Skip to main content

Chương 6: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ CUỘC ĐỜI VÀ MỤC VỤ CỦA CHÚA JESUS

·6586 words·31 mins·
Author
Lily

TÂN ƯỚC LƯỢC KHẢO

(Bài giảng trên núi được ghi lại trong Ma-thi-ơ 5-7 và Lu-ca 6. Sự khác biệt được cho là giữa phiên bản của Ma-thi-ơ (trên một ngọn đồi) và Lu-ca (trên một nơi bằng phẳng) có thể dễ dàng được giải thích khi quan sát thấy có nhiều khu vực bằng phẳng trên các sườn đồi ở Galilee. Kinh Thánh không chỉ rõ địa điểm chính xác của sự kiện này, nhưng người Byzantine đã xây một nhà thờ để kỷ niệm ở chân đồi. Một số binh lính của Napoleon lại cho rằng nó diễn ra trên núi Arbel gần đó)

1. NIÊN ĐẠI
#

Các mốc thời gian trong mục vụ công khai của Chúa Jesus vẫn còn nhiều điểm chưa rõ ràng, một phần do cách tính toán khác nhau về thời điểm bắt đầu triều đại Tiberius (Lu-ca 3:1). Tuy nhiên, khoảng thời gian ba năm rưỡi dẫn đến năm 33 được xem là khả thi, dù nhiều học giả nghiêng về năm 30 hơn.

Theo truyền thống, giai đoạn này được chia thành: một năm ẩn dật, một năm được quần chúng yêu mến, và một năm chịu sự chống đối.

Đọc thêm: CÁC SỰ KIỆN CHÍNH TRONG MỤC VỤ CÔNG KHAI CỦA CHÚA JESUS

NĂM ẨN DẬTNĂM ĐƯỢC YÊU MẾNNĂM BỊ CHỐNG ĐỐI
- Lễ Báp-têm- Đám đông lớn theo sau- Phi-e-rơ tuyên xưng Chúa Jesus là Đấng Mê-si
- Chịu cám dỗ- Chọn mười hai sứ đồ- Báo trước về sự thương khó và phục sinh
- Rao giảng và dạy dỗ- Tiếp tục rao giảng và dạy dỗ- Hóa hình trên núi
- Làm phép lạ và đuổi quỷ- Khiến La-xa-rơ sống lại
Tuần lễ Thương Khó
- Vào thành Jerusalem cách khải hoàn
- Dẹp nạn buôn bán trong Đền thờ
- Tiệc Thánh
- Bị bắt và xét xử
- Chịu đóng đinh
Sống lại từ cõi chết
Hiện ra cho các môn đồ
Thăng thiên

2. NĂM ẨN DẬT
#

Giai đoạn này bắt đầu với mục vụ rao giảng của Giăng Báp-tít. Có thể Giăng Báp-tít đã lớn lên trong cộng đồng Essene tại Qumran, nhưng khi xuất hiện công khai, ông trông giống một tiên tri sống ẩn dật và đơn độc. Việc ông rao giảng cho đám đông và làm phép Báp-têm để chuẩn bị cho sự đến của vương quốc Đức Chúa Trời khác biệt với lối sống tách biệt xã hội của nhóm Essene.

Vào thời Giăng Báp-tít, có lẽ những người ngoại quốc cải đạo phải tự mình làm phép Báp-têm như là một nghi thức để gia nhập Do Thái giáo, nhưng Giăng yêu cầu cả người Do Thái phải chịu Báp-têm như là một dấu hiệu ăn năn tội lỗi. Nếu nghi thức Báp-têm cho người ngoại cải đạo chưa xuất hiện trong Do Thái giáo vào thời đó (bằng chứng còn tranh cãi), Giăng có thể đã mượn nghi thức tự tẩy rửa của nhóm Essene và mang lại cho nó một ý nghĩa mới.

Dù theo giả thuyết nào, Giăng Báp-tít đã đổi mới nó bằng cách tự mình thực hiện nghi thức này. Vì thế, “phép Báp-têm của Giăng” có nghĩa là “phép Báp-têm do Giăng thực hiện”. Chúa Jesus đã nhận phép Báp-têm này, chịu Sa-tan cám dỗ, và sau khi chiến thắng cám dỗ, Ngài đã kêu gọi các môn đồ đầu tiên, bắt đầu rao giảng, dạy dỗ, thực hiện phép lạ và đuổi quỷ, chủ yếu tại Galilee, đôi khi trong các chuyến hành hương đến Jerusalem.

“Vả, con trẻ ấy lớn lên, tâm thần mạnh mẽ, ở nơi đồng vắng cho đến ngày tỏ mình ra cùng dân Y-sơ-ra-ên.” (Lu-ca 1:80)

3. GIAI ĐOẠN NỔI TIẾNG CHUYỂN SANG BỊ CHỐI BỎ
#

Các hoạt động rao giảng, dạy dỗ, làm phép lạ và đuổi quỷ tiếp tục trong năm Chúa Jesus được quần chúng yêu mến. Đám đông kéo đến với Ngài ngày càng đông, đến mức Ngài thường tìm nơi yên tĩnh cho mình và các môn đồ, nhưng không phải lúc nào cũng thành công.

“Giai đoạn bị chối bỏ” có lẽ là cách gọi không hoàn toàn chính xác, vì đám đông vẫn tiếp tục theo Chúa Jesus. Khi có cơ hội, Ngài dành thời gian riêng để dạy dỗ các môn đồ. Trong giai đoạn này:

  • Phi-e-rơ (đại diện các môn đồ) tuyên xưng Chúa Jesus là Đấng Mê-si.
  • Chúa Jesus bắt đầu tiên tri về sự chết và phục sinh của Ngài.
  • Sự kiện hóa hình xảy ra.
  • Hành trình cuối cùng đến Jerusalem bắt đầu.

