Skip to main content

Chương 7: MÁC - SỰ BIỆN GIẢI CHO SỰ KIỆN CHÚA JESUS BỊ ĐÓNG ĐINH TRÊN CÂY THẬP TỰ

·17884 words·84 mins·
Author
Lily
Table of Contents

TÂN ƯỚC LƯỢC KHẢO

(Hình 1: Thượng nguồn sông Giô-đanh tại Banias, Caesarea Philippi)

I. GIỚI THIỆU
#

1. Sách Phúc Âm
#

Sách Phúc Âm là sách viết về cuộc đời và mục vụ của Chúa Jesus. Tuy nhiên, khác với các sách thuộc thể loại tiểu sử hiện đại, các sách Phúc Âm không trình bày bối cảnh lịch sử đương thời, phân tích nhân vật hay tính cách, hoặc suy đoán những suy nghĩ nội tâm của nhân vật chính. Các sách Phúc Âm cũng không giống các tác phẩm Hy Lạp cổ đại chỉ đơn thuần ca ngợi các hành động, có thật hoặc được cho là, của một nhân vật anh hùng có thể làm phép lạ.

Các sách Phúc Âm chứa đựng nhiều điều hơn là việc chỉ thuật lại các phép lạ, cũng không đơn giản là những hồi ký; thay vào đó, các sách Phúc Âm cung cấp những tuyên bố và hướng dẫn được viết từ góc nhìn của các tư tưởng thần học.

(Hình 2: Xứ Pa-lê-tin (Palestine) thời Chúa Jesus)

2. Tác Giả của Sách Phúc Âm
#

Tác giả của một sách Phúc Âm được gọi là nhà truyền giáo (“evangelist”), có nghĩa là người loan báo tin mừng hay người công bố tin tức tốt lành dưới dạng văn bản.

Sau khi được hoàn thành và lưu hành một thời gian, các sách Phúc Âm mới được đặt tên; vì thế, để xác định tác giả, chúng ta chủ yếu phụ thuộc vào (1) các truyền thống xuất hiện sớm nhất trong Hội thánh sơ khai và (2) các bằng chứng nội tại - tức bằng chứng từ chính nội dung của các sách Phúc Âm - để trả lời câu hỏi, “Tác giả của sách là ai?”.

Sách Phúc Âm đầu tiên được viết mang tên của Giăng Mác (“John Mark”). Ông là người đã đi cùng Phao-lô, Ba-na-ba và Phi-e-rơ trong các chuyến truyền giáo được nhắc đến trong sách Công-vụ các Sứ-đồ và các thư tín của Tân Ước.

3. Mác và Phi-e-rơ
#

Ngay từ đầu thế kỷ thứ hai, giáo phụ Papias đã để lại một lời chứng rằng Mác đã ghi chép các hồi ức của Phi-e-rơ về cuộc đời và lời dạy của Chúa Jesus trong sách Phúc Âm của mình một cách chính xác, nhưng không theo một trình tự hoàn chỉnh và chặt chẽ; vì Phi-e-rơ kể lại những ký ức của mình dưới dạng những câu chuyện ngắn, được ông kể rải rác trong các dịp khác nhau.

Các giáo phụ của Hội thánh thời ban đầu như Irenaeus, Clement thành Alexandria, OrigenJerome cũng cho rằng Mác là tác giả của sách Phúc Âm kết hợp với Phi-e-rơ.

Đọc thêm: LỜI CHỨNG CỦA PAPIAS

(Lời chứng của Papias có vào khoảng năm 110, trích dẫn lời của “trưởng lão Giăng” - người được xác định là một trong “các môn đồ của Chúa”. Lời chứng này được ghi lại trong tác phẩm Lịch Sử Hội Thánh (“Ecclesiastical History”) của Eusebius, 3.39.15)

“Một mặt, Mác - khi trở thành người phiên dịch của Phi-e-rơ (với tư cách là người giải thích hoặc thông dịch) - đã ghi lại những điều ông (Phi-e-rơ) nhớ. Mặt khác, ông (Mác) không viết theo thứ tự những điều Chúa đã nói hoặc đã làm. Vì ông không trực tiếp nghe Chúa giảng hay đi theo Ngài. Nhưng sau này, như tôi đã nói, ông (Mác) đã theo Phi-e-rơ, là người giảng dạy bằng những câu chuyện ngắn, nhưng không sắp xếp các lời tuyên bố của Chúa một cách có hệ thống. Do đó, Mác không làm gì sai khi ghi chép một số điều dựa trên trí nhớ của Phi-e-rơ. Vì ông (Mác) luôn chú trọng một điều: không bỏ sót bất cứ điều gì ông đã nghe và không thêm thắt bất cứ điều gì sai lệch.”

4. Đặc Điểm của Sách Mác: Hành Động
#

Ngoại trừ một số ít trường hợp, sách Mác thường tập trung vào các hành động, thay vì những bài giảng dài của Chúa Jesus.

Bằng lối kể chuyện với tiết tấu nhanh, đặc biệt liên tục sử dụng trạng từ “ngay lập tức” và các từ đồng nghĩa của nó (tất cả đều bắt nguồn bởi cùng một từ trong tiếng Hy Lạp), Mác thuật lại những hành động của Chúa Jesus với tư cách là Con Đức Chúa Trời đầy quyền năng và có thẩm quyền.

5. Cách Sắp Xếp Các Sự Kiện
#

Mặc dù về tổng quát, trình tự các sự kiện trong sách Mác có vẻ được sắp xếp theo thứ tự thời gian; nhưng các từ khóasự tương đồng về chủ đề mới là nguyên tắc chính để Mác sắp xếp từng câu chuyện và các lời dạy riêng lẻ của Chúa Jesus lại với nhau.

Ví dụ, Mác 2:1-3:6 bao gồm các câu chuyện về quyền năng của Chúa Jesus trong việc tha tội, dùng bữa chung với người thu thuế, chữa bệnh vào ngày Sa-bát, cho phép các môn đồ không cần kiêng ăn và để họ bứt bông lúa mì ăn vào ngày Sa-bát. Rõ ràng, Mác ghép những câu chuyện này lại với nhau, vì tất cả chúng đều có liên quan đến chủ đề: thẩm quyền của Chúa Jesus.

6. Mục Đích
#

Các học giả hiện đại đã đưa ra nhiều giả thuyết khác nhau về mục đích đằng sau việc Mác viết sách Phúc Âm:

  1. Một số cho rằng Mác viết sách Phúc Âm để hướng dẫn giáo lý cho các tân tín hữu. Tuy nhiên, việc Mác không ghi lại nhiều lời dạy của Chúa Jesus khiến quan điểm này khó đứng vững.
  2. Một số khác cho rằng Mác viết sách Phúc Âm là để sử dụng trong các nghi thức của các buổi nhóm thờ phượng. Nhưng cách sắp xếp các sự kiện, văn phong thiếu sự mượt mà và tính đối xứng của sách Mác không tương thích với các văn kiện phụng vụ thường thấy.
  3. Một số khác tin rằng Mác viết sách Phúc Âm để che giấu việc Chúa Jesus không công khai tuyên bố mình là Đấng Mê-si, và rằng Mác đã khéo léo xóa bỏ “sự xấu hổ” này trong đức tin Cơ Đốc bằng cách tạo ra “bí mật Mê-si”. Đề xuất này cho rằng Mác đã đặt vào miệng Chúa Jesus những lệnh cấm tiết lộ công khai thân phận Mê-si của Ngài, nhằm tạo ấn tượng rằng Chúa Jesus thật sự đã dạy riêng rằng Ngài là Đấng Mê-si, dù thực tế Ngài không làm thế. W. Wrede - học giả đã phổ biến khái niệm “bí mật Mê-si” - cho rằng ý tưởng này bắt nguồn từ những người trước Mác, tức những người đã cung cấp tài liệu cho ông để ông biên soạn sách Phúc Âm (The Messianic Secret, Cambridge: Clarke, 1971, dịch từ bản tiếng Đức năm 1901).
  4. Một số khác lại nghĩ ngược lại rằng, bằng cách tạo ra “bí mật Mê-si”, Mác đang cố gắng giảm bớt các yếu tố chính trị gây khó chịu cho nhà cầm quyền La Mã, khi ông biên soạn sách viết về một mục vụ quá đề cao yếu tố Mê-si. Cả hai quan điểm nhấn mạnh “bí mật Mê-si” (quan điểm 3 và 4) đều dựa trên sự hoài nghi thái quá về độ chính xác trong các ghi chép của Mác. Hầu hết độc giả sẽ không có ấn tượng rằng Mác cảm thấy xấu hổ vì truyền thống về Chúa Jesus có quá ít hoặc quá nhiều yếu tố Mê-si. Hơn nữa, như chúng ta sẽ thấy, việc Chúa Jesus hạn chế công khai thân phận của Ngài dường như là vì những lý do khác nhau, tùy từng trường hợp, và không liên quan gì đến hoàn cảnh của Mác và độc giả của ông sau này.
  5. Hoặc có thể Mác viết sách Phúc Âm là để khích lệ các tín hữu đang bị bắt bớ, bằng cách cho họ thấy Chúa Jesus cũng đã chịu khổ và chịu chết. Nhưng nếu như vậy, tại sao phần lớn nội dung của sách tập trung vào các phép lạ, đuổi quỉ, cũng như thẩm quyền trong lời dạy và tranh luận của Chúa Jesus? Và tại sao Mác lại giảm thiểu và làm nhẹ đi các yếu tố đau khổ trong phần tường thuật về sự kiện Chúa Jesus bị bắt, xét xử và đóng đinh?

Hình phạt đóng đinh chủ yếu chỉ dành cho tội phạm và nô lệ, mang ý nghĩa ghê tởm, giống như ghế điện hay phòng hơi ngạt của thời hiện đại. Vì vậy, có lẽ hợp lý nhất khi cho rằng Mác viết sách Phúc Âm với mục đích biện giải và xóa bỏ nỗi nhục về cách Chúa Jesus đã chết.

Sự biện giải của Mác được thể hiện qua việc ông nhấn mạnh quyền năng làm phép lạ, đuổi quỉ, giảng dạy một cách đáng kinh ngạc, đánh bại đối thủ trong các cuộc tranh luận, thu hút đám đông, báo trước về tương lai (kể cả số phận của chính mình) và sự sống lại từ cõi chết của Chúa Jesus.

Là một lời biện giải, sách Phúc Âm của Mác được biên soạn để làm chứng cho những người ngoại đạo, bất chấp sự sỉ nhục của thập tự giá.

Đọc thêm: SỰ Ô NHỤC TỘI CÙNG

Khi miêu tả hình phạt đóng đinh như là một nỗi ô nhục tột cùng, nghị sĩ và nhà hùng biện người La Mã Cicero đã viết rằng:

“Ngay cả từ ’thập tự giá’ cũng phải bị xóa bỏ, không chỉ khỏi thân thể của một công dân La Mã, mà còn khỏi suy nghĩ, tầm mắt và tai nghe của họ. Bởi không chỉ việc chịu đựng hay trải qua những điều này, mà ngay cả việc phải đối mặt với chúng, sự lo sợ, hay thậm chí chỉ là nhắc đến chúng, cũng là điều không xứng với một công dân La Mã và một người tự do.” - In Defense of Rabirius 16

7. Niên Đại
#

Truyền thống Cơ Đốc sơ khai tỏ ra không chắc chắn về việc Mác đã viết sách Phúc Âm trước hay sau khi Phi-e-rơ tử đạo (Phi-e-rơ tử đạo vào khoảng năm 64-67), nhưng thường nghiêng về giai đoạn sớm hơn.

Các học giả hiện đại tranh luận về niên đại sách Mác. Những người xem “sự ghê tởm tàn phá” trong Mác 13:14 là ám chỉ đến sự kiện thành Giê-ru-sa-lem (Jerusalem) bị phá hủy vào năm 70, cho rằng sách Mác phải được viết sau sự kiện này (chủ nghĩa giải huyền thoại hóa cho rằng Mác viết sách Phúc Âm sau năm 70, nhằm để những lời báo trước của Chúa Jesus ứng nghiệm đúng sự kiện này). Tuy nhiên, quan điểm này đang giả định rằng Chúa Jesus không có khả năng tiên tri (nghĩa là, Ngài không thực sự báo trước về sự hủy diệt Jerusalem mà chi tiết này là do Mác cố ý thêm vào), và bỏ qua việc nhiều chi tiết trong Mác 13 không khớp với tường thuật của Josephus về sự kiện này.

Chúng ta thiếu dữ liệu để trả lời dứt khoát câu hỏi về niên đại của sách Mác. Nhưng nếu chúng ta tin vào sự thực hữu của các lời tiên tri, thì không có bằng chứng nào đủ thuyết phục để bác bỏ một niên đại sớm của sách Mác. Nghĩa là, sách Mác có thể đã được hoàn tất vào khoảng những năm 45-60.

Trên thực tế, nếu Lu-ca kết thúc sách Công vụ mà không mô tả kết quả của phiên tòa xét xử Phao-lô ở Rô-ma (vì phiên tòa này chưa diễn ra), thì sách Công vụ phải được viết vào khoảng năm 63. Như vậy, tác phẩm đi kèm được Lu-ca viết trước đó một thời gian ngắn - sách Phúc Âm Lu-ca - phải được viết sớm hơn năm 63 một chút. Và, nếu Lu-ca tham khảo Mác (Lu-ca sử dụng sách Mác như một nguồn tư liệu), thì sách Mác phải được viết sớm hơn nữa, tức vào những năm 50 hoặc cuối những năm 40.

Đọc thêm: SỰ THIẾU VẮNG CÁC CHI TIẾT GHÊ RỢN

Các chi tiết về cuộc vây hãm và hủy diệt thành Jerusalem không được đề cập trong Mác 13: hành vi ăn thịt người, dịch bệnh, xung đột nội bộ giữa những người Do Thái chủ trương phòng thủ, Đền thờ bị thiêu rụi (Josephus, Jewish War 5.1.1-5 §§1-38; 5.10.2-5 §§424-45; 5.13.1 §§527-33; 6.3.1-6.5.3 §§177-309; 7.1.1 §1)

8. Độc Giả Đầu Tiên và Nguồn Gốc
#

Mác có lẽ đã viết sách Phúc Âm cho các độc giả ở thành Rô-ma.

Bằng chứng nội tại:

  • Mác dịch các thành ngữ tiếng A-ram (Aramaic) ra phiên âm tiếng Hy Lạp cho họ (Mác 3:17; 5:41; 7:34; 14:36; 15:34).
  • Thậm chí, ông còn giải thích các thành ngữ Hy Lạp bằng các từ tương đương trong tiếng Latin (Mác 12:42; 15:16) và sử dụng một số thuật ngữ tiếng Latin khác.
  • Một bằng chứng khác là việc Mác nhắc đến Ru-phu trong Mác 15:21 (Ru-phu là tên tiếng Việt phiên âm từ gốc tiếng Hy Lạp “Rhoufος”. “Rhoufος” là phiên âm tiếng Hy Lạp của “Rufus”, một cái tên riêng phổ biến trong tiếng Latin). Tên người này xuất hiện lần nữa trong Rô-ma 16:13, cho thấy Ru-phu là một tín hữu đang sống tại Rô-ma (trừ khi hai văn bản này đề cập đến hai người khác nhau nhưng có cùng cái tên Ru-phu).

