Skip to main content

Chương 4: KINH ĐIỂN VÀ VĂN BẢN TÂN ƯỚC

·4820 words·23 mins·
Author
Lily

TÂN ƯỚC LƯỢC KHẢO

(Hình 1: Tu viện (Monastery of St. John) trên đảo Patmos, nổi tiếng với thư viện chứa 900 bản sao chép, bao gồm một bản sao chép của sách Mác có niên đại vào thế kỷ thứ sáu)

I. KINH ĐIỂN
#

Tân Ước bao gồm những sách được Hội Thánh ban đầu ghi nhận là được hà hơi bởi Đức Chúa Trời. Thuật ngữ “kinh điển” (canon) ban đầu có nghĩa là “cây sậy đo lường” nhưng sau này mang ý nghĩa ẩn dụ là “tiêu chuẩn” (tương tự như nghĩa đen và nghĩa bóng của từ “thước đo”). Khi áp dụng cho Tân Ước, “kinh điển” chỉ những sách được Hội Thánh xem là tiêu chuẩn điều chỉnh đức tin và hành vi của Cơ Đốc nhân.

1.1. Giai Đoạn Trước Khi Hình Thành Kinh Điển
#

Ban đầu, các Cơ Đốc nhân không có bất kỳ sách nào trong Tân Ước như ngày nay. Họ phụ thuộc vào Cựu Ước, các truyền khẩu về lời dạy và việc làm của Chúa Jesus, cùng những sứ điệp từ Đức Chúa Trời được các tiên tri Cơ Đốc công bố. Ngay cả sau khi được viết ra, nhiều sách Tân Ước cũng chưa được phổ biến rộng rãi khắp tất cả các Hội Thánh. Trước khi các sách được tập hợp thành Tân Ước, các tác giả Cơ Đốc cũng viết nhiều sách khác - một số tốt, một số kém hơn.

Các thư tín của Phao-lô và các sách Phúc Âm nhanh chóng được công nhận là kinh điển. Chúng được gọi là homolegoumena (tiếng Hy Lạp nghĩa là “được thừa nhận”). Một số sách khác, do chúng ngắn gọn và có phạm vi lưu hành hạn chế, nên không được biết đến rộng rãi, dẫn đến chúng không thể nhanh chóng được đưa vào kinh điển. Vì không xác định được tác giả một cách rõ ràng, thư Hê-bơ-rơ bị nghi ngờ trong một thời gian, và Hội Thánh ban đầu do dự khi công nhận 2 Phi-e-rơ vì văn phong tiếng Hy Lạp của nó khác với 1 Phi-e-rơ, làm dấy lên nghi ngờ về việc sách này có thực sự do sứ đồ Phi-e-rơ viết. Những sách như vậy được gọi là antilegomena (tiếng Hy Lạp nghĩa là “bị tranh cãi”).

Đọc thêm:

“Những điều ấy đã xảy ra để làm gương cho họ (dân Y-sơ-ra-ên), và đã được ghi chép (trong Cựu Ước) để răn dạy chúng ta (Cơ Đốc nhân)” - 1 Cô-rinh-tô 10:11

“Tôi sẽ không ngần ngại thêm vào những lời giải thích tất cả những gì tôi đã học kỹ từ các trưởng lão và ghi nhớ cẩn thận… Vì tôi không nghĩ rằng thông tin từ sách vở sẽ giúp tôi nhiều bằng lời nói sống động từ những người còn sống” - Papias, được trích dẫn bởi Eusebius, Lịch Sử Hội Thánh 3.39.3-4 (Church History)

“Chúng tôi vào nhà Phi-líp, người truyền đạo… Ông có bốn cô con gái đồng trinh đều nói tiên tri” - Công vụ 21:8-9

“Tôi sẽ có ích gì cho anh em nếu không nói với anh em bằng sự mặc khải, sự hiểu biết, lời tiên tri hoặc sự dạy dỗ?” - Phao-lô trong 1 Cô-rinh-tô 14:6

