Skip to main content

NGÀI KHÔNG XUỐNG ÂM PHỦ

·6614 words·32 mins·
Author
Aki

LỜI KÊU GỌI: TUÂN THỦ KINH THÁNH HƠN LÀ BÀI TÍN ĐIỀU CÁC SỨ ĐỒ!

Theo tôi nghĩ, một lời tuyên xưng đức tin chỉ nên được đọc đi đọc lại khi nó phản ánh những điều mà người đọc tin là thật. Tuy nhiên, cá nhân tôi không tin rằng Chúa Giê-xu “xuống âm phủ” sau khi Ngài được “chôn”. Vì vậy, mỗi khi tôi tới một nhà thờ mà mọi người đọc bài Tín Điều Các Sứ Đồ, phiên bản của tôi về đoạn đó sẽ nghe như thế này:

“… chịu thương khó dưới tay Bôn-xơ Phi-lát, bị đóng đinh trên thập tự giá, chịu chết, và chôn… đến ngày thứ ba, Ngài từ kẻ chết sống lại…”

Trong bài viết này, mục đích của tôi là trình bày lý do tại sao tôi cho rằng tốt nhất chúng ta nên xem cụm từ gây tranh cãi “Ngài xuống âm phủ” là một chi tiết được thêm vào sau này trong bài Tín Điều Các Sứ Đồ, vốn không hề có trong phiên bản đầu tiên. Nếu xét theo phương diện lịch sử và Thánh Kinh, chi tiết này nên bị loại bỏ.

I. NGUỒN GỐC CỦA CỤM TỪ “NGÀI XUỐNG ÂM PHỦ”
#

Ẩn đằng sau cụm từ này là một bối cảnh lịch sử không rõ ràng. Nguồn gốc của nó không có gì tốt đẹp nếu ta truy ngược lại lịch sử. Philip Schaff đã tổng hợp quá trình phát triển của bài Tín Điều Các Sứ Đồ qua một biểu đồ chi tiết, một phần của biểu đồ sẽ được trình bày như bên dưới.

Biểu đồ này cho thấy bài Tín Điều Các Sứ Đồ không được biên soạn hay chấp thuận bởi một cộng đồng Giáo hội tại một thời điểm cụ thể, không giống như Tín Điều Nicae (Nicene Creed) và Tín Điều Chalcedon (Chalcedonian Definition). Đúng hơn, bài tín điều này dần dần hình thành từ khoảng năm 200 đến năm 750, sau Chúa.

Điều đáng ngạc nhiên là cụm từ “Ngài xuống âm phủ” đã không hề tồn tại trong bất kỳ phiên bản ban đầu nào của bài Tín Điều Các Sứ Đồ (tức là các phiên bản được sử dụng tại Rome, phần còn lại của nước Ý, và tại Châu Phi), cho tới khi cụm từ này xuất hiện ở một trong hai phiên bản của Rufinus vào năm 390. Sau đó, cụm từ này tiếp tục không xuất hiện trong tất cả các phiên bản của bài Tín Điều cho đến tận năm 650. Hơn nữa, Rufinus – người duy nhất đưa cụm từ này vào bài Tín Điều trước năm 650 – không cho rằng cụm từ này mang nghĩa Đấng Christ đã xuống âm phủ nhưng diễn giải cụm từ này đơn thuần có nghĩa là Đấng Christ được “chôn.” Nói cách khác, Rufinus dùng cụm từ này với nghĩa Đấng Christ “xuống mộ phần” (trong tiếng Hy lạp, từ được sử dụng là hades , có nghĩa là “mộ phần”, chứ không phải geena , có nghĩa là “âm phủ, nơi trừng phạt”).

Chúng ta cũng nên lưu ý rằng cụm từ “Ngài xuống âm phủ” chỉ xuất hiện ở một trong hai bản Tín Điều mà chúng ta có được từ Rufinus. Cụm từ này không xuất hiện trong bản Tín Điều theo tiếng Latin mà ông lưu giữ.

SỰ HÌNH THÀNH THEO THỜI GIAN CỦA BÀI TÍN ĐIỀU CÁC SỨ ĐỒ

Phần 3

Hình thức cuối cùng của bài Tín Điều Các Sứ Đồ
ở Tây phương
CREDO (Tôi tin):
Phần 3
Ngài được thai dựngBởi Thánh LinhSanhBởi nữ đồng trinh Mary
Pirminius, năm 750Qui Conceptus estDe Spiritu SanctoNatusEx Maria Virgine
Thánh Irenaeus
Năm 200
τὸν σαρκωθέντα ὑπὲρ τῆς ἡμτέρας σωτηρίας (ἄνθρωπος ἐγένετο)(Generationem)τὴν ἐκ παρθένου γέννησιν (ex Virgine)
Tertullian
Năm 220
(missum a Patre in Virinem)(ex spiritu Patris Dei et virtute)NATUM (carnem factum et ex ea natum)EX VIRGINE MARIA
Thánh Cyprian
Năm 250
Novatian
Năm 260
Marcellus
Năm 341
ἐκ πνεύματος ἁγίουγεννηθέντακαὶ Μαρίας τῆς παρθένου
Rufinus
Năm 390, Aquileja
QUIde Spiritu SANCTOnatus estex Maria Virgine
Rufinus
Năm 390, Rome
quide Spiritu Sanctonatus estex Maria Virgine
Thánh Augustine
Năm 400
quide Spiritu Sancto
hoặc [per Sp. Sanct.]
natus estex Maria Virgine
hoặc [et]
Thánh Nicetas
Năm 450
quiex Spiritu Sanctonatus estet Virgine Maria
Eusebius Gallus
Năm 550(?)
qui CONCEPTUS ESTde Spiritu Sanctonatus estex Maria Virgine
Sách lễ
Sacramentarium Gallicanum
Năm 650
qui conceptus estde Spiritu Sanctonatus estex Maria Virgine