Các bằng chứng bên ngoài:

  • Sự hiện diện của Mác ở Rô-ma (Rô-ma được gọi một cách hình bóng là “Ba-by-lôn”) theo 1 Phi-e-rơ 5:13;
  • Sự kết hợp giữa tuyên bố của Papias rằng Mác là người phiên dịch của Phi-e-rơ với truyền thống ban đầu về sự tử đạo của Phi-e-rơ tại Rô-ma;
  • Các lời tựa chống Marcion (Anti-Marcionite prologues) 1 cho biết rằng Mác đã viết sách Phúc Âm khi ông đang ở tại Ý;
  • Các tuyên bố khác của Clement thành Alexandria và Irenaeus đều cho rằng, Mác - khi ở Rô-ma - đã viết sách Phúc Âm theo lời kể của sứ đồ Phi-e-rơ.

Đọc thêm: LỜI CHỨNG CỦA CLEMENT Ở THÀNH ALEXANDRIA

(Lời chứng của Clement ở thành Alexandria về sách Mác, xuất hiện vào khoảng năm 150–215, xuất phát từ tác phẩm Hypotyposes (“Outlines”) đã mất của ông, về sau được Eusebius ở thành Caesarea trích dẫn trong tác phẩm Lịch sử Hội thánh (Quyển 6, Chương 14))

“Vậy, sau khi Phi-e-rơ công khai rao giảng Lời Chúa tại thành Rô-ma và công bố Tin Lành bởi Đức Thánh Linh, đã thuyết phục nhiều người nghe vâng theo đức tin. Những tín hữu này đã thúc giục Mác - vì Mác đã theo Phi-e-rơ từ lâu và ghi nhớ những lời giảng dạy của Phi-e-rơ - ghi chép lại những gì Phi-e-rơ đã nói. Khi Mác biên soạn xong sách Phúc Âm của mình, ông đã trao nó cho những người đã yêu cầu. Khi Phi-e-rơ biết việc này, ông không ngăn cấm nhưng cũng không khuyến khích.”

Đọc thêm: LỜI CHỨNG CỦA IRENAEUS

“Sau khi các ngài ấy (Phi-e-rơ và Phao-lô) qua đời, Mác - môn đệ và thông dịch viên của Phi-e-rơ - cũng đã chép lại những lời giảng của Phi-e-rơ và truyền lại cho chúng ta.” - Against Heresies 3.1.2

Đọc thêm: BẢNG TÓM TẮT CÁC LỜI CHỨNG TRONG TRUYỀN THỐNG CỦA HỘI THÁNH SƠ KHAI

NguồnLời chứng về sách Mác
Papias
(khoảng năm 110-130)
Mác đã chép lại các lời dạy của Phi-e-rơ “không theo thứ tự”, nhưng chính xác.
Irenaeus
(khoảng năm 180)
Mác ghi lại lời giảng của Phi-e-rơ sau khi Phi-e-rơ qua đời (Adv. Haer. 3.1.1-2).
Clement
(khoảng năm 200)
Mác đã viết ở Rô-ma trong thời gian Phi-e-rơ còn sống, với sự chấp thuận ngầm của Phi-e-rơ (Hypotyposes).
Origen
(khoảng năm 240)
Mác đã biên soạn sách Phúc Âm của mình “theo sự hướng dẫn của Phi-e-rơ” (Comm. on Matthew).

Đọc thêm: XÁC ĐỊNH NIÊN ĐẠI SÁCH MÁC

Nếu giả định rằng Lu-ca (1) sử dụng sách Mác để tham khảo khi biên soạn sách Phúc Âm Lu-ca, (2) viết sách Công vụ sau khi hoàn thành sách Phúc Âm của mình, và (3) kết thúc sách Công vụ trước khi Phao-lô bị xét xử tại Rô-ma (vì phiên tòa này chưa diễn ra), ta có thể xây dựng kịch bản niên đại sớm của sách Mác như sau:

  • Sách Mác (cuối thập niên 40 hoặc thập niên 50)
  • (Sách Ma-thi-ơ)
  • Sách Lu-ca (cuối thập niên 50 hoặc đầu thập niên 60)
  • Sách Công vụ (đầu thập niên 60 )
  • Phiên tòa của Phao-lô tại Rô-ma (khoảng năm 63)
  • Sự hủy diệt thành Giê-ru-sa-lem và Đền thờ (năm 70)

9. Bố Cục
#

Không có bố cục chung nào của sách Mác được đồng thuận rộng rãi, có lẽ vì sách phản ánh tính chất rời rạc trong cách Phi-e-rơ kể lại các câu chuyện ngắn về Chúa Jesus. Điều chúng ta có thể nhận thấy rõ nhất là sách Mác có một bố cục lỏng lẻo, chủ yếu dựa trên:

  1. Mục vụ khởi đầu của Giăng Báp-tít tại vùng hoang mạc sông Giô-đanh
  2. Sự lôi cuốn đầy uy quyền và phạm vi hoạt động chính tại Ga-li-lê của Chúa Jesus
  3. Hành trình di chuyển qua vùng Transjordan 2 trên đường đến Jerusalem
  4. Chuỗi sự kiện cuối cùng mô tả sự chết và phục sinh của Chúa Jesus tại Jerusalem

II. BỐ CỤC SƠ LƯỢC
#

Click vào link: Bố cục sách Mác

III. GIẢI NGHĨA
#

1. Giăng Báp-tít
#

Đọc Mác 1:1-8

Vì sách Mác được viết dựa trên những ký ức của Phi-e-rơ, và Phi-e-rơ chỉ bắt đầu đi theo Chúa Jesus sau khi Ngài đã bắt đầu mục vụ, nên sách Phúc Âm của Mác bắt đầu từ lúc khởi đầu của mục vụ đó.

“Khởi đầu Tin lành của Đức Chúa Jêsus Christ, là Con Đức Chúa Trời” (Mác 1:1) ám chỉ việc Giăng Báp-tít giới thiệu Chúa Jesus với công chúng và xác định Ngài vừa là Con Đức Chúa Trời vừa là Đấng Christ. Christ (“Christ” là từ tiếng Hy Lạp của từ “Messiah” trong tiếng Hê-bơ-rơ hoặc A-ram) có nghĩa là “Đấng được xức dầu,” chỉ người được Đức Chúa Trời chọn cho một nhiệm vụ đặc biệt - trong trường hợp này là để thiết lập vương quốc của Đức Chúa Trời. Như chúng ta sẽ thấy, “Con Đức Chúa Trời” hàm ý về thần tính của Ngài.

Chữ “Ta”“của Ta” trong Mác 1:2 (trích dẫn sách Ê-sai) đại diện cho Đức Chúa Trời. “Ngươi”“của ngươi” đại diện cho Chúa Jesus. “Sứ giả kêu trong đồng vắng” là Giăng Báp-tít. Việc Giăng Báp-tít dọn đường cho Chúa thể hiện qua hành động chuẩn bị tấm lòng của dân chúng đón chờ sự xuất hiện của Chúa Jesus.

Sự chuẩn bị này bao gồm việc ăn năn tội lỗi, được bày tỏ qua nghi thức Giăng làm phép báp-têm bằng nước như biểu tượng của sự thanh tẩy đạo đức. Trang phục và các loại thức ăn của Giăng cho thấy ông là một người sống trong hoang mạc - nơi ông rao giảng và làm báp-têm - đúng như lời tiên tri trong sách Ê-sai.

Dù có sức thu hút mạnh mẽ, Giăng báo trước về một Đấng quyền năng hơn sẽ đến, là Đấng sẽ làm phép báp-têm bằng một yếu tố siêu việt hơn nước: đó chính là Đức Thánh Linh.

2. Chúa Jesus chịu Báp-têm
#

Đọc Mác 1:9-11

Giăng làm phép báp-têm tại sông Giô-đanh - con sông chảy qua vùng hoang mạc xứ Giu-đê (“Judea”). Tại đây, Chúa Jesus từ Na-xa-rét đến, chịu báp-têm, và nhận lãnh Đức Thánh Linh - chính Thánh Linh mà Ngài sẽ dùng để báp-têm cho người khác.

Việc Chúa Jesus được xức dầu bằng Đức Thánh Linh phù hợp với cách Mác gọi Ngài là “Đấng Christ.” Nguồn gốc từ trời của Đức Thánh Linh và tiếng phán xác nhận Chúa Jesus là “Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta mọi đường” phù hợp với cách Mác gọi Ngài là “Con Đức Chúa Trời.”

Khi Chúa Jesus thấy các từng trời mở ra, Đức Thánh Linh ngự xuống như chim bồ câu (một loài chim linh thiêng trong văn hóa Hy Lạp) và tiếng từ trời phán trực tiếp với Ngài, Chúa Jesus nhận thức được quyền năng của mình và chẳng mấy chốc Ngài sẽ sớm thi hành quyền năng ấy.

3. Sự Cám Dỗ
#

Đọc Mác 1:12-13

Nhưng trước tiên, Đức Thánh Linh đưa Chúa Jesus vào đồng vắng. Việc Đức Thánh Linh ngay lập tức đưa Ngài vào nơi hoang mạc chứng tỏ Ngài đã nhận lãnh Thánh Linh.

Sách Mác không tập trung vào chi tiết các cám dỗ của Sa-tan, thậm chí không nói rõ liệu Chúa Jesus có chống trả hay không. Điểm nhấn của Mác nằm ở thời gian: bốn mươi ngày. Việc chính quỉ Sa-tan, kẻ thù của Đức Chúa Trời, cám dỗ Chúa Jesus suốt thời gian dài như vậy, cùng việc thú dữ không làm hại Ngài và các thiên sứ hầu việc Ngài - tất cả đều là sự công nhận địa vị của Chúa Jesus là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời, không chỉ từ lời tuyên bố trước đó của Đức Chúa Trời mà còn từ thế giới ma quỉ, loài vật và thiên sứ.

4. Giảng Tin Lành và Kêu Gọi
#

Đọc Mác 1:14-20

Mác sẽ giải thích về việc Giăng Báp-tít bị bắt trong phần hồi tưởng ở Mác 6:17-29, nhưng giờ đây ông tập trung vào hoạt động giảng dạy và kêu gọi các môn đồ đầu tiên của Chúa Jesus.

“Tin lành của Đức Chúa Trời” là thông báo rằng vương quốc hay sự cai trị của Ngài đã đến. Sự cai trị này được thể hiện qua quyền năng trong lời kêu gọi của Chúa Jesus đối với Si-môn, Anh-rê, Gia-cơ và Giăng. Họ ngay lập tức từ bỏ công việc để theo Con Đức Chúa Trời, là Đấng đang thiết lập vương quyền của Ngài.

Lời tiên tri của Chúa Jesus rằng Ngài sẽ khiến Si-môn và Anh-rê trở thành “tay đánh lưới người sẽ được ứng nghiệm qua việc họ sẽ thi hành công tác (1) kêu gọi người ta ăn năn, chữa lành bệnh tật, và đuổi quỉ khỏi những người bị ám (Mác 3:13-19; 6:7-13, 30).

5. Nhóm Các Phép Lạ
#

DẠY DỖ VÀ ĐUỔI QUỈ TRONG NHÀ HỘI

Đọc Mác 1:21-28

Chúa Jesus tiếp tục bày tỏ quyền năng của Con Đức Chúa Trời qua sự dạy dỗ đầy uy quyền và việc đuổi quỉ - còn gọi là “tà linh ô uế” (theo quan niệm của người Do Thái về sự ô uế nghi lễ).

Việc tà linh gọi rõ danh Chúa Jesus cùng danh hiệu “Đấng Thánh của Đức Chúa Trời” (trái ngược với sự ô uế của nó) cho thấy đây là nỗ lực tự vệ của nó. Việc Chúa Jesus bắt nó im lặng đã đập tan âm mưu này.

Cơn co giật dữ dội của người bị quỉ ám cùng tiếng kêu thất thanh của tà linh là minh chứng hùng hồn, bằng cả thị giác và thính giác, cho chiến thắng của Ngài.

CHỮA LÀNH VÀ ĐUỔI QUỈ

Đọc Mác 1:29-34

Trong phần tiếp theo, Chúa Jesus bày tỏ quyền năng chữa bệnh lẫn đuổi quỉ.

Việc mẹ vợ của Si-môn đã được chữa lành hoàn toàn được chứng minh qua việc bà trỗi dậy và bắt tay vào phục vụ.

Dân chúng chỉ dám đem người bị bệnh và người bị quỉ ám đến sau khi mặt trời đã lặn, vì ngày Sa-bát kéo dài từ chiều thứ Sáu đến chiều thứ Bảy (ngày của người Do Thái không tính từ lúc nửa đêm như chúng ta ngày nay). Đến sớm hơn sẽ vi phạm luật nghỉ ngày Sa-bát. Nhưng việc họ đến với Chúa Jesus ngay khi có thể, chứng tỏ sức thu hút mãnh liệt của Ngài.

Cụm từ “nhiều người” mô tả số lượng đông đảo trong số “tất cả” những người được Ngài giải cứu, không loại trừ bất kỳ ai. Một lần nữa, việc Ngài bắt các quỉ im lặng đã ngăn chặn âm mưu tự vệ của chúng thông qua việc tiết lộ danh tính của Ngài.

(Hình 3: Địa điểm được cho là nhà của Phi-e-rơ ở Ca-bê-na-um)

(Hình 4: Một bản vẽ “ngôi nhà của Phi-e-rơ” trong thế kỷ thứ nhất, minh họa rõ nét các cấu trúc nhà ở điển hình ở Ca-bê-na-um (Capernaum), bao gồm những bức tường thô bằng đá bazan, mái nhà làm bằng dầm gỗ và lau sậy được liên kết với nhau bằng vữa bùn, và không gian sân chung cho phép các thành viên của gia đình đa thế hệ sống và làm việc gần nhau)

CHỮA LÀNH NGƯỜI BỊ PHUNG

Đọc Mác 1:35-45

Sức thu hút Chúa Jesus lớn đến mức Ngài phải dậy sớm tìm nơi vắng vẻ để cầu nguyện. Nhưng Ngài cũng mở rộng phạm vi hoạt động bằng cách đi khắp các thành phố và nhà hội tại xứ Ga-li-lê (Galilee).

Phép lạ chữa lành bệnh phung nhấn mạnh khả năng làm điều chỉ Đức Chúa Trời mới làm được của Chúa Jesus - chỉ bằng một cái chạm và lời phán đơn giản. Sự tức thì của phép lạ càng khẳng định quyền năng của Ngài. Chúa Jesus ra mệnh lệnh nghiêm khắc bảo người được sạch đi trình diện thầy tế lễ, nhằm xác nhận phép lạ, để của lễ sau đó sẽ làm chứng cho dân chúng (xem Lê-vi ký 13-14). Nhưng người này còn làm hơn thế: anh đi loan truyền khắp nơi, khiến dân chúng lũ lượt tìm đến Chúa Jesus, ngay cả ở những nơi vắng vẻ mà Ngài hay đến lúc trước.

