Skip to main content

Chương 08: MA-THI-Ơ - CẨM NANG CHO MỘT HỘI THÁNH PHA TRỘN GIỮA CƠN BẮT BỚ

·24884 words·117 mins·
Author
Lily
Table of Contents

TÂN ƯỚC LƯỢC KHẢO

(Hình 1: Hồ Galilee [biển Ga-li-lê] ngày nay. Hồ còn có tên gọi là biển Tiberias [Ti-bê-ri-át, Giăng 6:1], biển Kinneret [Ki-nê-rết, Dân-số Ký 35:11, Giô-suê 13:27]. Đây là một hồ nước ngọt lớn nằm ở miền Bắc Israel [Y-sơ-ra-ên], thuộc thung lũng Jordan Rift. Hồ có chiều dài khoảng 21 km, chiều rộng khoảng 13 km.)

I. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN
#

1.1. Logia
#

Truyền thống do Papias truyền lại, vốn nói rằng Mác đã ghi chép những hồi ức của Phi-e-rơ, cho biết rằng Ma-thi-ơ đã viết các logia (trong tiếng Hy Lạp logia có nghĩa là “lời phán”) bằng tiếng Hê-bơ-rơ hoặc tiếng A-ram, và những người khác đã diễn giải chúng theo khả năng của mình. Trong ngữ cảnh này, từ logia, theo nghĩa tự nhiên nhất, có thể được hiểu là chỉ một sách Phúc Âm.

Tuy nhiên, chúng ta không sở hữu một sách Phúc Âm nào do chính Ma-thi-ơ viết bằng một trong hai ngôn ngữ hệ Semitic là tiếng Hê-bơ-rơ và tiếng A-ram, mà chỉ có sách Phúc Âm Ma-thi-ơ bằng tiếng Hy Lạp hiện tại, vốn dường như không được dịch từ một bản gốc Semitic. Ví dụ, nếu toàn bộ sách Phúc Âm của Ma-thi-ơ hiện tại là bản dịch tiếng Hy Lạp từ văn bản gốc ban đầu được viết bằng tiếng Hê-bơ-rơ hoặc tiếng A-ram, thì tại sao Ma-thi-ơ chỉ trích nguyên ngữ Semitic kèm bản dịch tiếng Hy Lạp cho chỉ một vài thuật ngữ, chẳng hạn như Em-ma-nu-ên (Ma-thi-ơ 1:23) mà thôi?

Một số người cho rằng truyền thống do Papias truyền lại đang đề cập đến logia như là một bộ sưu tập các đoạn văn mang tính chứng minh Chúa Jesus là Đấng Mê-si do Ma-thi-ơ biên soạn bằng tiếng Hê-bơ-rơ hoặc tiếng A-ram, sau đó được kết hợp vào sách Phúc Âm của ông dưới dạng bản dịch tiếng Hy Lạp, hoặc logia là một phiên bản Phúc Âm bằng ngôn ngữ Semitic trước đó của Ma-thi-ơ không liên quan trực tiếp đến phiên bản tiếng Hy Lạp hiện tại của chúng ta. Những người khác lại nghĩ rằng logia ám chỉ tài liệu Q (về vấn đề này, xem chương 05).

Theo một cách hiểu khác, truyền thống của Papias nhắc đến logia hàm ý rằng sách Phúc Âm Ma-thi-ơ bằng tiếng Hy Lạp hiện tại của chúng ta được viết theo phong cách Hê-bơ-rơ hoặc A-ram hơn là ngôn ngữ Hê-bơ-rơ hoặc A-ram, và trình bày cách diễn giải của Ma-thi-ơ (theo nghĩa giải thích) về cuộc đời Chúa Jesus song song với sự diễn giải của Mác. Nếu theo cách hiểu này, thì từ logia ở đây không ám chỉ đến bất kỳ bản dịch nào của Ma-thi-ơ từ một bản gốc Semitic.

1.2. Tác Giả
#

Các học giả hiện đại thường phủ nhận việc sứ đồ Ma-thi-ơ là tác giả của sách Phúc Âm mang tên ông. Xuất phát từ việc đồng nhất logia của Papias với tài liệu Q, một số người cho rằng Ma-thi-ơ đã viết Q và danh tính của ông đã bị gán một cách nhầm lẫn cho Phúc Âm thứ nhất (theo thứ tự trong Tân Ước của chúng ta) bởi vì tác giả vô danh của Phúc Âm này đã sử dụng quá nhiều nội dung từ Q. Nhưng, nếu tài liệu Q quả thực có tồn tại, thì không có lý do xác đáng nào để phủ nhận khả năng Ma-thi-ơ có thể đã viết cả hai, đặc biệt nếu Q bao gồm hoặc được biên soạn từ một tập hợp các ghi chú rời rạc về các lời dạy của Chúa Jesus do Ma-thi-ơ ghi lại và sau đó được đưa vào Phúc Âm của ông.

Có ý kiến phản đối cho rằng một sứ đồ như Ma-thi-ơ thì không thể mượn các tường thuật về những việc làm của Chúa Jesus từ một người không phải là sứ đồ như Mác. Nhưng, trong khi thêm vào tư liệu của riêng mình, Ma-thi-ơ có thể chỉ đơn thuần là đang xác nhận lời chứng của Phi-e-rơ, và do đó là cả truyền thống sứ đồ, vốn đã được Mác ghi chép. Bất kể địa vị thế nào, các tác giả cổ đại thường xuyên vay mượn tư liệu từ những tác giả đi trước; không ai cho rằng làm như vậy là đạo văn hay hạ thấp danh tiếng của mình. Truyền thống của Hội thánh thời ban đầu nhất trí rằng sách Phúc Âm thứ nhất là của Ma-thi-ơ, và việc gán ghép tác giả sai lầm cho một sứ đồ tương đối ít nổi tiếng như Ma-thi-ơ dường như là điều khó xảy ra, vì mãi cho đến một thời kỳ muộn hơn thì trí tưởng tượng của Cơ Đốc giáo mới tiến tới việc vinh danh hóa tất cả các sứ đồ.

Cách sắp xếp bố cục tài tình của sách Phúc Âm này phù hợp với các mối quan tâm và khả năng có thể có của một người từng làm nghề thu thuế như sứ đồ Ma-thi-ơ. Việc đây là sách Phúc Âm duy nhất ghi lại câu chuyện Chúa Jesus nộp thuế Đền thờ (Ma-thi-ơ 17:24-27) cũng cho thấy điều này. Phần tường thuật về sự kêu gọi Ma-thi-ơ làm môn đồ sử dụng tên sứ đồ Ma-thi-ơ, thay vì cái tên Lê-vi mà Mác và Lu-ca sử dụng (xem danh sách các sứ đồ trong 10:2-4; Mác 3:16-19; Lu-ca 6:13-16; Công-vụ 1:13), và bỏ qua cụm từ “nhà của ông” mà Mác và Lu-ca dùng khi mô tả ngôi nhà nơi Ma-thi-ơ đã thiết tiệc khoản đãi Chúa Jesus (Ma-thi-ơ 9:9-13; so sánh với Mác 2:13-17; Lu-ca 5:27-32). Những chi tiết nhỏ này rất có thể là những dấu hiệu rõ ràng cho thấy tác giả chính là Ma-thi-ơ, và vì thế, củng cố cho truyền thống của Hội Thánh thời ban đầu.

1.3. Niên Đại
#

Nếu Ma-thi-ơ sử dụng sách Mác và sách Mác được viết vào khoảng năm 45-60, thì sách Mác-thi-ơ có thể được biên soạn muộn hơn một chút, trong hoặc sau khoảng thời gian này.

Các học giả theo quan điểm phủ nhận các lời tiên tri báo trước và có các giả định hoài nghi nói chung thường đẩy niên đại của sách Phúc Âm Ma-thi-ơ muộn hơn vào những năm 80 hoặc 90, mặc dù một số học giả bảo thủ ủng hộ niên đại muộn hơn vì các lý do khác. Chẳng hạn, một số học giả theo quan điểm bảo thủ lập luận rằng sự quan tâm của Ma-thi-ơ đến Hội Thánh (ông là tác giả Phúc Âm duy nhất sử dụng thuật ngữ này, và dùng hai lần) cho thấy niên đại muộn hơn - khi giáo lý về Hội Thánh ngày càng trở nên quan trọng do sự trì hoãn trong sự tái lâm của Chúa Jesus.

Tuy nhiên, giáo lý về Hội Thánh đã đóng vai trò quan trọng trong các thư tín của Phao-lô - tất cả đều đã được viết trước những năm 80 và 90. Bên cạnh đó, nếu Ma-thi-ơ viết sách Phúc Âm đặc biệt hướng đến các độc giả người Do Thái (điều được đa số - dù không phải tất cả các học giả - đồng ý), thì khả năng ông viết vào thời kỳ muộn (khi sự rạn nứt giữa Hội Thánh và nhà hội Do Thái đã trở nên sâu sắc) dường như thấp hơn so với thời kỳ đầu (khi các tín hữu gốc Do Thái vẫn chi phối Hội Thánh và triển vọng cải đạo những người Do Thái khác còn sáng sủa hơn).

Các học giả giữ quan điểm nghi ngờ các lời tiên tri báo trước tương lai cho rằng cách diễn đạt trong Ma-thi-ơ 22:7 (“Vua nổi giận, bèn sai quân lính diệt những kẻ giết người đó, và đốt phá thành của họ”) ám chỉ sự kiện thành Giê-ru-sa-lem bị hủy diệt năm 70 - nghĩa là sách Phúc Âm Ma-thi-ơ phải được viết từ góc nhìn muộn hơn năm 70.

Tuy nhiên, cách diễn đạt này cũng có thể ngược lại đang ám chỉ sự kiện thành Giê-ru-sa-lem bị hủy diệt từ năm 586 TCN và vang vọng Ê-sai 5:25 (“Nhân đó, cơn thạnh nộ của Đức Giê-hô-va phừng lên nghịch cùng dân Ngài … xác chết chúng nó như phân ngang ngửa giữa đường”), như được gợi ý từ bối cảnh Ê-sai 5:1-7 (nói về “cư dân Giê-ru-sa-lem và người Giu-đa”) cho ẩn dụ ngay trước đó trong Ma-thi-ơ 21:33-46.

Hơn nữa, một niên đại muộn xác định cho sách Mác-thi-ơ sẽ khiến các chi tiết về thuế Đền thờ (chỉ được Ma-thi-ơ đề cập, Ma-thi-ơ 17:24-27) và tầm ảnh hưởng tương đối của người Sa-đu-sê (họ xuất hiện bảy lần trong sách Ma-thi-ơ, so với chỉ một lần trong Mác và Lu-ca) trở nên kỳ lạ. Bởi vì Đền thờ đã bị phá hủy vào năm 70, dẫn đến việc người Sa-đu-sê mất đi cơ sở quyền lực, và trên thực tế, hầu hết trong số họ đã mất mạng.

1.4. Bố Cục
#

Mác-thi-ơ viết Phúc Âm của ông cho Hội Thánh với tư cách là dân tộc được chọn mới - ít nhất cho đến thời điểm này - đã thay thế dân tộc được chọn cũ là Y-sơ-ra-ên. Phúc Âm mở đầu bằng sự giáng sinh của Chúa Jesus (chương 1-2). Phần còn lại chủ yếu kế thừa tường thuật của Mác (thường được tóm lược) và thêm vào năm phần giảng luận của Chúa Jesus (dù một số nội dung trong các bài giảng này cũng đến từ Mác).

Các phần giảng luận bao gồm những “bài giảng” dài ngắn khác nhau, được bổ sung các lời dạy riêng lẻ của Chúa Jesus vào những chỗ phù hợp. Mỗi bài giảng kết thúc bằng công thức: “Vả, khi Đức Chúa Jêsus phán những lời ấy xong …”. Tương tự, công thức “Từ lúc đó, Đức Chúa Jêsus bắt đầu …” mở ra một phần tường thuật mới quan trọng (Ma-thi-ơ 4:17; 16:21).

1.5. Tính Do Thái
#

Cấu trúc năm phần của các bài giảng trong sách Phúc Âm Ma-thi-ơ cho thấy, vì lợi ích của các độc giả người Do Thái, Ma-thi-ơ đang mô tả Chúa Jesus như một Môi-se mới và vĩ đại hơn. Giống như Môi-se, Chúa Jesus công bố một phần luật pháp của Ngài từ trên núi. Số lượng bài giảng của Chúa Jesus tương ứng với năm sách của Môi-se (gọi là Ngũ Kinh) - Sáng Thế Ký, Xuất Ê-díp-tô Ký, Lê-vi Ký, Dân Số Ký và Phục Truyền Luật Lệ Ký. Bằng cách lược bỏ câu chuyện “bà góa dâng tiền,” Ma-thi-ơ thậm chí ghép phần lời tố cáo các thầy thông giáo và người Pha-ri-si (chương 23) với Bài Giảng trên Núi Ô-li-ve (chương 24-25) thành một đơn vị duy nhất để tạo thành cấu trúc năm phần (so sánh với Mác 12:38-40; Lu-ca 20:45-47).

Sự so sánh Chúa Jesus với Môi-se của Ma-thi-ơ cũng xuất hiện ở những chỗ khác, chẳng hạn như việc mượn cách diễn đạt (phraseology) từ câu chuyện của Môi-se để mô tả sự giáng sinh và sự hóa hình của Chúa Jesus (so sánh Ma-thi-ơ 2:13, 20-21; 17:2, 5 với Xuất Ê-díp-tô Ký 2:15; 4:19-20; 34:29; Phục-truyền Luật-lệ Ký 18:15). Trong Bài Giảng trên Núi, theo Ma-thi-ơ, chính Chúa Jesus đặt sự dạy dỗ của Ngài bên cạnh luật pháp Môi-se qua một loạt tuyên bố: “Các ngươi có nghe lời phán cho người xưa… (theo sau là trích dẫn hoặc diễn giải Ngũ Kinh)… Nhưng Ta nói với các ngươi…” (Ma-thi-ơ 5:21, 27, 31, 33, 38, 43; so sánh với Lu-ca 6:27-35).

Bên cạnh cấu trúc năm phần của các bài luận giảng, còn nhiều dấu hiệu khác cho thấy khuynh hướng sắp xếp có tổ chức của Ma-thi-ơ. Ông ưa thích việc nhóm các sự kiện thành bộ babộ bảy. Chẳng hạn, ông chia phổ của Chúa Jesus thành ba phần (Ma-thi-ơ 1:17) và đưa ra từ sự dạy dỗ của Chúa Jesus ba ví dụ về hành vi công chính, ba điều cấm đoán, và ba mệnh lệnh (Ma-thi-ơ 6:1-7:20). Có bảy ẩn dụ trong chương 13 và bảy lời trách các thầy thông giáo và người Pha-ri-si trong chương 23. Mặc dù một số nhóm số học này có thể bắt nguồn từ chính Chúa Jesus và từ các sự kiện lịch sử, tần suất xuất hiện của chúng trong sách Phúc Âm Ma-thi-ơ cho thấy sự ưa chuộng của ông dành cho chúng nhiều hơn so với các tác giả của các sách Phúc Âm còn lại.

1.6. Mục Đích
#

Việc biên soạn có tổ chức những lời dạy của Chúa Jesus, nội dung mạnh mẽ về đạo đức, và sự nhấn mạnh vào công tác môn đồ hóa đã dẫn đến các quan điểm cho rằng Ma-thi-ơ viết sách Phúc Âm là để cung cấp một sách hướng dẫn giáo lý cho những tân tín hữu, hoặc một sổ tay học thuật cho các lãnh đạo Hội Thánh, hoặc ông thiết kế sách Phúc Âm của mình để đọc trong các buổi nhóm thờ phượng và giảng dạy của Hội Thánh thời ban đầu. Tuy nhiên, sách Phúc Âm này tạo ấn tượng mạnh mẽ hơn nhiều về việc nó được viết ra để củng cố những Cơ Đốc nhân Do Thái đang chịu cảnh bắt bớ, cảnh báo họ chống lại sự buông thả và bội đạo, đồng thời thúc giục họ tận dụng sự bắt bớ như một cơ hội để truyền giảng Tin Lành cho mọi dân tộc.

Việc Ma-thi-ơ liên tục nhấn mạnh rằng Chúa Jesus đã làm ứng nghiệm luật pháp Cựu Ước và lời tiên tri về Đấng Mê-si ("Điều nầy xảy ra để cho lời của nhà tiên tri kia được ứng nghiệm") và việc ông truy nguyên gia phổ của Chúa Jesus từ Áp-ra-ham (là tổ phụ của dân tộc Do Thái), qua vua Đa-vít (là vị vua được dân Do Thái yêu mến) cũng cho thấy khuynh hướng hướng tới các độc giả là người Do Thái. Ngược lại, Mác hoàn toàn không đề cập đến dòng dõi của Chúa Jesus; vì độc giả chủ yếu của sách Mác là dân ngoại (giống như hầu hết độc giả ngày nay) thường ít quan tâm đến gia phổ.

Sách Phúc Âm Ma-thi-ơ còn có những đặc điểm Do Thái khác, như:

  • Cách gọi đặc trưng của người Do Thái đối với Đức Chúa Trời là “Cha ở trên trời” (xuất hiện mười lăm lần trong Ma-thi-ơ, chỉ một lần trong Mác và không có trong Lu-ca);
  • Việc sử dụng từ “thiên đàng” thay thế cho danh của Đức Chúa Trời (đặc biệt trong cụm từ “nước thiên đàng”, trong khi các tác giả sách Phúc Âm khác sử dụng cụm từ “nước Đức Chúa Trời”);
  • Sự quan tâm đặc trưng của người Do Thái đối với thần học về ngày tận thế (Ma-thi-ơ mở rộng Bài Giảng trên Núi Ô-li-ve thêm một chương dài so với Mác và Lu-ca);
  • Những lần thường xuyên nhắc đến Chúa Jesus là “con của vua Đa-vít”,
  • Những ám chỉ đến các phong tục Do Thái mà không giải thích (Ma-thi-ơ 23:5, 27; 15:2; so sánh với lời giải thích trong Mác 7:2-4);
  • Câu chuyện Chúa Jesus nộp thuế Đền thờ (Ma-thi-ơ 17:24-27, không có trong các Phúc Âm khác), và những tuyên bố của Chúa Jesus mang đậm sắc thái Do Thái (ví dụ: “Ta chỉ được sai đến cùng những con chiên lạc mất của nhà Y-sơ-ra-ên” [Ma-thi-ơ 15:24]; “Đừng đi đến dân ngoại, cũng đừng vào thành nào của dân Sa-ma-ri, nhưng thà đi đến cùng những con chiên lạc mất của nhà Y-sơ-ra-ên” [Ma-thi-ơ 10:5b-6]; xem thêm 5:17-24; 6:16-18; 23:2-3).
  • Bằng việc thuật lại câu chuyện giáng sinh (chương 1-2), Ma-thi-ơ nhấn mạnh rằng Chúa Jesus được sinh ra trong một gia đình thuộc dòng dõi Đa-vít và vì thế, từ góc độ đó, Ngài có quyền hợp pháp đối với ngôi vua của dân Do Thái.
  • Việc Ma-thi-ơ bác bỏ lời buộc tội của người Do Thái rằng các môn đồ của Chúa Jesus đã đánh cắp thi thể Ngài (Ma-thi-ơ 28:11-15).

