Skip to main content

Deism, Thuyết

·1039 words·5 mins·
Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God

Từ ngữ này thường được dùng để mô tả một quan điểm tôn giáo phi chính thống, được bày tỏ trong một nhóm văn sĩ người Anh khởi đầu với Lord Herbert of Cherbury vào nửa đầu thế kỷ mười bảy. Nó cũng chỉ về một phong trào tư tưởng duy lý, vốn được biểu hiện chủ yếu tại Anh từ giữa thế kỷ mười bảy đến giữa thế kỷ mười tám. Deism (Latin deus, Đức Chúa Trời) về mặt từ nguyên có liên hệ với theism (Greek theos, Đức Chúa Trời); cả hai đều chỉ niềm tin vào sự hiện hữu của một Đức Chúa Trời hay nhiều thần, và do đó đối nghịch với thuyết vô thần. Thuật ngữ deism, khi được phân biệt với theism, polytheismpantheism, không chỉ định một giáo lý được xác định rõ ràng. Nói chung, nó ám chỉ cái gọi là “tôn giáo tự nhiên” (natural religion), tức sự chấp nhận một khối tri thức tôn giáo nhất định, được tiếp nhận hoàn toàn bằng lý trí, đối lập với tri thức đến từ sự mặc khải hoặc sự dạy dỗ của Hội thánh.

Deism đôi khi được dùng một cách lỏng lẻo để định nghĩa một quan điểm riêng về mối liên hệ giữa Đức Chúa Trời và thế giới. Nó giảm thiểu chức năng của Đức Chúa Trời trong sự sáng tạo chỉ còn như “nguyên nhân đầu tiên”. Theo sự so sánh cổ điển về Đức Chúa Trời như một người thợ đồng hồ, vốn được tìm thấy sớm nhất nơi Nicolaus of Oresmes (mất năm 1382), Đức Chúa Trời đã lên dây cót chiếc đồng hồ của thế giới một lần cho tất cả ngay từ buổi khởi đầu, để rồi nó vận hành như dòng lịch sử nhân loại mà không cần đến sự can thiệp thêm nữa của Ngài.

Những giáo điều căn bản của deism là: (1) niềm tin vào một Đấng Tối Cao; (2) bổn phận thờ phượng; (3) bổn phận về hạnh kiểm đạo đức; (4) nhu cầu ăn năn tội lỗi; và (5) sự thưởng phạt thiêng liêng trong đời này và đời sau. Năm điểm này được Lord Herbert nêu ra, thường được gọi là “cha của deism”. Deism mâu thuẫn với Cơ Đốc giáo chính thống khi phủ nhận bất kỳ sự can thiệp trực tiếp nào của Đức Chúa Trời vào trật tự tự nhiên. Dù những người theo deism xưng nhận tin vào sự quan phòng cá nhân, họ phủ nhận Ba Ngôi, sự nhập thể, thẩm quyền thiêng liêng của Kinh Thánh, sự chuộc tội, các phép lạ, bất kỳ dân tuyển riêng nào như Israel, và mọi hành động cứu chuộc siêu nhiên trong lịch sử.

Tại Anh vào đầu thế kỷ mười bảy, thái độ tôn giáo tổng quát này trở nên quyết liệt hơn, đặc biệt trong các trước tác của John Toland, Lord Shaftesbury, Matthew Tindal, Thomas Woolston, và Anthony Collins. Lý tưởng của những người theo deism là một tôn giáo tự nhiên nghiêm cẩn, không có nhiều giáo điều căn bản của Cơ Đốc giáo. Những người theo deism đồng thuận trong việc lên án mọi hình thức bất khoan dung tôn giáo, bởi theo quan điểm của họ, mọi tôn giáo về căn bản đều giống nhau. Họ đặc biệt phản đối mọi biểu hiện của sự cuồng tín và nhiệt thành tôn giáo. Trong đó, tác phẩm Letter concerning Enthusiasm (1708) của Shaftesbury có lẽ là văn kiện quan trọng nhất trong việc thúc đẩy tư tưởng của họ. Shaftesbury lên án mọi hình thức phóng túng tôn giáo như là sự xuyên tạc của tôn giáo chân thật. Mọi mô tả về Đức Chúa Trời với sự báo thù, hằn học, ghen tuông, và tàn bạo hủy diệt đều bị xem là phạm thượng. Người theo deism quan niệm Đức Chúa Trời là một Đấng hiền từ, yêu thương, nhân hậu, và Ngài muốn nhân loại cư xử một cách tử tế và khoan dung.

Deism tại Anh được truyền sang Đức chủ yếu qua các bản dịch tác phẩm của Shaftesbury. Những người theo deism quan trọng tại Đức là Gottfried Leibniz, Hermann Reimarus, và Gotthold Lessing. Immanuel Kant, nhân vật trọng yếu nhất trong triết học Đức thế kỷ mười tám, nhấn mạnh yếu tố đạo đức trong tôn giáo tự nhiên. Nguyên tắc đạo đức không phải là kết quả của sự mặc khải, nhưng phát xuất từ chính cấu trúc của lý trí con người. Voltaire thường được xem là người theo deism vĩ đại nhất của Pháp. Dù ông thường dùng chữ “theist” để chỉ chính mình, Voltaire vẫn là một người theo deism trong truyền thống của các deist Anh quốc, không bao giờ công kích sự hiện hữu của Đức Chúa Trời nhưng luôn phê phán sự băng hoại của Hội thánh. Đến cuối thế kỷ mười tám, deism đã trở thành một thái độ tôn giáo chủ đạo giữa giới trí thức và tầng lớp thượng lưu tại Mỹ. Trong số những người Mỹ vĩ đại tự nhận mình là deist có Benjamin Franklin, George Washington, và Thomas Jefferson.

Cách giải thích về deism vào cuối thế kỷ mười tám và thế kỷ mười chín giới hạn ý nghĩa của nó trong niềm tin vào một Đức Chúa Trời hay nguyên nhân đầu tiên, Đấng đã dựng nên thế giới và thiết lập những luật bất biến, phổ quát, vốn loại trừ mọi sự thay đổi cũng như mọi hình thức hiện diện thiêng liêng trực tiếp.

Di sản của deism tiếp tục như một sự nhấn mạnh về cơ chế. Xu hướng ngày nay là tìm cách giải thích hầu hết mọi sự bằng sự so sánh với một cỗ máy. Cái gọi là “higher criticism” (bình luận văn bản cấp cao) của thời nay cũng có thể được truy nguyên từ deism của những ngày trước. Như vậy, mặc dù deism không còn được nhiều người chấp nhận trong thời đại chúng ta, ý nghĩa lịch sử của nó vẫn rất lớn, và nó vẫn còn ảnh hưởng đến tư tưởng tôn giáo trong thời nay.