1.2. Quá Trình Hình Thành Kinh Điển
#

Việc các giáo phụ Hội Thánh ban đầu trích dẫn các sách Tân Ước như là Lời Có Thẩm Quyền giúp chúng ta nhận biết những sách nào họ xem là kinh điển. Sau này, Hội Thánh biên soạn các danh sách kinh điển chính thức. Một người theo tà thuyết Ngộ Đạo thời kỳ đầu, tên là Marcion, có thể đã đóng vai trò kích động quá trình này. Ông này dạy rằng:

  • Có một Đức Chúa Trời nghiêm khắc của Cựu Ước và Do Thái giáo, và một Đức Chúa Trời yêu thương đối lập nhau.
  • Chúa Jesus đến với tư cách là sứ giả của Đức Chúa Trời yêu thương.
  • Chúa Jesus bị giết do sự xúi giục của Đức Chúa Trời nghiêm khắc.
  • Chúa Jesus giao sứ điệp từ Đức Chúa Trời yêu thương cho mười hai sứ đồ, nhưng họ đã không giữ được nó khỏi sự bị bóp méo.
  • Phao-lô trở thành người duy nhất rao giảng sứ điệp không bị bóp méo.

Để hỗ trợ giáo lý của mình, Marcion chỉ chọn những sách mà ông cho là không chịu ảnh hưởng hoặc trái ngược với Cựu Ước và Do Thái giáo, như: Sách Lu-ca (với một số phần bị lược bỏ) và hầu hết các thư tín của Phao-lô để tập hợp thành bộ kinh điển Marcion, ra đời từ khoảng năm 144. Việc các Cơ Đốc nhân chính thống phản đối Marcion loại bỏ các sách khác trong Tân Ước cho thấy Hội Thánh nói chung đã chấp nhận hoặc đang trong quá trình chấp nhận những sách mà Marcion đã bác bỏ.

Đến thế kỷ 4 và 5, tất cả các sách Tân Ước ngày nay đều đã được ghi nhận rộng rãi, và các sách khác đã bị loại ra. Các hội đồng giáo hội trong những thế kỷ này đã chính thức hóa niềm tin và thực hành hiện có về kinh điển Tân Ước.

Ý niệm về một bộ kinh điển ngụ ý rằng Đức Chúa Trời đã hướng dẫn Hội Thánh ban đầu trong việc đánh giá các sách khác nhau, để những sách thực sự được hà hơi được ghi nhận làm kinh điển, còn những sách không được hà hơi - dù có giá trị nào khác - đều không được đưa vào. Quá trình hình thành kinh điển mất thời gian và có những ý kiến trái chiều khác nhau. Nhưng chúng ta có thể biết ơn vì Hội Thánh ban đầu đã không chấp nhận bất kỳ sách nào là kinh điển một cách thiếu suy xét và đôi khi còn tranh luận cẩn thận trong một số trường hợp cho đến khi đạt được sự đồng thuận. Hầu hết các độc giả khi so sánh các tác phẩm thời kỳ hậu sứ đồ (subapostolic writings) và ngoại kinh Tân Ước (New Testament apocrypha) với các sách kinh điển (the canonical books) đều sẽ đồng tình với sự đánh giá kỹ lưỡng của các Cơ Đốc nhân thời kỳ đầu.

“Marcion đã thẳng thừng dùng dao chứ không dùng bút, vì ông ta cắt bỏ Kinh Thánh theo ý mình” - Tertullian, Về Cách Đối Phó Với Tà Giáo 38 (On Prescription Against Heretics)

1.3. Tiêu Chuẩn Công Nhận Kinh Điển
#

Nhiều tiêu chí khác nhau đã được đề xuất để xác định tính kinh điển, chẳng hạn như giá trị đạo đức và sự phù hợp với truyền thống truyền khẩu của giáo lý sứ đồ (apostolic doctrine). Tuy nhiên, một số sách có giá trị giáo huấn vẫn không được đưa vào kinh điển. Tương tự, một số sách tiếp nối truyền thống truyền khẩu của giáo lý sứ đồ cũng không được chấp nhận.