6. Thẩm Quyền của Chúa Jesus
#

Đọc Mác 2:1-3:6

Một loạt câu chuyện nối tiếp sau đó cho thấy thẩm quyền của Chúa Jesus:

  • Quyền tha tội (Mác 2:1-12)
  • Quyền ăn chung với người thu thuế và kẻ tội lỗi (Mác 2:13-17)
  • Quyền cho phép các môn đồ không cần kiêng ăn (Mác 2:18-22)
  • Quyền để các môn đồ bứt bông lúa mì trong ngày Sa-bát (Mác 2:23-28)
  • Quyền chữa bệnh trong ngày Sa-bát (Mác 3:1-6)

Bốn người khiêng người bại liệt đến với Chúa Jesus có thể đục xuyên mái nhà, vì mái nhà của người Do Thái xứ Palestine thường chỉ được làm từ cành cây trát bùn đặt trên xà ngang. Phép lạ chữa lành người bại liệt chứng minh thẩm quyền tha tội của Chúa Jesus. Nhưng Ngài có thẩm quyền này (một thẩm quyển thiêng liêng) với tư cách là “Con người” (cụm từ xuất phát từ Đa-ni-ên 7:13, “một Đấng giống như con người”, tương phản với các con thú) và “ở thế gian” (khác với “trên mây trời” mà Đấng trong sách Đa-ni-ên ngự đến).

Để giữ mình thanh sạch về mặt nghi lễ, người Pha-ri-si sẽ không ăn chung bàn với người thu thuế và kẻ tội lỗi - những người bị phái Pha-ri-si coi thường vì thiếu hiểu biết và thường xuyên vi phạm luật Môi-se. Thế nhưng, Chúa Jesus lại thu hút đám đông những con người tội lỗi này. Việc Ngài bảo vệ sự hiệp thông qua việc ăn chung bàn với họ khiến các thầy thông giáo phe Pha-ri-si phải câm lặng.

Sự hiện diện của Chúa Jesus khiến môn đồ vui mừng đến nỗi họ không thể kiêng ăn như môn đồ của Giăng Báp-tít hay người Pha-ri-si - dù sau này, môn đồ Ngài sẽ kiêng ăn trong cơn đau buồn vào ngày Ngài hi sinh.

Giống như miếng vải mới co lại sẽ làm rách áo cũ, hay rượu mới sẽ làm nứt bầu da cũ, thẩm quyền trong lời nói và hành động của Chúa Jesus là điều không thể cưỡng lại được.

Vì Chúa Jesus không tranh luận việc bứt bông lúa mì có được tính là làm việc; do đó người Pha-ri-si hỏi tại sao các môn đồ của Ngài vi phạm ngày Sa-bát. (Phục truyền luật lệ 23:25 cho phép bứt lúa khi đi qua cánh đồng; vì vậy, đây không phải là hành vi trộm cắp). Thay vào đó, Chúa Jesus trả lời bằng ví dụ về vua Đa-vít cho thấy chính Cựu Ước cũng dạy luật lệ có thể bị vi phạm vì nhu cầu con người (1 Sa-mu-ên 21:1-6). Hơn nữa, với tư cách là “Chúa của ngày Sa-bát”, Chúa Jesus là Con người có quyền cho phép các môn đồ vi phạm, nếu Ngài muốn.

Chúa Jesus vừa có năng lực chữa lành bàn tay teo tóp, vừa có thẩm quyền làm việc đó trong ngày Sa-bát, như Ngài đã làm và lập luận một cách thuyết phục, dù người Pha-ri-si đang rình xem, khiến họ tức giận đến mức cùng đảng Hê-rốt lập mưu giết Ngài.

(Hình 5: Bầu da đựng rượu)

7. Sức Thu Hút Không Thể Cưỡng Lại
#

Đọc Mác 3:7-19

Trái ngược với âm mưu giết Chúa Jesus, đám đông ngưỡng mộ kéo đến với Chúa Jesus ngày càng đông đến nỗi Ngài phải bảo các môn đồ chuẩn bị thuyền để có thể thoát nhanh, trong trường hợp đám đông bắt đầu chen lấn Ngài.

Để tránh dân chúng kéo đến quá đông gây nguy hiểm, Ngài nghiêm cấm các tà linh tiết lộ thân phận là Con Đức Chúa Trời của Ngài - dù chúng thường làm thế để tự vệ.

8. Mười Hai Sứ Đồ
#

Sức hút của Chúa Jesus lớn đến nỗi giờ đây Ngài chọn ra mười hai người để qua đó nhân rộng mục vụ của mình cho đám đông ngày càng gia tăng. Việc Ngài lên núi, gọi “những người Ngài muốn”, và đặt tên cho họ tiếp tục nhấn mạnh thẩm quyền của Ngài.

Danh xưng “sứ đồ” (apostles) hàm ý chỉ những người được sai đi để hành động với thẩm quyền của người đã sai họ (so sánh Mác 6:7-13). Dù con số mười hai tương ứng với mười hai con trai Gia-cốp - tổ phụ của mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên - gợi ý việc tái lập dân Chúa, nhưng việc Mác không giải thích chi tiết khiến trọng tâm của đoạn này vẫn là thẩm quyền của Chúa Jesus.

9. Đức Thánh Linh Đối Nghịch với Bê-Ên-Xê-Bun
#

Đọc Mác 3:20-35

Nhưng thẩm quyền của Chúa Jesus đến từ đâu? Chúa Jesus có Đức Thánh Linh, chứ không phải tà linh Bê-ên-xê-bun (tên khác của Sa-tan), và do đó, Ngài có quyền lập một gia đình mới cho mình, thay vì phải chịu sự kiểm soát của gia đình ruột thịt.

Song song với nhận định cho rằng Chúa Jesus “đã mất trí khôn” là lời buộc tội của các thầy thông giáo rằng Ngài dựa vào quỉ vương để đuổi các quỉ khác - một lời cáo buộc bị Chúa Jesus dùng ẩn dụ để phơi bày sự vô lý về phương diện cá nhân (“Sao quỉ Sa-tan đuổi được quỉ Sa-tan?”, “nếu quỉ Sa-tan tự dấy lên nghịch cùng mình, tất nó bị chia xé ra …”), chính trị (“một nước tự chia nhau …”), gia đình (“một nhà tự chia nhau …”) và thể chất (“Chẳng ai có thể vào nhà một người mạnh sức …”). Ngài cũng cảnh báo rằng đây là tội không thể tha thứ. (Lưu ý: Theo định nghĩa, những người tin Chúa Jesus sẽ không bao giờ quy quyền năng của Ngài cho Sa-tan thay vì cho Đức Thánh Linh.)

10. Các Ẩn Dụ
#

Đọc Mác 4:1-34

Tại bờ biển, Chúa Jesus tiếp tục thể hiện thẩm quyền của Ngài bằng cách giảng dạy trước một đám đông khổng lồ, gồm cả những người ngoài lẫn gia đình mới của Ngài (“những người xung quanh Ngài cùng với mười hai sứ đồ” - Mác 4:10; so sánh cách diễn đạt trong Mác 3:31-35). Tư thế ngồi để giảng dạy là tư thế thường thấy của các giáo sư Do Thái (tức các “Rabbi”) thời đó, nhưng việc phải dùng đến thuyền là một chi tiết bất thường, cho thấy dân chúng đã kéo tới quá đông (so sánh Mác 3:9-10).

Mặc dù có thể mang nhiều sắc thái, “ẩn dụ” về cơ bản có nghĩa là “sự so sánh”. Ẩn dụ về hạt giống và các loại đất là ẩn dụ về các ẩn dụ, dùng hiện tượng trong nông nghiệp để minh họa cách người ta đón nhận hay từ chối sứ điệp của Chúa Jesus.

Nhưng tại sao Chúa Jesus lại sử dụng ẩn dụ? Câu trả lời chia làm hai ý:

  1. Với người ngoài: Che giấu chân lý như là một sự phán xét, vì họ đã không đáp ứng bằng đức tin trước lời giảng rõ ràng của Chúa Jesus.
  2. Với môn đồ: Làm sáng tỏ chân lý như là phần thưởng cho những ai đã đáp ứng bằng đức tin trước lời giảng rõ ràng của Chúa Jesus.

Đức Chúa Trời đang mang vương quốc của Ngài, tức sự cai trị của Ngài, đến bằng lời nói chứ không phải vũ khí, bằng những hành động thương xót chứ không phải bạo lực. Sự mầu nhiệm này cần được làm sáng tỏ. Vì vậy, các môn đồ được Chúa Jesus giải thích riêng, giúp họ hiểu các ẩn dụ khác. Theo sự giải thích này, sự cai trị của Đức Chúa Trời được thiết lập trong những người tiếp nhận sứ điệp của Chúa Jesus ngay lập tức, một sách sâu sắc và dành vị trí độc tôn cho Chúa, không như những kẻ trì hoãn, hời hợt và để cho những lo toan khác bóp nghẹt đức tin.

Về các ẩn dụ khác trong đoạn này:

  • Ánh sáng của ngọn đèn tượng trưng cho sự mặc khải của Chúa Jesus. Không có điều gì trong ẩn dụ bị giấu kín đối với người ngoài mà Ngài không bày tỏ cho các môn đồ của Ngài.
  • Mỗi người được nhận tùy theo mức độ đáp ứng của mình
  • Những người tin Chúa Jesus, là những người đã có một mức độ hiểu biết thuộc linh nhất định; vì thế, sẽ được ban cho nhiều sự hiểu biết hơn. Trong khi những người không tin, là những người không có sự hiểu biết thuộc linh, càng chìm sâu vào sự ngu dốt. Điều này giống như trong đầu tư tài chính, tiền đem đầu tư sẽ sinh thêm lời, không có tiền để đầu tư thì không thể sinh lời.
  • Sứ điệp của Chúa Jesus soi sáng và làm gia tăng sự hiểu biết cho các môn đồ bằng quyền năng siêu nhiên, y như cách một hạt giống phát triển thành cây theo cách thức mà con người không thể hiểu thấu.
  • Thật kỳ diệu khi một khởi đầu bé nhỏ (như hạt cải nhỏ nhất) lại đem đến kết quả vĩ đại (thành cây lớn cho chim trời núp dưới bóng của cây)!

Chúa Jesus tiếp tục giảng dạy bằng những ẩn dụ như vậy trong phạm vi tiếp thu của đám đông, và giữ đúng lời hứa khi giải nghĩa tất cả những ẩn dụ ấy cách riêng tư cho các môn đồ - những người trong cuộc - của Ngài.

Đọc thêm: ĐÀO SÂU ẨN DỤ

Để hiểu ẩn dụ về hạt giống và các loại đất, chúng ta cần biết vài điều về bối cảnh nông nghiệp của xứ Palestine:

  • Vì thiếu hệ thống đường sá, nên người dân thường đi tắt xuyên qua các cánh đồng
  • Nông dân xứ Palestine thường gieo hạt giống trước khi cày xới đất
  • Các hạt gai dại từ năm trước có thể nằm ẩn trong các lớp đất
  • Lớp đá sỏi có thể nằm ẩn bên dưới các lớp đất
  • Hạt giống rơi trên đất đá sỏi nảy mầm nhanh nhất vì nhiệt hấp thụ từ đá bên dưới đẩy nhanh quá trình nảy mầm, và vì hạt giống chỉ có thể phát triển theo hướng lên trên (rễ không cắm sâu xuống được vì vướng đá sỏi).
  • Một vụ mùa thu hoạch gấp ba mươi lần so với số hạt đã gieo là năng suất trung bình, sáu mươi lần là tốt, và một trăm lần là phi thường (so sánh Sáng thế ký 26:12).

(Hình 6: Một người nông dân xứ Palestine đang cày vườn nho của mình)

11. Các Phép Lạ
#

Giờ đây, Mác chuyển từ một loạt cá ẩn dụ của Chúa Jesus sang một loạt các hành động của Ngài.

  • Phép lạ đầu tiên (làm yên bão tố) thể hiện quyền năng của Ngài trên gió và biển, tượng trưng cho những thế lực hỗn mang chết chóc.
  • Phép lạ thứ hai (đuổi quỉ) thể hiện quyền năng của Ngài trên cả một đạo quân ác quỉ đã khiến nạn nhân của chúng sống trong cõi chết (một nghĩa địa) và tự hủy hoại bản thân.
  • Phép lạ thứ ba và thứ tư (chữa bệnh và khiến kẻ chết sống lại) chứng minh quyền năng của Chúa Jesus trên sự ô uế và sự không thể tránh khỏi của cái chết.

Đọc Mác 4:35-5:43

DẸP YÊN CƠN BÃO

“Bờ bên kia” ám chỉ phía đông của hồ Ga-li-lê (Galilee). “Buổi chiều ngày ấy” và việc Chúa Jesus ngủ cho thấy rằng đây là một chuyến đi xuyên đêm. Các thuyền khác cùng đi theo có lẽ chở đám đông - gia đình mới của Ngài, là những người làm theo ý Đức Chúa Trời - còn mười hai sứ đồ thì ở chung thuyền với Chúa Jesus (so sánh Mác 3:32-35; 4:10, 34).

Các chi tiết mô tả cơn bão lớn và dữ dội càng tôn cao quyền năng của Chúa Jesus khi Ngài dẹp yên nó chỉ bởi một lời phán. Sự sợ hãi và thiếu đức tin của các môn đồ tương phản rõ nét với sự tự tin thần tính của Ngài. Tất nhiên, các môn đồ tin Ngài và sứ điệp của Ngài nói chung, nhưng ngay cả những phép lạ trước đó cũng chưa đủ để họ vững tin trước mối đe dọa hiện tại. Tuy nhiên, sự sợ hãi của họ nhanh chóng chuyển thành kinh ngạc khi gió và sóng đều yên lặng như tờ.

(Hình 7: Biển Hồ Ga-li-lê)

ĐUỔI QUỈ QUÂN ĐỘI

Khi đến bờ bên kia, Chúa Jesus và các môn đồ bước vào vùng đất có đông dân ngoại sinh sống, miền Giê-ra-sê (“Gerasenses”). Các mô tả của Mác về những thất bại trong việc kiềm chế người bị quỉ ám trước đó khiến việc Chúa Jesus đuổi được quỉ ra khỏi người bị ám càng ấn tượng hơn. Quỉ cố ngăn cản Ngài bằng cách tiết lộ tên riêng (“Jesus”) và danh hiệu (“Con Đức Chúa Trời Rất Cao”) - điều này gián tiếp trả lời câu hỏi trước đó của các môn đồ: “Vậy thì người nầy là ai, mà gió và biển cũng đều vâng lịnh người?” (Mác 4:41).