1.7. Tính Phổ Quát
#

Mặt khác, tính phổ quát cũng là đặc điểm của Phúc Âm Ma-thi-ơ, đạt đến đỉnh điểm trong Mạng Lệnh dành cho những người theo Chúa Jesus rằng: hãy môn đồ hóa mọi dân tộc (Ma-thi-ơ 28:18-20). Trong phần đầu của sách Phúc Âm, các nhà thông thái (magi) thờ phượng Đấng Christ khi Ngài còn thơ ấu là dân ngoại (Ma-thi-ơ 2:1-12). Lời Chúa Jesus được trích dẫn khi Ngài phán rằng “sẽ có nhiều người từ đông phương tây phương sẽ đến, ngồi đồng bàn với Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp trong nước thiên đàng. Nhưng các con bổn quốc sẽ bị quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài” (Ma-thi-ơ 8:11-12). Ruộng là “thế gian” trong ẩn dụ về lúa mì và cỏ lùng (Ma-thi-ơ 13:38). Theo ẩn dụ về vườn nho, Đức Chúa Trời sẽ chuyển vương quốc của Ngài từ Y-sơ-ra-ên sang cho một dân khác (Ma-thi-ơ 21:33-43). Và Ma-thi-ơ là tác giả sách Phúc Âm duy nhất sử dụng từ “Hội Thánh” (Ma-thi-ơ 16:18; 18:17).

Vì vậy, chúng ta có thể mô tả Phúc Âm của Ma-thi-ơ là Cơ Đốc giáo Do Thái với một tầm nhìn phổ quát.

1.8. Nguồn Gốc
#

Tính Do Thái trong Phúc Âm Ma-thi-ơ gợi ý rằng ông đã viết sách này tại Palestine hoặc Syria, rất có thể là Antioch (An-ti-ốt) - nơi có nhiều tín hữu gốc Palestine đã di cư đến (Công-vụ 11:19, 27). Sự quan tâm đặc biệt của sách đối với dân ngoại ủng hộ giả thuyết thành phố An-ti-ốt - nơi có Hội Thánh đã cử Phao-lô thực hiện các chuyến truyền giáo cho dân ngoại.

Hỗ trợ cho quan điểm này là lịch sử Hội Thánh cho biết nhân chứng sớm nhất thể hiện sự hiểu biết về sách Phúc Âm Ma-thi-ơ là một giám mục của Hội Thánh tại An-ti-ốt thời sơ khai: Ignatius (thập niên đầu của thế kỷ thứ hai).

Đọc thêm:

Ignatius viết rằng Chúa Jesus “được Giăng làm báp-têm để ‘mọi sự công bình được làm trọn bởi Ngài’” (Thư gửi cho các tín hữu Smyrna 1:1) và qua đó cho thấy sự hiểu biết của ông về Ma-thi-ơ 3:15, một đoạn đặc biệt chỉ có trong Phúc Âm Ma-thi-ơ: “Nhưng Chúa Jesus trả lời: ‘Bây giờ cứ làm đi, vì chúng ta nên làm cho trọn mọi việc công bình như vậy.’ Giăng bèn vâng lời [làm báp-têm cho] Ngài.”

II. BỐ CỤC
#

Click vào link để xem Bố cục sách Ma-thi-ơ

III. CHUYÊN ĐỀ: NHỮNG TRÍCH DẪN TÂN ƯỚC VỀ CÁC PHÂN ĐOẠN CỰU ƯỚC ĐƯỢC ỨNG NGHIỆM
#

Sự nhấn mạnh của Ma-thi-ơ rằng các lời tiên tri về Đấng Mê-si đã được ứng nghiệm khiến cho việc xem xét chủ đề về Sự Ứng Nghiệm xuyên suốt Tân Ước trở nên phù hợp ở đây. Các tác giả Tân Ước và chính Chúa Jesus đã nhìn thấy trong sự đến của vương quốc Đức Chúa Trời sự ứng nghiệm của những điều mà chúng ta phân biệt trong Cựu Ước như là những lời tiên tri có ý thức (conscious predictions) và hình bóng không ý thức (unconscious typology). (Hình bóng [typology] chỉ các sự kiện lịch sử, nhân vật, và thể chế được Đức Chúa Trời định trước để làm hình bóng, hoàn toàn không phụ thuộc vào việc các tác giả Cựu Ước có ý thức được ý nghĩa tiên tri của các biểu tượng đó hay không.)

3.1. Các Chủ Đề về Sự Ứng Nghiệm
#

Dưới đây là tóm tắt các chủ đề chính của cả sự ứng nghiệm trực tiếp và ứng nghiệm hình bóng trong Ma-thi-ơ và các sách còn lại của Tân Ước:

  • Chúa Jesus đã ứng nghiệm các hoạt động của chính Đức Giê-hô-va như được mô tả và tiên tri trong Cựu Ước (Ma-thi-ơ 1:21; 3:3-4 par.1 ; 11:5 par.; 13:41; 24:31 par.; 27:9-10).

  • Chúa Jesus là vị vua Mê-si đã được báo trước (Ma-thi-ơ 1:23; 2:6, 23; 3:17 par.; 4:15-16; 21:5; 22:44 par.; 26:64 par.), là Đầy Tớ của Đức Giê-hô-va trong sách Ê-sai (Isaianic Servant of the Lord) (Ma-thi-ơ 3:17 par.; 8:17; 11:5 par.; 12:18-21; 1 Phi-e-rơ 2:22-25), và Con Người trong sách Đa-ni-ên (Danielic Son of Man) (Ma-thi-ơ 24:30 par.; 26:64 par.; 28:18).

  • Chúa Jesus đã đưa dòng dõi các tiên tri đạt đến đỉnh điểm (Ma-thi-ơ 12:39-40 par.; 13:13-15 par., 35; 17:5 par.; 1 Cô-rinh-tô 10:2; 2 Cô-rinh-tô 3:7-18), tiếp nối những người công bình chịu khổ từ thời Cựu Ước (Ma-thi-ơ 21:42 par.; 27:34-35 par., 39 par., 43, 46 par., 48 par.), và vương triều Đa-vít (Ma-thi-ơ 12:42 par.).

  • Chúa Jesus đảo ngược công việc của A-đam, là người đã đẩy nhân loại vào tội lỗi (Ma-thi-ơ 4:1-11 par.; Rô-ma 5:12; 1 Cô-rinh-tô 15:21-22, 45-49; Hê-bơ-rơ 2:5-9; so sánh Lu-ca 3:38).

  • Chúa Jesus đã làm ứng nghiệm lời hứa của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham (Ga-la-ti 3:16). Vì Ngài là người Y-sơ-ra-ên lý tưởng, lịch sử cá nhân của chính Ngài tóm tắt lại lịch sử quốc gia của Y-sơ-ra-ên (Ma-thi-ơ 2:15, 18; 4:4, 7, 10 par.).

  • Mên-chi-xê-đéc là hình bóng về chức tế lễ của Đấng Christ, cũng như chức tế lễ A-rôn (theo cách thứ yếu và đôi khi tương phản, Hê-bơ-rơ 7-10).

  • Chiên con Lễ Vượt Qua và các của lễ khác là biểu tượng cho sự chết chuộc tội của Chúa Jesus (Giăng 1:29, 36; 19:36; Rô-ma 3:25; 1 Cô-rinh-tô 5:7; Ê-phê-sô 5:2; Hê-bơ-rơ 9-10; 1 Phi-e-rơ 1:19-21; Khải-huyền 5:6-14), cũng như sự tận hiến và phục vụ của Cơ Đốc nhân (Rô-ma 12:1; 15:16; Phi-líp 2:17).

  • Chúa Giê-xu là bánh ban sự sống như ma-na được Đức Chúa Trời ban cho dân Y-sơ-ra-ên trong đồng vắng trong hành trình từ Ai Cập đến Ca-na-an (Giăng 6:35; 1 Cô-rinh-tô 10:3), là nguồn nước sống như tảng đá thiêng trong đồng vắng (1 Cô-rinh-tô 10:4; so sánh Giăng 7:37), là con rắn bị treo lên trong đồng vắng (Giăng 3:14), và là Đền tạm cùng Đền thờ - nơi Đức Chúa Trời ngự giữa loài người (Giăng 1:14; 2:18-22; so sánh Cô-lô-se 1:19).

  • Giăng Báp-tít là tiên tri dọn đường được báo trước của Chúa Giê-xu (Mác 1:2-3).

  • Chúa Jesus đã khai mở thời kỳ cứu rỗi chung cuộc đã được báo trước (Giăng 6:45) và thiết lập giao ước mới (Hê-bơ-rơ 8:8-12; 10:16-17).

  • Giu-đa Ích-ca-ri-ốt đã hoàn thành vai trò của những kẻ ác chống nghịch những người công bình chịu khổ thời Cựu Ước (Công-vụ 1:20).

  • Hội Thánh, hoặc các Cơ Đốc nhân cá nhân, là tạo vật mới (2 Cô-rinh-tô 5:17; Ga-la-ti 6:15; Cô-lô-se 3:10), dòng dõi thuộc linh của Áp-ra-ham bằng cách được hợp nhất vào Đấng Christ (Rô-ma 4:1-25; 9:6-33; Ga-la-ti 3:29; 4:21-31; Phi-líp 3:3), Y-sơ-ra-ên mới (Rô-ma 9:6-33; 11:17-24; 2 Cô-rinh-tô 6:16; 1 Phi-e-rơ 2:9-10), và Đền thờ mới (1 Cô-rinh-tô 3:16; 6:19; 2 Cô-rinh-tô 6:16; Ê-phê-sô 2:20-22).

  • Luật pháp Môi-se là hình bóng về ân điển Đức Chúa Trời cả theo cách tích cực lẫn tiêu cực (Giăng 1:17; Cô-lô-se 2:17; Ga-la-ti).

  • Trận lụt (thời Nô-ê) tượng trưng cho Sự Phán Xét Cuối Cùng (Ma-thi-ơ 24:37-39 par.) và cho phép Báp-têm (1 Phi-e-rơ 3:20-21).

  • Sự vượt qua Biển Đỏnghi lễ cắt bì là hình bóng của phép Báp-têm (1 Cô-rinh-tô 10:2; Cô-lô-se 2:11-12).

  • Giê-ru-sa-lem tượng trưng cho thành trên trời (Ga-la-ti 4:26; Hê-bơ-rơ 12:22; Khải huyền 21:1-22:5).

  • Việc vào xứ Ca-na-an là hình bóng về sự bước vào nơi an nghỉ trên trời của Cơ Đốc nhân (Hê-bơ-rơ 3:18-4:13).

  • Và việc rao truyền Phúc Âm cho mọi người làm ứng nghiệm lời hứa của Đức Chúa Trời với Áp-ra-hamnhững lời tiên tri về sự cứu rỗi dân ngoại (Công vụ 2:17-21; 3:25; 13:47; 15:16-18; Rô-ma 15:9-12, 21).

3.2. Các Đoạn Kinh Thánh Then Chốt ("Text-Plots") và Sách Chứng Ngôn ("Testimony Books")
#

Đáng chú ý là việc theo đuổi các chủ đề này đã ngăn các tác giả Tân Ước chia cắt Cựu Ước thành những mảnh rời rạc. C. H. Dodd chỉ ra rằng các tác giả Tân Ước đã lấy hầu hết các trích dẫn về sự ứng nghiệm từ một tập hợp khá hạn chế các phân đoạn Cựu Ước (gọi là “các đoạn Kinh Thánh then chốt” - “text-plots”) được xem là đặc biệt liên quan đến thời đại mới.

Có thể các Cơ Đốc nhân đầu tiên cũng đã soạn ra các sổ tay tập hợp các đoạn văn Kinh Thánh chứng minh từ Cựu Ước, được các học giả hiện đại gọi là “các sách chứng ngôn” ("testimony books"). Một dạng tương tự như sách chứng ngôn đã được tìm thấy trong số các Cuộn Sách Biển Chết, nhưng dĩ nhiên nó không mang tính Cơ Đốc giáo. Rõ ràng là Hội Thánh đầu tiên đã học được một cách giải nghĩa mới và toàn diện về Cựu Ước từ chính Chúa Jesus (so sánh Lu-ca 24:27).

(Hình 2a: Sách Chứng ngôn được phát hiện từ Qumran (4Q175 Testimonia), trích dẫn Phục-truyền Luật-lệ Ký 5:28-29; 18:18-19 về một vị tiên tri sắp đến giống như Môi-se; Dân-số ký 24:15-17 về một Đấng Mê-si thuộc dòng dõi hoàng gia và hiếu chiến sắp đến; và Phục-truyền Luật-lệ Ký 33:8-11 về một Đấng Mê-si là thầy tế lễ.)

(Hình 2b: Lối vào Hang động số 4 bên phải, nơi tìm thấy bản sao chép này trong số 15.000 mảnh bản sao chép khác.)

3.3. Các Truyền Thống Văn Bản ("Textual Traditions")
#

Bản Bảy Mươi (Septuagint) đã cung cấp cơ sở văn bản cho hầu hết các trích dẫn từ Cựu Ước, nhưng trong các trích dẫn vẫn có các biến thể được nhận thấy rõ ràng. Đặc biệt, Ma-thi-ơ dường như đã sử dụng văn bản Cựu Ước bằng tiếng Hê-bơ-rơ, các bản Targum (các bản dịch và diễn giải Cựu Ước từ tiếng Hê-bơ-rơ sang tiếng A-ram, ban đầu chỉ là các lời dịch miệng, về sau được viết lại thành văn bản), và các truyền thống văn bản Cựu Ước khác bên cạnh bản Bảy Mươi.

3.4. Sự Thật Lịch Sử
#

Đôi khi có ý kiến cho rằng các Cơ Đốc nhân đầu tiên đã thêu dệt hàng loạt các sự kiện trong cuộc đời Chúa Jesus để làm cho “ứng nghiệm” những lời tiên tri được cho là về Đấng Mê-si.

Đúng là các nhà truyền giảng Tin Lành (tức các tác giả của các sách Phúc Âm) thường mượn cách diễn đạt của Cựu Ước để mô tả các sự kiện trong cuộc đời Chúa Jesus. Tuy nhiên, các ám chỉ đến các văn bản Cựu Ước trong các sách Tân Ước thường quá ngắn gọn để có thể trở thành cơ sở cho việc tự do sáng tạo truyền thống về Chúa Jesus. Hơn nữa, nhiều phân đoạn Cựu Ước được trích dẫn lại quá mơ hồ đến nỗi khó có thể là nguồn gốc cho sự bóp méo truyền thống đó.

Các trích dẫn Cựu Ước dường như là những phần bổ sung sau này cho truyền thống đã có về Chúa Jesus. Truyền thống thuật lại các sự kiện trong cuộc đời Chúa Jesus có trước, việc nhận ra sự tương ứng giữa các sự kiện đó với những lời tiên tri và hình bóng có sau.

IV. GIẢI NGHĨA SÁCH MA-THI-Ơ
#

A. Phần Tường Thuật
#

1. Gia Phổ của Chúa Jesus
#

Đọc Ma-thi-ơ 1:1-17.

Ma-thi-ơ thu hút các độc giả Cơ Đốc người Do Thái của mình bằng cách mở đầu sách Phúc Âm với một gia phổ của Chúa Jesus, truy ngược về Cựu Ước, nêu bật Áp-ra-ham (tổ phụ của dân tộc Do Thái), và Vua Đa-vít (hình mẫu của Đấng Mê-si mà người Do Thái trông đợi), dẫn dắt qua dòng dõi hoàng tộc của Đa-vít, và nhấn mạnh danh tính của Chúa Jesus là Đấng Christ.

Khi so sánh với Cựu Ước, chúng ta thấy Ma-thi-ơ cố ý bỏ qua bốn đời vua thuộc dòng Đa-vít để có được ba nhóm - mười bốn đời mỗi nhóm. Ba lần mười bốn này nhấn mạnh gấp ba lần Đa-vít là hình mẫu của Đấng Mê-si, tức Chúa Giê-xu, bởi vì Đa-vít xuất hiện ở vị trí thứ mười bốn trong danh sách gia phổ, và bởi vì giá trị số học của các phụ âm trong tiếng Hê-bơ-rơ của cái tên Đa-vít cộng lại thành con số mười bốn: d (4) + v (6) + d (4) = Đ[a]-v[i]t (14). (Ma-thi-ơ viết Phúc Âm trước khi chữ số Ả Rập được phát minh và trước khi các nguyên âm được đưa vào chữ viết Hê-bơ-rơ.)

Nhóm thứ ba của gia phổ thực ra chỉ có mười ba cái tên, trừ khi chúng ta tính cả Ma-ri (mẹ của Chúa Jesus) lẫn Giô-sép (cha nuôi của Ngài), điều có lẽ được chủ ý, vì Chúa Jesus được sinh ra bởi Ma-ri, còn Giô-sép cung cấp dòng dõi hợp pháp chứ không phải dòng dõi sinh học. (Trong xã hội Do Thái thời cổ đại, các quyền lợi hợp pháp được truyền qua người cha, kể cả cha nuôi, chứ không qua người mẹ, kể cả mẹ đẻ.)

Sự xuất hiện bất thường của bốn người phụ nữ trong danh sách trước Ma-ri bổ sung vào tính Do Thái một yếu tố Dân Ngoại, vì ba trong số họ là Dân Ngoại (Ta-ma, Ra-háp, và Ru-tơ), và người thứ tư là vợ của một người Dân Ngoại (vì vậy, được gọi là “vợ của U-ri” thay vì sử dụng cái tên Do Thái của bà là Bát-sê-ba). Yếu tố Dân Ngoại này ngầm báo trước về việc môn đồ hóa mọi dân tộc ở cuối sách Ma-thi-ơ (Ma-thi-ơ 28:18-20).