Theo Phúc Âm Giăng:

  • Việc Chúa Jesus khiến La-xa-rơ sống lại khiến các thành viên của Tòa Công Luận (Đại Sanhedrin) quyết định phải loại bỏ Ngài để ngăn nguy cơ một cuộc nổi dậy mang danh Đấng Mê-si.

Theo các sách Phúc Âm Cộng Quan (không đề cập đến La-xa-rơ):

  • Việc Chúa Jesus thanh tẩy Đền thờ sau khi Ngài vào thành Jerusalem cách khải hoàn vào Chúa Nhật Lễ Lá (Palm Sunday) khiến Tòa Công Luận (Đại Sanhedrin) quyết định xử tử Ngài.
  • Giu-đa sắp đặt việc phản bội Chúa Jesus.

4. CÁC QUY TẮC XÉT XỬ CỦA TÒA CÔNG LUẬN
#

Theo luật Do Thái sau này (và có thể cả trước đó), các phiên tòa xử án tử hình phải tuân thủ những quy định sau (Babylonian Talmud, Sanhedrin 4.1.3-5a; 5.1):

  • Bắt đầu vào ban ngày, nếu chưa xong thì tạm hoãn đến hôm sau.
  • Chỉ cần đa số 1 phiếu để tha bổng, nhưng cần đa số ít nhất 2 phiếu để kết án.
  • Có thể tuyên bố vô tội ngay trong ngày đầu, nhưng bản án có tội phải chờ đến ngày hôm sau để các thẩm phán cân nhắc kỹ lưỡng.
  • Không được xét xử vào đêm trước ngày Sa-bát hoặc ngày lễ.
  • Bị cáo không bị ép tự làm chứng chống lại mình hoặc bị kết án dựa trên lời khai của chính họ.

“Đa số chỉ cần một phiếu” và “đa số ít nhất hai phiếu” là các thuật ngữ đề cập đến các quy tắc bỏ phiếu khác nhau giữa tuyên vô tội và kết án:

Thuật ngữ (Tiếng Anh)Dịch nghĩa Tiếng ViệtGiải thích chi tiết
“A majority of only one”“Chỉ cần đa số hơn một phiếu”- Nếu số phiếu tha bổng nhiều hơn phiếu kết án dù chỉ 1 phiếu (ví dụ: 13-12), bị cáo sẽ được trắng án.
- Thể hiện nguyên tắc ưu tiên bảo vệ bị cáo, nghiêng về sự khoan hồng.
“A majority of at least two”“Đa số ít nhất hai phiếu”- Để kết án, số phiếu kết tội phải nhiều hơn phiếu tha ít nhất 2 phiếu (ví dụ: 14-11).
- Nhằm đảm bảo tính chắc chắn của bản án, tránh kết án oan.

Ví dụ minh họa:

  • Trường hợp tha bổng: 12 thành viên tòa án bỏ phiếu “vô tội”, 11 thành viên bỏ phiếu “có tội” → “đa số một phiếu” (12-11) → bị cáo được tha.
  • Trường hợp kết án: Cần ít nhất 14-12 (hơn 2 phiếu) mới đủ để tuyên án tử hình. Nếu chỉ 13-12 (hơn 1 phiếu), bị cáo sẽ không bị kết tội.

Tuy nhiên:

  • Nhóm Sa-đu-sê (chiếm ưu thế trong Sanhedrin thời Chúa Jesus) có thể không tuân thủ những quy tắc bảo vệ bị cáo như nhóm Pha-ri-si (thống trị Sanhedrin sau này).
  • Mối nguy hiểm mà các thành viên Tòa Công Luận tin rằng Chúa Jesus gây ra có thể đã khiến họ phá vỡ quy trình xét xử thông thường.

5. BỮA ĂN CUỐI CÙNG
#

Bữa ăn cuối cùng là một bữa ăn của Lễ Vượt Qua, diễn ra vào tối Thứ Năm. Nghi thức ăn bữa ăn này trong Lễ Vượt Qua bao gồm:

  • Lời chúc phúc
  • Chia sẻ nhiều chén rượu quanh bàn
  • Chủ tiệc kể lại câu chuyện dân Israel ra khỏi Ai Cập
  • Ăn thịt chiên nướng, bánh không men và rau đắng
  • Hát Thánh ca

Chúa Jesus đã liên kết vương quốc của Đức Chúa Trời với một bữa tiệc, phù hợp với sự mong đợi của người Do Thái về một bữa tiệc của Đấng Mê-si. Ngài cũng mô tả sự thương khó của mình như là “chén đắng” mà Ngài phải uống.

Lễ Vượt Qua được thiết lập để kỷ niệm sự kiện Đức Chúa Trời giải cứu dân Israel khỏi ách nô lệ tại Ai Cập qua sự hi sinh của một con chiên bị giết trong Lễ Vượt Qua. Nhưng Chúa Jesus ám chỉ rằng Israel giờ đây bị từ bỏ, nên Ngài lập ra Tiệc Thánh để kỷ niệm sự cứu chuộc một dân mới của Đức Chúa Trời (tức các môn đồ) khỏi tội lỗi, nhờ cái chết hi sinh của chính Ngài.

6. SỰ CHẾT VÀ PHỤC SINH
#

  • Đêm thứ Năm: Chúa Jesus bị bắt và xét xử trước Tòa án Do Thái.
  • Sáng sớm thứ Sáu: Chúa Jesus bị xét xử trước Toàn án của người La Mã.
  • Giữa sáng đến giữa chiều thứ Sáu: Chúa Jesus chịu đóng đinh.
  • Chiều tối thứ Sáu: Chúa Jesus được an táng trong ngôi mộ đá.