Chúa Jesus chỉ thành công trong việc đuổi quỉ khi phát hiện ra đây không phải là một tà linh, mà là một đạo quân mang tên “Quân đội” (“Legion”). Chúng thà nhập vào đàn heo còn hơn bị đuổi khỏi vùng đất. Sự hiện diện của bầy heo xác nhận đây là vùng dân ngoại sinh sống, vì luật Môi-se cấm người Do Thái ăn thịt heo. Việc đàn heo lao xuống biển chết chìm, khi Chúa Jesus cho phép quỉ Quân đội nhập vào chúng, biến phép đuổi quỉ thành một sự hủy diệt.

Nỗi sợ của dân làng khi thấy người trước kia bị quỉ ám giờ đã tỉnh táo, cùng sự tương phản giữa hành vi lịch sự hiện tại và sự hung dữ trước kia của anh ta càng làm nổi bật quyền năng của Chúa Jesus. Tương tự, sự đối lập giữa lời van xin được ở lại với Chúa Jesus và hành động chống đối trước đó của người bị quỉ ám, cùng việc anh đi rao truyền khắp xứ Đê-ca-bô-lơ (vượt xa mệnh lệnh của Chúa Jesus là anh hãy về nhà và thuật lại cho bạn hữu) đều làm rõ thêm uy quyền của Ngài.

Đọc thêm: QUỈ QUÂN ĐOÀN Ở ĐÂU?

Các bản sao chép cổ, bản dịch và giáo phụ không thống nhất về việc Mác đề cập đến vùng đất trong Mác 5:1. Đa số các bản sao chép muộn hơn (A C ƒ M sy) ghi là “vùng đất của người Ga-đa-ra” (“Gadarenes”), đây cũng là cách đọc phù hợp hơn trong Ma-thi-ơ 8:28. Một số bản sao chép khác (א L Δ Θ ƒ 28 33 565 579 700 892 1241 1424 al sy bo) ghi là “người Ghẹt-ga-sen” (“Gergesenes”). Các bản khác nữa (א* B D latt sa) lại ghi là “người Giê-ra-sê” (“Gerasenes”), đây là cách đọc thường được chọn trong các bản dịch sách Mác và Lu-ca 8:26. Sự khác biệt giữa Ma-thi-ơ và Mác (vốn song song với Lu-ca) rất có thể liên quan đến việc sử dụng các thuật ngữ địa phương có các biến thể khác nhau.

(Hình 8: Những sườn dốc ở phía đông của Biển Ga-li-lê (Galilee), nhìn từ Tiberias)

NGƯỜI ĐÀN BÀ VÀ CON GÁI GIAI-RU

Hai phép lạ tiếp theo, chữa bệnh và làm cho sống lại, diễn ra ở bờ tây hồ Ga-li-lê, nơi tập trung nhiều người Do Thái hơn. Hành động lén lút của người phụ nữ bị băng huyết kinh niên xuất phát từ việc bà bị ô uế (về mặt nghi lễ) theo luật Môi-se. Ai chạm vào bà hoặc đồ vật bà ngồi hoặc nằm lên cũng trở nên ô uế (Lê-vi ký 15:19–27).

Quyền năng Chúa Jesus càng được nhấn mạnh khi bệnh tình của bà ngày càng nặng dưới tay nhiều thầy thuốc (theo tục lệ phương Đông, bà đã tìm đến mọi thầy lang hy vọng ít nhất có người chữa được cho bà, nhưng không ai thành công), và bà chỉ cần chạm vào áo Chúa Jesus thì liền được lành. Đức tin của bà đã làm trọn quyền năng Ngài.

Chúa Jesus kêu gọi Giai-ru thể hiện đức tin tương tự khi nhận tin con gái ông vừa qua đời. Câu nói của Ngài với những kẻ khóc thuê rằng “đứa bé không chết, nhưng nó ngủ” ám chỉ việc Ngài sắp khiến cô bé sống lại, như thể cái chết chỉ là một giấc ngủ ngắn. Sự nhạo báng của những kẻ than khóc chỉ càng tôn lên sự đúng đắn của Ngài, khi Ngài chứng minh điều ngược lại. Việc cô bé đứng dậy và đi lại cho thấy Ngài đã đưa cô từ cõi chết trở về. Mạng lệnh cấm ngặt không được nói cho ai biết, mà truyền cho cô bé ăn nhằm giúp Chúa Jesus thoát khỏi đám đông đang vây quanh và chen lấn Ngài (Mác 5:24, 31). Nếu đám đông biết Ngài vừa khiến một cô gái sống lại, họ có thể chen lấn đến mức gây nguy hiểm cho tính mạng của mọi người.

12. Chúa Jesus tại Na-Xa-Rét
#

Đọc Mác 6:1-6a

Khi trở về quê nhà Na-xa-rét, Chúa Jesus giảng dạy trong nhà hội. Dân làng kinh ngạc trước sự khôn ngoan và những phép lạ được thực hiện “bởi tay Ngài”. Họ không thể chấp nhận rằng một người con của địa phương giờ đây có thể tự mình làm những phép lạ như vậy, nên họ nghi ngờ nguồn gốc và bản chất của sự khôn ngoan cùng quyền năng nơi Ngài.

Chúa Jesus giải thích phản ứng của họ minh họa cho quy tắc “sự quen thuộc sinh ra sự khinh miệt” (người Việt Nam có câu “bụt nhà không thiêng”). Mác đặc biệt lưu ý rằng chính sự thiếu đức tin của họ - chứ không phải do quyền năng của Chúa Jesus bị giới hạn - khiến Ngài chỉ có thể thực hiện một vài phép lạ tại đó. Dù vậy, ngay cả những phép lạ ít ỏi ấy cũng khiến dân làng sửng sốt đến mức Chúa Jesus phải ngạc nhiên trước lòng vô tín của họ.

13. Mười Hai Sứ Đồ Được Sai Đi
#

Đọc Mác 6:6b-29

Trong khi giảng dạy tại các làng xung quanh, Chúa Jesus giờ đây mở rộng hoạt động quyền năng của Ngài thông qua mười hai sứ đồ. Ngài gọi họ lại và sai đi từng hai người một - theo cặp, vì luật Môi-se quy định chứng cớ đáng tin cần ít nhất hai nhân chứng.

Việc họ được sai đi với thẩm quyền của Chúa Jesus được thể hiện qua mệnh lệnh không được đem theo hành lý: người khác sẽ phải cung ứng cho các sứ đồ như thể họ đang tiếp đón chính Chúa Jesus. Sự từ chối đón tiếp các sứ đồ sẽ dẫn đến sự phán xét. Các sứ đồ ra đi và thi hành thẩm quyền của Chúa Jesus bằng những việc Ngài đã làm: rao giảng, đuổi quỉ và chữa bệnh.

Hê-rốt An-ti-ba nghe tin và ấn tượng đến mức kết luận rằng Chúa Jesus chính là Giăng Báp-tít sống lại từ cõi chết.

“Chứng độc chiếc không đủ cớ định tội cho người nào, bất luận gian ác, tội lỗi nào mà người đã phạm; cứ theo lời của hai hay ba người chứng, thì sự mới định tội được.” (Phục truyền Luật lệ ký 19:15)

14. Sự Kiện Giăng Báp-tít Bị Chém Đầu
#

Đoạn hồi tưởng về cái chết của Giăng Báp-tít nhấn mạnh rằng phải có một quyền năng siêu nhiên vĩ đại trong Chúa Jesus mới khiến một vị vua đồng nhất Ngài với một người đã chết - là người mà chính vua đã chứng kiến đầu người đó bị đặt trên đĩa mang đến phòng ăn của mình, rồi đến phòng ăn của vợ mình, còn thi thể sau đó được chôn ở nơi khác.

Giăng Báp-tít đã cáo buộc vị vua này không phải vì tội ngoại tình (dù ông đã phạm), mà vì vi phạm luật cấm lấy vợ của anh/em mình (Lê-vi ký 18:16; 20:21).

15. Phép Lạ Hóa Bánh cho Năm Ngàn Người Ăn
#

Đọc Mác 6:30-44

Trở lại hiện tại, Chúa Jesus đưa các sứ đồ đi nghỉ ngơi sau khi họ trở về và báo cáo chuyến truyền giáo; nhưng sức thu hút của Ngài, giờ đây được nhân lên nhờ chuyến đi ấy, khiến thay vì được nghỉ ngơi thì họ lại trở nên bận đến mức không có thì giờ mà ăn.

Sự tương phản giữa đề nghị hợp lý của các môn đồ (cho đám đông đi mua thức ăn) với mệnh lệnh dường như vô lý của Chúa Jesus (“chính các ngươi hãy cho họ ăn”) làm nổi bật phép lạ khi chỉ với năm ổ bánh và hai con cá, Ngài đã cho cả đoàn dân đông tới năm ngàn người ăn.

Cụm từ “từng hàng một trăm người, hàng thì năm mươi” có lẽ ám chỉ đám đông ngồi thành từng hàng tạo thành hình chữ nhật: mỗi hàng dài 100 người, rộng 50 người (100 × 50 = 5.000).

Mười hai giỏ đầy những miếng bánh và cá còn thừa cho thấy quyền năng dư dật của Chúa Jesus.

16. Chúa Jesus Đi Trên Mặt Nước
#

Đọc Mác 6:45-56

Bết-sai-đa nằm ngay phía đông sông Giô-đanh trên bờ phía bắc biển Ga-li-lê. Khác với lần Chúa Jesus dẹp yên cơn bão (Mác 4:35-41), lần này gió ngược chỉ gây khó khăn chứ không nguy hiểm.

Việc đi trên mặt nước thể hiện quyền năng thiêng liêng (xem Gióp 9:8; 38:16; Thi thiên 77:19); vì thế, ý định của Chúa Jesus khi đi bộ trên mặt biển đến cùng các môn đồ và định vượt qua họ chính là cách Ngài bày tỏ thần tính trước mặt họ (so sánh Xuất Ê-díp-tô ký 33:19, 22; 34:5-7; 1 Các vua 19:11).

Tuy nhiên, nỗi sợ hoảng của họ khiến Ngài phải bước vào thuyền. Lúc này là canh tư, khoảng thời gian cuối cùng của đêm. Khi Chúa Jesus đã lên thuyền, gió lặng đi để chuyến đi trở nên dễ dàng, như cách trước đó mặt nước đã trở nên vững chắc dưới chân Ngài để Ngài bước đi trên nước.

Các môn đồ sửng sốt, vì họ thậm chí đã không nhận ra phép lạ trong việc Chúa Jesus hóa bánh cho năm ngàn người ăn (lưu ý, sau sự kiện hóa bánh ở Mác 6:30-44, không có môn đồ nào bày tỏ sự kinh ngạc trước việc Chúa Jesus vừa làm). Nhưng quyền năng Chúa Jesus tiếp tục tuôn tràn qua những phép chữa lành tại vùng Ghê-nê-xa-rết, nằm ở bờ tây bắc biển Ga-li-lê. Rõ ràng, cơn gió ngược đã làm chệch hướng hành trình vốn định hướng về phía đông bắc tới Bết-sai-đa.

(Hình 9: Một chiếc thuyền Ga-li-lê cổ được lưu giữ tại Bảo tàng Yigal Allon ở Kibbutz Ginosar)

17. Thức Ăn Tinh Sạch
#

Đọc Mác 7:1-23

Câu chuyện tiếp theo cho thấy thẩm quyền của Chúa Jesus khi Ngài bác bỏ những người Pha-ri-si và một số thầy thông giáo từ Giê-ru-sa-lem trong vấn đề thanh tẩy theo nghi lễ, đồng thời tuyên bố mọi thức ăn đều tinh sạch (nghĩa là được phép ăn theo nghi lễ), bất chấp luật Môi-se cấm một số loại (Lê-vi ký 11). Việc rửa tay ở đây không liên quan đến vệ sinh cá nhân, mà là nghi thức thanh tẩy - không phải theo luật Môi-se, mà theo truyền thống do các Rabbi Do Thái sau này đặt ra.

Chúa Jesus chỉ ra một cách chua chát rằng những tập tục truyền thống này thực chất cho phép người ta vi phạm mệnh lệnh của Đức Chúa Trời ban qua Môi-se: “Hãy tôn kính cha mẹ ngươi”. Để né tránh việc giúp đỡ cho cha mẹ, họ chỉ cần tuyên bố những thứ lẽ ra dùng để phụng dưỡng cha mẹ là “đồ dâng cho Đức Chúa Trời” (“co-ban”) - nhưng thực tế vẫn giữ lại dùng cho mình. Theo Chúa Jesus, cải cách luật lệ phải đi theo hướng ngược lại: không chú trọng hình thức nghi lễ mà phải đề cao đạo đức. Ngài đã thay đổi luật lệ theo cách đó, và Ngài có quyền để làm điều này.

20. Người Phụ Nữ Xứ Sy-Rô-Phê-Ni-Xi
#

Đọc Mác 7:24-30

Ngay cả trên đất ngoại bang, danh tiếng Chúa Jesus cũng quá lớn đến nỗi Ngài không có thời gian để ở riêng. Trong chuyến đi qua vùng Ty-rơ - một cảng Phê-ni-xi cổ trên bờ Địa Trung Hải phía bắc Ga-li-lê - một phụ nữ dân ngoại đã đến xin Ngài đuổi quỉ khỏi con gái nhỏ của bà.

Để tránh sự ồn ào, Chúa Jesus từ chối bằng cách so sánh người Do Thái (đặc biệt là các môn đồ Ngài) với “con cái”, còn dân ngoại (như con gái bà) với “chó con”. Người Do Thái thời đó thường gọi dân ngoại là “chó”, nhưng Chúa Jesus dùng từ Hy Lạp chỉ “chó nhỏ” để phù hợp với độ tuổi của con gái bà. Không nản lòng, người phụ nữ khéo léo nắm lấy cách dùng từ này và đáp rằng việc giải cứu con gái bà cũng chỉ như “mẩu bánh vụn” của lòng thương xót mà chó con được ăn dưới gầm bàn.

Cảm phục sự khôn ngoan của bà, Chúa Jesus tuyên bố quỉ đã ra khỏi đứa bé. Như bà sẽ thấy khi trở về nhà (đứa con không đi cùng), Ngài đã đuổi quỉ từ xa mà không cần nói một lời đuổi quỉ trực tiếp nào cả.

19. Chữa Lành Người Vừa Điếc Vừa Ngọng
#

Đọc Mác 7:31-37

Chúa Jesus đi một vòng qua hướng bắc, đông rồi nam để trở lại biển Ga-li-lê, đi ngang qua Si-đôn và vùng Đê-ca-bô-lơ.

Việc chữa lành một người vừa điếc vừa ngọng rất khó khăn, thể hiện qua các chi tiết: Chúa Jesus tìm nơi kín đáo (cách xa đám đông), dùng phương pháp vật lý (đặt ngón tay vào tai người ấy, thấm nước miếng bôi vào lưỡi), ngước mắt lên trời, thở ra và phán một lời chữa lành. Việc đặt ngón tay vào tai tượng trưng cho mở tai để nghe; còn nước miếng từ lưỡi khỏe mạnh của Ngài giúp tháo gỡ sự trói buộc nơi lưỡi người bệnh. Phép lạ gây kinh ngạc đến nỗi dù Chúa Jesus cấm tiết lộ, nhưng Ngài càng cấm, người ta lại càng bàn tán khắp nơi.

