắn liền với khả năng sinh sản, sức khỏe, sự bất tử, tri thức huyền bí và điều ác, và thường được tôn kính hoặc thờ phượng. Trong văn học Kinh Thánh, hình ảnh con rắn không chỉ đơn thuần là một biểu tượng huyền thoại, mặc dù các học giả có những cách hiểu khác nhau. Ian Provan nhận xét rằng việc liên hệ con rắn với ma quỷ không có cơ sở trong văn bản, mà xuất phát từ các nguồn thời Đền Thờ thứ hai như 2 Enoch 31:5. Walter Brueggemann công khai phủ nhận rằng con rắn là Sa-tan, ông xem nó chỉ là một phương tiện văn chương, nhưng cách hiểu này không xét đến quá trình hình thành theo khuôn mẫu của văn bản Kinh Thánh. Ngược lại, Laird Harris, Gleason Archer Jr., và Bruce Waltke khẳng định rằng chỉ có “thần học duy nhiên” (natural theology) mới cho rằng đó chỉ là một con rắn trong truyền thuyết hay huyền thoại. Dù trong bối cảnh của sách Sáng thế ký không có lời giải thích rõ ràng cho điều bí ẩn này, nhưng khi đọc trong toàn bộ bối cảnh của Kinh Thánh, sự liên hệ rõ ràng giữa con rắn và Sa-tan trở nên dễ hiểu (xem Gióp 26:6–13; Thi thiên 91:13; Ê-sai 27:1; Lu-ca 10:18–19; Khải huyền 12:9; 20:2).

Trong cuộc đối thoại giữa con rắn và người nữ, mục tiêu ban đầu của nó là gieo nghi ngờ trong tâm trí bà về sự ngay thật của Đức Chúa Trời và tính xác thực của lời Ngài: “Có thật Đức Chúa Trời đã phán rằng: ‘Các ngươi không được ăn trái cây nào trong vườn’?” (Sáng thế ký 3:1). Câu hỏi mang tính phủ định ấy một cách tinh vi đã gieo mầm hoài nghi, khiến cặp đôi đầu tiên nghi ngờ lòng quảng đại của Đức Chúa Trời và tin rằng những giới hạn của Ngài là rào cản ngăn họ đến với một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Trong lời đáp của người nữ, bà thừa nhận rằng họ đã được ban cho mọi thứ, ngoại trừ một điều, nhưng khi nói đến hậu quả của việc ăn trái cây, bà đã bỏ qua lời cảnh báo mạnh mẽ của Đức Chúa Trời về sự chết chắc chắn: “ngươi chắc chắn sẽ chết” (Sáng thế ký 2:17). Việc bà thay đổi lời cảnh cáo của Đức Chúa Trời đã tạo cơ hội cho con rắn phát triển lời đề nghị ban đầu tưởng chừng vô hại bằng cách phủ nhận sự chắc chắn của cái chết mà Đức Chúa Trời đã định. Thật vậy, việc bà phóng đại lệnh cấm của Đức Chúa Trời — “Đức Chúa Trời có phán: ‘Các ngươi không được ăn trái đó, cũng không được đụng đến, kẻo các ngươi phải chết’” (Sáng thế ký 3:3) — cho thấy sự bất mãn đang dâng lên trong lòng bà. Con rắn, lợi dụng sự bất mãn ấy, đã mâu thuẫn với lời Đức Chúa Trời bằng cách nói: “Các ngươi chắc chắn không chết đâu” (Sáng thế ký 3:4). Chính hình thức trạng từ trong lời Đức Chúa Trời đã bị con rắn phủ nhận, chứ không phải động từ, từ đó gieo nghi ngờ về sự chắc chắn của hậu quả dành cho sự bất tuân. Một cách tinh vi, con rắn tìm cách tránh mâu thuẫn trực tiếp với Đức Chúa Trời để không gây ra sự hoài nghi.

Sau khi gieo nghi ngờ một cách xảo quyệt về sự chắc chắn trong lời Đức Chúa Trời, con rắn tiếp tục tấn công sự đáng tin của Ngài bằng cách cáo buộc rằng Đức Chúa Trời đang che giấu điều có lợi cho A-đam và Ê-va — ngăn họ tiếp cận điều sẽ mở rộng tầm hiểu biết và khiến họ trở nên giống như Đức Chúa Trời (Sáng thế ký 3:5). Mục tiêu của điều này là phá vỡ mối liên hệ giữa con người đầu tiên và Đấng Tạo Hóa của họ. Kết quả là, cặp đôi ấy đã rời xa Đức Chúa Trời và chọn hành động một cách độc lập (Sáng thế ký 3:6–7).