Sự Phục sinh xảy ra vào sáng sớm Chúa Nhật, và Chúa Jesus hiện ra với các môn đồ nhiều lần trong 40 ngày sau khi Ngài phục sinh (40-ngày mục vụ sau phục sinh). Cuối cùng, Ngài thăng thiên khoảng hơn một tuần trước khi Đức Thánh Linh giáng lâm vào Ngày Lễ Ngũ Tuần.

Những lời Chúa Jesus nói trên thập tự giá được gọi là “Bảy lời cuối cùng”.

Đọc thêm: BẢY LỜI CUỐI CÙNG CỦA CHÚA JESUS TRÊN THẬP TỰ GIÁ

  1. “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì.” (Lu-ca 23:34)
  2. “Quả thật, ta nói cùng ngươi, hôm nay ngươi sẽ được ở với ta trong nơi Ba-ra-đi.” (Lu-ca 23:43, nói với tên trộm ăn năn)
  3. “Hỡi đàn bà kia, đó là con của ngươi! … Đó là mẹ ngươi!” (Giăng 19:26-27, nói với Ma-ri và môn đồ yêu dấu)
  4. “Ta khát.” (Giăng 19:28)
  5. “Ê-li, Ê-li, lam-ma-sa-bách-ta-ni? nghĩa là: Đức Chúa Trời tôi ơi! Đức Chúa Trời tôi ơi! Sao Ngài lìa bỏ tôi?” (Ma-thi-ơ 27:46; Mác 15:34)
  6. “Mọi sự đã được trọn.” (Giăng 19:30)
  7. “Hỡi Cha, tôi giao linh hồn lại trong tay Cha!” (Lu-ca 23:46)

(Bản đồ Madaba là một trong những bản đồ cổ xưa nhất còn tồn tại của vùng Đất Thánh, được tạo ra vào khoảng năm 560-565. Bản đồ nguyên bản có kích thước khoảng 16x6 mét, bao phủ diện tích từ Lebanon đến Ai Cập thuộc về một nhà thờ từ thế kỷ thứ 6 tại Madaba, Jordan. Ngày nay chỉ còn khoảng 1/4 bản đồ gốc còn sót lại. Bản đồ này đặc biệt quan trọng đối với ngành khảo cổ học Kinh Thánh vì cung cấp thông tin về địa lý thời Byzantine. Trên hình, tại trung tâm của bản đồ là hình ảnh mô tả thành Jerusalem với các bức tường thành, các cổng thành, các nhà thờ (có mái màu đỏ) và con đường Cardo. Con phố chính này của thành phố được mô tả có hai hàng cột chạy dọc từ bắc xuống nam xuyên suốt thành phố)

7. KHẢO LUẬN: NHỮNG PHÉP LẠ VÀ SỰ PHỤC SINH CỦA CHÚA JESUS
#

a. Các Phép Lạ
#

Các phép lạ của Chúa Jesus đặt ra câu hỏi về sự siêu nhiên, điều mà nhiều người tự nhận là có tư duy khoa học thường phản đối. Nhưng nếu có một Đức Chúa Trời đã hành động trong lịch sử - đặc biệt là bằng cách tự mặc khải chính Ngài qua Chúa Jesus Christ - thì chúng ta có thể mong đợi Ngài hành động cách nào khác ngoài hành động siêu nhiên? Nếu không, làm sao chúng ta biết chắc đó thực sự là Đức Chúa Trời?

Việc các tôn giáo khác cũng tuyên bố về những hiện tượng siêu nhiên cho thấy con người vẫn kỳ vọng vào sự hiện diện của thần linh theo những cách vượt ngoài giải thích tự nhiên.

Một thái độ thực sự là khoa học sẽ:

  1. Mở rộng khả năng tồn tại của các phép lạ siêu nhiên
  2. Kiểm tra các tuyên bố bằng những câu hỏi nghiêm túc:
    • Có nhân chứng chứng kiến không? Số lượng có đủ? Đáng tin không?
    • Họ có kiên quyết giữ lời chứng dưới áp lực, thậm chí cái chết không?
    • Tài liệu ghi chép có sớm hay muộn? Có bị thần thoại hóa qua truyền miệng không?

Những câu hỏi này làm lu mờ các tuyên bố siêu nhiên của nhiều tôn giáo khác, nhưng lại củng cố tính xác thực của Cơ Đốc giáo:

  • Rất nhiều nhân chứng đã chứng kiến cuộc đời và chức vụ Chúa Giê-su.
  • Họ chịu sự ruồng bỏ, tra tấn, và cả cái chết để giữ vững lời chứng về Ngài.
  • Họ không thể im lặng, dù phải trả giá đắt. Nếu muốn, họ chỉ cần thú nhận mình dối trá hoặc ngừng rao giảng là sẽ thoát chết.
  • Các sách Phúc Âm được viết trong vòng nửa thể kỷ sau khi Chúa Jesus chịu chết và sống lại - thời gian quá ngắn để có thể thành các huyền thoại bóp méo sự thật, nhất là trong khi nhiều nhân chứng vẫn còn sống.
  • Ngay cả Phao-lô cũng không dám viện dẫn những phép lạ mình làm giữa người Ga-la-ti nếu họ chưa từng chứng kiến (Ga-la-ti 3:5).

Điều này cho thấy: Tuyên bố về các phép lạ của Cơ Đốc giáo không hề bị ảnh hưởng bởi các tôn giáo khác khi được kiểm chứng bằng các phương pháp nghiên cứu lịch sử khách quan.

b. Sự Phục Sinh
#

Việc Chúa Jesus thực sự sống lại từ cõi chết được củng cố bởi những hạn chế của các giả thuyết phủ nhận sự phục sinh.