20. Phép Lạ Hóa Bánh cho Bốn Ngàn Người Ăn
#

Đọc Mác 8:1-9

Một phép lạ hóa bánh khác xảy ra, nhưng lần này ở nơi đồng vắng cách xa khu dân cư. Khác với lần trước (5 bánh, 2 cá, 5.000 người, 12 giỏ thừa), lần này có 7 bánh, một ít cá, khoảng 4.000 người và 7 giỏ đầy thức ăn thừa (so sánh Mác 6:30-44).

Đáng chú ý là một lần nữa không ai tỏ ra kinh ngạc, như thể họ không nhận ra đây là phép lạ.

21. Dấu Lạ Từ Trời
#

Đọc Mác 8:10-21

Chúa Jesus cùng các môn đồ đi thuyền đến xứ Đa-ma-nu-tha - một địa danh không rõ ở đâu. Xuất phát từ bờ phía đông (thuộc vùng Đê-ca-bô-lơ), họ có lẽ đã sang bờ tây của Ga-li-lê. Dù Đa-ma-nu-tha ở đâu, thì tại đây, những người Pha-ri-si đã thách thức Ngài làm một dấu lạ từ trời (khác với phép lạ dưới đất mà họ có thể quy cho Sa-tan, xem Mác 3:22-30), như là một màn trình diễn từ trời xuống do chính Đức Chúa Trời thực hiện.

Chúa Jesus đáp lại họ, không phải bằng cách chiều theo họ, nhưng bằng một tuyên bố đầy uy quyền dập tắt mọi thách thức: Ngài thở than trong lòng, sử dụng câu hỏi tu từ, mở đầu một cách nhấn mạnh (“Quả thật, ta nói cùng các ngươi”) và thành ngữ phủ định kiểu Hê-bơ-rơ cực kỳ mạnh mẽ (“nếu thế hệ này được ban cho một dấu lạ…” - ngụ ý “Không đời nào!”).

Trên đường trở về bờ đông, lời cảnh báo của Chúa Jesus về “men của người Pha-ri-si và men của đảng Hê-rốt” khiến các môn đồ hiểu lầm rằng Ngài trách họ chỉ mang theo một cái bánh. Họ hiểu nhầm ý của Chúa Jesus - nhưng Mác không giải thích ý Ngài (điều mà Ma-thi-ơ 16:12 giải thích là “Ngài chẳng bảo giữ mình (các môn đồ) về men làm bánh, nhưng về đạo của người Pha-ri-si và Sa-đu-sê”). Thay vào đó, lời nói tiếp theo của Chúa Jesus vạch rõ một thất bại khác của các môn đồ: họ đã quên hai phép lạ hóa bánh trước đó cho năm ngàn và bốn ngàn người ăn, nên việc chỉ có một ổ bánh cho mười ba người chẳng có gì đáng lo ngại.

22. Chữa Lành Người Mù
#

Đọc Mác 8:22-26

Giờ đây, Chúa Jesus và các môn đồ đến Bết-sai-đa - nơi lần trước họ chưa tới được vì gió ngược (Mác 6:45-56). Ở đây, Chúa Jesus gặp một người mù, trường hợp khó tương tự người điếc-ngọng trước đó (Mác 7:31-37). Một lần nữa, Ngài tìm chỗ riêng tư (bên ngoài làng), dùng nước miếng như thuốc thoa. Sự khó khăn thể hiện qua việc người mù cần đến hai giai đoạn chữa trị:

  1. Giai đoạn 1: Người mù chỉ thấy lờ mờ - nhìn người đi lại từ xa giống như “cây cối đang di chuyển” (hình ảnh mập mờ của cành lá đung đưa).
  2. Giai đoạn 2: Chúa Jesus đặt tay thêm lần nữa và thị lực của người mù được phục hồi hoàn toàn.

Mệnh lệnh “về nhà, đừng trở vào trong làng” chứng minh phép lạ: người mù không cần dân làng dẫn anh ta về nhà nữa, giờ anh ta đã có thể tự mình nhìn thấy đường đi.

23. Lời tuyên xưng của Phi-e-rơ
#

Đọc Mác 8:27-9:1

Gần thành Sê-sa-rê Phi-líp (phía bắc biển Ga-li-lê, khác với Sê-sa-rê bờ Địa Trung Hải), Phi-e-rơ (tên cũ là Si-môn - xem Mác 1:16 và 3:16) tuyên xưng Chúa Jesus là Đấng Christ. Lời tuyên xưng này cũng đại diện cho niềm tin của các môn đồ. Chúa Jesus căn dặn họ giữ kín điều này. Đám đông từng suýt đè ngạt Ngài khi nghĩ Ngài là Giăng Báp-tít, Ê-li, hay một tiên tri nào đó. Huống hồ họ sẽ còn kéo đến đông đến mức nào nếu biết Ngài chính là Đấng Christ?

24. Sự Báo Trước về Sự Khổ Nạn và Phục Sinh
#

Phi-e-rơ nghĩ “theo tư tưởng loài người” thể hiện qua việc ông kỳ vọng Chúa Jesus sẽ trị vì chứ không chịu khổ nạn. Nhưng ý muốn của Đức Chúa Trời mà Phi-e-rơ không hiểu nổi chính là sự cần thiết của việc trước hết Chúa Jesus phải trải qua sự chết và sự sống lại.

Sự nghiêm khắc trong lời khiển trách của Chúa Jesus đối với Phi-e-rơ cho thấy sức nặng của sự cần thiết thiêng liêng của cuộc khổ nạn và phục sinh này. Tương ứng, Chúa Jesus kêu gọi: “Nếu ai muốn theo ta, phải liều mình, vác thập tự giá mình mà theo ta.”

“Thập tự giá” không có nghĩa là cả một cây thập tự giá, quá nặng để mang, mà là thanh ngang mà các nạn nhân thường phải vác đến nơi hành quyết khi đám đông xếp hàng dọc hai bên đường chửi rủa họ. Vì vậy, “vác thập tự giá mình mà theo Chúa Jesus” có nghĩa là sẵn sàng chịu sỉ nhục vì công khai làm môn đồ Ngài.

Sau lời tiên tri về cái chết và sự sống lại của chính mình (thể hiện sự biết trước thiên thượng), Chúa Jesus còn báo trước về số phận của những ai đáp lại lời kêu gọi và những kẻ từ chối Ngài. Những lời báo trước dưới dạng các câu hỏi tu từ này chính là lý lẽ thuyết phục để người ta theo Ngài.

Cuối cùng, Chúa Jesus báo trước rằng một số người đang đứng đó sẽ không chết trước khi thấy - mặc dù họ sẽ chứng kiến cảnh Ngài và các môn đồ chịu khổ - vương quốc của Đức Chúa Trời đã đến với quyền năng.

25. Sự Hóa Hình
#

Đọc Mác 9:2-13

Sự hóa hình của Chúa Jesus ứng nghiệm lời tiên tri Ngài vừa phán trước đó rằng một số người đứng đây sẽ được thấy vương quốc Đức Chúa Trời đến trong quyền năng trước khi họ qua đời.

Đoạn này có nhiều yếu tố cho thấy sự khổ nạn sắp tới của Chúa Jesus và các môn đồ không che mờ sự hiện diện của quyền cai trị quyền năng của Đức Chúa Trời: địa điểm trên núi cao, y phục Chúa Jesus trở nên sáng rực và trắng tinh, cuộc trò chuyện với Ê-li và Môi-se (hai nhân vật Cựu Ước duy nhất từng gặp Đức Chúa Trời trên núi), nỗi kinh hãi của các môn đồ, và tiếng phán từ Đức Chúa Cha tuyên bố Chúa Jesus là Con yêu dấu và truyền lệnh “Hãy vâng nghe người”. Mệnh lệnh của Chúa Jesus bảo các môn đồ không được kể lại những gì họ đã thấy cho đến sau khi Ngài sống lại nhằm tránh nguy cơ bị đám đông vây lấy.

Bởi vì Cựu Ước cho biết rằng Ê-li sẽ đến trước Ngày của Chúa, và vì người ta tin sự sống lại sẽ xảy ra trong ngày đó, các thầy thông giáo dạy rằng Ê-li phải đến trước sự phục sinh. Do đó, các môn đồ thắc mắc về sự mâu thuẫn tiềm ẩn giữa lời báo trước rằng Chúa Jesus sẽ sống lại, dường như xảy ra trước khi Ê-li trở lại. Chúa Jesus đáp rằng Ê-li đã đến trong vai trò của Giăng Báp-tít, đồng thời Ê-li vẫn sẽ đến trong tương lai, nhưng không phải trước khi Ngài chịu khổ nạn; vì nếu Ê-li đã khôi phục mọi sự (tức đưa thế giới vào trạng thái hoàn hảo) thì Ngài đâu cần phải chịu khổ.

“Nầy, ta sẽ sai đấng tiên tri Ê-li đến cùng các ngươi trước ngày lớn và đáng sợ của Đức Giê-hô-va chưa đến.” (Ma-la-chi 4:5)

28. Đuổi Quỉ Câm và Điếc
#

Đọc Mác 9:14-29

Sự kinh ngạc của đám đông khi thấy Chúa Jesus từ núi hóa hình xuống (địa điểm không xác định) cho thấy ánh vinh quang vẫn còn phảng phất trên áo Ngài.

Sự khó khăn đặc biệt của phép đuổi quỉ lần này được thể hiện qua các chi tiết: sự thất bại của các môn đồ, những mô tả chi tiết về ảnh hưởng của quỉ ám, cơn co giật xảy ra ngay lập tức, thời gian bị ám lâu dài và tần suất các cơn co giật, lệnh đuổi quỉ dài hơn bình thường của Chúa Jesus, và lời Ngài nói rằng chỉ có sự cầu nguyện mới trừ được loại quỉ này.

Tuy nhiên, quyền năng Chúa Jesus quá lớn đến nỗi Ngài đã đuổi quỉ mà không cần cầu nguyện. Tiếng thét và cơn co giật dữ dội (khiến nạn nhân trông như đã chết) không làm tăng sự khó khăn của phép đuổi quỉ, mà là minh chứng cho sự thành công và tính dứt khoát của phép lạ.

27. Chúa Jesus Lần Nữa Báo Trước về Sự Thương Khó và Phục Sinh
#

Đọc Mác 9:30-32

Một lần nữa Chúa Jesus báo trước về cái chết và sự sống lại của Ngài, cho thấy sự biết trước thiên thượng. Sự thiếu hiểu biết của các môn đồ càng làm nổi bật sự tiên tri này, còn nỗi sợ hãi của họ chứng tỏ sự uy nghiêm của Chúa Jesus.

28. Các Lời Dạy Phá Vỡ Quan Điểm Truyền Thống
#

Đọc Mác 9:33-50

Trở lại Ca-bê-na-um, thẩm quyền thiên thượng của Chúa Jesus được bày tỏ qua việc Ngài phá vỡ các chuẩn mực thông thường:

  • Chúa Jesus liên kết sự vĩ đại với địa vị đầy tớ, sự đầu tiên với sự cuối cùng, ví trẻ em với chính Ngài và Đức Chúa Trời.
  • Chúa Jesus cho biết những người sử dụng danh của Ngài vẫn có khả năng trung thành với Ngài và các môn đồ, mặc dù hiện họ không theo Ngài.
  • Chúa Jesus khẳng định thà bị dìm xuống biển còn hơn gây vấp phạm cho một đứa trẻ có đức tin, thà vào thiên đàng với thân thể tàn tật còn hơn lành lặn mà vào hỏa ngục.
  • Chúa Jesus ví lửa phán xét sẽ đổ xuống mọi người như muối đổ từ lọ muối; vì vậy hãy chắc chắn các môn đồ có loại ‘muối’ tốt hơn của mối quan hệ hòa bình, thay vì tranh đua với nhau, và không thể tìm thấy sự bình an bên ngoài cộng đồng các môn đồ.

29. Li Dị và Tái Hôn
#

Đọc Mác 10:1-12

Trên đường đến Giu-đê qua vùng bên kia sông Giô-đanh, Chúa Jesus tiếp tục bày tỏ thẩm quyền là Con Đức Chúa Trời bằng cách phá vỡ các chuẩn mực.

Điều mà người Pha-ri-si gọi là sự cho phép ly dị của Môi-se, Chúa Jesus gọi nó là mệnh lệnh, nhưng Ngài bác bỏ mệnh lệnh này bằng cách cho biết đó là sự thích nghi với lòng cứng cỏi của người Pha-ri-si và quay trở lại ý định ban đầu của Đức Chúa Trời trong buổi sáng thế. Theo ý định ban đầu của Đức Chúa Trời, người nam không nên phá vỡ mối liên kết hôn nhân mà Đức Chúa Trời đã thiết lập.

Chúa Jesus sau đó giải thích với các môn đồ của mình rằng ly dị rồi kết hôn với người khác cấu thành tội ngoại tình, có nghĩa là quan hệ tình dục với vợ/chồng của người khác khi hôn nhân trước đó vẫn còn hiệu lực trước mặt Đức Chúa Trời.

Trong bối cảnh xã hội Do Thái thời đó:

  • Chỉ người chồng có quyền ly dị vợ, người vợ không có quyền này
  • Tội ngoại tình được tính là vi phạm quyền của người chồng khác (vì người phụ nữ bị xem là tài sản của chồng), chứ không phải là phạm tội với vợ (vì vợ cũng chỉ được xem như tài sản)

Tuy nhiên, khi giảng giải cho các môn đồ, Chúa Jesus đã nâng cao địa vị người vợ:

  • Ngài định nghĩa tội ngoại tình là vi phạm trực tiếp với chính người vợ của mình
  • Đồng thời Ngài cũng ngầm công nhận (dù không trực tiếp dạy) rằng phụ nữ ngoại bang (không theo Do Thái giáo) có quyền ly dị chồng theo luật của họ.

Một lần nữa, Chúa Jesus lại làm đảo lộn các chuẩn mực bằng những tuyên bố đầy uy quyền của mình:

  • Người lớn nên noi gương con trẻ đến với Chúa Jesus và đón nhận vương quốc Đức Chúa Trời,
  • Sự giàu có khiến người giàu gần như không thể vào vương quốc Đức Chúa Trời,
  • Sự từ bỏ nhà cửa và gia đình vì Chúa Jesus và Phúc âm sẽ được gấp trăm lần ngay đời này lẫn cõi đời đời,
  • Ngài sẽ bị giết ở Jerusalem, là nơi Ngài và các khách hành hương đang tiến về, rồi sống lại,
  • Việc Chúa Jesus phục vụ người khác bằng cách hiến mạng sống làm giá chuộc chọ họ là một tấm gương cho tinh thần phục vụ, thay vì sự tranh giành địa vị của các môn đồ.