Bị thúc đẩy bởi dục vọng, sau sự xúi giục của con rắn, cặp đôi đã lìa xa Đức Chúa Trời. Trong khoảnh khắc ấy, người nữ đã trải nghiệm cả ba loại ham muốn: ham muốn sinh tồn, ham muốn hưởng thụ, và ham muốn danh vọng. Những ham muốn quá độ đã dẫn bà đi ngược lại với mạng lệnh rõ ràng của Đức Chúa Trời. Khi bà chăm chú nhìn vào cây và trái của nó, bà thấy cây ấy tốt để làm thức ăn (ham muốn sinh tồn), đẹp mắt (ham muốn hưởng thụ), và đáng ao ước để được khôn ngoan (ham muốn danh vọng).

Chúng ta ghi nhận rằng Đức Chúa Trời đã sắm sẵn mọi điều cho những ham muốn ấy. Sáng thế ký 2:9 cho thấy rằng các loài thực vật do Ngài dựng nên đã có đầy đủ những gì Ê-va tìm kiếm: cây cối thì đẹp mắt (ham muốn hưởng thụ), và đáng ăn (ham muốn sinh tồn). Cây sự sống, trái ngược với cây biết điều thiện và điều ác, đáp ứng ham muốn danh vọng của họ. Hơn nữa, loài người đã mang hình ảnh của Đức Chúa Trời — điều mà con rắn hứa hẹn sẽ ban cho họ qua sự bất tuân (Sáng thế ký 1:26–27). Trong mạng lệnh sáng tạo, lời Đức Chúa Trời phán với cặp đôi đầu tiên đã đáp ứng ham muốn danh vọng của họ — làm chủ đất đai (Sáng thế ký 1:28). Ngoài ra, Ngài cũng đáp ứng ham muốn sinh tồn của họ bằng cách ban cho họ sự dư dật về thức ăn (Sáng thế ký 1:29). Cuối cùng, chính Đức Chúa Trời đã làm chứng rằng công trình sáng tạo của Ngài là đủ đầy để thỏa mãn ham muốn hưởng thụ, khi Ngài nhìn vào và phán rằng mọi sự là “rất tốt lành” (Sáng thế ký 1:31). Trong sự phản nghịch, khi chạy theo ham muốn của mình (Sáng thế ký 3:6), cặp đôi đầu tiên đã đánh đổi điều họ đang có để lấy một ảo ảnh hư không.

Cảnh 2: Cặp Đôi Theo Đuổi Ham Muốn và Sự Thất Vọng Đầu Tiên (Sáng Thế Ký 3:6–7)

Cảnh thứ hai của hồi 1 (Sáng thếký 3:6–7) là cao trào của câu chuyện: kết quả của cuộc xung đột. Hai câu trong đoạn này đầy ắp hành động (những nhân vật liên quan đang làm điều gì đó), được truyền tải qua các động từ chia thì xác định (tổng cộng chín động từ), nằm trên tuyến chính của câu chuyện — một đặc điểm thường thấy trong các đoạn cao trào: nàng thấy … lấy … ăn … trao cho chồng … chồng ăn … mắt mở ra … biết mình trần truồng … kết lá vả … làm khố che thân. Lời hứa của con rắn được ứng nghiệm một phần: mắt họ mở ra; họ biết điều ác — trước đó họ chỉ biết điều thiện — nhưng họ trở nên kém giống Đức Chúa Trời hơn (xem câu 4). Một trong những hậu quả tức thì của tội lỗi của họ là chính tội lỗi đó: sự phân cách trở thành điều tất yếu trong đời sống con người. Khi họ còn hiệp một với Đức Chúa Trời, họ cũng hiệp một với nhau — trần truồng trước nhau mà không hổ thẹn (Sáng thế ký 2:23–25). Nhưng khi lìa khỏi Đức Chúa Trời, sự khác biệt mới xuất hiện giữa họ, sinh ra sự xấu hổ từ nhận thức về sự trần truồng của mình. Đây chỉ là khúc dạo đầu cho sự bày tỏ rõ ràng của sự phân cách với Đức Chúa Trời (phần đầu tiên của sự chết) sẽ được thể hiện rõ ràng trong hồi 2.