Phần 4

CREDO (Tôi tin):
Phần 4
Chịu thương khóDưới tay Bôn-xơ
Phi-lát
Bị đóng đinh trên
thập tự giá
Chịu chếtVà chôn
Pirminius, năm 750PassusSub Pontio PilatoCrucifixusMortuusEt Sepultus
Thánh Irenaeus
Năm 200
καὶ τὸ πάθος(SUB PONTIO PILATO)
Tertullian
Năm 220
CRUCIFIXUM
(passum)
sub Pontio Pilato(MORTUUM)(ET SEPULTUM
secundum Scriptura)
Thánh Cyprian
Năm 250
Novatian
Năm 260
Marcellus
Năm 341
τὸν ἐπὶ Ποντίου Πιλάτουσταυρωθέντακαὶ ταφέντα
Rufinus
Năm 390, Aquileja
sub Pontio Pilatocrucifixuset sepultus
Rufinus
Năm 390, Rome
sub Pontio Pilatocrucifixuset sepultus
Thánh Augustine
Năm 400
sub Pontio Pilatocrucifixuset sepultus
Thánh Nicetas
Năm 450
sub Pontio Pilato
Eusebius Gallus
Năm 550(?)
mortuuset sepultus
Sách lễ
Sacramentarium Gallicanum
Năm 650
sub Pontio Pilatocrucifixusmortuuset sepultus

Phần 5

CREDO (Tôi tin):
Phần 5
Ngài xuống âm phủĐến ngày thứ baNgài sống lạiTừ kẻ chết
Pirminius, năm 750Descendit ad InfernaTertia dieResurrexitA mortuis
Thánh Irenaeus
Năm 200
καὶ τὴν ἔγερσιν
(et resurgens)
ἐκ νεκρὼν
Tertullian
Năm 220
TERTIA DIEresuscitatum
(a Patre)
(resurrexisse)
E MORTUIS
Thánh Cyprian
Năm 250
Novatian
Năm 260
Marcellus
Năm 341
καὶ τῇ τρίτῃ ἡμέρᾳἀναστάνταἐκ τῶν νεκρῶν
Rufinus
Năm 390, Aquileja
DESCENDIT in INFERNAtertia dieRESURREXITa mortuis
Rufinus
Năm 390, Rome
tertia dieresurrexita mortuis
Thánh Augustine
Năm 400
tertio dieresurrexita mortuis
Thánh Nicetas
Năm 450
tertio dieresurrexitvivus a mortuis
Eusebius Gallus
Năm 550(?)
tertia dieresurrexita mortuis
Sách lễ
Sacramentarium Gallicanum
Năm 650
Descendit AD Infernatertia dieresurrexita mortuis

Điều này có nghĩa rằng cho tới năm 650, không một phiên bản nào của bài Tín Điều Các Sứ Đồ bao gồm cụm từ này được hiểu theo nghĩa rằng Đấng Christ đã “xuống âm phủ.” Phiên bản duy nhất có cụm từ này trước năm 650 lại mang một ý nghĩa khác. Giờ đây, chúng ta sẽ thắc mắc liệu cụm từ này có thể được xem là “tông đồ” trong bất kỳ nghĩa nào hay không, hoặc liệu cụm từ này thực sự có một vị trí xứng đáng trong một bài tín điều mà theo tên gọi của nó tự nhận là có nguồn gốc từ các sứ đồ đầu tiên của Đấng Christ.

Bằng chứng về sự phát triển trong lịch sử của cụm từ “Ngài xuống âm phủ” cũng dấy lên khả năng rằng khi cụm từ này bắt đầu được sử dụng phổ biến, có thể cụm từ đã xuất hiện trong những phiên bản khác (hiện đã thất truyền) vốn không có cụm từ “và chôn”. Khi đó, cụm từ “Ngài xuống âm phủ” có lẽ chỉ mang ý nghĩa đối với mọi người giống như ý nghĩa của cụm từ đối với Rufinus: “xuống mộ phần”. Sau này, khi cụm từ này được đưa vào những phiên bản khác nhau của Tín Điều Các Sứ Đồ, là những phiên bản đã có cụm từ “và chôn,” thì một số lời giải thích khác về ý nghĩa đã được gắn thêm cho cụm từ “Ngài xuống âm phủ.”

Chính sai lầm của việc thêm cụm từ “xuống âm phủ” vào sau cụm từ “và chôn” – dường như được thực hiện bởi một người nào đó vào khoảng năm 650 – đã dẫn đến đủ loại nỗ lực giải thích cụm từ “xuống âm phủ” theo một nghĩa nào đó để không bị mâu thuẫn với phần còn lại của Kinh Thánh.

Một số người đã giải thích cụm từ này theo nghĩa Đấng Christ đã chịu đựng những đau đớn của âm phủ khi Ngài ở trên thập giá. Chẳng hạn, Calvin nói rằng “việc Đấng Christ xuống âm phủ” ám chỉ sự kiện Ngài chẳng những đã trải qua cái chết thể xác mà “đồng thời, việc Ngài phải hứng chịu sự khốc liệt của sự báo thù từ Đức Chúa Trời là điều cần thiết, hầu làm nguôi cơn thịnh nộ và đáp ứng sự phán xét công chính của Ngài.”

Tương tự, quyển Giáo lý Căn bản Heidelberg (Heidelberg Catechism), Câu hỏi 44, ghi rằng:

Hỏi: Vì sao lại thêm cụm từ “Ngài xuống âm phủ”?