(Hình 10: Giấy chứng nhận ly hôn (“tờ để”) này, có niên đại vào khoảng năm 71 hoặc 72 và được viết bằng tiếng A-ram, được tìm thấy ở phía bắc của Wadi Murabbaat, sa mạc Judean. Nó ghi rằng vào năm thứ sáu của cuộc nổi loạn của người Do Thái, Joseph - con trai của Naqsan, đã ly dị Miriam - con gái của Jonathan, người đang sống ở thành phố Masada)

30. Con Trẻ và Sự Giàu Có
#

Đọc Mác 10:13-31

Một số con trẻ được đưa đến để Chúa Jesus chúc phước cho, chứ không phải để chữa bệnh.

Khi Chúa Jesus nói “Chỉ có một Đấng nhân lành, là Đức Chúa Trời” (Mác 10:18), Ngài đang nhắc lại ý từ Mác 2:7 - nơi Ngài hành động như Đức Chúa Trời khi tha tội. Qua đó, Chúa Jesus ngầm khẳng định thần tính của mình bằng cách chỉ ra rằng mọi sự tốt lành nơi Ngài đều bắt nguồn từ Đức Chúa Trời - Đấng duy nhất thật sự tốt lành.

Khi Chúa Jesus khẳng định chỉ có Đức Chúa Trời là Đấng tốt lành, Ngài đang chuẩn bị cho một chân lý quan trọng: dù giữ các điều răn của Đức Chúa Trời là cần thiết, nhưng điều đó vẫn chưa đủ để được sự sống đời đời. Đối với người giàu có, người này còn phải từ bỏ mọi của cải, bố thí cho người nghèo và theo Chúa Jesus. Các Rabbi Do Thái thường cấm bán hết của cải, kẻo người đó trở thành kẻ ăn xin, sống phụ thuộc vào sự bố thí. Các môn đồ bối rối vì họ, như hầu hết mọi người Do Thái thời bấy giờ, xem giàu có là phước lành từ Đức Chúa Trời, không phải rào cản để vào vương quốc của Ngài (xem Gióp 1:10; Châm ngôn 10:22).

Chúa Jesus dùng các hình ảnh gây ấn tượng mạnh:

  • Một con lạc đà chất đầy gánh nặng không thể đi qua một cánh cổng hẹp, càng không thể chui qua lỗ kim; và sự giàu có là gánh nặng thuộc linh mà chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể dỡ bỏ khỏi nạn nhân của chúng.
  • Nhưng ai dám từ bỏ mọi sự vì Chúa sẽ nhận lại gấp trăm lần ngay đời này - tức cả một gia đình thuộc linh (cộng đồng các môn đồ) và nhà cửa của họ tạo nên những ngôi nhà mới, những người anh em, chị em, v.v., cùng sự sống đời đời.

31. Chén và Phép Báp-têm
#

Đọc Mác 10:32-45

Sự kinh ngạcsợ hãi của những người theo Chúa Jesus lên thành Jerusalem càng làm nổi bật hình ảnh Ngài là Con Đức Chúa Trời và Đấng Christ trong sách Mác. Chúa Jesus có sự hiểu biết thiên thượng để biết trước số phận của các môn đồ lẫn chính Ngài.

“Chén”“phép Báp-têm” tượng trưng cho sự thương khó và cái chết. Như một giá chuộc, sự thương khó và cái chết của Chúa Jesus sẽ giải phóng “nhiều người”.

32. Người Mù Ba-Ti-Mê
#

Đọc Mác 10:46-52

Từ Giê-ri-cô, con đường về hướng tây và hơi chếch về phía nam sẽ dẫn đoàn người hành hương đến Jerusalem. Thường thì đám đông muốn xem Chúa Jesus làm phép lạ, nhưng giờ đây họ dường như háo hức mong Ngài đến Jerusalem để tái lập vương quốc Đa-vít (so sánh Mác 11:9-10). Họ chắc chắn việc Ngài đi trước họ hướng về Jerusalem có nghĩa Ngài sắp tuyên chiến với người La Mã, đánh bại họ và ngồi trên ngai Đa-vít (so sánh Mác 10:32a).

Việc Ba-ti-mê đi theo Chúa Jesus trên đường (thay vì ngồi ăn xin bên lề đường như trước đó) chứng tỏ anh ta không còn mù và không còn phải ăn xin nữa. Trước kia Ba-ti-mê phải xin tiền từ người khác nhưng lại muốn được chữa lành từ Chúa Jesus - và đã nhận được điều mình xin.

33. Chúa Jesus vào Thành Jerusalem Cách Khải Hoàn
#

Đọc Mác 11:1-10

Núi Ô-li-ve nằm ngay phía đông Jerusalem, bên kia thung lũng Kít-rôn. Vì vậy, lộ trình của Chúa Jesus và các khách hành hương từ Ga-li-lê sẽ đưa họ băng qua núi này, ngang qua Bê-tha-ni (ở sườn nam) và Bê-pha-giê (có lẽ ở sườn tây hướng về Jerusalem).

Việc tìm thấy con lừa con cho thấy sự biết trước thiên thượng của Chúa Jesus: Ngài đã báo trước việc này một cách chi tiết. Thần tính của Chúa Jesus cho Ngài quyền sử dụng con lừa; và việc Ngài cưỡi lừa trong khi những người khác đi bộ phù hợp với thần tính đó. Tấm áo trải làm yên cưỡi, những tấm áo và nhánh cây trải đường, cùng lời tung hô của đám đông cũng vậy. Ban đầu “Hô-sa-na” có nghĩa là “Xin cứu ngay” - một lời cầu nguyện - nhưng giờ đã trở thành tiếng reo mừng “Hoan hô!”. Ngay cả cõi trời cao nhất cũng tham gia lời tung hô này.

(Hình 11: Một con lừa ở xứ Palestine)

34. Cây Vả Bị Rủa và Sự Thanh Tẩy Đền Thờ
#

Đọc Mác 11:11-25

Bấy giờ, Chúa Jesus vào thành Jerusalem và ngay lập tức vào Đền thờ để xem xét. Dầu vậy, trời đã tối và Chúa Jesus biết sự thù địch ở Jerusalem dành cho mình (xem Mác 10:33-34), nên Ngài cùng các sứ đồ rời khỏi đó và đến làng Bê-tha-ni để nghỉ qua đêm.

Mùa vả (tháng 6 cho vả sớm, sau đó từ tháng 8 đến tháng 10) vẫn chưa tới, nhưng vào dịp Lễ Vượt Qua (tháng 3 - tháng 4), những cây vả đã ra lá thường có nụ non ăn được – người Pa-lét-tin đến nay vẫn thường ăn. Do đó, việc Chúa Jesus nguyền rủa cây vả: không có nụ non bây giờ thì sẽ chẳng có trái vào tháng 6 hay bất cứ lúc nào sau đó.

Trở lại Đền thờ, Ngài thể hiện quyền uy bằng cách đuổi những kẻ buôn bán đã biến sân ngoài - vốn dành cho dân ngoại cầu nguyện - thành một khu chợ mua bán gia súc và chim bồ câu được chứng nhận đủ điều kiện làm vật tế lễ. Hành động này cùng với sự nổi tiếng của Chúa Jesus khiến cho Hội đồng Tòa Công Luận (Sanhedrin), những người quản lý Đền thờ, quyết định giết Ngài.

Sáng hôm sau, việc phát hiện cây vả đã héo rũ - không như thông thường là héo từ lá xuống mà từ gốc lên - minh chứng cho quyền năng trong lời nguyền rủa của Chúa Jesus chỉ một ngày trước đó và sự bất khả kháng của cây vả trong việc hồi sinh. Ngài dùng sự kiện kinh ngạc này để dạy các môn đồ thêm về quyền năng của đức tin, lời cầu nguyệnsự cần thiết của lòng tha thứ.

“Hòn núi này” ám chỉ núi Ô-li-ve, nơi họ đang đi qua; còn “biển” chỉ Biển Chết, có thể nhìn thấy từ xa vào ngày quang đãng. Người thời cổ đại tin rằng núi non ăn sâu xuống tận nền móng của trái đất.

35. Ẩn Dụ về Những Kẻ Làm Công Gian Ác
#

Đọc Mác 11:27-12:12

Giờ đây Chúa Jesus vượt mặt các thành viên của Tòa Công Luận - những kẻ thách thức thẩm quyền của Ngài trong việc thanh tẩy Đền thờ. Lời thách thức của họ gồm hai câu hỏi. Chúa Jesus trả lời họ bằng một câu hỏi khác, đẩy họ vào tình thế tiến thoái lưỡng nan đến mức Ngài nắm lấy thế chủ động kể cho họ ẩn dụ về những kẻ làm công gian ác.

  • Vườn nho = dân Do Thái (so sánh Ê-sai 5:1-7)
  • Người trồng nho = Đức Chúa Trời
  • Những kẻ trồng nho thuê = các thành viên của Tòa Công Luận
  • Các đầy tớ của chủ vườn nho = các tiên tri thời trước
  • Con trai của chủ vườn nho = Chúa Jesus, Con Đức Chúa Trời
  • Vụ giết con trai chủ của vườn nho = việc giết Chúa Jesus sắp xảy ra
  • Sự diệt vong của những kẻ trồng nho thuê = sự phán xét của Đức Chúa Trời trên Tòa Công Luận (so sánh 13:1-2 và sự hủy diệt Jerusalem cùng Đền thờ năm 70)
  • Việc chuyển giao vườn nho cho người khác = sự chuyển giao quyền lãnh đạo từ Tòa Công Luận sang Chúa Jesus và các môn đồ Ngài
  • Hòn đá bị loại bỏ trở thành đá góc nhà = sự tôn cao của Chúa Jesus, bắt đầu từ sự phục sinh của Ngài

36. Vấn Đề Đóng Thuế
#

Đọc Mác 12:13-27

Cuộc đấu trí tiếp tục diễn ra. Chúa Jesus khiến những người Pha-ri-siđảng Hê-rốt kinh ngạc khi Ngài thoát khỏi cái bẫy lưỡng nan mà họ giăng ra, đồng thời vạch trần sự thiếu hiểu biết của nhóm Sa-đu-sê khi họ cố bắt bẻ Ngài.

Để lưu hành rộng rãi ở xứ Palestine, người La Mã cho đúc những đồng tiền không khắc hình hoàng đế để dùng trong sinh hoạt hằng ngày. Nhưng thuế nộp cho Sê-sa (thuế thân) phải trả bằng đồng bạc của La Mã có khắc hình và dòng chữ tuyên xưng nguồn gốc “thần thánh” của Sê-sa. Điều này tạo ra mâu thuẫn với luật Môi-se cấmhình tượng (Xuất Ê-díp-tô 20:4-6) và niềm tin độc thần của Do Thái giáo (Phục truyền 6:4)..

Kẻ thù của Chúa Jesus đặt Ngài vào thế tiến thoái lưỡng nan:

  • Nếu phản đối việc đóng thuế, Ngài sẽ bị buộc tội chống đối chính quyền La Mã do phe Hê-rốt cầm đầu.
  • Nếu ủng hộ việc đóng thuế, Ngài sẽ bị coi là vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời và phản bội niềm tin tôn giáo của dân chúng.

Với sự khôn ngoan siêu việt, Chúa Jesus yêu cầu họ cho xem đồng tiền dùng để nộp thuế. Khi họ đưa ra đồng tiền có khắc hình Sê-sa, Ngài chỉ ra rằng: “Vật chi của Sê-sa hãy trả lại cho Sê-sa, còn vật chi của Đức Chúa Trời hãy trả lại cho Đức Chúa Trời”. Sự kiện vương quốc của Đức Chúa Trời chưa thể hiện quyền lực về mặt chính trị đã để nguyên quyền đánh thuế của Sê-sa. Việc Chúa Jesus yêu cầu xem đồng tiền dùng nộp thuế giúp Ngài chỉ ra mối tương quan giữa hình ảnh Sê-sa trên đồng tiền và chính đồng tiền ấy - thứ vốn thuộc về Sê-sa thông qua thuế má.

(Hình 12: Đồng xu Đơ-ni-ê (Denarius) khắc hình Sê-sa Tiberius, thường được gọi là “Đồng xu nộp thuế”)

37. Sự Sống Lại
#

Câu hỏi của người Sa-đu-sê dựa trên luật kế tự của Môi-se, quy định nếu một người chết mà không có con, người anh/em trai phải cưới người vợ góa của em/anh mình để sinh con nối dõi (xem Phục truyền 26:5-10 và Sáng thế 38:8). Nhưng nếu một người phụ nữ lần lượt lấy bảy anh em mà vẫn không có con, thì khi sống lại, bà sẽ là vợ của ai? Câu hỏi này nhằm chế giễu ý tưởng về sự sống lại, vì một người phụ nữ không thể cùng lúc làm vợ bảy người đàn ông.

Để bảo vệ giáo lý về sự sống lại, Chúa Jesus có thể trích dẫn các đoạn Kinh Thánh Cựu Ước muộn hơn như Đa-ni-ên 12:2-3. Nhưng vì người Sa-đu-sê chỉ chấp nhận Ngũ Kinh - vốn không có nội dung nào để cập rõ ràng đến vấn đề này. Vì vậy, sau khi chỉ ra việc họ không xét đến quyền năng Đức Chúa Trời (Đấng sẽ bãi bỏ hôn nhân trong đời sau), Chúa Jesus trích dẫn Xuất Ê-díp-tô ký 3:6 - một sách có trong Ngũ Kinh để chứng minh cho sự sống lại.

Tuyên bố của Chúa Jesus rằng, “đến lúc người ta từ kẻ chết sống lại, thì chẳng cưới vợ, chẳng lấy chồng; nhưng các người sống lại đó ở như thiên sứ trên trời vậy” (tức không lập gia đình), cũng ngầm chế nhạo sự không tin của người Sa-đu-sê vào sự thực hữu của các thiên sứ.

Đọc thêm: THIÊN SỨ LÀ AI?”

Ngũ Kinh (5 sách đầu tiên trong Kinh Thánh) có nhắc đến “các thiên sứ của Đức Chúa Trời” (Sáng Thế Ký 28:12) và thường xuyên đề cập “thiên sứ của Đức Giê-hô-va”. Vì phái Sa-đu-sê chỉ công nhận Ngũ Kinh, họ có lẽ tin vào loại thiên sứ này - những thực thể thần linh. Tuy nhiên, do không tin vào sự sống lại, họ cũng không tin vào linh hồn của người chết (những người không còn kết hôn) đang chờ ngày thân thể được phục sinh.

Kinh Thánh cho thấy từ “thiên sứ” có thể được dùng chỉ những linh hồn người chết đang chờ phục sinh. Chẳng hạn, trong Công vụ 12:15, các tín đồ đã nhầm lẫn linh hồn của sứ đồ Phi-e-rơ là một thiên sứ. Công vụ 23:8 cũng ghi nhận: “người Pha-ri-si tin cả hai (tức sự sống lại và thiên sứ/linh hồn)”, trong nguyên văn Hy Lạp từ “cả hai” cho thấy “thiên sứ” và “linh hồn” có thể dùng như từ đồng nghĩa trong ngữ cảnh này.