1. Giả thuyết “Chúa Jesus chỉ ngất đi”

  • Một giả thuyết cho rằng Chúa Jesus chỉ trông giống như đã chết, rằng Ngài rơi vào trạng thái hôn mê và tỉnh lại sau một thời gian ngắn. Tuy nhiên, cái chết của Ngài được chứng minh qua những trận đòn tàn bạo Ngài phải chịu, sáu tiếng đồng hồ bị treo trên thập tự giá, bị ngọn giáo đâm xuyên qua lồng ngực khiến máu và nước chảy ra, việc Ngài được ướp xác xơ sài và quấn trong vải liệm, cuối cùng là việc xác Ngài được đặt trong một ngôi mộ bị niêm phong.

2. Giả thuyết “Môn đồ đánh cắp xác”

  • Một số khác đưa ra giả thuyết rằng các môn đồ đã đánh cắp thi hài của Chúa Jesus. Nhưng để làm được điều đó, họ phải vượt qua đội lính canh La Mã - một việc khó xảy ra - hoặc phải hối lộ lính canh, điều này cũng không khả thi vì những người lính biết rằng họ sẽ bị xử tử nếu để mất thi hài.

  • Việc tấm vải liệm vẫn nguyên vẹn (thậm chí không bị mở ra) và khăn quấn đầu vẫn được cuộn lại và đặt riêng sang một bên chứng tỏ thi hài không bị lấy đi một cách vội vã. Những kẻ trộm thường không rảnh rang để dọn dẹp. Nếu quả là trộm, thì họ sẽ mang cả xác lẫn vải liệm để rời đi nhanh chóng.

  • Sự ngạc nhiên, thậm chí là hoài nghi của các môn đồ trước sự phục sinh của Chúa Jesus càng cho thấy họ không đánh cắp thi hài, trừ khi sự ngạc nhiên và hoài nghi đó được dựng lên để khiến câu chuyện trở nên thuyết phục. Nhưng một sự dàn dựng như vậy có vẻ “quá thông minh một cách gượng ép.” Cũng khó tin rằng người ta lại dựng nên những câu chuyện trong đó các sứ đồ ban đầu được miêu tả là không tin vào sự phục sinh, bởi vì Hội Thánh sơ khai chẳng bao lâu sau đã bắt đầu tôn vinh các sứ đồ.

3. Giả thuyết “Ảo giác tập thể”

  • Một số khác lại cho rằng các môn đồ đã gặp ảo giác. Nhưng Tân Ước ghi lại nhiều lần Chúa Jesus hiện ra ở các địa điểm khác nhau, vào những thời điểm khác nhau, trước nhiều nhóm người từ một người đến hơn năm trăm người (1 Cô-rinh-tô 15:5-8). Những lần Chúa Jesus hiện ra quá nhiều và quá đa dạng để có thể là ảo giác. Hơn nữa, các môn đồ không có tâm lý sẵn sàng cho ảo giác, vì họ không mong đợi Chúa Jesus sống lại và thậm chí đã không tin những báo cáo đầu tiên về việc Ngài đã phục sinh.

  • Những người Do Thái không tin chỉ cần làm một việc đơn giản khi tin đồn về sự phục sinh của Chúa Jesus lan truyền: đó là đưa ra thi hài của Chúa Jesus. Nhưng họ chưa bao giờ làm được điều đó.

4. Giả thuyết “Nhầm mộ”

  • Lập luận tương tự cũng bác bỏ giả thuyết rằng các môn đồ đã đến nhầm ngôi mộ. Tại sao những người Do Thái không tin lại không thể đưa ra thi hài từ ngôi mộ đúng? Hẳn họ phải biết nơi Chúa Jesus được chôn cất, vì chính họ đã thuyết phục Phi-lát đặt lính canh ở đó.

5. Giả thuyết “Ảnh hưởng thần thoại ngoại giáo”

  • Một số khác lại cho rằng các môn đồ đã mô phỏng sự phục sinh của Chúa Jesus dựa trên những câu chuyện thần thoại ngoại giáo về các vị thần chết rồi sống lại. Nhưng sự khác biệt ở đây lớn hơn nhiều so với điểm tương đồng. Các câu chuyện thần thoại không có cùng khuôn khổ với các ghi chép về sự phục sinh của Chúa Jesus. Tân Ước không hề liên hệ sự kiện phục sinh của Chúa Jesus với chu kỳ chết và sống lại hàng năm của tự nhiên như trong các thần thoại ngoại giáo, vốn gắn liền với nông nghiệp và khả năng sinh sản.
  • Phong cách tường thuật thực tế trong các sách Phúc Âm tương phản rõ rệt với những yếu tố hư cấu đầy rẫy trong các thần thoại.
  • Hơn nữa, các ghi chép về sự phục sinh xuất hiện ngay trong Hội Thánh sơ khai, không có khoảng thời gian đủ dài để một hệ thống thần thoại chi tiết kịp hình thành.
  • Lời tuyên bố đầy tự tin của Phao-lô rằng có hơn năm trăm người đã nhìn thấy Chúa Jesus sau khi Ngài sống lại ở cùng một thời điểm và địa điểm. Hầu hết họ vẫn còn sống tại thời điểm các sách Tân Ước được viết, và có thể làm chứng nếu cần chất vấn. Vì vậy, thật khó tin nếu toàn bộ câu chuyện chỉ là sản phẩm của sự phát triển thần thoại (1 Cô-rinh-tô 15:6).

Phải có sự kiện gì đó quan trọng đến mức khiến những môn đồ Do Thái đầu tiên thay đổi ngày thờ phượng từ Sa-bát sang Chúa Nhật. Hoặc họ đã bị lừa dối - nhưng khi đó, những người Do Thái không tin chỉ cần đưa ra thi hài của Chúa Jesus là có thể dập tắt Cơ Đốc giáo - hoặc họ đã tung ra một trò lừa bịp cho cả thế giới - nhưng xét về mặt tâm lý, thật khó tin rằng họ sẵn sàng chịu khổ đau, tra tấn và cái chết vì điều mà họ biết là giả dối.