Hồi 2: Hậu Quả của Ham Muốn Được Thỏa Mãn (Sáng Thế Ký 3:8–19)
#

Nếu hồi 1 dẫn dắt câu chuyện đến cao trào, thì hồi 2 là phần hạ hồi. Hồi 2 gồm hai cảnh. Cảnh 1 (Sáng thế ký 3:8–13) là một đoạn chuyển tiếp, mô tả sinh động sự thù địch phát sinh giữa A-đam và Ê-va một mặt, và giữa cả hai với Đức Chúa Trời mặt khác, sau khi họ theo đuổi ham muốn của mình mà lìa khỏi Ngài (Sáng thế ký 3:8). Phần lớn cảnh 1 là cuộc chất vấn giữa Đức Chúa Trời và các tạo vật của Ngài (Sáng thế ký 3:9–13); còn cảnh 2 là lời tuyên án dành cho việc vi phạm mạng lệnh của Đức Chúa Trời (Sáng thế Kký 3:14–19).

Truyện kể này có nhiều dấu hiệu cho thấy sự tinh tế trong nghệ thuật biên soạn. Sáng thế ký 3:8, phản ánh sự phân cách giữa con người và Đức Chúa Trời, nằm liền sau Sáng thế ký 3:7, thuật lại sự phân cách giữa con người với nhau. Các cảnh 2 và 3 tạo thành một cấu trúc đối xứng tư tưởng hoàn hảo:

  • A: Đức Chúa Trời chất vấn A-đam (3:9–12)
  • B: Đức Chúa Trời chất vấn Ê-va (3:13)
  • C: Ê-va nói về con rắn (3:13b)
  • C´: Đức Chúa Trời rủa sả con rắn (3:14–15)
  • B´: Đức Chúa Trời tuyên án Ê-va (3:16)
  • A´: Đức Chúa Trời tuyên án A-đam (3:17–19)

Trong lời phán của Đức Chúa Trời với các bên phạm tội, cấu trúc đối xứng cho thấy Ngài bắt đầu với A-đam và kết thúc với ông (A và A´). Điều này nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của A-đam — vai trò mà ông đã từ bỏ để nhường cho vợ mình — nhưng Đức Chúa Trời đã đưa ông trở lại với thực tại ấy. Việc đặt Ê-va giữa A-đam và con rắn phản ánh vai trò trung gian đầy hiểm độc mà bà đã đóng giữa con rắn và chồng mình (trong B và B´). Con rắn nằm ở trung tâm của cấu trúc đối xứng (trong lời thuật của người nữ C và lời tuyên án của Đức Chúa Trời C´), hàm ý rằng nó là thủ phạm chính.

Cảnh 1: Hậu Quả Tức Thì của Tội Lỗi và Sự Chất Vấn từ Đức Chúa Trời (Sáng Thế Ký 3:8–13)

Hậu quả tức thì của sự bất tuân mạng lệnh thiêng liêng nơi con người là sự cách biệt rõ ràng giữa nhân loại và Đức Chúa Trời — một khoảng cách đã bắt đầu hình thành trong tâm trí từ giai đoạn cám dỗ trước đó trong câu chuyện. Cặp đôi đầu tiên đã ẩn mình khi nghe tiếng bước chân của Đấng Tạo Hóa (Sáng thế ký 3:8), nhưng tiếng gọi của Đấng mà trước mắt Ngài không có gì che giấu được đã vang lên với tình yêu lớn lao: “Ngươi ở đâu?” (Sáng thế ký 3:9), mở đầu cho chuỗi câu hỏi tiếp theo. A-đam đáp lại, thuật lại việc mình trốn vì sợ hãi do nhận thức về sự trần truồng. Người ta nói rằng tiếng nói từng là niềm vui giờ đã trở thành nỗi kinh hoàng, bởi sự phản nghịch của con người đã làm lu mờ vinh quang thiêng liêng mà họ từng được khoác lên khi được dựng nên, khiến họ không thể chịu nổi sự rực rỡ của Đấng Tạo Hóa — trái ngược với lời hứa của con rắn (Sáng thế ký 3:10).