38. Con Vua Đa-Vít và Đồng Tiền của Bà Góa
#

Đọc Mác 12:28-44

Hai đoạn tiếp theo nói về (1) các thầy thông giáo và (2) một góa phụ nghèo - đối tượng thường bị các thầy thông giáo lợi dụng.

Đầu tiên, một thầy thông giáo đến và nhận ra chân lý trong lời dạy của Chúa Jesus. Sau khi trả lời thành công mọi câu chất vấn, Chúa Jesus đặt ra câu hỏi của riêng Ngài dựa trên Thi thiên 110:1: Tại sao các thầy thông giáo lại gọi Đấng Christ là “con vua Đa-vít”, trong khi danh xưng này không hề xuất hiện (một cách nguyên văn và trực tiếp) trong Cựu Ước để chỉ Đấng Christ (tức Đấng Mê-si); và chính vua Đa-vít gọi Đấng Christ là “Chúa”, chứ không phải “con” của mình?

Sau đó, Chúa Jesus đưa ra lời cảnh báo chống lại các thầy thông giáo. Họ bị vạch trần là những kẻ đang vắt kiệt nguồn lực ít ỏi của các góa phụ bị ấn tượng bởi vẻ ngoài mộ đạo của họ.

Trái ngược hoàn toàn với những người giàu, một bà góa nghèo đã dâng hai đồng tiền cuối cùng của bà ấy để duy trì các nghi lễ thờ phượng trong Đền thờ. Khu vực có “cái rương đựng tiền dâng” được nhắc đến ở đây chỉ một gian phòng trong Đền thờ, nơi có đặt 13 cái thùng hình chiếc kèn để nhận các lễ vật dâng hiến. Việc Chúa Jesus đánh giá cao số tiền ít ỏi của bà góa hơn những khoản dâng hiến nhiều hơn gấp bội của người giàu, một lần nữa cho thấy Ngài đang đảo lộn những tiêu chuẩn đánh giá thông thường của thế gian.

39. Bài Giảng trên Núi Ô-Li-Ve
#

Đọc Mác 13:1-37

Trong phần này, Mác cho thấy khả năng tiên tri của Chúa Jesus về số phận của Đền thờ, thế giới, những người được chọn (các môn đồ của Ngài) và sự trở lại của chính Ngài vào thời kỳ cuối cùng. Chương này được gọi là Bài Giảng trên Núi Ô-li-ve, đôi khi còn được gọi là tiểu Khải huyền vì có nhiều điểm tương đồng với sách Khải huyền.

Chúa Jesus báo trước sự hủy diệt của Đền thờ (đã ứng nghiệm năm 70), nhưng Ngài nhanh chóng chuyển sang cảnh báo các môn đồ: đừng vội kết luận ngày tận thế đã gần chỉ vì sự xuất hiện của những kẻ giả danh Đấng Christ, các cuộc chiến tranh, động đất hay sự bắt bớ. Dấu hiệu thực sự báo trước ngày cuối cùng là khi họ thấy “sự tàn nát gớm ghiếc lập ra nơi không nên lập” (một hành vi phạm thánh khiến người Do Thái sùng đạo từ bỏ Đền thờ, khiến nơi này trở nên hoang vắng).

Khi đó, các môn đồ sống ở xứ Giu-đê phải lập tức chạy trốn vào vùng hoang mạc lân cận - nơi có nhiều hang động từng được dùng làm nơi ẩn náu. Việc mang thai, đang cho con bú hay thời tiết mùa đông khắc nghiệt sẽ gây khó khăn cho việc chạy trốn.

Đáng mừng là Đức Chúa Trời sẽ rút ngắn thời kỳ kinh hoàng này (được gọi là kỳ đại nạn) để bảo vệ những người được chọn. Khi khói từ các cuộc chiến che khuất mặt trời, mặt trăng, và những thiên thạch rơi xuống đất, Chúa Jesus sẽ trở lại trong quyền năng và vinh quang vĩ đại. Các thiên sứ sẽ tập hợp những người được chọn đã bị phân tán khắp nơi vì bắt bớ - đó chính là sự cứu rỗi.

Sử dụng hình ảnh cây vả để ví sánh (khi cây đâm chồi sau mùa đông, người ta biết mùa hè đã gần), Chúa Jesus dạy rằng: khi thấy “sự tàn nát gớm ghiếc” xảy ra, thì chúng ta có thể chắc chắn Ngài sắp trở lại. Nhưng chính xác thời điểm nào thì chỉ một mình Đức Chúa Cha biết, vì Đức Chúa Cha nắm giữ bí mật về khoảng thời gian mà Ngài sẽ rút ngắn cơn đại nạn trước đó. Vì thế, tất cả môn đồ Chúa Jesus phải luôn tỉnh thức và sẵn sàng.

Đọc thêm: SỰ TÀN NÁT GỚM GHIẾC

Cụm từ “trên núi” không phù hợp để mô tả Pella - một thị trấn nằm dưới chân đồi ở vùng Transjordan (tức vùng bên kia sông Giô-đanh), nơi các tín đồ Cơ đốc đã chạy đến từ Jerusalem trước năm 70 theo ghi chép của Eusebius (Lịch sử Giáo hội 3.5.2-3).

Cũng không thể xem việc quân La Mã dựng các biểu tượng có hình Sê-sa (được tôn thờ như thần) trong khuôn viên Đền thờ là “sự tàn nát gớm ghiếc”, vì sự kiện này xảy ra vào thời điểm đền thờ bị phá hủy năm 70 - khi đó đã quá muộn để chạy trốn. Ngay cả những hành vi sai trái trước đó của nhóm Nhiệt Thành (Zealots) cũng không thể coi là “sự tàn nát gớm ghiếc”, vì họ chỉ chiếm đóng đền thờ chứ không khiến nơi này bị bỏ hoang.

Ban đầu, thuật ngữ “sự tàn nát gớm ghiếc” ám chỉ bàn thờ (và có lẽ cả tượng) thần Zeus do Antiochus Epiphanes dựng lên trong Đền thờ (Đa-ni-ên 9:27; 11:31; 12:11). Hành động phạm thượng này khiến người Do Thái sùng đạo từ chối thờ phượng tại đây cho đến khi Judas Maccabeus chiếm lại, thanh tẩy và tái cung hiến Đền thờ.

Điều này tương đồng với lời tiên tri về kẻ vô luật pháp, con thú, hoặc Antichrist (2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:4, Khải huyền 13:11-18) trong tương lai sẽ đòi hỏi người ta thờ phượng nó và hình tượng của nó.

40. Âm Mưu Giết Chúa Jesus và Sự Xức Dầu
#

Đọc Mác 14:1-11

Giai đoạn ứng nghiệm những lời tiên tri của Chúa Jesus về sự thương khó (sự đau đớn và cái chết) cùng sự phục sinh của Ngài bắt đầu.

Cụm từ “không phải trong ngày lễ” (Mác 14:2) nên được hiểu là “không phải trong buổi nhóm của ngày lễ”. Các thành viên Tòa Công Luận không muốn gây bạo loạn khi bắt Chúa Jesus giữa đám đông khách hành hương đến từ Ga-li-lê - họ chờ cơ hội bắt Ngài khi Ngài ở riêng, không có đám đông vây xung quanh. Giu-đa Ích-ca-ri-ốt sẽ chỉ cho họ cơ hội này.

Trước viễn cảnh cái chết sắp tới, Chúa Jesus giải thích việc một phụ nữ xức dầu thơm lên đầu Ngài tại nhà của Si-môn - người bị phung - như là sự chuẩn bị trước cho việc mai táng Ngài. (Dù bản thân người phụ nữ có lẽ chỉ coi đây là hành động tôn kính thông thường). Ba trăm đơ-ni-ê tương đương lương một năm làm việc của người lao động, và lượng dầu thơm quý giá này còn đắt hơn thế nữa - vừa là sự tôn vinh địa vị Chúa Jesus, vừa làm dịu đi nỗi ô nhục của hình phạt đóng đinh sắp xảy ra.

41. Bữa Ăn Cuối Cùng
#

Đọc Mác 14:12-31

Ngày thứ Năm trước Thứ Sáu của Tuần Lễ Chúa Jesus Chịu Khổ Nạn đã đến. Câu chuyện về sự chuẩn bị cho Lễ Vượt Qua - bữa ăn tối kỷ niệm cuộc xuất hành của Israel từ Ai Cập (Xuất Ê-díp-tô Ký 12:1-51; Lê-vi Ký 23:4-8) - có tác dụng nhấn mạnh sự biết trước thần tính của Chúa Jesus, khi Ngài hướng dẫn hai môn đồ tìm gặp một người đàn ông đang xách vò nước (công việc này thường chỉ có phụ nữ làm) và tìm thấy một phòng lớn trên lầu đã được chuẩn bị sẵn.

Bữa ăn Lễ Vượt Qua - thường được gọi là Tiệc Thánh - cũng có mục đích làm nổi bật sự biết trước thần tính của Chúa Jesus:

  • Ngài báo trước một trong mười hai Sứ đồ sẽ phản bội Ngài.
  • Ngài báo trước cái chết bạo lực của mình qua biểu tượng bánh và chén rượu tượng trưng cho thân thể và huyết Ngài bị phân cách, đồng thời giải thích đây là sự hy sinh chuộc tội cho nhiều người.
  • Ngài báo trước sự kiêng ăn tạm thời, rồi đến sự vui mừng trong tiệc cưới Chiên Con khi vương quốc của Đức Chúa Trời được trọn vẹn.
  • Ngài trích dẫn Xa-cha-ri 13:7 báo trước rằng các môn đồ sẽ bỏ rơi Ngài trong cơn bắt bớ
  • Ngài báo trước rằng sau khi phục sinh Ngài sẽ đi trước họ đến Ga-li-lê.
  • Ngài báo trước về sự chối Chúa của Phi-e-rơ.

Sự ứng nghiệm những lời báo trước này sẽ xóa tan nỗi ô nhục của thập tự giá và củng cố hình ảnh Chúa Jesus là Đấng Christ, Con của Đức Chúa Trời trong sách Phúc Âm của Mác.

Theo truyền thống, người Do Thái sẽ đọc bài thánh ca đối đáp - Thi thiên 113-118 - gọi là Hallel để kết thúc nghi thức Lễ Vượt Qua.

Đọc thêm: MỞ ĐẦU CỦA HALLEL

“Ha-lê-lu-gia!
Hỡi các tôi tớ Đức Giê-hô-va, hãy ngợi khen,
Hãy ngợi khen danh Đức Giê-hô-va.
Đáng chúc tụng danh Đức Giê-hô-va,
Từ bây giờ cho đến đời đời! Từ nơi mặt trời mọc cho đến nơi mặt trời lặn,
Khá ngợi khen danh Đức Giê-hô-va!” (Thi Thiên 113:1-3)

42. Sự Bắt Giữ
#

Đọc Mác 14:32-72

Giờ đây, những lời tiên tri của Chúa Jesus bắt đầu ứng nghiệm trọn vẹn. Giu-đa Ích-ca-ri-ốt phản bội Ngài bằng cách dẫn Hội đồng Tòa Công Luận đến bắt Ngài tại vườn Ghết-sê-ma-nê, cách xa đám đông. Các môn đồ khác bỏ chạy. Tòa Công Luận kết án Ngài đáng tội chết, và Phi-e-rơ chối bỏ Ngài.

Mác mô tả nỗi đau khổ tinh thần của Chúa Jesus gợi lòng thương cảm, đồng thời nhấn mạnh sự vâng phục ý muốn Đức Chúa Cha để khơi dậy sự ngưỡng mộ dành cho Ngài. “Abba” trong tiếng A-ram có nghĩa là “Cha”, thể hiện mối quan hệ Cha-Con thân mật giữa Chúa Jesus với Đức Chúa Trời. “Giờ đã tới rồi” ở đây chỉ thời điểm Ngài bị phản bội (xem Mác 14:41 và 14:35), còn “chén nầy” ám chỉ cái chết của Ngài (Mác 10:38-39; 14:23-24). Sự tỉnh thức của Ngài tương phản mạnh mẽ với sự yếu đuối của ba môn đồ thân tín nhất khi họ ngủ gục.

Giu-đa Ích-ca-ri-ốt thể hiện sự phản bội qua nụ hôn giả dối. Tương tự, Chúa Jesus mỉa mai chỉ ra rằng các thành viên Tòa Công Luận đã thể hiện ý đồ xấu xa khi bắt Ngài một cách lén lút, thay vì công khai như họ từng có nhiều cơ hội trước đó.

Nhiều người cho rằng chàng thanh niên trốn chạy trong cảnh trần truồng là Mác - tác giả sách Phúc Âm này, nhưng chúng ta không có bằng chứng xác thực. Dù là ai, sự trốn thoát của anh ta dường như tượng trưng báo trước về sự phục sinh của Chúa Jesus - Đấng sẽ được chôn trong tấm vải liệm giống như chiếc áo chàng thanh niên đang mặc (Mác 15:46), và sự phục sinh ấy sẽ được một người trẻ tuổi loan báo trong ngôi mộ trống (Mác 16:5-7).

43. Phiên Tòa của Người Do Thái
#

Việc Tòa Công Luận không thể tìm được chứng cớ đáng tin cáo buộc Chúa Jesus cho thấy sự vô tội của Ngài. Lời chứng gian dối rằng Ngài tuyên bố sẽ phá Đền thờ do tay người làm và xây lại trong ba ngày có vẻ như sự pha trộn giữa lời báo trước của Chúa Jesus về việc Đền thờ sẽ bị phá hủy (dù không phải do Ngài) và việc Ngài sẽ sống lại sau ba ngày.

Bản án kết tội Chúa Jesus phạm thượng khi Ngài trả lời thầy tế lễ thượng phẩm liên quan đến lời tiên tri rằng khi Chúa Jesus tái lâm, họ sẽ thấy Ngài ngồi bên hữu Đức Chúa Trời (được tôn kính gọi là “Đấng Quyền Năng”) ngay trước khi Ngài trở lại.

Mỉa mai thay, Chúa Jesus bị thách thức nói tiên tri trong khi chính những lời tiên tri trước đó của Ngài đang ứng nghiệm. Những chi tiết về sự nhạo báng Ngài phải chịu cùng ba lần chối bỏ của Phi-e-rơ ngay đêm đó - trước khi gà gáy lần thứ hai - đều nhấn mạnh sự chính xác tuyệt đối trong sự tiên tri thần tính của Chúa Jesus.

44. Phiên Tòa của Người La Mã
#

Những lời tiên tri của Chúa Jesus tiếp tục được ứng nghiệm. Tòa Công Luận dẫn Chúa Jesus đến Phi-lát - quan tổng đốc La Mã - đúng như lời Ngài đã nói rằng họ sẽ “nộp Ngài cho dân ngoại” (Mác 10:33). Phi-lát không quan tâm việc Chúa Jesus có phạm thượng với Đức Chúa Trời của người Do Thái hay không, nhưng ông ta rất quan tâm liệu Ngài có tự xưng là vua để chống lại Sê-sa - hoàng đế mà ông phục vụ.