Yếu tố quan trọng nhất - thậm chí, là yếu tố quyết định - là tính sứ đồ (apostolicity), nghĩa là tác giả phải là một sứ đồ hoặc người cộng tác với sứ đồ, đồng thời sách phải được viết trong thời kỳ sứ đồ.

  • Mác liên hệ mật thiết với hai sứ đồ Phi-e-rơ và Phao-lô.
  • Lu-ca đồng hành với Phao-lô.
  • Tác giả của Hê-bơ-rơ thể hiện mối liên hệ thần học gần gũi với Phao-lô.
  • Gia-cơGiu-đe là anh em cùng mẹ với Chúa Jesus và cộng tác với các sứ đồ trong Hội Thánh đầu tiên tại Giê-ru-sa-lem.

Theo truyền thống, tất cả các tác giả khác trong Tân Ước đều là sứ đồ: Ma-thi-ơ, Giăng, Phao-lô và Phi-e-rơ. Tuy nhiên, các học giả bình luận hiện đại đặt nghi vấn về một số tác giả truyền thống của Tân Ước. Những vấn đề này sẽ được phân tích chi tiết trong các chương sau. Nhưng ngay cả dưới những quan điểm chỉ trích tiêu cực (phủ nhận tác giả trực tiếp của các sách đó là sứ đồ), thì người ta cũng thường phải thừa nhận rằng những sách này ít nhất cũng được viết trong truyền thống sứ đồ bởi những người là học trò của các sứ đồ. 

Đọc thêm: LỜI ĐỨC CHÚA TRỜI: CỰU ƯỚC VÀ TÂN ƯỚC

Trong Mác 7:6-13, Chúa Jesus xem điều ‘Ê-sai đã nói tiên tri’ và điều ‘Môi-se phán’ ngang hàng với ‘mạng lệnh của Đức Chúa Trời’ và ’lời Đức Chúa Trời’ (xem thêm Ma-thi-ơ 5:17-19a; Giăng 10:35b).

Trong Bài Giảng Trên Núi, Chúa Jesus phán: ‘Các ngươi đã nghe lời phán với người xưa (trích dẫn Cựu Ước) … Nhưng Ta bảo các ngươi (lời dạy của chính Chúa Jesus)’ (Ma-thi-ơ 5:21-22, 28-29, 31-32, 38-39, 43-44; so sánh Mác 1:22, 27; Lu-ca 4:32, 36)."

“Nhưng Đấng Yên Ủi, là Thánh Linh mà Cha sẽ nhân danh Ta sai đến, sẽ dạy các ngươi mọi sự và nhắc lại mọi điều Ta đã phán với các ngươi” (Giăng 14:26; xem thêm 16:12-15).

1.4. Cơ Sở Lý Luận
#

Chính Chúa Jesus đã xác nhận thẩm quyền trọn vẹn của Cựu Ước là Kinh Thánh, đồng thời đặt lời nói và việc làm của Ngài ngang hàng với thẩm quyền đó. Ngài cũng hứa rằng Đức Thánh Linh sẽ nhắc các sứ đồ nhớ lại mọi điều Ngài đã dạy, dạy họ ý nghĩa và bày tỏ lẽ thật sâu nhiệm hơn cho họ.

Do đó, kinh điển Tân Ước chính là ghi chép và giải nghĩa có thẩm quyền về sự tự mặc khải của Đức Chúa Trời qua Chúa Jesus Christ - một bản ghi chép mang tính giải nghĩa, được chính Chúa Jesus xác nhận như lời Ngài đã bảo trước. Quan điểm của Chúa Jesus về lời nói và việc làm của mình (nay được các sứ đồ và cộng sự ghi chép và giải thích) không hề thấp hơn quan điểm của Ngài về Cựu Ước như là Lời của Đức Chúa Trời.

Tân Ước kinh điển đã đóng lại với giới hạn chỉ trong các sách mang tính sứ đồ xuất phát từ nhận thức rằng sự mặc khải của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ đã trọn vẹn, và vì thế không cần thêm bất kỳ sự bổ sung nào.