Đáp: Để trong những cơn thử thách tột cùng, tôi được yên lòng rằng Đấng Christ, Chúa của tôi, bởi những nỗi thống khổ, đau đớn, và kinh hoàng khôn xiết mà Ngài đã chịu đựng trong linh hồn trên thập tự giá và trước đó, đã cứu chuộc tôi khỏi nỗi thống khổ và khổ hình của âm phủ.

Nhưng liệu đây có phải là lời giải thích thỏa đáng cho cụm từ “Ngài xuống âm phủ” hay không? Dù quả thật Đấng Christ đã gánh chịu cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời trên thập tự giá, nhưng cách giải thích này thực tế không phù hợp với cụm từ “Ngài xuống âm phủ” trong bài Tín Điều Các Sứ Đồ. Động từ “xuống” hầu như không thể hiện được ý nghĩa này, và việc đặt cụm từ này phía sau “bị đóng đinh trên thập tự giá, chịu chết, và chôn” càng làm cho cách giải thích này trở nên khiên cưỡng và thiếu sức thuyết phục.

Một số người khác lại giải thích cụm từ này theo nghĩa Đấng Christ tiếp tục ở trong “tình trạng của sự chết” cho đến khi Ngài phục sinh. Trong quyển Giáo Lý Căn Bản Đầy Đủ Westminster (Westminster Larger Catechism), Câu hỏi 50, ghi rằng:

Sự hạ mình của Đấng Christ sau khi Ngài chết bao hàm việc Ngài được chôn cất, duy trì tình trạng của sự chết, và khuất phục quyền lực của sự chết cho đến ngày thứ ba; điều này đã được diễn tả bằng một hình thức khác thông qua cụm từ ‘Ngài xuống âm phủ.’

Tất nhiên, sự thật là Đấng Christ tiếp tục ở trong tình trạng của sự chết cho đến ngày thứ ba, nhưng một lần nữa cách giải thích này vẫn gượng gạo và thiếu sức thuyết phục khi cố gắng giải thích cụm từ “Ngài xuống âm phủ” trong bài Tín Điều. Việc sắp xếp cụm từ này trong bài Tín Điều sẽ tạo ra một ý nghĩa khó hiểu: “Ngài bị đóng đinh trên thập tự giá, chịu chết, và chôn; Ngài hạ mình xuống trạng thái của sự chết”. Cách giải nghĩa như thế này không phải là sự lý giải cho ý nghĩa ban đầu của những từ ngữ trong chuỗi sự kiện này, nhưng đúng hơn là một nỗ lực không chính xác nhằm cứu vãn một ý nghĩa nào đó có thể chấp nhận được về mặt thần học của những từ ngữ ấy.

Hơn nữa, từ “âm phủ” (“hell”) trong tiếng Anh vốn dĩ không hề có nghĩa đơn giản là “tình trạng của sự chết” (mặc dù từ hades thì có), do đó lối giải thích này trở thành một sự gượng ép khác đối với những người nói tiếng Anh.

Cuối cùng, có người biện luận rằng cụm từ này mang đúng nghĩa đen hiển nhiên của nó: Đấng Christ thực sự đã xuống âm phủ sau khi Ngài chịu chết trên thập tự giá. Không khó để hiểu bài Tín Điều Các Sứ Đồ theo nghĩa này (thực tế, đây là cách hiểu tự nhiên nhất). Tuy nhiên, một vấn đề khác nảy sinh: Liệu quan điểm này có được Kinh Thánh hậu thuẫn hay không?

II. KHẢ NĂNG KINH THÁNH ỦNG HỘ GIÁO LÝ “NGÀI XUỐNG ÂM PHỦ”
#

Sự ủng hộ quan điểm Đấng Christ đã xuống âm phủ chủ yếu được dẫn chứng từ năm phân đoạn Kinh Thánh: Công vụ 2:27, Rô-ma 10:6-7; Ê-phê-sô 4:8-9; 1 Phi-e-rơ 3:18-20; và 1 Phi-e-rơ 4:6 (Một số phân đoạn khác cũng được dẫn chứng, nhưng kém thuyết phục). Sau khi xem xét kỹ lưỡng, liệu có phân đoạn nào chứng minh rõ ràng cho giáo lý này hay không?

1. Công vụ 2:27
#

Đây là một phần trong bài giảng của Phi-e-rơ vào ngày lễ Ngũ Tuần, trong đó ông trích dẫn Thi Thiên 16:10. Bản KJV ghi rằng: “Vì Chúa sẽ không bỏ linh hồn tôi trong âm phủ, cũng không để cho Đấng Thánh của Ngài thấy sự hư nát”.

Điều này có nghĩa là Đấng Christ đã ở âm phủ sau khi Ngài chết hay không? Không hẳn, bởi vì một cách hiểu khác chắc chắn là khả thi đối với những câu Kinh Thánh này. Từ “âm phủ” ở đây đại diện cho một thuật ngữ tiếng Hy Lạp trong Tân Ước (hades) và một thuật ngữ tiếng Hê-bơ-rơ trong Cựu Ước (sheol), cả hai từ đều có nghĩa đơn giản là “mộ phần” hay “cái chết” (trạng thái của sự chết). Do đó, bản NIV dịch Công vụ 2:27 thành: “Bởi vì Ngài sẽ không bỏ tôi nơi mộ phần, cũng không để Đấng Thánh của Ngài thấy sự hư nát”. Cách hiểu này thích hợp hơn vì văn mạch tập trung vào thực thế là thân thể Đấng Christ phục sinh từ mộ phần trong khi thân thể vua Đa-vít vẫn nằm lại trong mộ. Lý do là: “Thân thể tôi cũng sẽ an nghỉ trong hy vọng (câu 26), vì Ngài sẽ không bỏ tôi nơi mộ phần” (câu 27). Phi-e-rơ đang sử dụng Thi Thiên của Đa-vít để cho thấy rằng thân thể của Đấng Christ không bị hư nát. Vậy nên, Ngài khác với Đa-vít, là người “đã chết và chôn rồi, ngày nay mồ mả người còn ở giữa chúng ta” (câu 29).