Giống như một vị thẩm phán công minh trong phiên tòa, Đức Chúa Trời không đưa ra kết luận nào trước khi thực hiện cuộc thẩm vấn kỹ lưỡng, ban cho cặp đôi lầm lỗi một cơ hội được nghe xét công bằng. Câu hỏi đầu tiên của Ngài được tiếp nối bằng một loạt câu hỏi khác dành cho người nam và người nữ, cả hai đều tìm cách né tránh bằng cách đổ lỗi cho người khác (Sáng thế ký 3:11–13). Có hai điểm đáng chú ý trong câu chuyện này.

  • Thứ nhất, Đức Chúa Trời hoàn toàn im lặng trong suốt thời gian cám dỗ cặp đôi đầu tiên.
  • Thứ hai, sau khi họ phạm tội, Ngài đã đối thoại với A-đam và Ê-va nhưng không trực tiếp đối thoại với con rắn, dù nó được nhắc đến trong cuộc trò chuyện.

Sự im lặng trong trường hợp đầu phản ánh mức độ tự chủ tương đối mà con người có được như những tác nhân đạo đức tự do, nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm về hành động của mình. Tuy nhiên, sự im lặng của Đức Chúa Trời cũng là điềm báo nguy hiểm. Việc Ngài đối thoại với người phạm tội cho thấy người đó có thể bị xét đoán, nhưng sự phán xét ấy sẽ được giảm nhẹ bởi ân điển của Ngài (như cách Ngài đối thoại với A-đam và Ê-va). Ngược lại, khi Đức Chúa Trời không trực tiếp đối thoại với kẻ phạm tội (như trường hợp con rắn), thì sự phán xét ấy sẽ đến với tính chất dứt khoát.

Cảnh 2: Lời Phán Xét của Đức Chúa Trời (Sáng Thế Ký 3:14–19)

Trong cảnh trước, Đức Chúa Trời đã đối thoại với A-đam và Ê-va sau khi họ chạy trốn khỏi sự hiện diện của Ngài (dù vô ích). Cuộc chất vấn thiêng liêng bắt đầu từ A-đam rồi đến người nữ, và cuối cùng bà đổ lỗi cho con rắn. Khi câu trả lời của người nữ kết thúc bằng việc nhắc đến con rắn (Sáng thế ký 3:13), thì lời phán xét của Đức Chúa Trời bắt đầu với bản án dành cho con rắn (Sáng thế ký 3:14–15). Chuỗi phán xét này là sự đảo ngược số phận. Con rắn, vốn là loài khôn ngoan nhất trong các sinh vật, nay trở thành loài bị rủa sả nhất trong muôn loài (Sáng thế ký 3:14). Thay vì có mối quan hệ thân thiện với loài người, nó sẽ bị đặt trong sự thù nghịch không dứt; và dòng dõi của người nữ — kẻ mà nó đã dụ dỗ vào sự chết — sẽ giáng cho nó một cú đánh chí mạng vào đầu (Sáng thế ký 3:15).

Sự đảo ngược số phận cũng được thấy trong lời phán xét dành cho người nữ. Bà đã tìm cách ngang hàng với Đức Chúa Trời, nhưng giờ đây sẽ bị hạ xuống thấp hơn vị trí ban đầu khi được dựng nên. Khi được tạo dựng, Đấng Tạo Hóa đã ban phước và truyền lệnh cho họ sinh sản và làm đầy đất mà không hề nói đến đau đớn như một phần tất yếu của việc sinh nở. Nay, trong tình trạng sa ngã, bà sẽ phải chịu đau đớn lớn khi sinh con. Tương tự, vì bị thúc đẩy bởi ham muốn danh vọng (mong muốn giống như Đức Chúa Trời), thể hiện qua việc chiếm lấy vai trò lãnh đạo từ chồng mình, bà đã bị đặt dưới quyền của chồng, mặc dù bà vẫn tiếp tục tranh đấu cho vai trò lãnh đạo (Sáng thế ký 3:16).