Cũng thật khó hình dung trong thế giới cổ đại, những người bịa chuyện lại chọn phụ nữ làm nhân chứng đầu tiên về ngôi mộ trống và Chúa Jesus phục sinh, bởi vì lời chứng của phụ nữ thời đó không được tin cậy.

Bạn không cần phải xem Tân Ước là lời được hà hơi bởi Đức Chúa Trời để cảm nhận sức nặng của những bằng chứng lịch sử về sự phục sinh của Chúa Jesus. Các tường thuật trong các sách Phúc Âm và các bằng chứng khác vẫn đủ thuyết phục, bất chấp bạn tin hay không tin chúng có thẩm quyền thiêng liêng. Việc giữ định kiến cho rằng một sự kiện như vậy không thể xảy ra chính là rào cản lớn nhất cho đức tin nơi sự phục sinh của Chúa Jesus.

Bởi vì Chúa Jesus đã sống lại, nên hiện có một con người trên thiên đàng đang cầu thay cho những ai tin Ngài, vì Ngài là sinh tế chuộc tội của họ. Sự phục sinh của Chúa Jesus cũng ban năng lực cho đời sống Cơ Đốc và đảm bảo về sự tái lâm của Ngài cùng sự phục sinh và sự sống đời đời cho những ai tin nhận Ngài.

“Đấng ban Đức Thánh Linh cho anh em và làm các phép lạ trong anh em, thì làm bởi các việc luật pháp, hay là bởi đã nghe mà tin?” (Ga-la-ti 3:5)

8. GIẢNG DẠY
#

Các bài giảng của Chúa Jesus đầy màu sắc và đẹp như tranh vẽ, sử dụng nhiều biện pháp tu từ (ví dụ: ẩn dụ, so sánh, phóng đại, đảo ngữ, châm biếm, …). Ngài thường tạo ra những câu nói ngắn gọn nhưng ấn tượng, khó quên, và rất thích chơi chữ - điều thường bị mất đi trong các bản dịch. Nhiều lời dạy của Ngài được trình bày theo lối song hành, đặc trưng của thơ ca Semitic 1.

a. Ẩn Dụ
#

Chúa Jesus thường giảng dạy bằng ẩn dụ - những biện pháp tu từ mở rộng, thường dưới dạng câu chuyện. Trước đây, các nhà giải kinh thường gán nhiều ý nghĩa hình bóng (allegorical meanings) cho từng chi tiết trong các ẩn dụ (hay còn gọi là “giải nghĩa hình bóng”). Sau đó, giới học giả nghiêng về quan điểm cho rằng mỗi ẩn dụ chỉ chứa đựng một bài học chính, còn các chi tiết khác chỉ nhằm tăng tính chân thực. Ngày nay, các học giả nhận ra rằng không có ranh giới cứng nhắc giữa ẩn dụ chỉ chứa một ý nghĩa và ẩn dụ đa tầng nghĩa. Do đó, cần nhìn nhận có một mức độ hình bóng trong ẩn dụ, đặc biệt là trong những ẩn dụ dài.

Đọc thêm: MỘT VÍ DỤ KINH ĐIỂN VỀ GIẢI NGHĨA ẨN DỤ THEO CÁCH GIẢI NGHĨA HÌNH BÓNG QUÁ ĐÀ

Theo Augustine (một giáo phụ Hội Thánh đầu tiên), các chi tiết trong ẩn dụ người Sa-ma-ri nhân lành (Lu-ca 10:30-37) có ý nghĩa như sau:

  • Người bị cướp đánh = A-đam
  • Giê-ru-sa-lem = thành phố thiên đàng mà A-đam sa ngã
  • Những kẻ cướp = ma quỷ, đã cướp đi sự bất tử của A-đam
  • Thầy tế lễ và người Lê-vi = luật pháp Cựu Ước, không thể cứu ai
  • Người Sa-ma-ri nhân lành = Chúa Christ, Đấng tha tội
  • Quán trọ = Hội Thánh
  • Chủ quán = Sứ đồ Phao-lô

b. Nội Dung Giảng Dạy
#

Chúa Jesus xây dựng nội dung giảng dạy của mình trên nền tảng Cựu Ước về chủ nghĩa độc thần đạo đức - niềm tin vào một Đức Chúa Trời yêu thương và công chính, là Đấng hành động cứu chuộc và phán xét trong lịch sử theo mối quan hệ giao ước của Ngài với loài người.

Chúa Jesus đã đặt mình vào vị trí độc nhất bằng cách tuyên bố tội lỗi được tha, tự nhận là Đấng xét đoán số phận đời đời của mọi người, đòi hỏi sự trung thành tuyệt đối, đưa ra những tuyên bố “Ta là…” đầy kinh ngạc, và mở đầu nhiều lời dạy bằng thẩm quyền tối thượng với “A-men” (nghĩa là “thật vậy”).

Tuy nhiên, Ngài miễn cưỡng chấp nhận và sử dụng danh hiệu Đấng Christ, hay Đấng Mê-si (Messiah), vì danh hiệu này chủ yếu mang sắc thái chính trị và quân sự trong Do Thái giáo thế kỷ thứ nhất.