Vì vậy, phân đoạn này nói về việc sống lại của Đấng Christ từ nơi mộ phần mà không đưa ra sự ủng hộ thuyết phục cho quan điểm Đấng Christ đã xuống âm phủ.

2. Rô-ma 10:6-7
#

Những câu Kinh Thánh này bao gồm hai câu hỏi tu từ, một lần nữa trích dẫn từ Cựu Ước (Phục Truyền 30:13): “Chớ nói trong lòng ngươi rằng: Ai sẽ lên trên trời? Ấy là để đem Đấng Christ xuống; hay là: Ai sẽ xuống vực sâu? Ấy là để đem Đấng Christ từ trong kẻ chết lại lên”. Tuy nhiên, phân đoạn này hầu như không hề dạy rằng Đấng Christ đã xuống âm phủ. Điểm chính của phân đoạn này là Phao-lô đang muốn nói với mọi người rằng đừng hỏi những câu hỏi này, bởi vì Đấng Christ không hề ở xa, Ngài đang ở gần, và đức tin nơi Ngài gần như chính việc chúng ta xưng nhận bằng miệng và tin ở trong lòng (câu 9). Những câu hỏi bị cấm này là những câu hỏi của sự thiếu đức tin, không phải là những lời khẳng định mà Kinh Thánh dạy dỗ.

Tuy nhiên, một số người có thể phản đối cho rằng Phao-lô không thể nào biết trước được những câu hỏi này là những điều mà độc giả của ông có thể nghĩ đến, trừ khi việc Đấng Christ đã xuống “nơi vực sâu” là một điều được biết đến cách rộng rãi. Điều này có thể đúng, nhưng ngay cả trong trường hợp đó, Kinh Thánh cũng không nói rằng hay ngụ ý rằng Đấng Christ đã xuống “âm phủ” theo nghĩa đây là một nơi của sự hình phạt cho người chết (được diễn đạt bằng từ geenna). Thay vào đó, Kinh Thánh ngụ ý rằng Ngài đã xuống “nơi vực sâu” (abyssos), một thuật ngữ thường được sử dụng trong bản Bảy Mươi LXX để chỉ vực sâu nơi đáy biển (Sáng Thế Ký 1:2, 7:11, 8:2; Phục truyền 8:7; Thi Thiên 107:26) nhưng cũng có thể đơn thuần chỉ về cõi của người chết (Thi Thiên 71:20).

Ở đây, Phao-lô sử dụng từ “vực sâu” (abyssos) tương phản với “trời/thiên đàng” nhắm mục đích diễn đạt về một nơi hoàn toàn ngoài tầm với, không thể tiếp cận đối với con người. Như vậy, sự tương phản không phải là: “Ai sẽ đi tìm Đấng Christ ở một nơi phước hạnh vô biên (thiên đàng) hay ở một nơi hình phạt khủng khiếp (âm phủ)?” mà thay vào đó là: “Ai sẽ đi tìm Đấng Christ ở một nơi cao không thể tới được (trời) hay ở một nơi sâu không thể tới được (vực sâu, hoặc cõi của người chết)?”. Không có một khẳng định hay phủ nhận rõ ràng nào về việc “xuống âm phủ” được tìm thấy trong phân đoạn Kinh Thánh này.

3. Ê-phê-sô 4:8-9
#

Ở đây, Phao-lô viết rằng: “Vả, những chữ “Ngài đã lên” có nghĩa gì, há chẳng phải là Ngài cũng đã xuống trong các miền thấp ở dưới đất sao?” (Bản Truyền thống 1925).

Điều này có nghĩa rằng Đấng Christ “đã xuống” âm phủ? Ban đầu, cụm từ “các miền thấp ở dưới đất” có vẻ không rõ ràng về mặt ý nghĩa, nhưng một bản dịch khác dường như diễn đạt tốt hơn: “Khi nói ‘Ngài đã lên’ có nghĩa gì nếu không phải là Ngài cũng đã xuống những vùng thấp hơn của trái đất” (dịch từ bản NIV). Bản NIV hiểu từ “đã xuống” là chỉ việc Đấng Christ đến trái đất trong hình hài một trẻ sơ sinh (sự nhập thể). Những từ cuối cùng là một cách hiểu chấp nhận được của nguyên văn tiếng Hy Lạp, khi cụm từ “những vùng thấp hơn của trái đất” có nghĩa là “những vùng thấp hơn chính là trái đất” (sở hữu cách bổ nghĩa). Một ví dụ trong tiếng Anh đó là “the city of Chicago” (thành phố Chicago), mà chúng ta hiểu là “the city that is Chicago” (thành phố, chính là Chicago).

Cách dịch của bản NIV một lần nữa thích hợp hơn trong văn mạch bởi vì Phao-lô đang nói rằng Đấng Christ đã lên trời (trong sự thăng thiên của Ngài) chính là Đấng mà trước đó đã hạ xuống từ trời (câu 10). Sự “hạ xuống” từ trời đã xảy ra khi Đấng Christ đến và được sinh ra làm người. Vì vậy, câu này nói về sự nhập thể, chứ không phải là việc xuống âm phủ.