Câu hỏi “Ấy chính ngươi là Vua dân Giu-đa phải không?” ngụ ý rằng cáo buộc tôn giáo về tội phạm thượng mà Tòa Công Luận kết án Chúa Jesus đã được thay thế bằng cáo buộc chính trị về tội làm loạn. Câu trả lời của Chúa Jesus “Chính ngươi nói điều đó” vừa thừa nhận danh xưng “Vua dân Giu-đa” được gán cho mình, vừa phủ nhận đây là danh xưng Ngài tự gọi chính mình - nghĩa là Chúa Jesus phủ nhận việc mình là kẻ nổi loạn chống lại Sê-sa.

45. Ba-Ra-Ba (Barabbas)
#

Đọc Mác 15:1-20a

Ba-ra-ba, chứ không phải Chúa Jesus, mới là kẻ nổi loạn - và cũng là kẻ giết người. Vì Tòa Công Luận đã bắt và xét xử Chúa Jesus một cách bí mật rồi dẫn Ngài đến Phi-lát vào sáng sớm, nên đám đông yêu cầu Phi-lát (theo thông lệ) phóng thích một tù nhân cho họ chắc hẳn đã không nghĩ đến Chúa Jesus. Chính Phi-lát đã gợi ý tên Chúa Jesus để thăm dò xem liệu sự nổi tiếng của Ngài có mang tính chính trị đe dọa quyền cai trị của Sê-sa như Tòa Công Luận cáo buộc hay không, “Các ngươi muốn ta tha Vua dân Giu-đa cho chăng?”

Nếu đám đông đòi thả Chúa Jesus với tư cách là Vua của họ, Tòa Công Luận sẽ được chứng minh là đúng. Nếu không, thì Phi-lát đúng. Khi đám đông đòi tha Ba-ra-ba, Phi-lát biết mình đã đúng khi cho rằng Tòa Công Luận chỉ đang ganh ghét với sự nổi tiếng của Chúa Jesus. Nhưng nỗ lực thả Chúa Jesus của Phi-lát bị chùn bước trước sự đòi hỏi ồ ạt của đám đông. Phi-lát lo lắng cho tương lai chính trị của mình - ông ta không muốn Tòa Công Luận tố cáo với Sê-sa rằng mình đã thả một vị vua đối địch.

Như vậy, bản án đóng đinh Chúa Jesus sắp xảy ra là một bản án oan - vi phạm công lý. Những trò nhạo báng tiếp theo, lần này bởi các binh lính, tiếp tục ứng nghiệm lời tiên tri của Chúa Jesus (xem Mác 10:34). “Trường án” hay “Dinh tổng đốc” (“praetorium”) là nơi ở chính thức của Phi-lát mỗi khi ông từ Caesarea (nơi ông thường cư ngụ) đến Jerusalem. Binh lính đan một cái mão bằng gai đội cho Chúa Jesus vừa là công cụ tra tấn (với gai nhọn hướng vào trong đâm vào da đầu), vừa là trò nhạo báng (với các gai nhọn hướng ra ngoài mô phỏng tia nắng).

(Hình 13: Đồng xu có khắc hình vương miện tỏa sáng, còn được gọi là vương miện mặt trời. Vương miện này có một số dải hẹp hướng ra ngoài từ đầu của người đội tượng trưng cho các tia nắng mặt trời)

46. Sự Đóng Đinh
#

Đọc Mác 15:20b-47

Đây là phần cao trào của sách khi Mác cho độc giả thấy sự kiện Chúa Jesus sắp chịu đóng đinh không phải là một sự kiện đáng xấu hổ theo suy nghĩ thông thường, vì các lý do: (1) đây là sự ứng nghiệm các lời tiên tri của chính Chúa Jesus, (2) sự khổ nạn của Ngài này đem lại lợi ích cho người khác, và (3) khổ nạn này xuất phát từ ý muốn của Đức Chúa Cha, và đồng thời là do sự bất công của con người.

Khi tường thuật về diễn biến của sự kiện Chúa Jesus chịu đóng đinh, Mác tiếp tục chủ đề này bằng cách chỉ ra rằng:

  • Chúa Jesus không phải tự vác thập tự giá của chính mình.
  • Ngài được mời uống rượu pha mộc dược (một thức uống quý).
  • Để giữ sự tỉnh táo và ý thức rõ ràng, như trong vườn Ghết-sê-ma-nê, Ngài từ chối không uống.
  • Áo xống của Ngài trở thành mục tiêu tranh giành.
  • Khi bị đóng đinh, Ngài ở vị trí trung tâm.
  • Những lời nhạo báng tiếp tục ứng nghiệm những gì Ngài đã báo trước (so sánh với Mác 10:33-34).
  • Ngài chỉ bị treo trên thập tự giá trong sáu giờ (khoảng 9 giờ sáng đến 3 giờ chiều), trong khi các tử tù bị đóng đinh thường phải chịu lâu hơn nhiều (có khi đến vài ngày).
  • Trong ba giờ cuối, một bóng tối siêu nhiên che khuất Ngài khỏi những ánh nhìn chế nhạo của những kẻ phỉ báng Ngài.
  • Ngài không yếu dần rồi ngất đi trước khi chết, mà qua đời với một tiếng kêu lớn.
  • Khi tiếng kêu đó vang lên, bức màn trong Đền thờ - được cho là dài 60 feet, rộng 30 feet và dày bằng bề ngang bàn tay người (khoảng 5 inch) - bị xé làm đôi từ trên xuống dưới, cho thấy đây là kết quả của hành động siêu nhiên.
  • Cách Chúa Jesus chết khiến viên đội trưởng giám sát cuộc hành quyết phải tuyên bố rằng quả thật Ngài là Con Đức Chúa Trời.
  • Nhiều phụ nữ đã theo và hầu việc Ngài khi Ngài ở xứ Ga-li-lê chứng kiến mọi việc khiến viên đội trưởng phải thốt lên như vậy.
  • Thi thể của Chúa Jesus được chôn cất trang trọng bởi một thành viên của Tòa Công Luận - một người có danh vọng, đạo đức và lòng dũng cảm, dù người La Mã cấm chôn cất những người bị xử tử bằng hình thức đóng đinh giống như Ngài với tội danh phản quốc (bản án của Ngài ghi Ngài là Vua dân Giu-đa, một danh xưng ngụ ý chống lại quyền cai trị của Sê-sa).

47. Sự Chết và Sự Chôn
#

“Cha của A-léc-xan-đơ và Ru-phu” (Mác 15:21) – Chi tiết này có lẽ ngụ ý rằng hai người con của ông Si-môn người Sy-ren này (tức A-léc-xan-đơ và Ru-phu) được cộng đồng độc giả ban đầu của sách Mác biết đến.

Sự tương đồng gần giữa “Ê-lô-i” và “Ê-li” (tức tiên tri Ê-li, Mác 15:34-36) - Do cách phát âm gần giống nhau, một số người đứng xung quanh tưởng rằng Chúa Jesus đang kêu cầu sự giúp đỡ từ tiên tri Ê-li trong Cựu Ước.

Chúa Jesus không uống giấm – Khi được đưa miếng bông đá thấm đầy giấm, Chúa Jesus từ chối uống vì lúc đó Ngài trút hơi thở cuối cùng với một tiếng kêu lớn. Tiếng kêu này được gọi là “Tiếng kêu bị bỏ rơi” trích từ Thi Thiên 22:1, mô tả cảm giác Chúa Jesus bị Đức Chúa Trời lìa bỏ trong giây phút Ngài chịu chết.

Bức màn trong Đền thờ bị xé ra làm đôi - Mác không nói rõ đây là bức màn ngoài hay màn trong của Đền thờ, nhưng dựa vào lời tuyên bố của viên đội trưởng, nhiều khả năng đây là bức màn ngoài. Điều này cũng ủng hộ giả thuyết rằng Chúa Jesus bị đóng đinh trên núi Ô-li-ve (đối diện với Đền thờ), thay vì địa điểm theo truyền thống (vừa nằm ngoài tầm nhìn vừa ở vị trí không phù hợp).

“Ngày sắm sửa” (Mác 15:42) – Đây là cách gọi ngày thứ Sáu, là ngày chuẩn bị trước ngày Sa-bát (thứ Bảy) để người Do Thái có thể nghỉ ngơi.

Giô-sép người A-ri-ma-thê lăn một tảng đá chắn cửa mộ Chúa Jesus - Ông đã lăn một tảng đá chắn cửa mộ để bảo vệ thi thể Chúa Jesus khỏi bị thú dữ hoặc kẻ xấu xâm phạm, dù theo luật La Mã, những người bị xử tử vì tội phản loạn (như Chúa Jesus) thường không được chôn cất tử tế.

(Hình 14: Một ngôi mộ có cửa được chặn bằng đá lăn)

48. Sự Sống Lại
#

Đọc Mác 16:1-7

tảng đá lấp cửa mộ quá lớn, những người phụ nữ đến mộ Chúa Jesus băn khoăn không biết ai sẽ lăn tảng đá ra giùm họ. Nhưng khi đến nơi, họ thấy tảng đá đã được lăn ra rồi và thi thể Chúa Jeus - vốn họ định xức dầu thơm để tỏ lòng tôn kính (trong khi người Do Thái thường chỉ xức dầu ô-liu cho thi thể) - đã biến mất.

“Một người trẻ tuổi” gợi nhớ đến chàng thanh niên trong Mác 14:51-52, nhưng việc người này “mặc áo dài trắng” cho thấy đây là một thiên sứ, khác với chàng thanh niên chạy trốn trong vườn Ghết-sê-ma-nê (là con người). Việc người trẻ tuổi này ngôi bên hữu báo hiệu điều tốt lành, vì phía bên phải tượng trưng cho ân điển. Quả thật, điều tốt lành này được xác nhận khi thiên sứ báo tin Chúa Jesus đã sống lại và hứa rằng các môn đồ sẽ gặp Ngài tại Ga-li-lê, ứng nghiệm lời báo trước của Chúa Jesus trong bữa ăn tối của Lễ Vượt Qua (Mác 14:28).

49. Phần Kết của Sách Mác
#

Đọc Mác 16:8

Theo các bản sao chép cổ nhất và đáng tin cậy nhất, sách Mác kết thúc ở câu 16:8. Các bản sao chép có niên đại sau thường thêm vào các câu 16:9-20 (được gọi là “phần kết dài”) và một đoạn ngắn khác không có đánh số - cả hai đoạn đều được công nhận rộng rãi là không phải phần gốc.

Nhiều học giả cho rằng Mác chủ định kết thúc sách Phúc Âm của mình ở 16:8. Nếu vậy, sự run sợ, kinh ngạc, bàng hoàng và sợ hãi của những người phụ nữ đã khép lại sách Phúc Âm này bằng một âm điệu đầy kinh sợ - phù hợp với cách Mác miêu tả Chúa Jesus là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời.

Mặt khác, vì Mác đã ghi lại sự ứng nghiệm của mọi lời tiên tri khác của Chúa Jesus (trong phạm vi những sự ứng nghiệm đó đã xảy ra trong thời gian Chúa Jesus ở trên đất), nhiều học giả tin rằng ban đầu Mác có viết thêm về việc các môn đồ gặp Chúa Jesus tại Ga-li-lê, nhưng phần này đã bị thất lạc. Hai phần kết không chính thống (16:9-20 và đoạn ngắn không đánh số) có lẽ được thêm vào vì người sao chép nhận thấy phần kết gốc đã bị mất.

Đọc thêm: VẤN ĐỀ PHẦN KẾT CỦA SÁCH MÁC

Việc sách Mác kết thúc như thế nào không ảnh hưởng đến bất kỳ giáo lý chính yếu nào của đức tin Cơ Đốc giáo. Sự mặc khải của Kinh Thánh chắc chắn không phải là vấn đề, mà chỉ là văn bản gốc của Kinh Thánh so với văn bản có thêm phần bổ sung bởi những người sao chép sau này.

Các bản sao chép sớm nhất và đáng tin cậy nhất của Tân Ước vẫn chưa được phát hiện vào năm 1611. Do đó, các dịch giả của bản King James Version (KJV) (chứa phần kết thúc dài, và đã ảnh hưởng đến các bản dịch sau nó) không biết rằng phần kết thúc dài này là văn bản không chắc chắn, thậm chí khó có thể được chấp nhận là văn bản gốc.

TÓM LẠI
#

Giăng Mác - nhà truyền giáo - đã viết sách Phúc Âm để truyền rao tin lành về Chúa Jesus Christ. Theo truyền thống cổ xưa, Mác đã ghi lại những lời giảng của sứ đồ Phi-e-rơ. Có lẽ ông viết sách này khá sớm, tại Rô-ma. Văn phong của ông có bố cục lỏng lẻo với nhịp độ nhanh, nhấn mạnh những công việc quyền năng của Chúa Jesus, thẩm quyền trong sự giảng dạy và khả năng tiên tri của Ngài.

Câu chuyện bắt đầu với việc Chúa Jesus được Giăng Báp-tít giới thiệu, tiếp theo là các hoạt động của Ngài tại Ga-li-lê, và đạt đến cao trào trong một phần dài bất thường tập trung vào những sự kiện trong tuần lễ cuối cùng của Ngài tại Giê-ru-sa-lem.

Việc phát hiện ngôi mộ trống (do Chúa Jesus đã phục sinh) kết thúc câu chuyện Phúc Âm theo những gì chúng ta có ngày nay, dù phần kết gốc rất có thể đã bị mất. Dù sao đi nữa, sự phục sinh của Chúa Jesus cùng với những chi tiết khác trong sách Mác đã xóa đi sự ô nhục của thập tự giá, từ đó giới thiệu Tin Lành của Chúa Jesus Christ một cách hùng hồn đến những người chưa tin.

CHÚ THÍCH
#


  1. Anti-Marcionite prologues: Các lời tựa chống Marcion là một loạt văn bản ngắn giới thiệu đính kèm với các sách Phúc Âm (và một số thư của Phao-lô) trong một số bản sao chép bằng tiếng Latin của Tân Ước. Những lời tựa này được cho là xuất hiện từ cuối thế kỷ 2 đến thế kỷ 4, nằm trong nỗ lực của các tín hữu Cơ Đốc giáo sơ khai nhằm phản bác giáo lý của Marcion thành Sinope (85-160) - một người bị coi là dị giáo, vì bác bỏ Cựu Ước và tự tập hợp một bộ Kinh Thánh riêng, chỉ chấp nhận một phiên bản sửa đổi của Phúc Âm Lu-ca cùng 10 thư tín của Phao-lô là Kinh Thánh. ↩︎

  2. Transjordan: Vùng Transjordan thời Chúa Jesus là khu vực phía đông sông Jordan, tương ứng với phía tây của các nước Jordan và Syria hiện nay. Từ “Transjordan” theo nghĩa đen là “bên kia sông Jordan” (tùy theo vị trí người nói là ở phía tây hay đông sông Jordan). Vào thế kỷ 1, vùng Transjordan bao gồm một số khu vực và thành phố sau: Perea (Bê-rê), Decapolis (Đê-ca-bô-lơ), và vùng Bashan↩︎