2. Sự Giáng Sinh của Chúa Jesus
#

Đọc Ma-thi-ơ 1:18-25.

Ma-thi-ơ kể lại câu chuyện giáng sinh từ góc nhìn của Giô-sép. Ma-ri thụ thai Chúa Jesus bởi Đức Thánh Linh trong thời gian đính hôn với Giô-sép. Sự đính hôn mang tính ràng buộc đến mức người Do Thái gọi cặp đôi đã đính hôn là chồng và vợ. Chỉ có ly dị hoặc cái chết mới có thể chấm dứt sự đính hôn, và trong trường hợp người kia qua đời, người còn sống được xem như là góa phụ hoặc góa phu.

Vì vậy, khi biết tin Ma-ri mang thai, Giô-sép định âm thầm ly dị bà; nhưng một sứ điệp từ thiên sứ của Chúa đã khiến ông đổi ý và mang vợ về ở với mình. Qua đó và qua việc Giô-sép là hậu duệ của vua Đa-vít, Chúa Jesus được sinh ra trong một gia đình thuộc dòng dõi hoàng tộc và được xem là đủ tư cách hợp pháp để kế thừa ngai vàng của Đa-vít. Việc Giô-sép đặt tên cho Chúa Jesus cho thấy ông đã nhận Ngài là con hợp pháp của mình.

SỰ SINH RA TỪ NỮ ĐỒNG TRINH

Cụm từ “bởi Đức Thánh Linh” (Ma-thi-ơ 1:18) vang vọng các cách diễn đạt được dùng cho những người phụ nữ trong Ma-thi-ơ 1:3, 5 (hai lần), 6, 16 (công thức: “bởi [tên người phụ nữ] sanh [tên con]). Điều này cho thấy rằng, trái ngược với các thần thoại ngoại giáo (trong các thần thoại ngoại giáo, các nam thần có quan hệ tình dục với các cô gái loài người và thụ thai cho họ), Đức Thánh Linh không đóng vai trò giới tính của một người nam: không hề có sự giao hợp nhục dục. Giô-sép cũng không quan hệ tình dục với Ma-ri cho đến sau khi bà sinh Chúa Jesus.

Có sự tranh luận về việc liệu Giô-sép định ly dị Ma-ri vì nghĩ bà không chung thủy và muốn vâng giữ luật pháp (so sánh Phục-truyền 22:23-24), hay vì biết bà đã chịu thụ thai bởi Đức Thánh Linh và không muốn xen vào. Việc thiên sứ nói với Giô-sép rằng Ma-ri đã được thụ thai bởi Đức Thánh Linh như thể Giô-sép chưa từng biết điều này, ủng hộ khả năng trước đó ông nghi ngờ sự chung thủy của Ma-ri. Dù trong trường hợp nào, Ma-thi-ơ cũng mô tả ông là một mẫu mực của sự công chính, nhân từvâng phục.

“JESUS” VÀ “EM-MA-NU-ÊN” (IMMANUEL)

Theo cách giải thích phổ biến về nguồn gốc của từ, “Jesus” là dạng tiếng Hy Lạp của cái tên Hê-bơ-rơ “Giô-suê”, có nghĩa là “Đức Giê-hô-va là sự cứu rỗi.”

Ma-thi-ơ đã trích dẫn Ê-sai 7:4 như một sự ứng nghiệm khi những người mà Chúa Jesus sẽ cứu họ khỏi tội lỗi của chính mình là những người sẽ gọi Ngài là “Em-ma-nu-ên”, tức những người sẽ nhận ra rằng Chúa Jesus chính là “Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta” (xem Ma-thi-ơ 28:18-20).

3. Những Nhà Thông Thái (Magi) Thờ Phượng Chúa Jesus
#

Đọc Ma-thi-ơ 2:1-12.

Câu chuyện về các nhà thông thái, được mô tả là những nhà chiêm tinh đến từ phương Đông, có thể là từ Ba Tư, đến Giê-ru-sa-lem để tôn thờ hài nhi Jesus, họ là những người tiên phong, đại diện cho nhiều Dân Ngoại khác sẽ nhận biết Chúa Jesus là Đấng Christ (xem lại Ma-thi-ơ 28:18-20, và xem thêm Ma-thi-ơ 8:10-12).

Bết-lê-hem xuất hiện trong tường thuật của Ma-thi-ơ như là thị trấn nơi Chúa Jesus giáng sinh, cũng là nơi xuất thân của Đa-vít, ứng nghiệm Mi-chê 5:2 rằng vị vua Mê-si sẽ được sinh ra tại quê nhà của vua Đa-vít.

Dù sự thật có liên quan đến chiêm tinh học hay không (sự giao hội của các hành tinh hoặc của một hành tinh và một ngôi sao, sao chổi, siêu tân tinh, v.v.), thì ngôi sao của vị vua Mê-si gợi nhớ đến ngôi sao của Đa-vít.

Việc Hê-rốt Đại đế lo sợ có một vị vua đối thủ sắp xuất hiện, và thành Giê-ru-sa-lem đứng về phía Hê-rốt, báo trước việc Chúa Jesus sau này sẽ bị chối bỏ tại thành phố này.

Việc các nhà thông thái thờ phượng Chúa Jesus và dâng lễ vật cho Ngài phù hợp với danh hiệu của Chúa Jesus là “Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta,” nhưng ba loại lễ vật họ dâng không nhất thiết đại diện số lượng các nhà thông thái.

4. Vụ Tàn Sát Con Trẻ và Cuộc Chạy Trốn đến Ai Cập
#

Đọc Ma-thi-ơ 2:13-23.

Việc Hê-rốt Đại đế cố gắng giết Chúa Jesus khi Ngài còn nhỏ ngầm báo trước về việc về sau người ta sẽ giết Chúa Jesus trưởng thành. Hê-rốt Đại đế khét tiếng về sự tàn ác của mình.

Cuộc chạy trốn đến Ai Cập và sự trở về đã ứng nghiệm lời tiên tri trong Ô-sê 11:1, vốn ban đầu nói về cuộc xuất hành của dân Y-sơ-ra-ên khỏi Ai Cập, nơi Đức Chúa Trời đã đối xử với họ như con trai Ngài bằng cách giải cứu họ khỏi chết vì nạn đói; cũng vậy, giờ đây Ngài đối xử với Chúa Jesus như Con Trai Ngài bằng cách gìn giữ Chúa Jesus khỏi bị giết trong cuộc tàn sát.

Sự kiện các bé trai từ hai tuổi trở xuống tại Bết-lê-hem và vùng phụ cận bị giết hại, thường được gọi là “Vụ Tàn Sát Các Trẻ Thơ Vô Tội”, đã ứng nghiệm lời tiên tri trong Giê-rê-mi 31:15, vốn ban đầu nói về nỗi thương khóc của những người mẹ Do Thái khi thấy con cái mình bị bắt đi lưu đày tại Ba-by-lôn.

5. Sự Trở Về và Cư Ngụ tại Na-xa-rét
#

Việc gia đình thánh cư ngụ tại Na-xa-rét ứng nghiệm nhiều lời tiên tri gọi Đấng Mê-si là một “Nhánh”, trong tiếng Hê-bơ-rơ tương ứng là netzer, nghe gần giống với “Na-xa-rét” (Ê-sai 11:1; Giê-rê-mi 23:5; 33:15; Xa-cha-ri 3:8; 6:12, nơi một từ đồng nghĩa trong tiếng Hê-bơ-rơ cũng được sử dụng tương tự). Cuộc lưu đày tại Ba-by-lôn đã chặt cây của triều đại Đa-vít xuống chỉ còn một gốc; nhưng từ gốc của triều đại đó mọc lên một nhánh (hoặc chồi non), làm sống lại triều đại nơi Đấng Mê-si là dòng dõi Đa-vít. Chính tên gọi Na-xa-rét hàm chứa ý nghĩa về sự mọc lên này.

(Một cách giải thích khác cho rằng “Người Na-xa-rét” ám chỉ “người Na-xi-rê” trong Các Quan Xét 13:5, 7; 16:17, dù Chúa Jesus hoàn toàn không sống theo lối của một người Na-xi-rê - vốn phải kiêng rượu, nước nho, trái nho, nho khô, không được cắt tóc và đụng đến xác chết [Dân-số Ký 6:1-21; đối chiếu với Ma-thi-ơ 11:19; 9:18, 24-25] - và cách giải thích này cũng không phù hợp với thần học về Đấng Christ thuộc dòng Đa-vít của Ma-thi-ơ).

“Có một chồi sẽ nứt lên từ gốc Y-sai, một nhánh [Hebrew: netzer] từ rễ nó sẽ ra trái.” (Ê-sai 11:1)

(Hình 3: Bản đồ các sự kiện đầu đời của Chúa Jesus)

6. Chức Vụ Dọn Dường của Giăng Báp-tít
#

Đọc Ma-thi-ơ 3:1-17.

“Lúc ấy” (Ma-thi-ơ 3:1) chỉ về thời gian Chúa Jesus cư ngụ tại Na-xa-rét (Ma-thi-ơ 2:23). Ma-thi-ơ nhấn mạnh lời rao giảng về sự ăn năn và phán xét của Giăng Báp-tít.

Trong cụm từ “vương quốc thiên đàng” - xuất hiện thường xuyên trong sách Ma-thi-ơ nhưng không có ở nơi khác trong Tân Ước, từ “thiên đàng” được ông dùng thay thế cho “Đức Chúa Trời” để nhấn mạnh sự oai nghi và tính phổ quát (so sánh Đa-ni-ên 4:1-37).

Lúa” ở đây có nghĩa là những hạt lúa mì và tượng trưng cho những người ăn năn. “Rơm rạ” có nghĩa là vỏ trấu và rơm rác, tượng trưng cho những kẻ không ăn năn. Sau khi gia súc dẫm lên đống lúa nơi sân đập làm hạt lúa tách khỏi vỏ và rơm rạ bị nghiền nát, người nông dân hốt hỗn hợp đó tung lên không để gió thổi trấu sang một bên. Việc thu gom hạt lúa mì vào kho tượng trưng cho sự cứu rỗi qua phép Báp-têm bằng Đức Thánh Linh. Việc đốt rơm rạ bằng lửa không hề tắt tượng trưng cho sự phán xét qua phép Báp-têm bằng lửa.

CHÚA JESUS CHỊU BÁP-TÊM

Vì sự cao trọng của Chúa Jesus với tư cách là Đấng làm phép Báp-têm bằng Đức Thánh Linh và bằng lửa, Giăng tìm cách để không làm báp-têm cho Ngài; nhưng sự nhấn mạnh của Chúa Jesus khiến Ngài trở thành gương mẫu cho các môn đồ noi theo trong phép Báp-têm - một cách không chậm trễ (“bây giờ”, Ma-thi-ơ 3:15; so sánh 28:19); bởi phép Báp-têm là điều hoàn toàn đúng đắn cần làm (ý nghĩa của “làm cho trọn mọi sự công chính”).

Lời phán “Đây là Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta mọi đàng” xác nhận với Giăng rằng đó là điều đúng đắn: Đức Chúa Trời đã hài lòng về Chúa Jesus vì sự chịu Báp-têm của Ngài.

7. Sự Cám Dỗ Chúa Jesus của Sa-tan
#

Đọc Ma-thi-ơ 4:1-11.

Ma-thi-ơ tường thuật chi tiết ba sự cám dỗ Chúa Jesus bởi ma quỷ. Hai cám dỗ đầu xúi giục Chúa Jesus tận dụng lợi thế cá nhân, vì Ngài là Con yêu dấu của Đức Chúa Trời, như đã được tuyên bố trong câu chuyện trước đó. Nhưng Chúa Jesus đã chống lại những cám dỗ này, và cả cám dỗ thứ ba, bằng cách trưng dẫn Kinh Thánh. Qua đó, Ngài trở thành mẫu mực về sự vâng phục luật pháp sau khi chịu Báp-têm (so sánh Ma-thi-ơ 28:19).

Từ “ma quỷ” trong tiếng Hy Lạp tương đương với “Satan” trong tiếng Hê-bơ-rơ. Cả hai thuật ngữ đều có nghĩa là “kẻ cáo buộc” khi hắn đưa ra những lời cáo buộc trước mặt Đức Chúa Trời chống lại dân của Ngài. Ma quỷ cám dỗ với hy vọng có thể buộc tội. Cám dỗthử nghiệm, đôi khi bằng hoạn nạn, lúc khác bằng sự dụ dỗ, và có khi bằng cả hai.

Cám dỗ thứ nhất dựa trên sự tương đồng về hình dáng giữa đá và ổ bánh. Cám dỗ thứ hai, diễn ra tại Giê-ru-sa-lem, thúc giục một chiêu trò gây chú ý; vì nơi hoang mạc cũng có nhiều vách đá, nhưng nếu Chúa Jesus nhảy xuống từ một vách đá trong hoang mạc, thì không có đông người chứng kiến như ở Đền thờ tại Giê-ru-sa-lem. “Nóc đền thờ” có thể đề cập đến góc đông nam của sân Đền thờ nhô ra thung lũng Kít-rôn, hoặc thanh xà ngang trên cổng Đền thờ, hoặc mái của chính Đền thờ. Lời trích dẫn Thi-thiên 91:11-12 của ma quỷ bỏ qua cụm từ “để gìn giữ ngươi trên mọi nẻo đường,” bởi cụm từ đó chỉ về việc người ta vô tình vấp phải đá trên đường, chứ không phải việc cố ý lao mình từ trên cao xuống, như ma quỷ đang dụ dỗ Chúa Jesus làm. Vì danh tính của Chúa Jesus là “Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta” (Ma-thi-ơ 1:23), ma quỷ chỉ có thể rời đi khi vào cuối cám dỗ thứ ba, Chúa Jesus bảo nó hãy lui ra.

8. Sự Kêu Gọi Các Môn Đồ Đầu Tiên
#

Đọc Ma-thi-ơ 4:12-25.

Khi nghe tin Giăng Báp-tít bị bắt, Chúa Jesus lui về miền Ga-li-lê và bắt đầu rao giảng, dạy dỗ, chữa lành và thu nhận môn đồ tại vùng đất này - nơi nổi tiếng với có nhiều dân ngoại (nghĩa là “các dân tộc”) sinh sống, bên cạnh dân Do Thái. Việc lui về này khiến Chúa Jesus trở thành mẫu mực của việc tránh sự bách hại để có thể rao giảng và môn đồ hóa ở nơi khác, như cách các môn đồ của Ngài sẽ làm giữa mọi dân tộc (xem Ma-thi-ơ 10:23 với 28:18-20).

B. Phần Giảng Luận: Bài Giảng Trên Núi
#

Đọc Ma-thi-ơ 5:1-16.

Giờ đây, Chúa Jesus lên trên núi, ngồi xuống ở tư thế của một giáo sư và dạy dỗ các môn đồ Ngài. Vì Ngài là “Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta” (Ma-thi-ơ 1:23) và loài người phải sống “bởi mọi lời phán từ miệng Đức Chúa Trời” (4:4), nên những lời ra từ miệng Chúa Jesus khi Ngài nói chính là lời của Đức Chúa Trời, giống như luật pháp của Đức Chúa Trời đã được ban qua Môi-se trên núi Si-nai, chỉ khác là giờ đây Chúa Jesus hoàn thiện luật pháp ấy.

CÁC PHƯỚC LÀNH (BEATITUDES)

Loạt tuyên bố bắt đầu bằng “Phước cho” (Blessed) được biết đến với tên gọi là Các Phước Lành (Beatitudes). Từ “phước” không có nghĩa là “vui vẻ” hay “hạnh phúc” như đôi khi bị hiểu sai; bởi những người than khóc không hề vui vẻ, bằng không họ đã chẳng than khóc. “Phước” có nghĩa là “đáng chúc mừng thay” và phản ánh sự đánh giá của Đức Chúa Trời hơn là cảm xúc của con người.

Các Phước Lành hứa ban sự bù đắp trong Ngày Phán Xét Cuối Cùng cho các môn đồ đang chịu đau khổ trong lòng, than khóc, nhưng không báo thù, khao khát sự xưng công bình của Đức Chúa Trời, có lòng thương xót, trong sạch, đem lại sự hòa thuận, và sống công chính khi đối diện với sự bắt bớ.

(Hình 4: Nơi được cho là địa điểm mà Chúa Jesus đã giảng Bài Giảng trên Núi)

MUỐI VÀ ÁNH SÁNG

Muối của đất” nghĩa là muối được dùng với lượng được cân đo cẩn thận để bón cho đất, tượng trưng cho lời chứng bằng việc lành của các môn đồ Chúa Jesus bày tỏ cho thế gian. Tuy nhiên, việc các môn đồ giả không kiên trì trong những việc lành đó sẽ dẫn đến sự phán xét không thể đảo ngược, giống như việc vứt bỏ muối đã mất vị mặn do bị pha tạp hoặc bị rửa trôi.

Ánh sáng của thế gian” nghĩa là mặt trời, ở đây là một biểu tượng bổ sung, cùng với một ngọn đèn, tượng trưng cho lời chứng bằng việc lành của các môn đồ Chúa Jesus bày tỏ cho thế gian.

(Hình 5: Đèn dầu thời cổ đại)

CÁC PHẢN ĐỀ (ANTITHESES)

Đọc Ma-thi-ơ 5:17-48.

Sau khi xác nhận tính hiệu lực trọn vẹn của Luật Pháp và các Tiên Tri - hai phần của Cựu Ước được đọc trong nhà hội mỗi ngày Sa-bát - Chúa Jesus đối chiếu sự dạy dỗ của Ngài với Cựu Ước, không phải để phủ nhận sự dạy dỗ đó như cách gọi truyền thống “Các Phản Đề” (Antitheses) ngụ ý, mà để nâng nó lên một mức độ mà bản thân nó vốn hướng tới.