Ngài thích tự gọi mình là “Con Người” (“the Son of Man”)- nhân vật siêu nhiên trong khải tượng của Đa-ni-ên, từ trời đến để phán xét và cai trị thế gian (Đa-ni-ên 7:9-14). Nhưng Chúa Jesus cũng liên kết sự đau khổ của “Đầy Tớ Đức Giê-hô-va” (“the Servant of the LORD”, Ê-sai 52:13-53:12) với chính mình với tư cách là Con Người. Đáng chú ý, danh xưng “Con Người” hầu như chỉ xuất hiện từ chính miệng Chúa Jesus. Đối với người Do Thái, họ hầu như hoặc hoàn toàn không dùng danh xưng này theo nghĩa chỉ Đấng Mê-si. Nhờ đó, Chúa Jesus có thể xây dựng nên định nghĩa của riêng mình cho danh xưng này.

Danh xưng “Con (của Đức Chúa Trời)” (“Son of God”) xuất hiện trong cả những lời tuyên bố của Ngài về bản thân lẫn lời của người khác nói về Ngài.

c. Ý Thức về Thân Phận Thiên Thượng
#

Ý thức về thân phận là Con Độc Sanh Của Đức Chúa Trời của Chúa Jesus cũng thể hiện qua cách Ngài dùng từ “Abba” bằng tiếng Aramaic (có nghĩa là “Cha”) - vốn là tiếng bập bẹ gọi cha của trẻ con (tương tự như từ “Dadda” hoặc “Daddy” trong tiếng Anh). Tuy nhiên, cách xưng hô này không rơi vào tình cảm sướt mướt, vì người Do Thái vẫn tiếp tục dùng từ này khi trưởng thành.

Chúa Jesus cũng dạy môn đồ gọi Đức Chúa Trời là “Abba”, vì mối quan hệ của họ với Đức Chúa Trời qua Ngài. Trước đây, Đức Chúa Trời chủ yếu được xem là Cha của cả dân tộc Y-sơ-ra-ên. Nhưng tần suất, sự ấm áp, sự nhấn mạnh mang tính cá nhân và thân mật trong cách Chúa Jesus nói về tình phụ tử của Đức Chúa Trời đã trở thành đặc điểm nổi bật trong sự dạy dỗ của Ngài.

Theo Chúa Jesus, hai mệnh lệnh đạo đức chính là yêu kính Đức Chúa Trờiyêu thương người lân cận. Quan điểm của Ngài về đời sống công chính nhấn mạnh vào động cơ bên trong hơn là sự thể hiện bề ngoài. “Luật Vàng” (Golden Rule) 2, xuất hiện dưới dạng tích cực, giúp định nghĩa điều Ngài muốn nói về tình yêu thương.

Đọc thêm: LUẬT VÀNG

“Ấy vậy, hễ điều chi mà các ngươi muốn người ta làm cho mình, thì cũng hãy làm điều đó cho họ, vì ấy là luật pháp và lời tiên tri.” (Ma-thi-ơ 7:12)

d. Vương Quốc của Đức Chúa Trời
#

Thông điệp của cả Giăng Báp-tít và Chúa Jesus đều tập trung trước hết vào “vương quốc”. Hai cụm từ “của Đức Chúa Trời”“của thiên đàng” thường bổ nghĩa cho thuật ngữ này. Hai cách diễn đạt này đồng nghĩa với nhau.

Ở một số chỗ, cả hai cụm từ này xuất hiện trong cùng một đoạn Kinh Thánh. Ví dụ, Chúa Jesus phán trong Ma-thi-ơ 19:23-24 rằng người giàu khó vào vương quốc của thiên đàng, đến nỗi lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào vương quốc của Đức Chúa Trời. Hai cụm từ này cũng dùng để thay thế nhau trong các sách Phúc Âm khác nhau. Chẳng hạn, “vương quốc của Đức Chúa Trời thuộc về những kẻ giống như con trẻ ấy” (Mác 10:14) trở thành “vương quốc của thiên đàng” trong Ma-thi-ơ 19:14.

Chỉ có sách Phúc Âm Ma-thi-ơ sử dụng cụm từ “vương quốc của thiên đàng” (ba sách còn lại chỉ dùng cụm từ “vương quốc của Đức Chúa Trời”), vì Ma-thi-ơ thường được cho là phản ánh tập quán của người Do Thái thời đó ngày càng tránh dùng danh xưng thiêng liêng để không bị phạm thượng. Nhưng Ma-thi-ơ không ngần ngại dùng danh Đức Chúa Trời ở những chỗ khác; vì vậy, có lẽ “vương quốc của thiên đàng” phản ánh Đa-ni-ên 2:44 và nhấn mạnh tính phổ quát: như thiên đàng bao trùm toàn bộ trái đất, thì vương quốc này cũng bao trùm cả thế giới.

Chúa Jesus có thể đã sử dụng cả hai cụm từ, tùy đối tượng nghe và điều Ngài muốn nhấn mạnh. Hoặc có thể cụm từ “vương quốc của thiên đàng” của Ma-thi-ơ là cụm từ mà Chúa Jesus sử dụng, nhưng ba tác giả Phúc Âm còn lại dịch là “vương quốc của Đức Chúa Trời” để các độc giả người ngoại dễ hiểu, vì họ có thể không hiểu cách dùng từ “thiên đàng” để chỉ “Đức Chúa Trời”. Hoặc, rất có thể, Chúa Jesus thường xuyên sử dụng cụm từ “vương quốc của Đức Chúa Trời”, và Ma-thi-ơ thay thế bằng “vương quốc của thiên đàng”.

Thuật ngữ “vương quốc” mang hai nghĩa: (1) phạm vi cai trị và (2) hoạt động cai trị. Do tính chất động từ trong ý nghĩa thứ hai này, nhiều học giả thích cách dịch là “sự cai trị (hoặc quyền cai trị) của Đức Chúa Trời”. Cả hai nghĩa đều hiện diện trong Tân Ước, tùy ngữ cảnh sẽ xác định nghĩa nào nổi bật hơn. Hoạt động cai trị bao gồm giải cứu thần dân khỏi áp bức, ban phước lành cho họ cũng như thực thi quyền cai trị trên họ.