Tại điểm này, cần làm rõ câu tuyên phán vừa nêu, vốn là phần diễn giải một đoạn trong Sáng thế ký 3:16 mà các học giả chưa đạt được sự đồng thuận. Tôi dịch phần thứ hai của lời phán xét dành cho người nữ như sau: “ham muốn của ngươi sẽ nghịch cùng chồng ngươi, nhưng người sẽ cai trị ngươi.” Danh từ teshuqah chỉ xuất hiện ba lần trong Kinh Thánh tiếng Hê-bơ-rơ: hai lần trong Sáng thế ký (3:16; 4:7), và một lần trong sách thơ ca (Nhã ca 7:11). Từ này mang nghĩa chính là ham muốn, khao khát, hoặc sự thèm muốn một điều gì đó.

Quan điểm về loại teshuqah mà người nữ sẽ có đối với chồng mình rất khác biệt. Susan Foh so sánh Sáng thế ký 3:16 với Sáng thế ký 4:7, nơi ý tưởng được hiểu là ham muốn thống trị. Dựa trên phân tích ngôn ngữ so sánh (với từ tương đồng trong tiếng Ả Rập), Foh kết luận rằng điều này chỉ đến ham muốn của người nữ muốn chiếm quyền trên chồng mình. John Walton và Victor Matthews không đồng tình với Foh, cho rằng việc dùng tiếng Ả Rập để giải thích từ này là quá xa rời ngữ cảnh. Dựa trên Nhã ca 7:11, họ cho rằng danh từ này mang nghĩa là bản năng, nhưng không làm rõ bản năng gì, và kết luận rằng teshuqah ám chỉ ham muốn bản năng của người nữ đối với con cái và thiên chức làm mẹ, từ đó khiến bà bị đặt dưới quyền của chồng. Nhưng điều đó hoàn toàn không đúng với thực tế.

Có một số điểm mà Walton và Matthews đã bỏ qua trong lập luận của họ.

  • Thứ nhất, họ không xét đến thể loại văn chương, điều rất quan trọng khi xử lý ngôn ngữ. Họ không đưa ra lý do chính đáng nào cho việc bỏ qua Sáng thế ký 4 mà lại lấy ý nghĩa từ Nhã ca.
  • Thứ hai, họ bỏ qua bối cảnh: Sáng thế ký 3 không bàn về bản chất bẩm sinh của mối quan hệ gia đình, mà nói đến sự xâm nhập của tội lỗi và ảnh hưởng của nó trong việc phá vỡ các mối liên hệ, điều này tiếp tục lan sang Sáng thế ký 4. Cả chủ đề của câu chuyện lẫn phạm vi nội dung đều có liên quan ở đây.
  • Thứ ba, có một lập luận hợp lý rằng liên từ đứng trước đối tượng của ham muốn mang nghĩa tương phản, chứ không phải liên kết.
  • Cuối cùng, nếu nghĩa tương phản là đúng, thì sẽ rất bất ngờ nếu Đức Chúa Trời lại đặt quyền lãnh đạo lên trên một cảm xúc yêu thương. Việc sử dụng từ teshuqah trong Sáng thế ký 3 và 4, xét theo ngữ cảnh, đều mang cùng một ý nghĩa: ham muốn thống trị.

Khi người nữ chiếm lấy quyền lãnh đạo trong sự phản nghịch, hậu quả của tội lỗi sẽ làm gia tăng cuộc tranh giành quyền kiểm soát. Lời phán xét của Đức Chúa Trời đã duy trì vai trò lãnh đạo của người nam. Lời mở đầu của Đức Chúa Trời trước khi tuyên án A-đam (“Vì ngươi đã nghe lời vợ mình và ăn trái cây đó” [Sáng thế ký 3:17a]) càng củng cố cho lập trường này.