  • Lệnh cấm giết người được nâng lên thành lệnh cấm sự giận dữ và lời nói nhục mạ, cùng mệnh lệnh phải làm hòa.
  • Lệnh cấm ngoại tình được nâng lên thành lệnh cấm sự ham muốn dâm dục.
  • Mệnh lệnh phải cấp cho vợ bị ly dị một tờ ly dị (để bảo vệ người vợ khỏi bị vu cáo là bỏ chồng) được nâng lên thành những lời cảnh báo chống lại việc khiến một người vợ bị ly dị phạm tội ngoại tình khi tái hôn vì nhu cầu kinh tế, và chống lại việc phạm tội ngoại tình bằng cách cưới một người đã ly dị.
  • Mệnh lệnh tránh những lời thề gian dối và giữ các lời thề được nâng lên thành lệnh cấm mọi lời thề.
  • Mệnh lệnh rằng hình phạt phải tương xứng thay vì vượt quá tội phạm (luật quả báo hoặc luật trả đũa - lex talionis: “mắt đền mắt”. Luật lex talionis vốn tương phản với các bộ luật cổ áp đặt hình phạt nặng cho tội nhẹ) được nâng lên thành yêu cầu phải nhu mì và sẵn sàng giúp đỡ.
  • Mệnh lệnh yêu người lân cận và ghét kẻ thù (xem Thi-thiên 139:21-22) được nâng lên thành mệnh lệnh yêu kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ mình.

Ngoại trừ về “sự gian dâm” trong Ma-thi-ơ 5:32 cho phép người chồng ly dị vợ, nếu người vợ đã ăn nằm với người đàn ông khác, vì khi đó sự ly dị xuất phát từ tội gian dâm thay vì dẫn đến tội gian dâm (dù một số học giả cho rằng “sự gian dâm” ở đây chỉ việc loạn luân, như Lê-vi Ký 18:6-18 cấm, nhưng trong dân ngoại đôi khi vẫn xảy ra).

Việc bị ép đi một dặm trong Ma-thi-ơ 5:41 phản ánh tập tục của người La Mã, đặc biệt là các binh sĩ La Mã, trong việc trưng dụng các đối tượng bị họ cai trị để mang vác hành lý cho họ.

SỰ BỐ THÍ, CẦU NGUYỆN, VÀ KIÊNG ĂN

Đọc Ma-thi-ơ 6:1-18.

Giờ đây, các sự so sánh với Cựu Ước dần lùi xa, và Chúa Jesus dạy dỗ như một bậc hiền triết. Ngài cảnh báo chống lại sự phô trương trong các thực hành tôn giáo, đặc biệt là khi bố thí, cầu nguyện, và kiêng ăn.

Phần thưởng là sự khen ngợi của loài người là tất cả những gì những kẻ tìm kiếm sự khen ngợi đó sẽ nhận được. Việc “đừng cho tay trái biết việc tay phải làm” khi bố thí có nghĩa là lặng lẽ đưa quà tặng cho người ăn xin chỉ bằng tay phải, thay vì dùng cả hai tay giơ ra để thu hút sự chú ý của những người xung quanh.

Bài Cầu Nguyện của Chúa (Lord’s Prayer), hay còn gọi là Pater Noster (nghĩa là “Kinh Lạy Cha” - Pater Noster là tiếng La-tinh của những từ đầu của lời cầu nguyện: “Lạy Cha chúng tôi”), được đưa ra ở đây như một ví dụ về sự cầu nguyện với lời lẽ vừa đủ, trái ngược với việc dùng những lời lặp lại vô ích trong các lời cầu nguyện của người ngoại đạo.

  • Tội lỗi chúng tôi” là những món nợ đạo đức chúng ta mắc với Đức Chúa Trời, tức là những tội lỗi của chúng ta.
  • Việc tha thứ cho kẻ mắc nợ chúng ta có thể ám chỉ việc tha các món nợ tài chính vào Năm Hân Hỉ (Lê-vi Ký 25:8-55).
  • Xin chớ để chúng tôi sa vào chước cám dỗ” không phải là xin tránh khỏi sự cám dỗ, mà có nghĩa là “Xin đừng để chúng tôi sa ngã trước sự cám dỗ.”
  • Lời cầu nguyện cuối, “nhưng cứu chúng tôi khỏi kẻ ác”, ám chỉ Sa-tan.
  • Lời ca ngợi quen thuộc, “Vì nước, quyền, và vinh hiển đều thuộc về Ngài đời đời”, không xuất hiện trong các bản sao chép cổ nhất và tốt nhất.

Bằng cách rắc tro lên đầu, những kẻ đạo đức giả (tức những kẻ hai mặt) làm cho khuôn mặt thật họ bị biến mất (do tro phủ lem nhem trên mặt) để người khác biết rằng họ đang kiêng ăn (đây là lối chơi chữ trong tiếng Hy Lạp của Ma-thi-ơ). Người Do Thái cổ đại không rửa mặt và bôi dầu lên đầu mỗi ngày vì lý do vệ sinh hay làm đẹp; mà họ chỉ làm điều đó trong những dịp vui mừng. Vì vậy, Chúa Jesus nói hãy che giấu sự kiêng ăn, chứ không phải khuôn mặt, bằng vẻ mặt vui mừng thay vì vẻ mặt ủ rũ.

Đọc thêm: MỘT VÍ DỤ VỀ SỰ RƯỜM RÀ TRONG CÁC LỜI CẦU NGUYỆN CỦA NGƯỜI NGOẠI ĐẠO

“Nữ hoàng của thiên đàng - dù ngài là Ceres hào phóng, mẹ nguyên thủy của các loài cây trồng, người đã vui mừng trước sự hồi sinh của con gái mình và tước đi của loài người thức ăn động vật nguyên thủy là quả sồi, thay vào đó ban cho họ thức ăn dịu dàng hơn, và nay ngài cư ngụ tại vùng đất Eleusis; hay là Venus thiên giới, người đã thống nhất sự đa dạng của hai giới tính bằng cách tạo ra Tình Yêu và lan truyền loài người qua những thế hệ liên tục tái sinh, và nay được thờ phụng tại đền thờ đảo Paphos; hoặc chị em của Phoebus, người đã mang lại những đám đông đông đúc bằng cách giảm bớt sự đau đớn của việc sinh nở bằng những phương thuốc dịu dàng của ngài và nay được tôn kính tại đền thờ nổi tiếng của Ephesus; hoặc Proserpina đáng sợ của những tiếng hú ban đêm, người trong ba hình dạng đã ngăn chặn những cuộc tấn công của ma quỷ và giữ chặt cánh cửa dẫn xuống đất, lang thang qua những khu rừng rải rác và được cầu nguyện bằng những nghi lễ đa dạng - ngài, người chiếu sáng mọi thành phố bằng ánh sáng nữ tính, nuôi dưỡng những hạt giống vui tươi bằng những ngọn lửa ẩm ướt, và ban phát những tia sáng biến đổi theo những vòng xoáy của Mặt Trời - bằng bất kỳ tên gọi nào, với bất kỳ nghi lễ nào, trong bất kỳ hình ảnh nào phù hợp để cầu khấn ngài: hãy bảo vệ tôi bây giờ trong những cực hạn của khổ nạn” (Apuleius, Metamorphoses 11.2; so sánh với lời tuyên bố trong Virgil, Aeneid 4.510, rằng “với mái tóc xõa dài, nữ tư tế gọi tên 300 vị thần bằng giọng nói sấm sét, bao gồm Erebos, Chaos và Hecate ba mặt, Diana có ba khuôn mặt”).

MA-MÔN (MAMMON)

Đọc Ma-thi-ơ 6:19-34.

Phần tiếp theo Chúa Jesus dạy đừng tích lũy của cải trần gian và ra lệnh phải tích lũy của cải trên thiên đàng, vì tấm lòng của bạn sẽ hướng theo của cải của mình. Điều này không có nghĩa là việc tích lũy của cải trần gian chỉ sai, nếu bạn có thái độ sai trật đối với của cải; thay vào đó, bản thân việc tích lũy của cải trần gian tự nó đã là điều không tốt, bởi vì việc theo đuổi của cải trần gian sẽ thực sự sản sinh ra những thái độ sai trật làm băng hoại người ta. Ngược lại, tích lũy của cải trên thiên đàng sẽ kéo tấm lòng của chúng ta hướng về thiên đàng.

Một con mắt khỏe mạnh, sáng rỡ được ví như cái đèn được thắp, tượng trưng cho lòng rộng rãi; một con mắt không khỏe mạnh, mờ đục vì bệnh tật, tượng trưng cho sự keo kiệt.

Mam-môn (có nghĩa là “tiền của” trong Ma-thi-ơ 6:24) là từ trong tiếng A-ram chỉ “của cải”.

Bởi vì sự công chính của Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 6:33) tương phản với sự công chính của các môn đồ (5:20; 6:1), sự công chính của Đức Chúa Trời mà các môn đồ bị bắt bớ của Chúa Jesus phải tìm kiếm không bao gồm những việc lành của chính họ, nhưng là việc Đức Chúa Trời hành xử đúng đắn với họ, nghĩa là Ngài chăm sóc họ bây giờ và ban thưởng cho họ trong ngày sau rốt (so sánh 5:6).

SỰ CÔNG CHÍNH CAO TRỌNG

Đọc Ma-thi-ơ 7:1-12.

Trong Ma-thi-ơ 7:1-12, Chúa Jesus kết thúc phần mô tả về sự công chính vượt trội so với sự công chính của các thầy thông giáo và người Pha-ri-si (lưu ý cách sử dụng cụm từ “Luật Pháp và các Tiên Tri” trong 7:12 gợi lại “Luật Pháp hay các Tiên Tri” ở phần đầu của mô tả này trong 5:17).

Lệnh cấm xét đoán của Ngài liên quan đến sự tôn trọng đối với lời tuyên xưng là môn đồ của người khác (7:1-5), lệnh cấm cho chó ăn thịt con sinh tế và cấm ném ngọc trai trước mặt heo của Ngài liên quan đến nguy cơ cho phép những kẻ thậm chí không tuyên xưng là môn đồ gia nhập vào trong cộng đồng các môn đồ (7:6), và mệnh lệnh truyền giữ Luật Vàng (“Bởi vậy, tất cả những gì các ngươi muốn người ta làm cho mình, thì cũng hãy làm như vậy cho họ”) của Ngài liên quan đến việc giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng đó (7:7-12).

Đoán xét có nghĩa là tự mình tuyên bố một môn đồ khác là giả mạo. Chỉ một mình Đức Chúa Trời có thể thực hiện sự phán xét đó, và Ngài sẽ phán xét chính những kẻ đạo đức giả - tức những kẻ đoán xét người khác mà không nhận thấy lỗi lầm của chính mình còn lớn hơn lỗi lầm của những người mà họ đang đoán xét. Mặt khác, sự tự xét mình sẽ biến một sự đoán xét vốn mang tính lên án trở thành một hành động phục hồi đầy nhân từ.

Trong thế giới Tân Ước, hầu hết chó là những con vật lang thang hung dữ trên đường phố. Những con chó này sẽ quay lại cắn xé bạn, nếu bạn kích thích sự thèm ăn của chúng, bằng cách cho chúng một miếng thịt của con sinh tế một cách bất cẩn, và những con heo sẽ chà đạp lên những viên ngọc trai nào bị ném cách dại dột trước mặt chúng. Tương tự, việc chấp nhận, một cách thiếu cẩn trọng, những người không phải là môn đồ gia nhập vào cộng đồng các môn đồ, sẽ khiến cộng đồng bị lộ và trở thành mục tiêu cho sự bắt bớ, vì bị phản bội từ bên trong (so sánh Ma-thi-ơ 24:10).

Vì vậy, đừng để tinh thần không xét đoán (vốn cần thiết cho một cộng đồng tốt) đi quá xa đến mức phá vỡ cộng đồng đó, bởi việc xóa nhòa ranh giới giữa cộng đồng các môn đồ với thế giới của những người không phải là môn đồ. Và việc Đức Chúa Trời làm điều tốt cho chúng ta bằng cách nhậm lời cầu nguyện của chúng ta đòi hỏi rằng chúng ta cũng phải làm điều tốt cho nhau.

CỬA HẸP VÀ ĐƯỜNG NHỎ - CỬA RỘNG VÀ ĐƯỜNG LỚN

Đọc Ma-thi-ơ 7:13-29

Bài Giảng trên Núi kết thúc bằng những lời cảnh báo đừng nghe theo các tiên tri giả, nhưng phải vâng theo những lời dạy của Chúa Jesus.

Một con đường núi nhỏ dẫn đến Thành Cứu Rỗi, nằm kiên cố trên đỉnh núi. Cách duy nhất để vào thành là qua một cái cổng có lợi thế cho việc phòng thủ vì nó hẹp. Con đường nhỏ và cổng hẹp tượng trưng cho những đòi hỏi khắt khe của sự công chính cao trọng mà Chúa Jesus đòi hỏi nơi các môn đồ Ngài.

Một con đường lớn dẫn đến Thành Hủy Diệt, tọa lạc trên một đồng bằng rộng mở. Cổng rộng của nó có thể đón nhận nhiều người, nhưng cũng chính vì thế mà mời gọi những kẻ xâm lược. Con đường lớn và cổng rộng tượng trưng cho lối sống buông thả được các tiên tri giả dạy và được các môn đồ giả thực hành.

Trong ẩn dụ kết luận cuối chương 7, Chúa Jesus ví:

  • Người khôn ngoan = các môn đồ thật
  • Người dại dột = các môn đồ giả
  • Xây nhà trên vầng đá = vâng giữ những lời dạy của Chúa Jesus
  • Xây nhà trên cát = không vâng giữ những lời dạy ấy
  • Cơn bão = Sự Phán Xét Cuối Cùng của Chúa Jesus trên các môn đồ của Ngài

Tóm lại, cách sống buông thả có thể giúp bạn tránh khỏi sự bắt bớ bây giờ, nhưng nó sẽ khiến bạn phải chịu sự hủy diệt trong tương lai; ngược lại, sự công chính cao trọng có thể khiến bạn phải chịu bắt bớ bây giờ, sẽ giải thoát bạn khỏi sự hủy diệt trong ngày sau.

C. Phần Tường Thuật
#

1. Bộ Ba Phép Lạ Thứ Nhất
#

Đọc Ma-thi-ơ 8:1-15

Sau Bài Giảng Trên Núi, Ma-thi-ơ chuyển từ những lời dạy của Chúa Jesus sang bộ ba phép lạ Ngài làm, nhằm cho thấy thẩm quyền từ hành động của Ngài bên cạnh thẩm quyền từ lời nói.

  1. Khi chữa lành người phung, Chúa Jesus làm cho trọn luật pháp.
  2. Khi chữa lành đầy tớ của thầy đội, Ngài hứa ban cho những người Dân Ngoại có đức tin, như thầy đội, được tham dự bữa tiệc cứu rỗi trong thời kỳ cuối cùng (tiệc của Đấng Mê-si), đồng thời phán rằng những người Do Thái không tin (“các con của vương quốc” là những người đáng lẽ được hưởng vương quốc thiên đàng vì họ thuộc về dân tộc được chọn) sẽ bị quăng ra khỏi phòng tiệc vào chốn tối tăm của sự phán xét.
  3. Khi chữa lành mẹ vợ của Phi-e-rơ, Chúa Jesus chủ động, chỉ dùng một cái chạm để chữa lành bà, và trở thành đối tượng được bà phục vụ.

2. Làm Môn Đồ Chúa
#

Đọc Ma-thi-ơ 8:16-22

Tiếp theo là một đoạn chuyển tiếp bao gồm một phần tóm tắt, một trích dẫn từ Cựu Ước và hai cuộc đối thoại về việc làm môn đồ của Chúa.

Những sự chữa lành của Chúa Jesus trong Ma-thi-ơ 8:16-17 ứng nghiệm Ê-sai 53:4. Cụm từ “một môn đồ khác” (Ma-thi-ơ 8:21) ngụ ý rằng “thầy thông giáo” được nhắc đến trước đó cũng là một môn đồ (xem 13:52 để thấy một thầy thông giáo có thể là môn đồ). Môn đồ thứ nhất bày tỏ sự chân thật của mình bằng cách bày tỏ quyết tâm đi theo Chúa Jesus bất cứ nơi đâu Ngài đi trong sứ vụ du hành, như Chúa Jesus đã lưu ý.

Môn đồ thứ hai bày tỏ sự giả dối của mình bằng cách xin phép về chôn cất cha mình trước khi bắt đầu theo Ngài. Có lẽ người này đang nói đến nghi thức chôn cất lần thứ hai thường được thực hiện, tức việc thu nhặt hài cốt của cha mình (sau khi xác đã phân hủy) và đặt vào một hộp nhỏ (gọi là bình đựng xương cốt - ossuary) để dành chỗ trong ngôi mộ gia đình cho một thi thể mới.

Lời đáp của Chúa Jesus, “Hãy theo ta, và để kẻ chết chôn kẻ chết của họ,” đã khước từ ngay cả bổn phận hiếu thảo thiêng liêng nhất (chôn cất cha mình) để ưu tiên sự trung tín ngay lập tức với Ngài. Việc “kẻ chết chôn kẻ chết của họ” không có ý nghĩa thực tế (làm sao người chết có thể chôn một người chết trong số họ?), mà để gạt bỏ hoàn toàn vấn đề chôn cất.

(Hình 6: Hộp đựng hài cốt của người Do Thái tại Bảo tàng Hecht.)

3. Bộ Ba Phép Lạ Thứ Hai
#

Đọc Ma-thi-ơ 8:23-9:8.

Một bộ ba phép lạ thứ hai tiếp theo.

  1. Phép lạ đầu tiên chứng minh thẩm quyền của Chúa Jesus trên các thế lực thiên nhiên,
  2. Phép lạ thứ hai trên các quỷ dữ, và
  3. Phép lạ thứ ba là thẩm quyền tha tội, một thẩm quyền Ngài chia sẻ với các môn đồ.

Ma-thi-ơ xác định khu vực xảy ra phép đuổi quỷ bằng cách nhắc đến tên của một thành phố lớn ("Ga-đa-ra") cách bờ biển khoảng năm dặm về phía đông nam. Người bị quỷ ám thứ hai không được nhắc đến trong các tường thuật song song trong Mác 5:1-20 và Lu-ca 8:26-39. Liệu có phải Mác và Lu-ca đã bỏ qua một người bị quỷ ám ít nổi bật hơn, hay Ma-thi-ơ đã thêm vào một người bị quỷ ám thứ hai từ câu chuyện trong Mác 1:21-28 và Lu-ca 4:31-37, vốn là câu chuyện mà ông đã bỏ qua?