1.5. Các Tác Phẩm Thời Hậu Sứ Đồ (Subapostolic Writings)
#

Các tác phẩm thời hậu sứ đồ là những sách được viết ngay sau thời kỳ của mười hai sứ đồ của Chúa Jesus, và được viết bởi các “giáo phụ của các sứ đồ” (“apostolic fathers”), là những người được coi là học trò của các sứ đồ hoặc những người đã tiếp nối và bảo vệ giáo lý của các sứ đồ. Các giáo phụ kế nhiệm các sứ đồ trong việc lãnh đạo Hội Thánh. Các tác phẩm này bao gồm:

Tên tiếng ViệtTên tiếng Anh
1 & 2 Clement1 and 2 Clement
Các thư của IgnatiusLetters of Ignatius
Thư Polycarp gửi tín hữu Phi-lípLetter of Polycarp to the Philippians
Didache (hay còn gọi là Giáo huấn của Mười Hai Sứ Đồ)Didache, or Teaching of the Twelve Apostles
Thư của BarnabasLetter of Barnabas
Người Chăn Chiên của HermasShepherd of Hermas
Tử đạo của PolycarpMartyrdom of Polycarp
Thư gửi DiognetusLetter to Diognetus
Các tác phẩm của Papias (chỉ còn lại một số đoạn)Writings of Papias (extant only in fragments)
  • Đọc thêm: MỘT SỐ ĐOẠN TRÍCH TIÊU BIỂU

“Sự dạy dỗ này (của Cơ Đốc nhân) không phải là kết quả của suy luận hay tư tưởng của những kẻ bận rộn, cũng không phải là giáo điều của con người như một số người rao giảng … Họ sống trên quê hương mình như những kẻ lữ hành. Họ chia sẻ mọi thứ như công dân, nhưng chịu đựng mọi thứ như người ngoại quốc. Mỗi quốc gia xa lạ là quê hương họ, và mỗi quê hương lại là nơi xa lạ. Họ kết hôn như mọi người, nhưng không vứt bỏ con cái … Họ sống trên đất, nhưng quê hương họ ở thiên đàng.” - Thư gửi Diognetus 5:3, 5-6, 9

“Tôi sẵn lòng chết vì Đức Chúa Trời, nếu các anh em không cản trở điều đó. … Hãy để tôi làm mồi cho thú dữ, nhờ đó tôi được đến cùng Đức Chúa Trời. Tôi là lúa mì của Đức Chúa Trời, bị nghiền nát bởi nanh vuốt thú dữ để trở thành bánh tinh khiết của Đấng Christ. Thậm chí, hãy khuyến khích thú dữ biến thân xác tôi thành ngôi mộ. … Lúc ấy, tôi mới thật là môn đồ của Chúa Jesus Christ.” - Thư Ignatius gửi tín hữu Rô-ma 4:1-2, trên đường chịu tử đạo

1.6. Ngoại Kinh Tân Ước (New Testament Apocrypha)
#

Khác với Ngoại Kinh Cựu Ước, Ngoại Kinh Tân Ước bao gồm những sách mang tính hư cấu, đôi khi chứa đựng tà thuyết, và không được bất kỳ nhánh lớn nào của Cơ Đốc giáo ghi nhận là kinh điển.

Đọc thêm: MỘT SỐ ĐOẠN TRÍCH TIÊU BIỂU

“Rồi Mẹ Ta, chính là Đức Thánh Linh, nắm lấy một sợi tóc của Ta và đưa Ta lên núi Ta-bô cao lớn.” - Chúa Jesus trong sách Phúc âm Hê-bơ-rơ, theo Origen, Bình luận sách Giăng 2.12.87 (the Gospel of the Hebrews)