Vai trò lãnh đạo của người nam đã được hàm ý trong trật tự sáng tạo. Đối với các loài sinh vật khác, quyền đại diện của loài người được thể hiện rõ ràng qua việc A-đam đặt tên cho muôn thú. Đức Chúa Trời đem các loài vật đến với A-đam, và bất cứ tên nào ông đặt cho chúng thì đó là tên của chúng (Sáng thế ký 2:19–20). Riêng đối với người nữ, dù vai trò ưu tiên của người nam không được nói rõ, nhưng có nhiều yếu tố cho thấy điều đó là hiển nhiên. Thứ nhất, trong thế giới Kinh Thánh, quyền trưởng nam biểu thị sự ưu tiên, và vì thế bất kỳ sự lệch khỏi nguyên tắc ấy đều bị xem là sai lạc (xem Sáng thế ký 48:13–18). Thứ hai, ngôn ngữ được sử dụng trong Sáng thế ký 2 và 3 cũng cho thấy vai trò lãnh đạo của A-đam. Những từ ngữ được dùng trong Sáng thế ký 2:19–20 về việc Đức Chúa Trời đem các loài vật đến với A-đam và ông đặt tên cho chúng, cũng được dùng khi Đức Chúa Trời đem Ê-va đến với A-đam và ông đặt tên cho bà (Sáng thế ký 2:22–23). Tội lỗi đã làm phức tạp vai trò lãnh đạo của người nam, nhưng Đức Chúa Trời đã tái khẳng định mục đích sáng tạo của Ngài. Chính vì thế, sau khi sa ngã, hành động đầu tiên của A-đam là đặt lại tên cho vợ mình (vẫn dùng cùng một động từ weyyiqra' [יִּקְרָא]) như một cách để xác lập lại thẩm quyền của ông (Sáng thế ký 3:20).

Sau khi Đức Chúa Trời quở trách A-đam vì đã thất bại trong vai trò lãnh đạo liên quan đến trái cấm, phần chính yếu trong lời phán xét của Ngài là đất (nơi ông được dựng nên) sẽ “nổi loạn” chống lại ông, khiến việc kiếm thức ăn trở nên gian nan. Gốc từ “ăn” ('akhal, אָכַל) đóng vai trò như một từ chủ đạo, xuất hiện năm lần trong ba câu với hình thức động từ chủ động (Sáng thế ký 3:17–19). Dù lao động đã được hàm ý trong mạng lệnh sáng tạo (xem Sáng thế ký 1:28), nhưng không phải là lao động nhọc nhằn. Đức Chúa Trời đã chuẩn bị đầy đủ cho sự sống của con người (Sáng thế ký 1:29), thậm chí Ngài đã trồng vườn cho họ; con người chỉ cần chăm sóc và hưởng lấy từ nơi họ không gieo trồng (Sáng thế ký 2:8, 15–16). Khi họ ăn cách phản nghịch điều bị cấm, họ đã biến việc ăn uống thành nan đề: chỉ với lao động đau đớn họ mới có thể tìm được thức ăn về sau (Sáng thế ký 3:18–19). Chính điểm phạm tội của họ (ăn hoặc thức ăn) đã trở thành công cụ của sự hình phạt.

A-đam là đại diện liên đới của toàn thể nhân loại, vì thế cả nhân loại đã sa ngã cùng ông và bị định tội cùng ông. Nguyên tắc suy thoái được tuyên phán trên công trình sáng tạo vì A-đam đã ảnh hưởng đến toàn thể tạo vật (Sáng thế ký 3:17e–18a). Lời tuyên phán cuối cùng trong hình phạt dành cho A-đam đã đóng ấn số phận con người một cách dứt khoát, khẳng định sự chắc chắn của cái chết: đất sẽ không ngừng cứng lại chống lại con người cho đến khi họ ngã chết vào đó (Sáng thế ký 3:19). Dù con rắn lúc ban đầu đã đặt nghi vấn về sự chắc chắn của cái chết, Đức Chúa Trời là Đấng có lời sau cùng; Ngài đã khẳng định sự chắc chắn của cái chết thể xác, ngay cả khi sự chết thuộc linh (sự phân cách) đã là một thực tế không thể đảo ngược.

Kết Cuộc (Sáng Thế Ký 3:20–24)
#

Có một sự chuyển đổi từ hình thức trình bày theo cảnh trong phần đầu chương sang lối kể chuyện trong năm câu cuối. Những câu cuối này khép lại câu chuyện buồn về sự sa ngã. Sự đổ vỡ của sự hòa hợp từng định hình thế giới của A-đam tiếp tục trượt dài xuống vực sâu. Khi khoảng cách được thiết lập trong mối liên hệ giữa con người và Đức Chúa Trời, điều đó tất yếu ảnh hưởng đến các mối quan hệ trong nhân loại. A-đam, người từng vui mừng hân hoan trong sự tương giao với vợ mình (Sáng thế ký 2:22), giờ đây, với khoảng cách giữa họ, chỉ còn có thể gọi bà là mẹ của các con mình (Sáng thế ký 3:20).