Khi Ma-thi-ơ 9:8 nói Đức Chúa Trời đã ban cho “loài người” thẩm quyền tha tội, thì “loài người” ở đây chính là các môn đồ - những người đã ở trên thuyền với Chúa Jesus khi Ngài dẹp yên cơn bão (Ma-thi-ơ 8:27). Do đó, các môn đồ sẽ tuyên bố tội lỗi được tha và chữa lành người bệnh để chứng thực cho sự tha thứ, giống như Chúa Jesus đã làm. Chúa Jesus chính là mẫu mực cho các môn đồ trong việc tha tội và chữa lành (so sánh với Ma-thi-ơ 16:17; 18:18; Giăng 20:23).

4. Sự Kêu Gọi Ma-thi-ơ
#

Đọc Ma-thi-ơ 9:9-17.

Việc Chúa Jesus gọi Ma-thi-ơ trở thành môn đồ và những chỉ dẫn của Ngài về sự kiêng ăn tạo nên một đoạn chuyển tiếp khác.

Một số học giả cho rằng Ma-thi-ơ đã thay tên “Lê-vi” (theo Mác 2:14; Lu-ca 5:27, 29) bằng tên “Ma-thi-ơ” để sách Phúc Âm này được gắn với tên của một sứ đồ (so sánh với Ma-thi-ơ 10:3). Số khác lại cho rằng đây chỉ là trường hợp một người có hai tên khác nhau - điều khá phổ biến trong bối cảnh văn hóa thời đó. Dù theo cách hiểu nào thì việc Chúa Jesus trích dẫn Ô-sê 6:6: “Ta [Đức Chúa Trời] muốn lòng thương xót, chứ không muốn của tế lễ” cũng cho thấy sự kêu gọi Ma-thi-ơ là một hành động thương xót của Ngài đối với những người bị xã hội ruồng bỏ, như các người thu thuế và những kẻ tội lỗi khét tiếng.

SỰ KIÊNG ĂN

Tiếp theo, hình ảnh “giữ lại cả rượu mới lẫn bầu da cũ” và “đổ rượu mới vào bầu da mới” làm nổi bật việc kiêng ăn (một thực hành cũ) sẽ được duy trì nhưng dưới một hình thức và tinh thần mới, sau khi Chúa Jesus là Chàng Rể bị đem đi (so sánh với Ma-thi-ơ 6:16-18).

5. Bộ Ba Phép Lạ Thứ Ba
#

Đọc Ma-thi-ơ 9:18-34.

Bộ ba câu chuyện phép lạ thứ ba giờ đây xuất hiện trong tường thuật.

  1. Câu chuyện đầu tiên thuật lại một phép lạ kép, thể hiện thẩm quyền của Chúa Jesus trên những hậu quả tàn phá của bệnh tật và sự chết.
  2. Câu chuyện thứ hai thể hiện khả năng Ngài chữa lành hai người mù cùng một lúc.
  3. Và câu chuyện thứ ba thể hiện quyền năng của Ngài trong việc chữa lành và giải cứu một người vừa bị câm vừa bị quỷ ám.

Việc so sánh với Ma-thi-ơ 20:29-34; Mác 10:46-52 và Lu-ca 18:35-43 khiến một số học giả cho rằng Ma-thi-ơ ở đây đã thêm vào một người mù thứ hai từ câu chuyện trong Mác 8:22-26, vốn đã bị bỏ qua trong các tường thuật trước đó của ông (so sánh với khả năng tương tự khi ông thêm vào một người bị quỷ ám thứ hai trong Ma-thi-ơ 8:28-34).

D. Phần Giảng Luận: Bài Giảng Về Sứ Mạng Truyền Giáo
#

Ma-thi-ơ 9:35-10:42.

Tiếp theo, có một đoạn tường thuật ngắn nhằm giới thiệu một bài giảng dài liền sau nó. Đoạn tường thuật này nhấn mạnh lòng thương xót của Chúa Jesus. Xuất phát từ lòng thương xót, Ngài tuyên bố mùa gặt thì nhiều nhưng thợ gặt thì ít và truyền cho các môn đồ phải cầu xin chủ mùa gặt sai phái thợ gặt. Mùa gặt tượng trưng cho công cuộc truyền giảng Phúc Âm. Những thợ gặt là mười hai sứ đồ, những người sẽ kết nạp thêm môn đồ bằng cách rao giảng Tin Lành. Và chủ mùa gặt chính là Chúa Jesus, Đấng sai phái mười hai sứ đồ.

Tuy nhiên, ở cuối đoạn tường thuật, chúng ta không thấy ghi chép cho biết họ đã ra đi và cũng không có mô tả nào về mục vụ của họ (tương phản với Mác 6:12-13), nên những chỉ dẫn dài của Chúa Jesus, vốn chuyển hướng giữa chừng từ bối cảnh Do Thái tại Ga-li-lê sang bối cảnh Dân Ngoại trong thế giới rộng lớn hơn, trở nên thích hợp với công cuộc truyền giáo của Hội Thánh Cơ Đốc sau này. Cũng như Bài Giảng trên Núi dạy môn đồ phải cư xử thế nào, thì Bài Giảng về Sứ Mạng Truyền Giáo này dạy họ phải làm chứng ra sao.

Trong chương 10, các câu 2-4 xác định những thợ gặt chính là mười hai sứ đồ. Các câu 5-15 truyền dạy họ cách truyền giảng cho những người Do Thái đang sống tại Ga-li-lê. Và các câu 16-42 cảnh báo về sự bắt bớ trong một sứ mạng truyền giáo xa hơn sẽ bao gồm cả Dân Ngoại. Như vậy, công tác truyền giáo hiện tại giới hạn chỉ cho người Do Thái ở Ga-li-lê (10:5b-6) sẽ nhường chỗ cho việc bao gồm Dân Ngoại ở những nơi khác trong tương lai (10:18), nhưng không có nghĩa là chấm dứt sứ mạng truyền giáo cho người Do Thái (10:23).

Để chống lại sự tự tôn, Chúa Jesus cấm việc thu tích lợi nhuận từ mục vụ (Ma-thi-ơ 10:9-10); và Ngài cấm việc di chuyển quanh một địa phương để tìm chỗ ở tiện nghi nhất (10:11-15). Về sự bắt bớ, Chúa Jesus dạy phải coi chừng những kẻ chỉ điểm, nhưng đừng lo lắng về việc phải chuẩn bị lời biện hộ trước tòa, và khi cần thiết, hãy chạy trốn từ thành này sang thành khác - thay vì ở lại một cách liều lĩnh trong một thành phố đe dọa đến tính mạng của người rao giảng (10:16-23). Ngài cũng đưa ra một số lý do để không sợ sự bắt bớ:

  • Những khổ nạn của chính Ngài (10:24-25)
  • Sự không thể che giấu lẽ thật (10:26-27)
  • Sự không quan trọng của cái chết thể xác so với sự trừng phạt đời đời của cả linh hồn và thể xác (10:28)
  • Giá trị mà Đức Chúa Trời đặt trên các môn đồ của Chúa Jesus (10:29-31)
  • Sự cần thiết của việc xưng nhận Chúa Jesus trước mặt người khác nếu muốn được Ngài xưng nhận trước mặt Đức Chúa Trời là Cha (10:32-33)
  • Sự không xứng đáng của bất cứ ai thối lui vì sợ bị bắt bớ (10:34-39)
  • Việc mang sự sống đời đời đến cho người khác qua sự làm chứng bằng sự hi sinh của bản thân (10:40-42)

E. Phần Tường Thuật
#

Đọc Ma-thi-ơ 11:1-12:50.

Sau khi trích dẫn lời cảnh báo của Chúa Jesus về sự bắt bớ, Ma-thi-ơ giờ đây đưa ra các tường thuật minh họa cho sự bắt bớ trong cuộc đời Giăng Báp-tít, Chúa Jesus, và các môn đồ (11:1-12:50).

Cụ thể hơn, trường hợp của Giăng Báp-tít minh họa cho sự bạo lực mà vương quốc thiên đàng phải chịu (11:1-24). Sự nhu mì của Chúa Jesus đối với các môn đồ tương phản với sự bạo lực đó và làm nổi bật nó (11:25-30). Những người Pha-ri-si âm mưu giết Chúa Jesus (12:1-21) và phỉ báng Ngài (12:22-37), nhưng Ngài vạch trần sự độc ác của họ, tuyên bố sự phán xét trên họ (12:38-45). Chương 12 khép lại với lời mô tả các môn đồ (tức những người làm theo ý muốn của Cha thiên thượng và vì vậy bị bắt bớ vì sự công chính; xem thêm 5:10-11) như là gia đình thật của Chúa Jesus (12:46-52).

1. Lời Tri Ân Giăng Báp-tít
#

Việc đề cập đến sự tù đày của Giăng Báp-tít ngụ ý rằng mặc dù “các công việc của Đấng Christ” đã khơi dậy nơi Giăng niềm tin rằng Chúa Jesus là Đấng Đến Sau mà ông đã báo trước, nhưng việc Ngài không giải cứu ông khỏi ngục tù đã gây nên một mối nghi ngờ. Câu trả lời của Chúa Jesus cho câu hỏi của Giăng dường như ngụ ý rằng các công việc của Đấng Christ đang cung cấp bằng chứng đầy đủ (so sánh Ê-sai 35:5-6; 61:1) cho việc Ngài chính là Đấng đó.

Sự tôn vinh của Chúa Jesus dành cho Giăng bao gồm một tuyên bố rằng “kẻ nhỏ nhất trong vương quốc thiên đàng còn lớn hơn Giăng” (Ma-thi-ơ 11:11b). Vì sự bắt bớ nhắm vào Giăng đã mở đầu cho những cuộc tấn công bạo lực mà vương quốc thiên đàng phải chịu, nên Giăng chắc chắn là một thành viên của vương quốc ấy. Do đó, điều Chúa Jesus nói ở đây không phải là một người dù có địa vị rất nhỏ trong nước thiên đàng thì mặc định người đó vượt trội hơn một người có địa vị cao trọng nhưng ở bên ngoài nước thiên đàng. Trong Ma-thi-ơ 18:4, Ngài sẽ định nghĩa sự “vĩ đại” thật sự trong vương quốc thiên đàng chính là sự “khiêm nhường” ("người lớn hơn hết" trong vương quốc thiên đàng chính là người “khiêm nhường nhất”). Vì vậy, hàm ý thực sự của Chúa Jesus là ngay cả một môn đồ khiêm nhường nhất trong thời đại vương quốc thiên đàng đã được bày tỏ trọn vẹn, cũng sẽ có một đặc ân và vị thế vượt trội hơn Giăng Báp-tít - là người cho đến thời điểm đó được xem là người vĩ đại nhất từng được sinh ra.

2. Những Kẻ Không Ăn Năn
#

Những người Do Thái không chịu đáp lại cả Giăng Báp-tít lẫn Chúa Jesus, thì giống như lũ trẻ ngoan cố ngồi bên lề sân chơi, cứ khước từ mọi đề nghị: khi thì bảo chơi trò vui (như đám cưới) không chơi, khi thì bảo chơi trò buồn (như đám tang) cũng không thèm (Ma-thi-ơ 11:16-19).

Sự song hành giữa cụm từ “các công việc của sự khôn ngoan” (Ma-thi-ơ 11:19b) và “các công việc của Đấng Christ” (11:2) ngụ ý rằng Chúa Jesus, tức Đấng Christ, là Sự Khôn Ngoan được nhân cách hóa (so sánh Ma-thi-ơ 23:34 với Lu-ca 11:49).

Con trẻ” (Ma-thi-ơ 11:25) tượng trưng cho những môn đồ có thể dạy dỗ được, trái ngược với các thầy thông giáo và người Pha-ri-si.

3. Johannine Thunderbolt
#

Mối quan hệ giữa Chúa Jesus, là Con một độc nhất, với Đức Chúa Trời, là Cha, được diễn đạt một cách hùng hồn trong Ma-thi-ơ 11:25-27 (có phần song song trong Lu-ca 10:21-22), đôi khi được gọi là “lời tuyên bố sấm sét từ sách Giăng” (Johannine Thunderbolt), vì nó nghe rất giống với những tuyên bố trong sách Phúc Âm Giăng về mối quan hệ giữa Chúa Jesus với Đức Chúa Trời.

Vậy, Chúa Jesus ban cho sự an nghỉ và một gánh nhẹ nhàng bằng cách nào (Ma-thi-ơ 11:28)? Không phải bằng cách đòi hỏi các môn đồ của Ngài ít hơn các thầy thông giáo và người Pha-ri-si, vì Ngài quả thật đòi hỏi nhiều hơn (Ma-thi-ơ 5:20); nhưng bằng việc Ngài khiêm nhường và nhu mì bước vào, đặt vai mình vào cùng một đòn ách, và cùng kéo ách với các môn đồ Ngài (so sánh với Ma-thi-ơ 1:23; 28:20). “Ách” ở đây là hình ảnh ẩn dụ chỉ luật pháp.

Đọc thêm: JOHANNINE THUNDERBOLT

Địa chỉMa-thi-ơĐịa chỉGiăng
Ma-thi-ơ 11:27“Cha Ta đã ban mọi sự cho Ta. Không ai biết Con ngoại trừ Cha, cũng không ai biết Cha ngoại trừ Con và những kẻ mà Con muốn bày tỏ cho họ.”Giăng 3:25“Cha yêu Con, và đã giao hết mọi vật trong tay Con.”
Giăng 10:15“… cũng như Cha biết ta, và ta biết Cha vậy; ta vì chiên ta phó sự sống mình.”
Giăng 17:26“Con đã tỏ danh Cha ra cho họ, Con lại sẽ tỏ ra nữa, để cho tình yêu thương của Cha dùng yêu thương Con ở trong họ, và chính mình Con cũng ở trong họ nữa.” (Chúa Jesus cầu nguyện với Đức Chúa Cha về các môn đồ)

(Hình 7: Cái ách)

4. Sự Phạm Luật Ngày Sa-bát
#

Các thầy tế lễ có thể vi phạm ngày Sa-bát bằng cách làm việc trong Đền thờ, bởi vì Đền thờ lớn hơn ngày Sa-bát (Dân-số Ký 28:9-10). Đền thờ lớn hơn ngày Sa-bát, vì ngày Sa-bát được lập ra cho loài người, còn Đền thờ thì cho Đức Chúa Trời. Chúa Jesus lớn hơn Đền thờ, bởi vì Đền thờ là nơi ở của Đức Chúa Trời, nhưng Chúa Jesus chính là bản thể Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta (xem lại Ma-thi-ơ 1:23). Một lần nữa, lời trích dẫn Ô-sê 6:6 (“Ta muốn lòng thương xót, chứ không muốn của tế lễ”; so sánh Ma-thi-ơ 12:7 với 9:13) biến sự lên án của những người Pha-ri-si đối với các môn đồ bứt bông lúa mì ăn trong ngày Sa-bát thành một ví dụ về sự bắt bớ không thương xót.

Người bị teo tay cũng giống như con chiên rơi xuống hố; lòng thương xót đòi hỏi cần chữa lành cho người đó hơn là kéo con chiên ra khỏi hố trong ngày Sa-bát (Ma-thi-ơ 12:11-12). Việc Chúa Jesus rút lui để thoát khỏi âm mưu của những người Pha-ri-si cho thấy Ngài tuân theo chính mệnh lệnh của mình là chạy trốn khỏi sự bắt bớ (10:23) và ứng nghiệm Ê-sai 42:1-4: Ngài không tìm kiếm sự công bình cho chính mình; Ngài công bố sự công bình ấy cho các dân và hiện thực hóa nó cho các môn đồ bị bắt bớ của Ngài (được đại diện bởi “cây sậy bị giập” và “tim đèn còn khói”, 12:17-21).

Kẻ nào chống lại Chúa Jesus và làm tan lạc môn đồ là kẻ bắt bớ (Ma-thi-ơ 12:30). Lời nói của con người bày tỏ tính cách của họ. Việc những người Pha-ri-si nói những lời phạm thượng đến Đức Thánh Linh bày tỏ sự hư hoại của họ và đóng ấn cho sự đoán xét trên họ (12:22-37).

5. Dấu Lạ của Giô-na
#

Dấu lạ của tiên tri Giô-na chính là việc Chúa Jesus chịu chôn trong mồ ba ngày ba đêm, giống như Giô-na ở trong bụng quái vật biển ba ngày ba đêm (Ma-thi-ơ 12:39-40). Giới hạn ba ngày ngụ ý về sự phục sinh. Việc Chúa Jesus chịu chết vào Thứ Sáu của Tuần Thánh và sống lại vào Chủ Nhật Phục Sinh có vẻ như không đủ “ba ngày ba đêm”, nhưng người Do Thái thường tính một phần của ngày (24 giờ) như một ngày trọn (xem Sáng-thế Ký 42:17-18; 1 Sa-mu-ên 30:1, 12-13; 2 Sử Ký 10:5, 12; Ê-xơ-tê 4:16-5:1). Vì thế, một phần của thứ Sáu, toàn bộ thứ Bảy và một phần của Chúa Nhật có thể được tính là ba ngày ba đêm.

Tình trạng cuối cùng và tệ nhất của người trong ẩn dụ của Chúa Jesus - bị tà linh tái chiếm hữu cùng bảy ác linh khác dữ hơn - báo trước sự bùng phát của tội ác nơi những người Pha-ri-si trong việc gây nên cuộc khổ nạn mà Chúa Jesus sắp trải qua (Ma-thi-ơ 21:45-46; 22:15, 34, 41; 27:62). Cha trên trời hoàn tất gia đình của Jesus với các môn đồ bị bách hại của Ngài - họ trở thành anh, chị, em và mẹ của Chúa Jesus khi làm theo ý muốn của Đức Chúa Cha.

F. Phần Giảng Luận: Bài Giảng bằng Các Ẩn Dụ
#

Đọc Ma-thi-ơ 13:1-52

Phần lớn chương 13 chứa đựng bài giảng lớn thứ ba của Chúa Jesus trong sách Ma-thi-ơ, được trình bày bằng các ẩn dụ. Nếu Bài Giảng trên Núi đề cập đến cách cư xử của Cơ Đốc nhân và Bài Giảng về Sứ Mạng Truyền Giáo đề cập đến công tác chứng đạo của Cơ Đốc nhân, thì Bài Giảng bằng Ẩn Dụ đề cập đến sự hiểu biết của Cơ Đốc nhân.