4. I Phi-e-rơ 3:18-20
#

Đối với nhiều người, đây là phân đoạn gây khó hiểu nhất trong toàn bộ chủ đề này. Phi-e-rơ nói với chúng ta rằng Đấng Christ “về phần xác thịt thì Ngài chịu chết nhưng về phần linh hồn thì được sống; Ấy bởi vậy đồng một linh hồn đó, Ngài đi giảng cho các linh hồn bị tù, tức là kẻ bội nghịch thuở trước, về thời kỳ Nô-ê, khi Đức Chúa Trời nhịn nhục chờ đợi, chiếc tàu đóng nên, trong đó có ít người được cứu bởi nước, là chỉ có tám người” (Bản Truyền thống 1925).

Một số người hiểu “Ngài đi giảng cho các linh hồn bị tù” có nghĩa là Đấng Christ đã xuống âm phủ và rao giảng cho các linh hồn đang ở nơi đó, hoặc là truyền bá phúc âm và trao cho họ một cơ hội thứ hai để ăn năn, hoặc chỉ đơn thuần tuyên bố rằng Ngài đã khải hoàn trên họ và họ đã bị đoán phạt đời đời.

Tuy nhiên, những cách giải nghĩa này không thể giải thích đầy đủ chính phân đoạn Kinh Thánh này hoặc bối cảnh của phân đoạn trong văn mạch. Phi-e-rơ không nói rằng Đấng Christ đã rao giảng cho những linh hồn nói chung mà chỉ cho những người “tức là kẻ bội nghịch thuở trước… về thời kỳ chiếc tàu đóng nên.” Một nhóm thính giả hạn chế – là những người bội nghịch trong thời gian đóng tàu – quả là một nhóm người kỳ lạ để Đấng Christ xuống âm phủ và rao giảng cho họ. Nếu Đấng Christ tuyên bố khải hoàn của Ngài, tại sao chỉ cho nhóm tội nhân này mà không phải tất cả? Và nếu Ngài mang đến cơ hội thứ hai để được cứu rỗi, tại sao chỉ với nhóm tội nhân này mà không phải tất cả? Một điều khiến quan điểm này khó giải thích hơn nữa là việc ở những chỗ khác trong Kinh Thánh chỉ ra rằng không có cơ hội ăn năn sau khi chết (Lu-ca 16:26; Hê-bơ-rơ 10:27).

Thêm vào đó, văn mạch của thư 1 Phi-e-rơ 3 khiến cho cách giải thích “rao giảng ở âm phủ” trở nên thiếu thuyết phục. Phi-e-rơ đang khuyến khích độc giả của mình can đảm trong việc làm chứng cho những người ngoại đạo thù địch ở xung quanh họ. Ông vừa mới nói họ “hãy thường thường sẵn sàng để trả lời mọi kẻ hỏi lẽ về sự trông cậy trong anh em” (1 Phi-e-rơ 3:15). Văn mạch truyền giáo này sẽ mất đi tính khẩn thiết nếu Phi-e-rơ dạy về cơ hội thứ hai để được cứu rỗi sau khi chết. Và điều này hoàn toàn mâu thuẫn với việc “rao giảng” về sự phán xét.

Để đưa ra một lời giải thích thỏa đáng hơn cho những khó khăn này, một số học giả đã đề xuất “các linh hồn bị tù” được hiểu là các linh hồn quỷ dữ, các linh hồn của các thiên thần sa ngã, và cho rằng Đấng Christ đã công bố sự đoán phạt cho lũ ma quỷ này. Cách giải thích này (như tuyên bố) sẽ xoa dịu độc giả của Phi-e-rơ bằng cách cho họ thấy rằng các thế lực ma quỷ đang đàn áp họ cũng sẽ bị Đấng Christ đánh bại hoàn toàn.

Tuy nhiên, các độc giả của Phi-e-rơ sẽ phải thực hiện một quá trình suy luận cực kỳ phức tạp mới có thể đi đến được kết luận này trong khi Phi-e-rơ không hề trình bày điều đó. Họ sẽ phải suy luận từ: (1) một số ma quỷ phạm tội từ thời xa xưa đã bị đoán phạt, đến (2) các ma quỷ khác hiện đang kích động những người bức hại anh em, đến (3) những ma quỷ đó về sau cũng sẽ bị đoán phạt như vậy, đến (4) vì thế những kẻ bức hại anh em cuối cùng sẽ bị xét đoán, đến (5) vậy nên đừng lo sợ những kẻ bức hại anh em.

Những người ủng hộ quan điểm “rao giảng cho các thiên thần sa ngã” phải giả định rằng độc giả của Phi-e-rơ sẽ “tự hiểu” và suy ra tất cả những điều này từ một tuyên bố đơn giản rằng Đấng Christ “giảng cho các linh hồn bị tù, tức là những kẻ bội nghịch từ thuở trước”. Nhưng chẳng phải có vẻ khiên cưỡng khi cho rằng Phi-e-rơ biết rõ những độc giả của ông sẽ suy ra tất cả những điều đó từ phân đoạn Kinh Thánh này sao?