“Ngày đầu tiên, chúng tôi đến một quán trọ vắng vẻ … đang cố tìm chỗ ngủ cho Giăng … Nhưng khi nằm xuống, ông bị rận làm phiền; chúng càng lúc càng quấy nhiễu, và khi đã nửa đêm, ông nói với chúng trước mặt tất cả chúng tôi: ‘Ta bảo các ngươi, lũ rận, hãy biết điều …’ Rồi Giăng ngủ thiếp đi … Lúc bình minh, tôi thức dậy đầu tiên, cùng với Verus và Andronicus. Chúng tôi thấy trước cửa phòng … một đám rận tụ lại … Và khi Giăng thức dậy … ông nhìn chúng và nói: ‘Vì các ngươi đã nghe lời ta sửa dạy, hãy trở về chỗ cũ.’ Khi Giăng vừa dứt lời và rời khỏi giường, lũ rận từ cửa chạy ào đến, bò lên chân giường và chui vào các khe hở.” - Công vụ của Giăng 60-61 (Acts of John)

Đọc thêm: CÁC TÁC PHẨM NGOẠI KINH TÂN ƯỚC (NT APOCRYPHA VÀ PSEUDEPIGRAPHA)

Tên tiếng ViệtTên tiếng Anh
Công vụ của GiăngActs of John
Công vụ của Phi-e-rơActs of Peter
Công vụ của Thô-maActs of Thomas
Ngụy thư của Gia-cơApocryphon of James
Phúc âm theo Ni-cô-đemGospel of Nicodemus
Phúc âm theo Phi-e-rơGospel of Peter
Phúc âm theo Thô-maGospel of Thomas
Phúc âm về Thời thơ ấu của Chúa Giê-xu theo Thô-maInfancy Gospel of Thomas

II. VĂN BẢN TÂN ƯỚC
#

2.1. Viết
#

Hầu hết (có lẽ tất cả) các sách Tân Ước ban đầu được viết trên giấy cói (papyrus). Phần lớn các tác giả Tân Ước sử dụng cuộn giấy (scroll), dù một số có thể đã dùng sách có bìa (codices - số nhiều của codex - loại sách ghép trang giống kiểu hiện đại). Các bản sao dạng codex nhanh chóng trở nên phổ biến trong cộng đồng Cơ Đốc.

Thông thường, tác giả sẽ đọc cho một thư ký (amanuensis) chép lại. Đôi khi tác giả cho phép thư ký có sự tự do nhất định trong việc lựa chọn từ ngữ.

(Hình 2: Bên trái - Cây papyrus. Bên phải - Papyrus 1, đây là một bản sao chép bằng giấy cói (papyrus manuscript) của một chương sách Phúc âm Ma-thi-ơ, bản văn được viết bằng tiếng Hy Lạp, có niên đại vào thế kỷ thứ 3, trên mặt này là Ma-thi-ơ 1:1-9, 12. Nguồn: Penn Museum)

2.2. Quá Trình Sao Chép
#

Các bản gốc (gọi là autographs) đều không còn tồn tại đến ngày nay. Ban đầu, tùy theo nhu cầu của các cá nhân hoặc Hội Thánh, người ta sẽ chép lại từ bản gốc thành từng bản sao, từng cái một. Khi nhu cầu tăng lên, đòi hỏi người ta phải sao chép với số lượng lớn hơn. Khi đó, sẽ có một người chịu trách nhiệm đọc bản mẫu để cho nhiều người khác cùng nghe để chép lại cùng một lúc.

Dần dần, các lỗi như nhìn nhầm chữ, nghe nhầm âm, bỏ sót hoặc lặp lại vô ý, ghi chú bên lề, và những “cải tiến” về thần học hay ngữ pháp có chủ ý đã xuất hiện trong văn bản. Mặc dù để bảo vệ tính chính xác của văn bản, người ta thực hiện kiểm tra chéo giữa các bản sao chép, nhưng số lỗi xảy ra trong quá trình sao chép vẫn tiếp tục tăng.

Khi Hội Thánh ngày càng giàu có hơn và coi trọng văn bản Tân Ước, các vật liệu bền hơn như giấy da (vellum - da bê đã qua xử lý) và giấy giả da (parchment - da cừu đã qua xử lý) được sử dụng. Các bản sao chép sớm thường được viết hoàn toàn bằng chữ hoa (uncial - kiểu chữ viết hoa có đường nét cong, mềm mại, hoặc majuscule - cũng là kiểu chữ viết hoa, nhưng có kiểu dáng thẳng, vuông vắn và sắc nét hơn), trong khi các bản sao chép thời kỳ sau sử dụng kiểu chữ thường viết liền (minuscule). Ban đầu không có khoảng cách giữa các từ, dấu câu, hay phân chia chương và câu - những yếu tố chỉ xuất hiện sau này.