Đám đông thính giả của Chúa Jesus dường như đại diện cho Hội Thánh pha trộn trong thời của Ma-thi-ơ. Các môn đồ giữa đám đông đó dường như đại diện cho những tín hữu chân thật, trái ngược với những kẻ giả mạo trong Hội Thánh (Ma-thi-ơ 13:1-2). Như trong Mác 4:3-9, ẩn dụ mở đầu về người gieo giống là một ẩn dụ về chính các ẩn dụ (Ma-thi-ơ 13:3-9). Chúa Jesus sau đó giải thích rằng Ngài phán dạy bằng ẩn dụ, bởi vì những kẻ thiếu sự hiểu biết - tức những môn đồ giả - phải chịu sự phán xét khi đánh mất sự hiểu biết (các ẩn dụ khiến họ bối rối), và bởi vì những ai có sự hiểu biết - tức những môn đồ chân thật - sẽ càng hiểu biết thêm (các ẩn dụ dạy dỗ họ; 13:10-23).

Sáu ẩn dụ ở phần giữa được sắp thành từng cặp và đều bắt đầu bằng cụm từ “vương quốc thiên đàng” (Ma-thi-ơ 13:24-50). Ẩn dụ về lúa mì và cỏ lùng nhấn mạnh sự trì hoãn trong việc phân rẽ cho đến mùa gặt (13:24-30). Ẩn dụ về cây cải lớn và ẩn dụ về men trong đống bột tạo thành một cặp nhấn mạnh quy mô bành trướng; vương quốc ấy đã phát triển và lan rộng khắp thế giới (13:31-32, 33). Một lời trích dẫn từ Thi-thiên 78:2 như đã được ứng nghiệm làm gián đoạn chuỗi ẩn dụ (13:34-35). Lời giải thích riêng về ẩn dụ lúa mì và cỏ lùng xác định lúa mì là những môn đồ chân thật, cỏ lùng là những môn đồ giả, v.v… (13:36-43). Nhờ đó, các môn đồ chân thật trong số những người nghe Chúa Jesus càng hiểu biết thêm, không chỉ qua lời giải thích này, mà còn qua cặp ẩn dụ thứ hai về kho báu và viên ngọc quý - cả hai đều dạy về sự sẵn lòng vui vẻ từ bỏ mọi sự vì vương quốc thiên đàng (13:44, 45-46) - và qua ẩn dụ thứ sáu về cá tốt và cá xấu. Ẩn dụ này ghép cặp với ẩn dụ đầu tiên trong sáu ẩn dụ để dạy về sự phán xét cuối cùng đối với môn đồ giả và phần thưởng cuối cùng cho môn đồ chân thật (13:47-50). Một ẩn dụ kết luận so sánh môn đồ chân thật, người đã được dạy dỗ đầy đủ, với một chủ nhà kéo ra từ trong kho mình những bảo vật mới (sự hiểu biết mới) và cũ (sự hiểu biết cũ) (13:51-52).

Cấu trúcMô tảÝ nghĩa
AẨn dụ về người gieo giốngSự hiểu biết
BẨn dụ về lúa mì và cỏ lùngMôn đồ thật và môn đồ giả
CẨn dụ về cây cảiSự rộng lớn của nước thiên đàng
C’Ẩn dụ menSự rộng lớn của nước thiên đàng
DẨn dụ về của báuSự từ bỏ mọi sự vì nước thiên đàng trong vui mừng
D’Ẩn dụ về ngọc châu tốtSự từ bỏ mọi sự vì nước thiên đàng trong vui mừng
B’Ẩn dụ về cá tốt và xấuMôn đồ thật và môn đồ giả
A’Ẩn dụ về người chủ nhàSự hiểu biết

Đọc thêm: BỐI CẢNH CỦA CÁC ẨN DỤ

  • Cỏ lùng là một loại cỏ dại độc hại giống hệt lúa mì lúc còn non. Thông thường, cỏ lùng sẽ được nhổ bỏ. Nhưng trong ẩn dụ này, chúng mọc quá nhiều đến nỗi rễ của chúng đã đan xen với rễ của lúa mì.

  • Men là một miếng bột đã lên men, được trộn vào đống bột mới để làm cả đống bột đó cũng dậy men. Ba đấu bột tương đương với khoảng năm mươi pound (khoảng 23kg), một lượng bột khổng lồ để làm ra một ổ bánh lớn. Chúa Jesus đang sử dụng phép cường điệu để nhấn mạnh điểm Ngài muốn nói. Một số người giải thích men tượng trưng cho điều ác làm bại hoại Cơ Đốc giáo. Quả thật, trong những ngữ cảnh khác, men thường tượng trưng cho điều ác, nhưng việc nó được đặt cạnh ẩn dụ về hạt cải lại ủng hộ cách giải thích nhấn mạnh sự tương phản giữa một khởi đầu nhỏ bé và một kết thúc vĩ đại. Các hình ảnh biểu trưng khác trong Kinh Thánh cũng mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Ví dụ, muối tượng trưng cho chứng đạo qua các việc lành (Ma-thi-ơ 5:13), sự phán xét (Mác 9:49), hòa thuận (Mác 9:50), và lời nói ân hậu (Cô-lô-se 4:6). Ở đây, để nhấn mạnh rằng sự cai trị của Đức Chúa Trời năng động và quyền năng hơn sự cai trị của Sa-tan, Chúa Jesus có thể cố ý chọn một hình ảnh vốn thường mang hàm nghĩa xấu.

  • Một số người nghĩ rằng chim trời trong ẩn dụ hạt cải tượng trưng cho những giáo sư giả xâm nhập Hội Thánh. Nhưng cách sử dụng từ này bắt nguồn từ giấc mơ của vua Nê-bu-cát-nết-sa (Đa-ni-ên 4:12, 21), nơi việc chim trời làm tổ trên cành cây ngụ ý chỉ kích thước to lớn của cây đó.

  • Những cuộc xâm lược lặp đi lặp lại tại xứ Palestine khiến người dân sợ hãi phải chôn các kho báu của họ để giữ an toàn. Trong ẩn dụ, người chôn giấu kho báu dường như đã chết hoặc bị giết. Kết quả là kho báu trở thành vô chủ. Luật pháp cho phép người tìm thấy kho báu được giấu nó lại và mua thửa ruộng để sở hữu kho báu một cách hợp pháp.

  • Lưới kéo (seine nets), được dùng để đánh bắt cá, hoặc được kéo giữa hai thuyền, hoặc được thả xuống bởi một thuyền và kéo vào bờ bằng hai sợi dây dài. Cá xấu bao gồm những loại cá bị luật pháp Môi-se cấm vì không có vảy hoặc vi, và cả những sinh vật biển khác mà người Do Thái coi là không ăn được.

E’. Phần Tường Thuật
#

1. Sự Hiểu Biết
#

Các ẩn dụ trước đó đã nhấn mạnh sự tương phản giữa sự hiểu biết và sự thiếu hiểu biết. Phần tường thuật tiếp theo cũng triển khai sự tương phản này. Những người đồng hương với Chúa Jesus nhận diện sai danh tính của Ngài là con trai người thợ mộc, trong khi thực tế Ngài là Con Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 2:15; 3:17 và các chỗ khác). Đọc Ma-thi-ơ 13:53-58

Hê-rốt An-ti-ba (Herod Antipas), vua chư hầu cai trị vùng Ga-li-lê và Pê-rê, nhận diện sai Chúa Jesus khi cho rằng Ngài là Giăng Báp-tít sống lại từ cõi chết. Đọc Ma-thi-ơ 14:1-12.

Mặc dù các môn đồ có ít đức tin trong phép lạ hóa bánh cho năm nghìn người, nhưng ít nhất họ hiểu rằng Chúa Jesus muốn họ phân phát phần lương thực họ có cho đám đông lên đến năm nghìn người đàn ông, cùng với số lượng phụ nữ và trẻ em không thể xác định, ăn. Đoàn dân đông giống như Hội Thánh gồm các gia đình - chồng, vợ và con cái - dùng bữa trong sự báo trước về Tiệc Thánh của Chúa. Đọc Ma-thi-ơ 14:13-21.

Trong câu chuyện Chúa Jesus đi trên mặt nước, Ma-thi-ơ thuật thêm sự kiện Phi-e-rơ bước đi trên mặt nước một đoạn ngắn. Sự kiện này đạt đến cao trào trong lời tuyên xưng thể hiện sự hiểu biết của các môn đồ rằng Chúa Jesus là Con Đức Chúa Trời. Đọc Ma-thi-ơ 14:22-33.

2. Sự Ô Uế Theo Nghi Lễ
#

Đọc Ma-thi-ơ 14:34-15:20.

Khi đến thành Ghê-nê-xa-rết, Chúa Jesus ban cho các môn đồ sự hiểu biết về thế nào là sự ô uế thật. Ngài phán, không phải bất cứ thứ gì không tinh sạch vào miệng (thức ăn) làm ô uế người ta, mà chính những điều ác ra từ miệng (lời nói) mới làm ô uế. Như vậy, Chúa Jesus đã biến đổi các điều cấm kỵ liên quan đến thức ăn trong Cựu Ước thành một lệnh cấm đối với lời nói độc ác.

Hình ảnh cái cây bị nhổ bật gốcngười mù ngã xuống hố, được áp dụng cho những người Pha-ri-si, tượng trưng cho sự phán xét từ tay Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 15:13-14).

3. Người Phụ Nữ Ca-na-an
#

Đọc Ma-thi-ơ 15:21-28

Không quan tâm đến sự tinh sạch theo nghi lễ, Chúa Jesus lánh khỏi những kẻ bắt bớ Ngài (những người Pha-ri-si và thầy thông giáo từ Giê-ru-sa-lem, Ma-thi-ơ 15:1) và đi vào vùng đất của Dân Ngoại. Tại đó, một người phụ nữ bày tỏ sự hiểu biết của bà về thân vị thật của Chúa Jesus bằng cách xưng Ngài là “Con vua Đa-vít” (một lần) và ba lần gọi Ngài là “Chúa”, đồng thời thờ lạy Ngài. Nói cách khác, bà hiểu được thần tính phổ quát (universal deity) của Chúa Jesus, và là Đấng Mê-si của người Do Thái.

Từ “Chúa” đôi khi còn có nghĩa là “Thưa Ngài”. Nhưng trong Phúc Âm Ma-thi-ơ, Ma-thi-ơ (1) mô tả Chúa Jesus là “Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta” (Ma-thi-ơ 1:23; so sánh 18:20; 28:20), (2) đặt Chúa Jesus là Con ở giữa Đức Chúa Trời là Cha và Đức Thánh Linh trong một công thức Báp-têm (28:19), và (3) chuyển đổi từ “Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta” (Ma-thi-ơ 1:23) thành “Ta [Đức Chúa Giê-xu] ở cùng các ngươi luôn” (Ma-thi-ơ 28:20), cho thấy từ “Chúa” trong sách Phúc Âm này mang hàm ý chỉ thần tính của Chúa Jesus.

Ở đây, sự hiểu biết của người phụ nữ Dân Ngoại đã sinh ra đức tin mạnh mẽ đến nỗi vượt qua mọi trở ngại: sự im lặng của Chúa Jesus, sự phản đối của các môn đồ, sự giới hạn trong chức vụ của Ngài cho dân Do Thái, và cả sự từ chối của chính Ngài.

4. Dân Ngoại
#

Đọc Ma-thi-ơ 15:29-39.

Chúa Jesus trở lại biển Ga-li-lê, nhưng dường như về phía đông, nơi chủ yếu là Dân Ngoại; vì vậy, bốn nghìn người được Chúa cho ăn lúc bấy giờ dường như là Dân Ngoại. Nếu vậy, cùng với người đàn bà Dân Ngoại trước đó và trước đó nữa là thầy đội và các nhà thông thái (magi), họ đại diện cho số đông Dân Ngoại đang đổ vào Hội Thánh trong thời của Ma-thi-ơ. Và các môn đồ hiểu được ý định của Chúa Jesus rằng họ phải phân phát bánh cho đoàn dân. Như trong phép lạ cho năm nghìn người ăn, các bà vợ và trẻ em được thêm vào để mô tả một đoàn dân đông giống như Hội Thánh gồm các gia đình đang dùng bữa trong sự báo trước về Tiệc Thánh của Chúa. Ma-ga-đan (Ma-thi-ơ 15:29) là một địa danh không rõ nhưng dường như nằm ở bờ tây biển Ga-li-lê.

Đọc Ma-thi-ơ 16:1-12.

Những người Pha-ri-si và Sa-đu-sê lại tiếp tục bắt bớ Chúa Jesus. Ngài quở trách họ vì không hiểu các dấu chỉ của thời đại, tức là các phép lạ và việc đuổi quỷ của Ngài. Sau đó, Ngài ban cho các môn đồ sự hiểu biết về giáo lý sai trật của những người Pha-ri-si và Sa-đu-sê.

5. Phi-e-rơ và Vầng Đá
#

Đọc Ma-thi-ơ 16:13-20.

Gần thành Sê-sa-rê Phi-líp, Phi-e-rơ bày tỏ sự hiểu biết của ông về thân vị của Chúa Jesus là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời hằng sống. Chúa Jesus cho biết sự hiểu biết này đến từ sự mặc khải của Cha thiên thượng Ngài cho Phi-e-rơ.

Cách gọi “Con Đức Chúa Trời hằng sống” của Phi-e-rơ vang vọng lời tuyên xưng “thật là Con Đức Chúa Trời” của các môn đồ trong Ma-thi-ơ 14:33. “Ba Giô-na” (Barjonas) có nghĩa là “con của Giô-na” và ám chỉ “dấu lạ của Giô-na”, tức là sự chết, chôn, và sống lại của Chúa Jesus (Ma-thi-ơ 12:39-40; 16:4). “Thịt và huyết” (Ma-thi-ơ 16:17) có nghĩa là loài người với đặc tính ngu dốt, yếu đuối, hay chết, v.v… “Phi-e-rơ” (tiếng Hy Lạp: Petros) có nghĩa là “tảng đá” (hoặc “viên đá”). Nhưng tuyên bố chơi chữ của Chúa Jesus, “còn trên vầng đá [tiếng Hy Lạp: petra] nầy, ta sẽ lập Hội Thánh ta”, đã nhận được nhiều cách giải thích khác nhau:

  • Cách giải thích 1: Nếu từ gốc A-ram là Cephas làm nền tảng cho từ Hy Lạp của Ma-thi-ơ, thì sự phân biệt giữa petros (viên đá) và petra (vầng đá) có thể không còn, và Chúa Jesus có thể đang nói rằng Ngài sẽ lập Phi-e-rơ, thủ lĩnh các sứ đồ, làm nền tảng bằng đá cho Hội Thánh Ngài (dù một mình ông hay cùng với các sứ đồ khác [so sánh Ê-phê-sô 2:20], dù chỉ trong thời gian ông còn sống hay mãi mãi qua những người kế vị chức giáo hoàng - quan điểm của Công giáo).

  • Cách giải thích 2: Ngược lại, người ta có thể trông đợi sẽ đọc thấy câu: “Ngươi là Phi-e-rơ, và trên ngươi ta sẽ lập Hội Thánh ta.” Nhưng Ma-thi-ơ không dùng từ “ngươi”, thay vào đó là “vầng đá nầy”, gợi ý rằng chính Phi-e-rơ không phải là nền tảng, nhưng ý nghĩa tên ông chỉ đến một thực thể khác làm nền tảng - có lẽ là (1) chính Chúa Jesus - Đấng mà Phi-e-rơ vừa tuyên xưng, tức Đấng Christ và là Con Đức Chúa Trời hằng sống (so sánh 1 Cô-rinh-tô 3:11), hoặc (2) lẽ thật của lời tuyên xưng đó (so sánh 1 Ti-mô-thê 3:15), hoặc (3) những lời dạy của Chúa Jesus (xem 7:24-25, nơi “các lời ta” tạo thành vầng đá [petra, như ở đây] mà người khôn ngoan xây nhà mình trên đó).

CỬA, CHÌA KHÓA, BUỘC VÀ MỞ

Cửa âm phủ” biểu thị quyền lực của sự chết. Sự bắt bớ nổi bật trong sách Ma-thi-ơ ngụ ý cái chết tử đạo: việc giết hại các Cơ Đốc nhân sẽ không thắng hơn được Hội Thánh. “Chìa khóa” tượng trưng cho thẩm quyền mở hoặc đóng; “buộc” và “mở” tượng trưng cho việc cấm đoán và cho phép. Tuy nhiên, có sự tranh luận về việc những hình ảnh này đề cập đến hoạt động nào của Hội Thánh:

  • Việc tiếp nhận một người vào Hội Thánh: Cho phép hoặc từ chối một người gia nhập vào Hội Thánh dựa trên sự đáp ứng của họ với Phúc Âm.
  • Thứ tự truyền giáo: Mở cánh cửa đầu tiên cho người Do Thái và sau đó cho Dân Ngoại, như Phi-e-rơ đã làm trong ngày Lễ Ngũ Tuần và sau đó tại nhà Cọt-nây (Công-vụ 2, 10).
  • Quyền tha tội: Tha tội hoặc không tha tội, như trong thực hành của các linh mục Công giáo La Mã.
  • Kỷ luật Hội Thánh: Thiết lập các quy tắc ứng xử cho trật tự và kỷ luật trong Hội Thánh - tức là đóng cửa (“buộc”) đối với một số hành vi (cấm đoán chúng) và mở cửa (“mở”) đối với các hành vi khác (cho phép chúng).
  • Phục hồi môn đồ: Chấp nhận hoặc từ chối những người tự xưng là môn đồ nhưng dưới sự bắt bớ đã chối bỏ Chúa Jesus và sau đó muốn trở lại Hội Thánh.

(Hình 8: Chìa khóa bằng đồng)

6. Lời Báo Trước về Sự Thương Khó và Sự Sống Lại
#

Đọc Ma-thi-ơ 16:21-28.

Tiếp theo, Chúa Jesus gia tăng sự hiểu biết của các môn đồ bằng cách báo trước về sự chết và sự sống lại sắp đến của Ngài, cùng với sự cần thiết rằng bất cứ ai muốn theo Ngài phải chấp nhận mất cả mạng sống mình khi công khai làm môn đồ của Chúa Jesus.

Ngay cả khi quở trách Chúa Jesus, Phi-e-rơ vẫn gọi Ngài là “Lạy Chúa” và cầu chúc Ngài được sự thương xót của Đức Chúa Trời. Như trong phần kết của Bài Giảng trên Núi, Chúa Jesus mô tả chính Ngài là quan án cuối cùng của toàn thể nhân loại; và cụm từ “trước khi chúng thấy Con người ngự đến trong nước Ngài” khiến cho sự hóa hình của Chúa Jesus trong tường thuật sau đó trở thành một sự báo trước về sự tái lâm.