Hơn nữa, Phi-e-rơ nhấn mạnh đến những người thù địch trong văn mạch, chứ không phải ma quỷ (câu 14, 16). Độc giả của Phi-e-rơ sẽ lấy từ đâu ra ý niệm rằng các thiên thần đã phạm tội “trong thời gian đóng tàu”? Không có một chi tiết nào như vậy trong câu chuyện ở Sáng Thế Ký về việc đóng tàu. Và (mặc dù một số người đã quả quyết là có) nếu chúng ta tìm kiếm trong tất cả các truyền thống giải nghĩa câu chuyện về cơn nước lụt của người Do Thái, chúng ta không tìm thấy bất kỳ sự đề cập nào đến việc các thiên thần phạm tội trong cụ thể khoản “thời gian đóng tàu.” Vì vậy, quan điểm cho rằng Phi-e-rơ đang đề cập đến việc sự công bố về sự đoán xét cho các thiên thần sa ngã của Đấng Christ thực sự không có sức thuyết phục.

Một cách giải thích khác được đưa ra là sau khi chết, Đấng Christ đã đến và công bố sự giải thoát cho các tín hữu thời Cựu Ước, những người chưa thể bước vào thiên đàng cho đến khi công cuộc cứu chuộc của Đấng Christ hoàn tất.

Nhưng một lần nữa, chúng ta có thể nghi ngờ liệu quan điểm này có giải thích thỏa đáng những gì mà bản văn Kinh Thánh thực sự nói hay không. Bản văn không hề nói Đấng Christ rao giảng cho những người vốn là tín hữu hay trung tín với Đức Chúa Trời, mà là cho những người “là những kẻ bội nghịch thuở trước”. Trọng tâm nhấn mạnh vào sự bội nghịch của họ. Hơn nữa, Phi-e-rơ không đề cập cụ thể tín hữu Cựu Ước nói chung, mà chỉ là những người vốn bội nghịch “về thời kỳ Nô-ê, vào thời kỳ chiếc tàu đóng nên” (câu 20).

Cuối cùng, Kinh Thánh không cung cấp bằng chứng rõ ràng nào cho thấy các tín hữu thời Cựu Ước khi qua đời đã không được hưởng trọn vẹn phước hạnh trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời trên thiên đàng. Trái lại, một số phân đoạn gợi ý rằng những người tin Chúa qua đời trước sự chết của Đấng Christ đã lập tức bước vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời, bởi tội lỗi của họ đã được tha thứ nhờ đặt đức tin nơi đấng Mê-si – Đấng sẽ đến trong tương lai (Sáng Thế ký 5:24; 2 Sa-mu-ên 12:23; Thi Thiên 16:11, 17:15, 23:6; Truyền đạo 12:7; Ma-thi-ơ 22:31-32; Lu-ca 16:22; Rô-ma 4:1-8; Hê-bơ-rơ 11:5).

Lời giải thích thỏa đáng nhất cho phân đoạn Kinh Thánh 1 Phi-e-rơ 3:19-20 có vẻ là cách giải thích đã được đề xuất (dù không thực sự được bảo vệ) từ thời Augustine: Câu Kinh Thánh này không đề cập đến điều gì Đấng Christ đã làm giữa sự chết và sự phục sinh của Ngài, mà là điều Ngài đã thực hiện “trong cõi linh” (hay “qua Thánh Linh”) vào thời của Nô-ê. Khi Nô-ê đang đóng tàu, Đấng Christ “ở phần linh” đã rao giảng thông qua Nô-ê cho những người không tin thù địch xung quanh Nô-ê.

Quan điểm này nhận được sự ủng hộ từ hai điều khác mà Phi-e-rơ đã nói đến. Trong 1 Phi-e-rơ 1:11, ông nói rằng “Thánh Linh Đấng Christ” đã phán qua các tiên tri thời Cựu Ước. Điều này gợi ý cho thấy Phi-e-rơ dễ dàng nghĩ rằng “Thánh Linh Đấng Christ” cũng đã phán thông qua Nô-ê.

Sau đó, trong 2 Phi-e-rơ 2:5, ông gọi Nô-ê là một “thầy giảng đạo công bình”. Ông sử dụng danh từ keryx , vốn có cùng gốc từ với động từ “giảng đạo” (ekeryxen) trong 1 Phi-e-rơ 3:19. Vì vậy, có vẻ như khi Đấng Christ “giảng cho các linh hồn bị tù”, chính là điều mà Nô-ê đã thực hiện, khi Đấng Christ rao giảng thông qua ông.

Những người mà Đấng Christ đã rao giảng thông qua Nô-ê là những người không tin sống trên đất vào thời của Nô-ê, nhưng Phi-e-rơ gọi họ là “những linh hồn bị tù” vì bây giờ họ đang ở trong ngục tù của âm phủ mặc dù họ không chỉ là những “linh hồn” mà là những con người trên đất khi sự rao giảng diễn ra. (Bản NASB dịch rằng Đấng Christ đã rao giảng “cho những linh hồn đang ở trong tù”).

Chúng ta có thể diễn đạt tương tự trong tiếng Anh: “Tôi biết Tổng thống Bush khi ông ấy còn là sinh viên đại học” là một cách diễn đạt phù hợp, mặc dù lúc còn học đại học thì ông ấy chưa phải là tổng thống. Câu này có nghĩa là: “Tôi biết người đàn ông mà bây giờ là Tổng thống Bush khi ông ấy còn là sinh viên đại học”. Vì vậy, câu “Đấng Christ đã giảng cho những linh hồn bị tù” có nghĩa là “Đấng Christ đã giảng cho những người bây giờ là những linh hồn bị tù khi họ còn là những người sống trên đất.”