Bản sao chép cổ nhất mà các học giả hiện đại tìm thấy có từ thế kỷ thứ 2, trong đó cổ nhất là Mảnh Rylands sách Giăng (Rylands Fragment of John) - được viết vào khoảng năm 135.

Đa số các dị bản (khác biệt) trong các bản sao chép cổ liên quan đến chính tả, thứ tự từ, sự có mặt hay vắng mặt của các từ như “và”, “là”, và những chi tiết tương đối không quan trọng khác.

(Hình 3: Mảnh Rylands (The Rylands Library Papyrus P52) là một mảnh từ một bản sao chép giấy cói chép sách Giăng, được viết bằng tiếng Hy Lạp. Mảnh này chỉ có kích thước 3,5 x 2,5 inch (8,9 cm × 6,4 cm) ở phần rộng nhất (khoảng bằng kích thước của một thẻ tín dụng). Hình bên trái là mặt trước (recto) chứa một phần của bảy dòng của Giăng 18:31-33, và hình bên phải là mặt sau (verso) chứa một phần của bảy dòng của các câu 37-38. Nguồn: John Rylands Library)

(Hình 4: Codex Sinaiticus - là một trong những cuốn sách quan trọng nhất trên thế giới. Được viết tay cách đây hơn 1600 năm (được viết vào giữa thế kỷ thứ 4) trên chất liệu giấy là da động vật (cừu hoặc bê), bản sao chép này chứa Kinh thánh Cơ đốc bằng tiếng Hy Lạp (chữ viết theo kiểu uncial, tức kiểu chữ in hoa không có khoảng cách giữa các từ), bao gồm bản sao hoàn chỉnh lâu đời nhất của Tân Ước. Văn bản được hiệu đính kỹ lưỡng của nó có tầm quan trọng đặc biệt đối với lịch sử của Kinh thánh và bản sao chép. Nguồn: British Library)

2.3. Bình Luận Văn Bản (Textual Criticism)
#

Nhiệm vụ xác định nguyên văn gốc của Tân Ước được gọi là bình luận văn bản (textual criticism). Các nguồn tài liệu chính cho công việc này bao gồm:

  • Các bản sao chép tiếng Hy Lạp,
  • Các bản dịch cổ (đặc biệt là tiếng Syriac và Latin),
  • Trích dẫn trong các tác phẩm của các giáo phụ và các sách bài đọc cổ (lectionaries - là các đoạn văn Tân Ước được đọc trong các buổi lễ thờ phượng).

Bằng cách so sánh những tư liệu này, các học giả thường có thể xác định các dị bản với độ chính xác đáng tin cậy. Một số nguyên tắc quan trọng để đánh giá bao gồm ưu tiên:

  1. Bản đọc trong các bản sao chép cổ nhất, được sao chép cẩn thận và phổ biến rộng rãi
  2. Bản đọc phù hợp với văn phong và thần học của tác giả, đồng thời giải thích tốt nhất sự xuất hiện của các dị bản khác
  3. Bản đọc khó hiểu hơn (vì người sao chép thường có xu hướng “điều chỉnh” để làm cho rõ nghĩa)
  4. Bản đọc ngắn hơn (vì người sao chép thường xu hướng thêm vào hơn là bớt đi, trừ khi việc bỏ sót là vô ý)

Ví dụ:

  • Trong Khải huyền 8:13, từ “chim đại bàng” (eagle) có thể bị người sao chép thay bằng từ “thiên sứ” (angel) để làm bản văn dễ hiểu hơn, vì thiên sứ thường xuất hiện trong Kinh Thánh, trong khi đại bàng thì không. Ngược lại, khả năng người sao chép thay từ “thiên sứ” bằng từ “chim đại bàng” gần như không xảy ra.
  • Về việc Đức Chúa Trời đáp ứng lời cầu nguyện trong Mác 11:24, một số bản sao chép thay thì quá khứ “các ngươi đã nhận được” bằng thì hiện tại “các ngươi nhận được” hoặc thì tương lai “các ngươi sẽ nhận được” (so sánh Ma-thi-ơ 21:22), vì thì quá khứ có vẻ quá táo bạo.
  • Một số bản sao chép thêm “những người bại liệt” vào cuối Giăng 5:3, có lẽ vì lời tự mô tả của người đàn ông được Chúa Jesus chữa lành khiến người sao chép nghĩ đến chứng bại liệt.
  • Trong 1 Cô-rinh-tô 10:19, một số bản sao chép có vẻ đã bỏ sót câu hỏi của Phao-lô về việc thần tượng có thực sự là gì không, do nhảy từ chữ “là” thứ nhất sang chữ “là” thứ hai.

Tài liệu để xác định nguyên văn Tân Ước phong phú và cổ xưa hơn nhiều so với tài liệu để nghiên cứu bất kỳ tác phẩm cổ điển nào khác. Nhờ công sức của các nhà bình luận văn bản, những điểm chưa rõ ràng trong văn bản Tân Ước tiếng Hy Lạp không ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiểu biết của chúng ta về các giáo lý nền tảng.

Xứng đáng được nhắc đến một cách đặc biệt là hai học giả người Anh ở thế kỷ 19 - B. F. Westcott và F. J. A. Hort - đã đặt nền móng vững chắc cho ngành bình luận văn bản.

(Hình 5: Papyrus 75 (hay còn gọi là P75) là bản sao chép sách Phúc âm Lu-ca và Giăng (hiện chỉ còn các đoạn rời rạc). Trong hình trên là Lu-ca 8:19-25. Papyrus 75 có niên đại vào khoảng cuối thế kỷ thứ 2 hoặc đầu thế kỷ thứ 3 và nó là một trong những bản sao sớm nhất của các sách Phúc Âm. Điều đặc biệt của P75 là chất lượng bảo tồn của nó và sự quan trọng của các bản văn được viết trên đó. Chữ viết trên P75 là tiếng Hy Lạp sử dụng kiểu chữ “uncial” (chữ in hoa) và được viết rất cẩn thận. Chất liệu làm từ giấy cói (papyrus), một loại chất liệu phổ biến trong thời kỳ cổ đại. Nguồn: Vatican Library)

2.4. Đánh Số Chương và Câu
#

Stephen Langton (mất năm 1228) đã phân chia văn bản Kinh Thánh thành các chương. Ông là một học giả người Anh và đã thực hiện công việc này vào khoảng năm 1205 khi ông còn là tổng giám mục của Canterbury. Trước khi có sự phân chia các chương này, Kinh Thánh chỉ được chia thành các đoạn văn lớn mà không có số chương cụ thể, và việc tham chiếu Kinh Thánh gặp phải rất nhiều khó khăn. Công trình của Langton đã giúp việc tham chiếu và nghiên cứu Kinh Thánh trở nên dễ dàng hơn.

Robert Estienne (còn gọi là Robert Stephanus) là người đã phân chia và đánh số các câu trong ấn bản Kinh Thánh in năm 1551 của ông. Estienne là một nhà in người Pháp, sống vào thế kỷ 16, sử dụng một hệ thống đánh số câu cho cả Cựu Ước và Tân Ước, giúp việc tham chiếu Kinh Thánh trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Hệ thống này giúp các độc giả dễ dàng tìm thấy các câu trong Kinh Thánh khi cần tra cứu.

2.5. Các Bản Dịch Tiếng Anh
#

Về các bản dịch Tân Ước sang tiếng Anh, John Wycliffe đã thực hiện bản dịch từ bản tiếng Latin của Jerome (bản Vulgate) vào năm 1382, và William Tyndale dịch từ nguyên bản tiếng Hy Lạp năm 1525. Sau hàng loạt các bản dịch Kinh Thánh tiếng Anh khác, bản Douay của Công giáo La Mã xuất hiện năm 1582, và bản King James (hay Authorized Version) có sức ảnh hưởng lớn ra đời vào năm 1611.