Đọc thêm: CÁC Ý NGHĨA CỦA VƯƠNG QUỐC

  • Ví dụ về “vương quốc” như hoạt động cai trị: “Vương quốc của Đức Chúa Trời ở giữa các ngươi” (Lu-ca 17:21), nghĩa là “Đức Chúa Trời đang cai trị giữa các ngươi”.
  • Ví dụ về “vương quốc” như phạm vi cai trị: “Người giàu vào vương quốc của Đức Chúa Trời khó biết bao!” (Lu-ca 18:24), nghĩa là vào nơi Đức Chúa Trời cai trị.

e. Lai Thế Học Ứng Nghiệm (Realized Eschatology)
#

Giăng Báp-tít và Chúa Jesus tuyên bố vương quốc “đã đến gần” và mọi người phải chuẩn bị bằng cách ăn năn tội lỗi của mình (Ma-thi-ơ 3:2; 4:17; Mác 1:14-15). Khi mục vụ của Chúa Jesus bắt đầu, Ngài nói rằng vương quốc thực sự đã đến: “Mà nếu ta cậy Thánh Linh của Đức Chúa Trời để trừ quỉ, thì vương quốc của Đức Chúa Trời đã đến tận các ngươi.” (Ma-thi-ơ 12:28; Lu-ca 11:20). Nói cách khác, sự cai trị của Đức Chúa Trời đang xâm nhập thế gian qua chính Chúa Jesus và các công việc của Ngài. Do đó, người ta phải vào vương quốc bằng đức tin nơi Chúa Jesus (Giăng 3:3).

Sự nhấn mạnh vào vương quốc đã đến qua sự xuất hiện của Chúa Jesus và những việc Ngài làm được gọi là “lai thế học ứng nghiệm” (realized eschatology 3) 4, thuật ngữ gắn với C.H. Dodd.

f. Lai Thế Học Nhất Quán (Consistent Eschatology)
#

Mặt khác, Chúa Jesus cũng nói về vương quốc sẽ đến khi thời đại gian ác này chấm dứt: “…cho đến ngày ta uống trái nho mới trong vương quốc Đức Chúa Trời” (Mác 14:25); “nhiều người sẽ đến… dự tiệc… trong vương quốc thiên đàng” (Ma-thi-ơ 8:11; Lu-ca 13:28-29). Lời cầu nguyện “Nước Cha được đến” cũng ngụ ý vương quốc vẫn chưa đến.

Sự nhấn mạnh vào sự xuất hiện của vương quốc trong tương lai, đặc biệt là tương lai gần, được gọi là “lai thế học nhất quán” (consistent eschatology) (đọc thêm ở chú thích 3), thuật ngữ gắn với Albert Schweitzer. Bản thân ông không theo quan điểm lai thế học nhất quán, nhưng ông lập luận rằng Chúa Jesus theo quan điểm đó.

g. Sự Mầu Nhiệm của Vương Quốc (Inaugurated Eschatology - Lai Thế Học Khởi Nguyên)
#

Cả hai quan điểm đều được ủng hộ mạnh mẽ bởi các phân đoạn Kinh Thánh (như vừa nêu). Vì thế, Chúa Jesus hẳn đã dạy về vương quốc ở cả thì hiện tại lẫn tương lai. Do đó, “sự mầu nhiệm” vương quốc chính là bí mật đã được tiết lộ rằng trước khi Đức Chúa Trời thiết lập hoàn toàn sự cai trị của Ngài trên đất vào thời điểm Chúa Jesus tái lâm, các tín hữu đã được hưởng trước các phước lành của tương lai - gọi là hệ thống tư tưởng “lai thế học khởi nguyên” (inaugurated eschatology) (đọc thêm ở chú thích 3).

Thông qua lời rao giảng của mình, Chúa Jesus đã đem sự cai trị của Đức Chúa Trời đến với dân Do Thái, nhưng dựa trên nền tảng ăn năn và đức tin, chứ không phải chính trị hay quân sự. Bằng cách chối bỏ Chúa Jesus, đa số người Do Thái, đặc biệt là các lãnh đạo, đã từ chối sự cai trị của Đức Chúa Trời. Do đó, Ngài đã chuyển giao sự cai trị đó cho Hội Thánh (Ma-thi-ơ 21:42-43; so sánh Công vụ 8:12; 28:23, 28-31; Rô-ma 14:17; Cô-lô-se 1:13) cho đến khi dân Israel được phục hồi (Ma-thi-ơ 19:28 song song với Lu-ca 22:28-30).

Trong thời gian đó, Chúa Jesus giao cho các môn đồ của Ngài nhiệm vụ rao giảng Phúc Âm khắp thế giới, cho đến khi Ngài trở lại để phán xét nhân loại và thiết lập vương quốc của Đức Chúa Trời cách trọn vẹn và đời đời.

TÓM LẠI
#

Mục vụ công khai của Chúa Jesus kéo dài khoảng ba năm rưỡi, từ năm 30-33 hoặc 27-30, và theo truyền thống được chia thành năm ẩn dật, năm nổi tiếng và năm bị chống đối.

Giăng Báp-tít đã dọn đường cho Chúa Jesus, là Đấng thi hành mục vụ qua công tác giảng dạy, làm phép lạ, đuổi quỷ, và cuối cùng hi sinh vì tội lỗi của chúng ta, sống lại từ cõi chết để cho chúng ta sự sống đời đời - tất cả đều nhằm đem vương quốc Đức Chúa Trời đến thế gian, tức thiết lập sự cai trị của Đức Chúa Trời trên khắp đất và đưa các tín hữu vào phước lành của vương quốc ấy.