Dù con dân Ngài thất bại, Đức Chúa Trời không từ bỏ họ, nhưng bày tỏ ân điển dư dật. Cho tương lai của nhân loại, ân điển được ban qua lời hứa về sự chiến thắng của dòng dõi người nữ trên con rắn (Sáng thế ký 3:15). Lời hứa này là một chiến thắng bởi ý nghĩa biểu tượng của các phần thân thể nơi các cú đánh sẽ giáng xuống: con rắn sẽ cắn gót chân dòng dõi người nữ, nhưng sẽ bị đánh vào đầu. Trong hiện tại, Đức Chúa Trời đã hạ mình để mặc cho họ áo bằng da thú — bền vững hơn chiếc khố bằng lá mà A-đam và Ê-va đã tự làm lấy (Sáng thế ký 3:21) — và điều này khởi đầu một nghi lễ nhắc họ mỗi ngày về sự phân cách đã xảy ra.

Lòng thương xót của Đức Chúa Trời không xóa bỏ sự đoán phạt của Ngài (Xuất Ê-díp-tô Ký 34:6–7). Vì thế, nhân loại phải đối diện với số phận của mình. Để thực hiện điều này, đã có một sự bàn luận thiêng liêng (Sáng thế ký 3:22) liên quan đến lựa chọn tương lai dành cho loài người. Khi chọn ăn trái cây bị cấm, nhân loại đã đánh mất quyền tiếp cận không bị ngăn trở đến cây sự sống — mà sự phục hồi sẽ chỉ dành cho những người được chọn trong thời kỳ lai thế học (xem Khải huyền 2:7; 22:14).

Hậu quả là, không chỉ bị đuổi ra khỏi Ê-đen, con người còn bị ngăn cách bởi các thiên sứ cầm gươm được đặt làm lính canh, nhằm đảm bảo rằng nhân loại sa ngã không thể tiếp cận cây sự sống (Sáng thế ký 3:23–24), qua đó xác lập sự tất yếu của cái chết dành cho con người.

SÁNG THẾ KÝ 3 NHƯ MỘT KHUÔN MẪU ĐỂ ĐỌC CÁC ĐOẠN KINH THÁNH KHÁC VỀ DỤC VỌNG
#

Chúng ta bắt đầu với nguyên tắc giải nghĩa Kinh Thánh của thời Cải chánh: Kinh Thánh là người giải nghĩa tốt nhất cho chính nó. Mục tiêu của cách đọc theo lối tường thuật đối với Sáng thế ký 3 là khám phá kết cấu của nó như một văn bản về dục vọng nguyên thủy, nhằm hướng dẫn cách chúng ta đọc các văn bản khác về dục vọng trong các tường thuật trong Kinh Thánh Hê-bơ-rơ.

Ba điều nổi bật từ cách đọc đoạn tường thuật này. Thứ nhất, khi chú ý đến những câu hỏi thúc đẩy câu chuyện, chúng ta tìm thấy sự chỉ dẫn để đưa ra những lựa chọn đạo đức và sống một đời sống đạo đức. Toàn bộ câu chuyện được dẫn dắt bởi những câu hỏi — những câu hỏi mà chúng ta nên dừng lại mỗi ngày để suy ngẫm trong đời sống cá nhân. Câu hỏi đầu tiên được con rắn đưa ra: “Đức Chúa Trời đã phán gì?” Việc hiểu đúng sự truyền đạt của Đức Chúa Trời là yếu tố quyết định cho đời sống công chính; vì vậy, con rắn tìm cách làm sai lệch và bóp méo sự hiểu biết của con người về lời của Đức Chúa Trời.

Câu hỏi thứ hai, do chính Đức Chúa Trời hỏi, là: “Ngươi ở đâu?” Điều quan trọng là phải luôn xác định vị trí của chúng ta so với Đức Chúa Trời: chúng ta đang đứng với Đức Chúa Trời hay với một thần tượng nào khác? Chúng ta có đang giữ vững địa vị được giao phó, hay đã rời bỏ để đến nơi mình chọn?