7. Sự Hóa Hình
#

Đọc Ma-thi-ơ 17:1-13.

Trong sự hóa hình của Chúa Jesus và một cuộc trò chuyện sau đó với Ngài, các môn đồ: Phi-e-rơ, Gia-cơ, và Giăng, hiểu biết thêm về Ngài như một Môi-se mới và cao trọng hơn, và về Giăng Báp-tít như là Ê-li.

Mặt Chúa Jesus sáng lòa giống như mặt Môi-se đã sáng lòa sau khi gặp Đức Chúa Trời trên núi Si-nai (Xuất Ê-díp-tô Ký 34:29-30). Nhưng với tư cách là “Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta”, Chúa Jesus cao trọng hơn Môi-se; nên mặt Ngài sáng rực “như mặt trời”.

Phi-e-rơ một lần nữa gọi Chúa Jesus là “Lạy Chúa”, và ba môn đồ sấp mặt xuống đất vì quá sợ hãi. Trên đường xuống núi, các môn đồ cũng cho thấy họ đã hiểu về sự chết và sống lại sắp đến của Ngài; và họ hiểu thêm rằng dù Ê-li vẫn phải đến và phục hồi mọi sự sau sự thương khó của Chúa Jesus (chưa đến), nhưng Ê-li cũng đã đến trong chức vụ của Giăng Báp-tít, mà những sự khổ nạn của Giăng đã báo trước những khổ nạn của Chúa Jesus.

8. Đức Tin Nhỏ
#

Sự hiểu biết ngày càng gia tăng của các môn đồ cần được bổ sung bằng đức tin lớn hơn; vì thế, câu chuyện tiếp theo về phép đuổi quỷ dưới chân núi - nơi Chúa Jesus hóa hình - kết thúc bằng lời quở trách của Ngài về sự ít đức tin. Đọc Ma-thi-ơ 17:14-20.

Một lần nữa Chúa Jesus báo trước về sự chết và sống lại của Ngài. Nỗi buồn sâu sắc của các môn đồ về lời tiên tri này cho thấy họ hiểu điều đó. Đọc Ma-thi-ơ 17:22-23.

9. Đồng Xu của Phi-e-rơ
#

Đọc Ma-thi-ơ 17:24-27

Chính quyền La Mã áp một loại thuế hằng năm trên những người nam Do Thái từ mười chín tuổi trở lên, bất kể họ sống ở đâu, kể cả trong vùng tản lạc (Diaspora, bên ngoài Palestine), để duy trì Đền thờ và các dịch vụ liên quan đến Đền thờ.

Phi-e-rơ hiểu rằng Chúa Jesus vẫn đóng thuế, nhưng ông càng hiểu thêm từ Ngài rằng cả ông và Chúa Jesus đều được miễn trừ thuế này, nhưng để tránh gây vấp phạm cho những người Do Thái khác, họ vẫn sẽ đóng thuế. Đồng bạc (stater) được tìm thấy trong miệng cá có giá trị bằng hai đồng đa-riếc (drachma), do đó đủ để trả thuế cho cả Phi-e-rơ lẫn Chúa Jesus.

Lập luận về sự miễn trừ - đó là các vua không đánh thuế các con trai mình - ngụ ý rằng Chúa Jesus và Phi-e-rơ (cùng các môn đồ khác) thuộc về hoàng tộc của vương quốc, mà Vua của vương quốc ấy sở hữu Đền thờ mà khoản thuế hiện tại đang được thu để phục vụ.

(Hình 9: Đồng bạc nộp thuế)

D’. Phần Giảng Luận: Bài Giảng về Cộng Đồng Cơ Đốc
#

Đọc Ma-thi-ơ 18:1-35.

Bài giảng thứ tư của Chúa Jesus trong sách Ma-thi-ơ bàn về cộng đồng Cơ Đốc. Vương quốc thiên đàng cung cấp khuôn khổ cho cộng đồng này. Điều kiện để vào nước thiên đàng là một người phải được biến đổi và trở nên như con trẻ (Ma-thi-ơ 18:1-3). Sự khiêm nhường định nghĩa thế nào là trở nên như con trẻ (18:4).

Tiếp nhận một môn đồ có tấm lòng như con trẻ chính là tiếp nhận chính Chúa Jesus (Ma-thi-ơ 18:5). Nhưng nếu gây cho một trong những người nhỏ bé này (tức là các môn đồ có tấm lòng như con trẻ) vấp ngã (có lẽ ý nói đến sự bội đạo, từ bỏ đức tin Cơ Đốc) thì sẽ chuốc lấy sự phán xét cho chính mình (18:6-7). Bạn cũng cần tự kỷ luật chính mình để khỏi sa vào chỗ vấp ngã (một lần nữa, có lẽ là khỏi sự bội đạo, 18:8-9).

Cha Thiên Thượng muốn những người nhỏ bé (tức môn đồ) trong Hội Thánh bị lạc (tức phạm tội) không bị cộng đồng Cơ Đốc khinh dể, nhưng được phục hồi (nếu có thể), thông qua sự khiển trách một cách cá nhân, kỷ luật trong Hội Thánh, và sự cầu nguyện (18:10-20; so sánh với các quy tắc tương tự cho đời sống cộng đồng tại Qumran).

Cụm từ “các thiên sứ của họ ở trên trời” (Ma-thi-ơ 18:10) thường được dùng để xây dựng giáo lý về thiên sứ hộ mệnh, nhưng những thiên sứ hộ mệnh dường như cần phải đồng hành với người mình bảo vệ, chứ không phải chỉ ở trên trời.

Đọc thêm: QUY TẮC CỘNG ĐỒNG QUMRAN

“Không ai được phép buộc tội người đồng đạo trước mặt Cộng Đồng [một thuật ngữ chỉ toàn thể cộng đồng Qumran] trừ phi trước đó đã khiển trách người ấy trước mặt các nhân chứng” (Quy Tắc Cộng Đồng 6:1).

SỰ THA THỨ

Bảy mươi lần bảy” (một cách dịch khác là “bảy mươi nhân bảy”) có nghĩa là không giới hạn số lần (hãy đối chiếu sự tha thứ này với sự báo thù gấp bảy mươi bảy lần mà La-méc đã khoe khoang trong Sáng-thế Ký 4:24). “Mười nghìn” là con số lớn nhất trong tiếng Hy Lạp, “ta-lâng” (talent) là đơn vị tiền tệ cao nhất. Mười nghìn ta-lâng tương đương với thu nhập của một người lao động chân tay trong hơn mười lăm năm.

Việc một vị vua cho một đầy tớ vay một số tiền lớn như vậy là điều không tưởng, nhấn mạnh món nợ tội lỗi khổng lồ mà con người mắc phải với Đức Chúa Trời, và khiến cho đề nghị trả nợ bằng cách bán vợ và con của người đầy tớ trở nên mỉa mai (cũng như gây sốc, vì người Do Thái cấm bán vợ), cũng như lời hứa của anh ta sẽ trả lại mọi thứ (nếu vua đồng ý kiên nhẫn chờ) thật lố bịch. Ơn tha thứ món nợ của nhà vua thật rộng lượng, còn việc người đầy tớ bóp cổ và bỏ tù một người bạn của anh ta để đòi lại một món nợ tương đối nhỏ (một trăm đơ-ni-ê [denarii], tương đương với tiền công khoảng bốn tháng) thật tàn nhẫn.

Hình phạt mà nhà vua dành cho người đầy tớ không biết tha thứ tượng trưng cho sự trừng phạt đời đời và ngụ ý rằng một môn đồ không thực lòng tha thứ cho anh em mình là một kẻ đạo đức giả. Cụm từ “cho đến khi người ấy trả hết cả món nợ” ngụ ý sự vĩnh viễn của hình phạt, vì người đầy tớ không biết tha thứ đó không thể trả hết nợ.

Con người không thực sự ăn năn về tội lỗi của chính mình với Đức Chúa Trời, nếu họ không tha thứ cho những tội lỗi của người khác đối với họ. Sự tha thứ vừa phải được thực hành, vừa phải được đón nhận. Không thực hành sự tha thứ không chỉ cho thấy sự thất bại trong việc trân trọng lòng thương xót của Đức Chúa Trời, mà còn là sự thất bại trong việc nhận lấy lòng thương xót ấy.

C’. Phần Tường Thuật
#

1. Ly dị, Tái Hôn, và Người Hoạn
#

Đọc Ma-thi-ơ 19:1-12.

Trên đường xuống Giê-ru-sa-lem, Chúa Jesus đi qua vùng phía nam của bờ Đông sông Giô-đanh (Transjordan) - nơi một số người Pha-ri-si thử Ngài về một vấn đề giải nghĩa mà các ra-bi của họ đang tranh luận: Luật pháp Môi-se có cho phép một người đàn ông ly dị vợ mình, vì bất kỳ lý do gì không (theo Trường phái Ra-bi Hillel), hay chỉ khi vợ phạm tội tà dâm (theo Trường phái Ra-bi Shammai; xem Phục-truyền 24:1, đặc biệt là cụm từ gây tranh cãi “vì cớ nơi nàng có sự xấu hổ nào”). Trong khi những người Pha-ri-si nói rằng Môi-se truyền lệnh phải ly dị, thì Chúa Jesus nói Môi-se chỉ cho phép mà thôi.

Phản ứng của các môn đồ rằng lời dạy của Chúa Jesus khiến người ta tốt hơn hết đừng lấy vợ (câu 10), cho thấy họ hiểu rằng Ngài chỉ cho phép ngoại lệ về tội tà dâm đối với việc ly dị, chứ không phải đối với việc tái hôn (so sánh với Ma-thi-ơ 5:31-32, nơi việc người chồng tái hôn không được đề cập, dù có nói đến ngoại lệ về tội tà dâm của người vợ). Nếu đúng vậy và nếu họ hiểu Chúa Jesus một cách chính xác, thì Ngài đang định nghĩa lại việc ly dị là sự chấm dứt hôn nhân mà không có quyền tái hôn.

Trong bối cảnh đó, Chúa Jesus tiếp tục đưa ra sự dạy dỗ về “người hoạn”:

  1. “Người sinh ra đã như vậy”: Chỉ những người từ khi sinh ra đã không có khả năng kết hôn hoặc sinh sản vì lý do thể chất tự nhiên.
  2. “Người bị kẻ khác làm ra như vậy”: Chỉ những người bị thiến do tay người khác (thường là nô lệ hoặc quan chức trong hoàng cung).
  3. “Người tự hoạn lấy vì nước thiên đàng”: Dường như mô tả cuộc sống độc thân của một người đàn ông đã ly dị vợ vì tội tà dâm của người vợ, và vì cớ vương quốc thiên đàng, ông không tái hôn. Sự “hoạn” ở đây được hiểu theo nghĩa ẩn dụ chỉ về chức năng xã hội và tình dục (từ bỏ quyền kết hôn), chứ không phải là sự cắt bỏ thể xác.

2. Sự Trọn Vẹn
#

Đọc Ma-thi-ơ 19:13-26

Cũng như phần tường thuật trước (tiếp tục chủ đề về đời sống cộng đồng mà Bài giảng trong chương 18 tập trung), một chủ đề khác về đời sống cộng đồng lại xuất hiện trong phần tường thuật này: việc tiếp nhận trẻ em vào Hội Thánh. Sự quở trách của các môn đồ đối với những trẻ em đến với Chúa Jesus bắt nguồn từ thái độ coi thường trẻ em nói chung trong xã hội cổ đại.

Đối lập với hình ảnh những đứa trẻ đến với Chúa Jesus là một thanh niên giàu có đã rời bỏ Ngài. “Nếu ngươi muốn được trọn vẹn” cũng có nghĩa là “nếu ngươi muốn được trưởng thành”, và ngụ ý đối lập với tuổi trẻ của người giàu đó. Sự trọn vẹn hay trưởng thành này đề cập đến sự môn đồ hóa nói chung, chứ không phải một cấp độ môn đồ cao hơn bình thường.

Đọc thêm: QUAN ĐIỂM THỜI CỔ ĐẠI VỀ TRẺ EM

Cha mẹ yêu thương con cái, nhưng trẻ em nằm ở một cấp bậc thấp trong xã hội. Sáu lần sách Mishnah xếp “trẻ em” vào cùng hạng với “người câm điếc” và “người đần độn” (Eruvin 3:2; Bava Qamma 4:4; 6:2, 4), và ba lần chung với “phụ nữ” và “nô lệ” (Sukkah 2:8; 3:10; Sheqalim 1:3, ở đây đối lập với tầng lớp “người Lê-vi, người Y-sơ-ra-ên, người ngoại đã cải đạo và chính thức gia nhập vào Do Thái giáo, và nô lệ được tự do”).

3. Những Người Sau Chót
#

Đọc Ma-thi-ơ 19:27-20:16

Trái ngược với người thanh niên giàu có đã rời đi, Phi-e-rơ ghi nhận rằng, ông và các môn đồ khác đã từ bỏ mọi sự để theo Chúa Jesus. Sau đó, Phi-e-rơ hỏi họ sẽ được đền bù như thế nào. Câu trả lời của Chúa Jesus không hề khiển trách, mà Ngài chấp nhận lời ghi nhận của Phi-e-rơ một cách khách quan, và hứa rằng khi dân Y-sơ-ra-ên được đổi mới, Mười Hai Sứ Đồ sẽ ngồi trên ngai để đoán xét mười hai chi phái.

Lời hứa của Chúa Jesus với Mười Hai Sứ Đồ xem họ là “những người đầu tiên”, tức những môn đồ người Do Thái. Vậy thì “những người sau chót” dường như ám chỉ các tín hữu Dân Ngoại sẽ được môn đồ hóa vào thời điểm muộn hơn (so sánh với sự mở rộng trong chương 10 từ việc truyền giáo cho người Do Thái đến việc truyền giáo bao gồm cả dân ngoại, và trong Ma-thi-ơ 28:18-20, Chúa Jesus sai các sứ đồ đi môn đồ hóa mọi dân tộc). Như vậy, toàn bộ phân đoạn này dạy rằng những tín hữu người Do Thái là những người đến trước phải vui lòng chấp nhận những tín hữu ngoại bang đến sau vào cộng đồng của Chúa Jesus.

ẨN DỤ VỀ NHỮNG NGƯỜI LÀM CÔNG TRONG VƯỜN NHO

Trong ẩn dụ về người làm công trong vườn nho, “giờ thứ ba” là ba giờ sau bình minh (tức 9 giờ sáng), “giờ thứ sáu” là sáu giờ sau bình minh (tức 12 giờ trưa), và cứ thế. Những người được thuê vào “giờ thứ mười một” (tương đương 5 giờ chiều) chỉ làm việc một giờ. Một “đơ-ni-ê” (denarius) tượng trưng cho tiền công tiêu chuẩn một ngày của một người lao động chân tay.

Vì trả lương theo ngày (tức ngày nào cũng là ngày phát lương), nên chủ vườn ra lệnh cho người quản lý phát tiền công cho các nhân công - ai nấy đều nhận được đủ một ngày lương, nhưng theo thứ tự ngược, người vào làm sau chót được trả tiền trước. Thông thường, những người làm cả ngày sẽ được trả lương trước, và rời đi trước khi thấy những người đến sau cũng nhận được số tiền tương đương. Nhưng Chúa Jesus đưa vào một chi tiết không thực tế, để làm nổi bật ý nghĩa của ẩn dụ trong cuộc tranh luận nảy sinh: cũng như người chủ không bất công với những người đã làm việc cả ngày (họ nhận đủ tiền công theo thỏa thuận), và rộng lượng với những người đến sau để họ có thể nhận được một mức lương đủ sống (ít hơn thì sẽ không đủ sống), thì Đức Chúa Trời cũng ban ân điển của Ngài cho những kẻ hoàn toàn không đáng nhận, xuất phát từ sự hào phóng vô cùng của Ngài mà thôi.

(Hình 10: Một vườn nho xứ Do Thái)

4. Sự Vào Thành Cách Khải Hoàn và Sự Dẹp Sạch Việc Buôn Bán trong Đền Thờ
#

Đọc Ma-thi-ơ 20:17-21:17

Chủ đề về cộng đồng Cơ Đốc được tiếp tục với những câu chuyện kể về việc tiếp nhận những người mù, người què, và trẻ em. Phân đoạn này bắt đầu với việc Chúa Jesus đi xuống thành Giê-ru-sa-lem và kết thúc khi Ngài đến nơi. Một lần nữa, Ngài báo trước về sự chết và sự sống lại của mình (Ma-thi-ơ 20:17-19). Chúa Jesus đáp lại lời thỉnh cầu về địa vị vinh dự đặc biệt mà mẹ của Gia-cơ và Giăng cầu xin Ngài, bằng cách chỉ ra sự phục vụ của Ngài dành cho người khác (20:20-28). Chúa Jesus minh họa cho sự phục vụ này bằng việc chữa lành cho hai người mù (20:29-34), vào thành Giê-ru-sa-lem cùng Đền thờ để chữa lành cho người mù và người què, cũng như bênh vực những trẻ em ca ngợi Ngài tại đó.

Hãy so sánh hai người mù trong Ma-thi-ơ 20:29-34 với hai người mù trong 9:27-31. Có phải Ma-thi-ơ đang kể lại cùng một câu chuyện để nhấn mạnh? Câu chuyện thứ nhất là để nhấn mạnh quyền năng của Chúa Jesus; câu chuyện hiện tại, phù hợp với chủ đề bao trùm về cộng đồng Cơ Đốc, nhấn mạnh lòng thương xót của Ngài.

Câu chuyện về sự vào thành một cách vinh hiển nhấn mạnh sự nhu mì của Chúa Jesus — một lần nữa phù hợp với chủ đề bao trùm về cộng đồng Cơ Đốc — nhưng đồng thời cũng nhấn mạnh vương quyền của Ngài, bởi trích dẫn từ Ê-sai 62:11 và Xa-cha-ri 9:9 được ứng nghiệm qua việc Ngài sử dụng hai con vật (lừa mẹ và lừa con) và sự tán dương của đám đông rằng Chúa Jesus là “Con vua Đa-vít”. Dân chúng mong đợi vị vua Mê-si sẽ tỏ mình ra vào mùa Lễ Vượt Qua, giống như ở đây; và Xa-cha-ri 14:1-11 tiên tri về việc Chúa thiết lập vương quốc của Ngài từ Núi Ô-li-ve, chính là điểm khởi đầu cho cuộc vào thành một cách vinh hiển của Chúa Jesus.