Cách giải thích này rất phù hợp với văn mạch rộng hơn trong 1 Phi-e-rơ 3:13-22. Sự tương đồng giữa hoàn cảnh của Nô-ê và hoàn cảnh của các độc giả thời Phi-e-rơ rất rõ ràng ở những điểm sau:

NÔ-ÊĐỘC GIẢ CỦA PHI-E-RƠ
Người công chính là thiểu sốNgười công chính là thiểu số
Bị bao vậy bởi những kẻ không tin thù nghịchBị bao vây bởi những kẻ không tin thù nghịch
Sự phán xét của Chúa đã gần kềSự phán xét của Chúa có thể đến sớm
(1 Phi-e-rơ 4:5,7; 2 Phi-e-rơ 3:10)
Nô-ê đã can đảm làm chứng
(bởi năng quyền của Đấng Christ)
Họ nên can đảm làm chứng
(1 Phi-e-rơ 3:14, 16-17;
bởi năng quyền của Đấng Christ: 1 Phi-e-rơ 3:15; 4:11)
Nô-ê đã được cứuHọ cuối củng sẽ được cứu
(1 Phi-e-rơ 3:13-14; 4:13;5:10)

Cách hiểu bản văn Kinh Thánh này dường như là giải pháp hợp lý nhất cho một phân đoạn vốn gây nhiều bối rối. Tuy nhiên, điều này đồng nghĩa với việc luận điểm ủng hộ thứ tư cho giáo lý Đấng Christ xuống âm phủ cũng không còn đứng vững: Phân đoạn Kinh Thánh này nói về một hành động của Đấng Christ đã thực hiện trên đất vào thời của Nô-ê.

5. I Phi-e-rơ 4:6
#

“Vì ấy bởi điều đó mà Tin Lành cũng đã giảng ra cho kẻ chết, hầu cho sau khi chịu xét đoán theo loài người về phần xác, thì họ được sống theo Đức Chúa Trời về phần hồn” (Bản Truyền thống 1925)

Có phải câu Kinh Thánh này có nghĩa là Đấng Christ đã xuống âm phủ và rao giảng phúc âm cho những người đã chết? Nếu vậy, đây sẽ là phân đoạn duy nhất trong Kinh Thánh dạy về “cơ hội thứ hai” để được cứu rỗi sau khi chết và điều này dường như mâu thuẫn với những phân đoạn khác như Lu-ca 16:19-31 và Hê-bơ-rơ 9:27, vốn phủ nhận khả năng này. Hơn nữa, phân đoạn này không trực tiếp nói rằng Đấng Christ đã rao giảng cho những người sau khi họ qua đời. Thay vào đó, câu này có nghĩa rằng phúc âm nói chung đã được rao giảng (thậm chí câu này cũng không nói rằng “Đấng Christ” đã rao giảng) cho những người mà bây giờ họ đã chết nhưng đã được rao giảng khi họ còn sống trên trần gian.

Thực tế, đây là một cách giải thích phổ biến và dường như phù hợp hơn nhiều cho câu Kinh Thánh này. Chúng ta thấy sự hậu thuẫn cho điều này ở từ “điều đó” trong câu, ám chỉ ngược lại sự phán xét chung cuộc đã được đề cập ở cuối câu 5. Phi-e-rơ đang nói rằng chính vì sự phán xét chung cuộc mà phúc âm đã được rao giảng cho những người đã chết. Điều này sẽ an ủi cho các độc giả của Phi-e-rơ về những người bạn Cơ đốc của họ đã qua đời. Họ có thể đang tự hỏi: “Phúc âm có mang lại lợi ích gì cho họ không, khi phúc âm không cứu họ khỏi sự chết?”. Phi-e-rơ trả lời rằng lý do phúc âm đã được rao giảng cho những người đã chết không phải để cứu họ khỏi cái chết về thể xác (họ đã “chịu xét đoán theo loài người về phần xác”) mà là để cứu họ khỏi sự phán xét chung cuộc (họ sẽ “được sống theo Đức Chúa Trời về phần hồn”).

Vì vậy, việc Cơ đốc nhân đã chết không có nghĩa là phúc âm đã thất bại trong mục đích của nó, vì họ chắc chắn sẽ sống đời đời trong cõi linh. Vì vậy, “kẻ chết” là những người đã qua đời và hiện đã chết, cho dù họ đã từng sống trên đất khi phúc âm được rao giảng cho họ. (Bản NIV dịch: “Vì đây là lý do phúc âm được rao giảng ngay cả cho những người hiện đã chết”, và bản NASB ghi “những người nay đã chết”). Cách hiểu này tránh được vấn đề giáo lý về “cơ hội thứ hai” của sự cứu rỗi sau khi chết và phù hợp với cả từ ngữ và văn mạch của câu Kinh Thánh. Tuy nhiên, điều này có nghĩa là phân đoạn cuối cùng này, khi được xem xét trong văn mạch của nó, lại không đưa ra được sự ủng hộ thuyết phục nào cho giáo lý về việc Đấng Christ xuống âm phủ.

Dường như mọi người ở cả mọi phe trong cuộc tranh luận về việc Đấng Christ có thực sự xuống âm phủ hay không ít nhất đều thống nhất rằng ý tưởng về Đấng Christ “xuống âm phủ” không hề được dạy dỗ cách rõ ràng hay cụ thể trong bất kỳ phân đoạn Kinh Thánh nào. Đối với nhiều người, việc kết luận rằng quan điểm này hoàn toàn không được Kinh Thánh dạy dỗ là thích hợp.