Vương quốc đã được hiện thực hóa trong phạm vi các môn đồ của Chúa Jesus, nhưng vẫn chưa đến trong phạm vi của thế giới nổi loạn chống lại Đức Chúa Trời. Sự căng thẳng giữa “đã đến” và “chưa đến” tạo nên sự mầu nhiệm vương quốc, thường được diễn tả qua ngôn ngữ tượng hình của các ẩn dụ.

Những điểm nhấn trong mục vụ của Chúa Jesus bao gồm các sự kiện: Ngài chịu phép Báp-têm và bị cám dỗ trong đồng vắng, lời tuyên xưng của Phi-e-rơ, những lần Ngài báo trước sự thương khó và phục sinh, sự hóa hình, sự sống lại của La-xa-rơ, sự vào thành Giê-ru-sa-lem cách khải hoàn vào Chúa nhật bắt đầu Tuần lễ Thương Khó, sự dẹp sạch trong Đền Thờ, Tiệc Thánh, Chúa Jesus bị bắt, ra toà, bị đóng đinh, phục sinh và thăng thiên.

CHÚ THÍCH
#


  1. Semitic: Ngôn ngữ của người Semite (tên Latin hóa để chỉ con cháu của “Sem”, xem Sáng thế ký 10:21-31). Các ngôn ngữ Semite được chia thành ba nhánh: (1) Nhánh phía Đông gồm các ngôn ngữ Akkad, (2) nhánh phía Nam chủ yếu là các ngôn ngữ Ả Rập, (3) nhánh Tây Bắc bao gồm tiếng Ca-na-an, tiếng Hê-bơ-rơ, tiếng Ugarit và tiếng A-ram. Người Semite không phải là một khối thống nhất về văn hóa mà chủ yếu là về ngôn ngữ. Họ đã đóng góp nhiều thành tựu quan trọng cho nền văn minh nhân loại, trong đó có bảng chữ cái và Mười Điều Răn. ↩︎

  2. Golden Rule: Luật Vàng là tên gọi phù hợp cho Ma-thi-ơ 7:12, vì động lực vươn xa vì ích lợi của người khác của quy tắc này - điều rõ ràng là cốt lõi trong lời dạy và lối sống của Chúa Jesus: “Ấy vậy, hễ điều chi mà các ngươi muốn người ta làm cho mình, thì cũng hãy làm điều đó cho họ”, Ma-thi-ơ bổ sung thêm, “vì ấy là luật pháp và lời tiên tri”. Sự quan tâm đến người khác trong quy tắc này được xem là nhất quán với cách Chúa Jesus tập trung luật pháp vào sự quan tâm đến lợi ích của người khác. Nguyên tắc cốt lõi này vốn đã được biết đến rộng rãi, cả trong Do Thái giáo Đền thờ Thứ hai lẫn bên ngoài, nhưng thường ở dạng phủ định: “Đừng làm cho người khác điều gì mà ngươi không muốn họ làm cho mình” (ví dụ: Tobit 4:15; Thư Aristeas 207; Di chúc Naphtali 1:6; Talmud Shabbat 31a). ↩︎

  3. Eschatology: Lai thế học là một thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, có nghĩa là nghiên cứu (hoặc niềm tin) về thời kỳ cuối cùng (Hy Lạp: eschatos – “những điều cuối cùng”) với cao trào tối hậu hoặc sự kết thúc của lịch sử khi Đấng Christ trở lại để thiết lập vương quốc vĩnh cửu của sự công chính và công lý giữa muôn dân. Vậy thì, lai thế học là môn nghiên cứu thần học tìm hiểu mục đích tối hậu của lịch sử khi hướng về tương lai, cả từ góc độ cá nhân (Điều gì xảy ra khi một người chết?) lẫn tập thể (Lịch sử đang hướng đến đâu và sẽ kết thúc thế nào?). Trong thế kỷ 20, có ít nhất ba hệ thống tư tưởng lai thế học cơ bản đã phát triển: (1) Lai thế học ứng nghiệm (Realized eschatology) là hệ thống tư tưởng xem sự giáng thế lần thứ nhất của Chúa Jesus Christ chính là sự hiện diện trọn vẹn của vương quốc Đức Chúa Trời, (2) Lai thế học nhất quán (Consistent, or thoroughgoing eschatology) là hệ thống tư tưởng cho rằng các lời dạy của Chúa Jesus và các sứ đồ hoàn toàn tập trung vào việc công bố sự kết thúc sắp xảy ra của lịch sử, , (3) Lai thế học khởi nguyên (Inaugurated eschatology) là hệ thống tư tưởng xem lần giáng thế đầu tiên của Đấng Christ là khởi điểm của vương quốc trong hiện tại, đồng thời thừa nhận sự hoàn tất hoặc viên mãn của vương quốc Đức Chúa Trời vẫn chưa đến. ↩︎ ↩︎ ↩︎

  4. Realized eschatology: Lai thế học ứng nghiệm là hệ thống tư tưởng cho rằng vương quốc của Đức Chúa Trời trong các lời dạy của Chúa Jesus không phải trong tương lai mà đã “ứng nghiệm” trong chính con người và sứ mệnh của Ngài. Thuật ngữ này được gắn liền với C. H. Dodd, người đã phát triển hệ thống tư tưởng này, đặc biệt trong các công trình nghiên cứu về các ẩn dụ của Chúa Jesus. Hầu hết các nhà giải kinh đều chỉ trích quan điểm của Dodd là quá cực đoan. Họ lập luận rằng mặc dù vương quốc của Đức Chúa Trời đã hiện diện trong cuộc đời và chức vụ của Chúa Jesus, nhưng Ngài vẫn chỉ ra sự hoàn tất cuối cùng của vương quốc trong tương lai - nói cách khác, vương quốc vừa “đã đến” nhưng cũng “chưa hoàn tất”. ↩︎