Tuy nhiên, lúc này, các bản sao chép cổ nhất và tốt nhất của Tân Ước vẫn chưa được phát hiện, và các thế kỷ sau đó đã chứng kiến những tiến bộ to lớn trong hiểu biết học thuật về loại tiếng Hy Lạp được sử dụng trong Tân Ước. Một đóng góp quan trọng đến từ việc nghiên cứu nhiều bản giấy cói (papyri) được tìm thấy trong 150 năm qua.

Kết quả là nhiều bản dịch đã xuất hiện gần đây, như English Revised Version (1881), American Standard Version (1901), Revised Standard Version (1946), New English Bible (1961), New American Standard Bible (1963), Jerusalem Bible (1966), Today’s English Version (1966), New International Version (1978), và English Standard Version (2001), cùng các bản cập nhật của một số phiên bản này và nhiều nỗ lực cá nhân khác. Phù hợp với trình độ và nhu cầu của các sinh viên học nâng cao là NET Bible.

(Hình 6: Trang bìa của Kinh thánh Coverdale, bản dịch tiếng Anh hoàn chỉnh đầu tiên của Kinh Thánh được in ở Anh (1537))

Đọc thêm: MỘT SO SÁNH GIỮA BẢN KING JAMES (KJV) VÀ BẢN NEW INTERNATIONAL VERSION (NIV)

Bản KJV: “For there are three that bear witness in heaven: the Father, the Word, and the Holy Spirit; and these three are one. And there are three that bear witness on earth: the Spirit, the water, and the blood; and these three agree as one.” (“Vì có ba Đấng làm chứng trên trời: Đức Chúa Cha, Ngôi Lời và Đức Thánh Linh; và ba Đấng này là một. Và có ba làm chứng trên đất: Đức Thánh Linh, nước và huyết; và ba ấy hiệp một.”)

Bản NIV: “For there are three that testify: the Spirit, the water and the blood; and the three are in agreement.” (“Vì có ba làm chứng: Đức Thánh Linh, nước và huyết; ba ấy hiệp một.”)

Lưu ý: NIV không chỉ thay đổi cách diễn đạt mà còn loại bỏ các phần bổ sung do người sao chép ghi thêm vào văn bản gốc, được thể hiện bằng các bản sao chép sớm hơn, tốt hơn mà các dịch giả của KJV chưa biết đến.

III. TÓM LẠI
#

Là một bộ kinh điển, các sách Tân Ước cung cấp hướng dẫn có thẩm quyền cho niềm tin và hành vi Cơ đốc. Những sách này được viết trong khoảng nửa sau của thế kỷ Cơ đốc đầu tiên (tức thế kỷ thứ nhất). Bất chấp những nghi ngại ban đầu về một số sách, cuối cùng các Cơ đốc nhân đã ghi nhận tất cả đều có thẩm quyền thiêng liêng được truyền đạt thông qua các sứ đồ và cộng sự được Thánh Linh của Chúa Jesus soi dẫn.

Vì phải sao chép bằng tay, các lỗi đã len lỏi vào văn bản gốc. Kết quả là cần phải thực hiện bình luận văn bản, tức là quyết định giữa các khác biệt về từ ngữ trong các bản sao chép Hy Lạp cổ, bản dịch và trích dẫn Tân Ước trong các tác phẩm của giáo phụ để xác định những gì các tác giả Tân Ước có khả năng thực sự đã viết nhất.

Tốt thay là chúng ta có nguồn tư liệu phong phú để thực hiện công việc này; và có sự đồng thuận lớn về nguyên văn gốc. Các bản dịch tiếng Anh gần đây đã tận dụng thành quả của các nhà bình luận văn bản, giúp chúng ta có sự hiểu biết đáng tin cậy hơn về Tân Ước so với trước khi phát hiện ra các bản sao chép cổ nhất và tốt nhất.