III. SỰ PHẢN ĐỐI TRONG KINH THÁNH VỀ VIỆC ĐẤNG CHRIST XUỐNG ÂM PHỦ
#

Ngoài việc có rất ít hay không có sự ủng hộ nào trong Kinh Thánh cho việc Đấng Christ xuống âm phủ, có một số phân đoạn Tân Ước dường như phủ nhận khả năng Đấng Christ xuống âm phủ sau khi Ngài qua đời. Lời Chúa Giê-xu nói với tên trộm “Hôm nay ngươi sẽ được ở với ta trong nơi Ba-ra-đi” (Lu-ca 23:43) ngụ ý rằng sau khi Chúa Giê-xu chết, hồn (hay linh) của Ngài ngay lập tức đi đến sự hiện diện của Đức Chúa Cha trên thiên đàng, mặc dù thân thể Ngài vẫn còn trên đất và được chôn. Một số người phủ nhận quan điểm này bằng cách lập luận rằng Ba-ra-đi là một nơi khác biệt với thiên đàng. Tuy nhiên, trong cả hai lần sử dụng khác trong Tân Ước, từ này rõ ràng có nghĩa là “thiên đàng”: Trong 2 Cô-rinh-tô 12:4, đây là một nơi mà Phao-lô đã được cất lên trong sự mặc khải của ông về thiên đàng, và trong Khải huyền 2:7, đây là nơi chúng ta tìm thấy cây sự sống, là nơi rõ ràng là thiên đàng trong Khải huyền 22:2, 14.

Thêm vào đó, tiếng kêu của Chúa Giê-su “Mọi việc đã được trọn” (Giăng 19:30) gợi ý mạnh mẽ rằng sự đau khổ của Đấng Christ đã kết thúc vào thời điểm đó, và sự xa cách của Ngài với Đức Chúa Cha vì gánh lấy tội lỗi của chúng ta cũng vậy. Điều này ngụ ý rằng Ngài sẽ không xuống âm phủ nhưng sẽ ngay lập tức bước vào sự hiện diện của Đức Chúa Cha. Cuối cùng, “Hỡi Cha, tôi giao linh hồn lại trong tay Cha” (Lu-ca 23:46) cũng gợi ý rằng Đấng Christ đã mong đợi (cách chính xác) sự kết thúc ngay lập tức sự đau khổ và ly biệt của Ngài, và việc linh hồn của Ngài được Đức Chúa Cha chào đón vào thiên đàng (xem thêm tiếng kêu tương tự của Ê-tiên trong Công vụ 7:59).

Vậy, những phân đoạn Kinh Thánh này cho thấy rằng trong sự chết của mình, Đấng Christ đã trải qua những điều tương tự mà các tín hữu trong thời đại ngày nay sẽ trải qua khi họ qua đời: Thân thể không còn sự sống của Ngài vẫn ở lại trên đất và được chôn cất (thân thể của chúng ta sẽ như vậy), nhưng phần hồn (hay linh) của Ngài ngay lập tức bước vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời trên thiên đàng (như phần linh của chúng ta sẽ như vậy). Sau đó, vào sáng Phục Sinh đầu tiên, linh hồn của Đấng Christ được tái hợp với thân thể Ngài, và Ngài đã sống lại từ cõi chết, giống như các Cơ đốc nhân đã qua đời (khi Đấng Christ tái lâm) sẽ được tái hợp với thân thể của họ và sống lại trong thân thể phục sinh hoàn hảo để bước vào sự sống mới. Sự thật này mang đến sự khích lệ cho chúng ta.

Chúng ta không cần phải sợ hãi sự chết, không chỉ vì sự sống đời đời đang chờ đợi ở phía bên kia, mà còn vì chúng ta biết rằng chính Đấng Cứu Chuộc của chúng ta đã trải qua chính xác những trải nghiệm mà chúng ta sẽ trải qua. Ngài đã chuẩn bị (thậm chí thánh hóa) con đường, và chúng ta bước theo Ngài với sự tự tin trong từng bước đi trên con đường ấy. Điều này mang lại sự an ủi lớn lao hơn nhiều về sự chết so với bất kỳ quan điểm nào về việc Đấng Christ xuống âm phủ.

IV. KẾT LUẬN
#

Cụm từ “Ngài xuống âm phủ” có xứng đáng được giữ lại trong bài Tín Điều Các Sứ Đồ bên cạnh những giáo lý vĩ đại của đức tin mà tất cả mọi người đều có thể đồng ý hay không? Lý do duy nhất ủng hộ cho việc này dường như chỉ vì nó đã tồn tại từ rất lâu. Nhưng một sai lầm từ lâu vẫn là một sai lầm, và chừng nào cụm từ này còn tồn tại thì vẫn còn gây nhầm lẫn và bất đồng về ý nghĩa của nó. Mặt khác, có một số lý do mạnh mẽ phản đối việc giữ lại cụm từ này.

Nó không có căn cứ rõ ràng từ Kinh Thánh và thậm chí dường như mâu thuẫn với một số phân đoạn Kinh Thánh. Nó không có tuyên bố nào về tính chất tông đồ và không có căn cứ (theo nghĩa “xuống âm phủ”) từ sáu thế kỷ đầu tiên của Hội Thánh. Nó không xuất hiện trong các phiên bản sớm nhất của Tín Điều Các Sứ Đồ và sau đó được đưa vào Tín Điều vì một hiểu lầm rõ ràng về ý nghĩa của cụm từ. Không giống như tất cả cụm từ khác trong Tín Điều, cụm từ này không đại diện cho một giáo lý quan trọng nào mà tất cả Cơ đốc nhân đều đồng ý nhưng thay vào đó là một tuyên bố mà đa phần các Cơ đốc nhân dường như đều phản đối.

Cụm từ này ít nhiều gây hoang mang và trong hầu hết các trường hợp khiến Cơ đốc nhân ngày nay hiểu nhầm. Đánh giá của cá nhân tôi là sẽ chỉ có lợi và không có hại nếu cụm từ này bị loại bỏ khỏi Tín Điều Các Sứ Đồ một lần và mãi mãi.