Câu hỏi thứ ba, chúng ta nên tự hỏi: “Chúng ta đang lắng nghe tiếng nói của ai?” Đây là sự phản ánh câu hỏi Đức Chúa Trời đã hỏi A-đam: “Ai đã nói cho ngươi biết rằng ngươi trần truồng?” Ngày nay có rất nhiều tiếng nói vang lên, và rất lớn nữa, khiến tiếng của Đức Chúa Trời bị lấn át. Thật dễ bị cuốn theo tiếng nói từ bạn bè, vợ chồng, truyền thông (đặc biệt là điện tử), văn hóa đại chúng, và nhà nước, cùng nhiều nguồn khác. Tất cả đều phải được cân nhắc đối chiếu với một tiếng nói duy nhất — tiếng của Đấng Chăn Chiên.

Câu hỏi thứ tư, chúng ta luôn nên tự hỏi: “Ngươi đã làm gì?” Trả lời câu hỏi này sẽ giúp chúng ta khám phá ra những tiếng nói nào mình đã lắng nghe, chúng ta đang ở đâu trên hành trình cuộc sống, và liệu chúng ta có còn trung tín với điều Đức Chúa Trời đã phán hay không.

Thứ hai, một tập hợp các chủ đề cung cấp khuôn mẫu để đọc các tường thuật Kinh Thánh khác về ham muốn. Những chủ đề này bắt nguồn từ dục vọng — dù là dục vọng duy trì, hưởng lạc, hay danh vọng. Trong ba loại dục vọng này, chỉ có dục vọng duy trì liên quan đến sự sống còn của loài người như một chủng loại. Việc áp dụng sai khiến nó trượt vào phạm vi của dục vọng hưởng lạc hoặc danh vọng. Vì vậy, ưu tiên thường được dành cho hai loại sau, đặc biệt là các đam mê tình dục và các trò chơi quyền lực. Chủ đề về sự tha hóa cũng nổi bật, bắt đầu từ Sáng thế ký 3, khi cặp đôi đầu tiên bắt đầu tách mình khỏi Đức Chúa Trời trong ý chí, và cuối cùng là trong không gian (ít nhất là trong nhận thức của họ). Chúng ta không thể làm tổn thương người khác nếu chúng ta cảm thấy hiệp một với họ. Chỉ khi chúng ta nhìn người khác như “kẻ khác,” kể cả thành viên trong gia đình, thì họ mới trở thành đối tượng để tấn công. Chủ đề thứ tư là hiểm họa. Sự kết hợp của ba chủ đề đầu tiên tất yếu dẫn đến thảm họa — ở cấp độ cá nhân, cộng đồng, hoặc cả hai — như chúng ta thấy trong câu chuyện về A-đam và Ê-va. Các chủ đề về khoái lạc và quyền lực là động lực thúc đẩy hành động trong tường thuật; sự tha hóa cung cấp lý do, còn hiểm họa là hậu quả tất yếu.

Vấn đề thứ ba nảy sinh từ cuộc thảo luận của chúng ta, có thể soi sáng cách đọc hiểu về chủ đề đạo đức đối với các tường thuật khác, chính là sự đáp ứng của Đức Chúa Trời. Sự đáp ứng của Đức Chúa Trời là điều quan trọng, vì nó giúp chỉ dẫn chúng ta đến những mẫu mực sống đúng đắn và được Ngài chấp nhận trong thế gian này (đạo đức Kinh Thánh). Việc chú tâm cẩn thận đến các vấn đề đạo đức trong những tường thuật này, và cách Đức Chúa Trời đã đáp ứng với chúng, có thể giúp định hướng cho đời sống đạo đức và các quyết định của chúng ta. Những cách Đức Chúa Trời đáp ứng trong các tình huống hoặc với các nhân vật khác nhau bao gồm sự can thiệp và không can thiệp; mỗi cách đều mang những hệ quả khác nhau cho người nhận. Ví dụ, sự can thiệp của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi của A-đam và Ê-va cho thấy họ sẽ nhận sự phán xét được giảm nhẹ, trong khi sự không can thiệp lại cho thấy hậu quả không được giảm nhẹ, như trường hợp của con rắn trong tường thuật này.

Từ những điều đã trình bày, năm chủ đề phát sinh từ hành động của con người dẫn đến hậu quả tai hại đã được xác định, và có thể cung cấp lăng kính Kinh Thánh để đọc các tường thuật khác về đam mê. Những chủ đề đó là: đam mê (tình dục), trò chơi quyền lực, sự tha hóa, hiểm họa, và sự đáp ứng của Đức Chúa Trời.