Chúa Jesus cũng hành động với tư cách là một tiên tri khi Ngài thanh tẩy Đền thờ và chữa lành cho người mù, kẻ què ngay bên trong Đền thờ (hãy đối chiếu với việc họ không được vào Đền thờ trong 2 Sa-mu-ên 5:8). Sự kiện này còn chứa đựng thêm nhiều trích dẫn từ Cựu Ước, cụ thể là từ Thi-thiên 118:26-27; Ê-sai 56:7; Giê-rê-mi 7:11; Thi-thiên 8:2 (tất cả, ngoại trừ cái cuối, cũng đều được ghi lại trong một hoặc nhiều sách Phúc Âm khác).

5. Sự Phán Xét trên Các Lãnh Đạo Do Thái
#

Đọc Ma-thi-ơ 21:18-22:14.

Việc thuật lại sự kiện Chúa Jesus khiến cây vả bị rủa sả và héo khô (Ma-thi-ơ 21:18-22) nằm xen giữa hai cuộc đối đầu của Ngài với các thành viên của Tòa Công Luận (21:15-17; 23:1-39) khiến cho số phận của cây vả trở thành biểu tượng cho sự phán xét sắp đến của Đức Chúa Trời trên các lãnh đạo Do Thái. Trong cuộc đối đầu tiếp theo, Chúa Jesus kể ba ẩn dụ để lên án những nhà lãnh đạo đó. Họ giống như (1) người con nói sẽ làm việc cho cha, nhưng rồi không làm (21:28-32), (2) những tá điền giết con trai của chủ vườn nho (21:33-46), và (3) những kẻ từ chối lời mời dự tiệc cưới, vì chỉ lo các hoạt động của riêng mình, ngược đãi và giết những sứ giả mang lời mời, rồi nhận lấy sự phán xét hủy diệt thích đáng (22:1-14).

Sự hỗn xược của người con lúc đầu từ chối vâng lời cha thể hiện ở chỗ: anh ta không dùng từ xưng hô tôn kính “Thưa cha”; trong khi người con nói sẽ vâng lời thì có dùng. Đối lập với người thứ hai - nói vâng lời nhưng cuối cùng không làm - là người con thứ nhất biết ăn năn và cuối cùng đã vâng lời. Người con thứ nhất đại diện cho những người thu thuế và gái mại dâm đang được vào nước Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 21:32).

Sự hủy diệt những tá điền đi kèm với việc vương quốc của Đức Chúa Trời được “chuyển cho một dân tộc khác là dân sẽ có kết quả” (Ma-thi-ơ 21:43), nghĩa là được chuyển cho Hội Thánh, được mô tả như một dân tộc được chọn mới.

Những người xấu và người tốt được gom lại vào trong tiệc cưới tượng trưng cho các môn đồ giả và môn đồ thật (Ma-thi-ơ 22:10), và người đàn ông không mặc áo lễ nổi bật lên như một đại diện cho môn đồ giả. “Áo lễ” có lẽ là một bộ áo mới được giặt sạch, tượng trưng cho những việc lành như là bằng chứng cho thấy một môn đồ chân chính. Sự kiểm tra của vua tượng trưng cho Sự Phán Xét Cuối Cùng. “Nhiều người được gọi” là đám đông trong một Hội Thánh lớn có sự pha trộn; còn “ít người được chọn” là những người được chứng minh là môn đồ thật.

6. Những Câu Chất Vấn
#

Phần mở đầu cho câu hỏi về việc nộp thuế cho Sê-sa cho thấy điểm nhấn mạnh của Ma-thi-ơ: ác ý của người Pha-ri-si nhằm gài bẫy Chúa Jesus để Ngài nói điều gì đó mà họ có thể dùng chống lại Ngài. Đọc Ma-thi-ơ 22:15-22.

Phần kết luận cho câu hỏi của người Sa-đu-sê về sự sống lại cho thấy điểm nhấn mạnh của Ma-thi-ơ: tác động vượt trội của sự dạy dỗ từ Chúa Jesus. Đọc Ma-thi-ơ 22:23-33.

Phần mở đầu cho câu hỏi về điều răn lớn nhất trong luật pháp cho thấy điểm nhấn mạnh của Ma-thi-ơ: âm mưu của người Pha-ri-si chống lại Chúa Jesus và vai trò thuộc về Sa-tan của một trong những thầy dạy luật của họ trong việc thử (tức cám dỗ) Ngài (so sánh với Mác 1:13). Đọc Ma-thi-ơ 22:34-40.

Phần kết luận cho câu hỏi về thân phận con cháu Đa-vít của Đấng Christ cho thấy điểm nhấn mạnh của Ma-thi-ơ: chiến thắng của Chúa Jesus trong cuộc tranh luận. Đọc Ma-thi-ơ 22:41-46.

B’. Phần Giảng Luận: Bài Giảng trên Núi Ô-li-ve
#

Các chương 23-25 cấu thành Bài giảng lớn thứ năm và cũng là cuối cùng của Chúa Jesus trong sách Ma-thi-ơ. Bài giảng này tương ứng với bài giảng đầu tiên - Bài Giảng Trên Núi - về các phương diện:

  • Độ dài của bài giảng
  • Bài giảng gắn liền với một ngọn núi
  • Chúa Jesus ngồi xuống ở tư thế của một giáo sư (cũng thế trong bài giảng thứ hai ở chương 13:1)
  • Sự tương phản giữa những lời “khốn cho” ở đây và những lời “phước cho” trong Bài Giảng trên Núi
  • Cả hai bài giảng đều có cảnh kết thúc bằng sự phán xét, trong mỗi cảnh đều có những kẻ bị phán xét gọi Chúa Jesus là “Chúa

1. Sự Phô Trương Tôn Giáo
#

Đọc Ma-thi-ơ 23:1-12.

Xuyên suốt Bài Giảng trên Núi Ô-li-ve là một âm điệu cảnh báo.

Bài giảng bắt đầu với việc cấm sử dụng các danh hiệu tôn kính trong Hội Thánh. Lệnh cấm này, liên quan đến đời sống Hội Thánh, được thể hiện qua việc nhắc đến Đấng Christ là Đấng dạy dỗ duy nhất của các thính giả và họ là anh em trong gia đình của Cha Thiên Thượng.

Ngồi trên ngai của Môi-se” chỉ chiếc ghế trong nhà hội mà các thầy thông giáo ngồi khi giải nghĩa luật pháp Môi-se. Chúa Jesus phán, trong phạm vi họ truyền đạt luật pháp đó, hãy làm theo những gì họ nói. Nhưng đừng noi theo gương họ trong việc làm vi phạm luật pháp. “Những gánh nặng” mà họ chất lên vai người ta không phải là những lời giải thích luật pháp, vì chính Chúa Jesus đã đánh giá những lời giải thích của họ là quá nhẹ (Ma-hi-ơ 5:20; 15:3-9). “Những gánh nặng” ở đây chính là việc các thầy thông giáo và người Pha-ri-si đòi hỏi sự công nhận từ con người (23:5-7).

Những hộp đựng kinh” (phylacteries) mà họ làm cho rộng ra để phô trương tôn giáo là những vật có khắc các câu trong luật pháp Môi-se, được đeo trên tay và trán (so sánh Xuất Ê-díp-tô Ký 13:9, 16; Phục-truyền 6:8; 11:18). “Những tua áo” mà họ làm cho dài ra để phô trương tôn giáo là những sợi dây màu xanh lam mà Môi-se truyền phải đính vào bốn góc áo để nhắc nhở về luật pháp (Dân-số Ký 15:38-39; Phục-truyền 22:12). Như đã đề cập trước đó, từ “Ra-bi” (Ma-thi-ơ 23:8) có nghĩa là “đấng tôn trọng của tôi” (bản Kinh Thánh tiếng Việt dịch là “thầy”).

Đọc thêm:

“Vậy, hãy cất để trong lòng và trong trí mình những lời ta nói cùng các ngươi, đeo nó như một dấu nơi tay, như một ấn chí giữa hai con mắt.” (Phục-truyền 11:18)

“Hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên và biểu họ từ đời nầy sang đời kia hãy làm một cái tua nơi các chéo áo mình, và trên mỗi tua kết một sợi dây màu điều. Các ngươi phải mang cái tua nầy; khi thấy nó các ngươi sẽ nhớ lại hết thảy điều răn của Đức Giê-hô-va mà làm theo, không theo tư dục của lòng và mắt mình, là điều làm cho các ngươi sa vào sự thông dâm.” (Dân-số Ký 15:38-39).

(Hình 11: Hộp đựng kinh - Phylacteries )

(Hình 12: Những người đàn ông Do Thái đeo hộp đựng kinh trong lúc cầu nguyện tại Bức tường phía Tây, Jerusalem, năm 2003.)

(Hình 13: “Ngai của Môi-se” trong một nhà hội Do Thái ở Chorazin)

2. Sự Khiển Trách Các Thầy Thông Giáo và Người Pha-ri-si
#

Đọc Ma-thi-ơ 23:13-39

Tiếp theo là bảy lời “khốn cho” nhắm vào các thầy thông giáo và người Pha-ri-si vì sự đạo đức giả của họ - có nghĩa là hành động một cách giả tạo - và một lời than khóc của Chúa Jesus về thành Giê-ru-sa-lem.

Đằng sau lời dạy của các thầy thông giáo và người Pha-ri-si về lời thề là lý lẽ cho rằng: một chủ nợ không thể đặt quyền sở hữu lên Đền thờ hoặc bàn thờ, vì Đền thờ và bàn thờ thuộc về Đức Chúa Trời. Do đó, chúng không đảm bảo cho lời thề, nên nếu một con nợ thề nhân danh Đền thờ hay bàn thờ để trả nợ cho chủ nợ, thì lời thề đó là vô nghĩa: người chủ nợ không có quyền tịch thu Đền thờ hay bàn thờ nếu con nợ không trả. Nhưng nếu con nợ thề nhân danh số vàng mà hắn đã biệt riêng ra để dâng cho Đền thờ hay bàn thờ trong tương lai và không trả nợ, thì chủ nợ có thể tịch thu số vàng đó. Theo Chúa Jesus, việc đặt ra sự phân biệt như vậy là dung túng cho những lời thề dối trá.

Bạc hà, hồi hương, rau cần” là những loại rau thơm nhỏ được dùng để làm gia vị và làm thuốc. “Con ruồi” và “con lạc đà” là sinh vật nhỏ nhất và lớn nhất trong số các con vật quen thuộc trong đời sống tại Palestine, và cả hai đều bị xem là ô uế theo luật pháp Môi-se. Người Pha-ri-si lọc rượu qua một miếng vải hoặc một cái rổ lọc nhỏ để đảm bảo họ không nuốt phải côn trùng ô uế khi uống rượu. Ở đây, việc “lọc con ruồi” tượng trưng cho việc thực hiện những bổn phận nhỏ nhặt để được tiếng là ngoan đạo; còn việc “nuốt con lạc đà” tượng trưng cho việc né tránh những bổn phận lớn để tránh phải hy sinh lợi ích cá nhân đi kèm.

Lời tuyên bố: “Hãy làm cho đầy cái lường của tổ phụ các ngươi đi!” (Ma-thi-ơ 23:32) là một mệnh lệnh mỉa mai: “Cứ việc giết Ta đi, như các ngươi sắp làm. Các ngươi đang bắt chước những tổ phụ là sát nhân của mình, chứ không phải từ bỏ họ như các ngươi đang giả vờ làm.”

Vì chính Chúa Jesus là Đấng sai phái các tiên tri, người khôn ngoan, và thầy thông giáo được nhắc đến trong Ma-thi-ơ 23:34, nên những người được sai đi này không ai khác hơn là các môn đồ của Ngài, được mô tả trong vai trò đó. Cụm từ “Từ máu của A-bên là người công chính cho đến máu của Xa-cha-ri” có nghĩa là “từ người tử đạo đầu tiên đến người tử đạo cuối cùng trong Cựu Ước”, bởi vì Kinh Thánh Hê-bơ-rơ bắt đầu bằng Sáng-thế Ký (nói về sự tử đạo của A-bên) và kết thúc bằng 2 Sử-ký (nói về sự tử đạo của Xa-cha-ri, 2 Sử-ký 24:20-22).

Nhà của các ngươi” (Ma-thi-ơ 23:38) có thể ám chỉ Đền thờ, báo trước việc Chúa Jesus rời bỏ nó và về sự hủy diệt Đền thờ (24:1-2). Tuy nhiên, đây không phải là sự từ bỏ vĩnh viễn, thay vào đó, Chúa Jesus nói tiếp rằng: “Vì, ta bảo, các ngươi sẽ không thấy ta nữa, cho đến lúc các ngươi sẽ nói rằng: Phước cho Đấng nhân danh Chúa mà đến!” Những người hành hương từ Ga-li-lê đã reo lên: “Phước cho Đấng nhân danh Chúa mà đến!” khi Chúa Jesus tiến vào thành Giê-ru-sa-lem (21:9). Còn cư dân Giê-ru-sa-lem cũng sẽ reo mừng tương tự khi Chúa Jesus tái lâm trong tương lai, ngụ ý về một sự tiếp đón vui mừng và một sự thay đổi tấm lòng (hãy so sánh với sự tái sinh của dân Y-sơ-ra-ên được nhắc đến trong 19:28; xem thêm Rô-ma 11:25-27).

3. Những Điều Không Phải là Dấu Hiệu
#

Ma-thi-ơ sử dụng một công thức văn học rất nhất quán. Một sự kiện hoặc một lời dạy trong phần tường thuật sẽ khơi gợi một câu hỏi từ các môn đồ. Chính câu hỏi này đóng vai trò như một cái móc, một sự chuyển mạch để giới thiệu và dẫn dắt vào những bài giảng quan trọng nhất của Chúa Jesus. Việc lặp lại cấu trúc này giúp độc giả dễ dàng nhận ra và theo dõi các giáo lý trọng tâm của sách. Câu hỏi trong Ma-thi-ơ 24:1, 3 có vai trò tương tự như những câu hỏi trong 13:10; 18:21.

Đọc Ma-thi-ơ 24:1-14.

Các môn đồ hỏi Chúa Jesus không chỉ về (1) thời điểm Đền thờ bị phá hủy, mà còn về (2) dấu hiệu của sự hiện đến (parousia - một từ Hy Lạp thường được giữ nguyên trong tiếng Anh để chỉ sự tái lâm của Chúa Jesus) và (3) dấu hiệu của sự tận thế. Câu trả lời của Ngài bắt đầu bằng một lời tiên tri về những sự kiện sẽ KHÔNG báo hiệu cho sự hiện đến và sự tận thế.

Các đấng christ giả, chiến tranh, nạn đói, động đất, và những điều tương tự thuộc về diễn biến bình thường của lịch sử. Đặc biệt đáng chú ý là sự bội đạo, sự phản nghịch, sự buông thả, và không có tình yêu thương trong Hội Thánh vì bị bắt bớ. Để cứu lấy mạng sống, một số người sẽ từ bỏ đức tin Cơ Đốc của mình. Những người khác sẽ lấy lòng những kẻ bắt bớ bằng cách phản bội các môn đồ khác. Những người khác nữa sẽ sống buông thả hết mức để tránh không bị nhận ra là Cơ Đốc nhân. Và sự nghi ngờ lẫn nhau trong Hội Thánh sẽ làm nguội lạnh tình yêu thương dành cho nhau. Dầu vậy, sự bắt bớ sẽ có tác dụng tích cực là phân tán các người truyền giáo ra khắp thế giới.

4. Những Dấu Hiệu
#

Đọc Ma-thi-ơ 24:15-31.

Giờ đây, Chúa Jesus cho biết điều gì sẽ báo hiệu cho sự hiện đến của Ngài và sự tận thế.

Việc bắt buộc phải chạy trốn khỏi sự tàn phá gớm ghiếc trong ngày Sa-bát sẽ gây ra khó khăn và nguy hiểm. Vì trong ngày Sa-bát người ta không làm việc; vì thế, những người chạy trốn sẽ dễ bị phát hiện và bị bắt.

Để bác bỏ những tuyên bố của các tiên tri giả rằng họ đã có những cuộc gặp gỡ riêng tư với Đấng Christ ở nơi hoang vắng, hoặc trong những chỗ ẩn náu bí mật trong thành, sự nhấn mạnh của Chúa Jesus đặt vào tính phổ quát - ai cũng thấy được sự hiện đến của Ngài (universal visibility). Sự kiện đó sẽ diễn ra trên bầu trời, nơi mọi người sẽ thấy Ngài một cách dễ dàng như họ thấy những con kền kền xoay quanh một xác chết.

Điềm của Con Người” (Ma-thi-ơ 24:30) khác với “dấu hiệu của sự Chúa đến và của thời tận thế” (24:3). “Dấu hiệu của sự Chúa đến và của thời tận thế” vốn liên hệ đến sự tàn phá gớm ghiếc trong nơi thánh (24:15); trong khi “điềm của Con Người” ám chỉ đến sự hiện ra cho mọi người đều thấy của Chúa Giê-xu khi Ngài trở lại.

5. Sự Sẵn Sàng và Không Sẵn Sàng
#

Đọc Ma-thi-ơ 24:32-51.

Sau khi nhấn mạnh rằng sự trở lại của Ngài không phải là một sự kiện bí mật, mà sẽ rõ ràng và công khai, giờ đây Chúa Jesus áp dụng nguyên tắc “có thể nhìn thấy được” không chỉ cho chính thời điểm Ngài trở lại, mà còn cho những dấu hiệu báo trước sự kiện đó, được so sánh với việc cây vả đâm chồi. Chúa Jesus muốn các môn đồ của Ngài có khả năng nhìn thấy và nhận biết một cách rõ ràng rằng thời điểm của Ngài đang đến gần, thông qua các dấu hiệu Ngài mô tả.

Việc “ăn, uống, cưới [điều đàn ông làm] và gả [điều cha mẹ làm cho con gái]” không ám chỉ sự phàm ăn, say sưa, hay những cuộc hôn nhân liên tiếp, mà là những sinh hoạt thường ngày của con người cho thấy sự không ý thức được rằng Chúa Jesus sắp đến. Điều này cũng tương tự đối với việc đàn ông làm việc ngoài đồng và đàn bà xay cối.

Bất chấp nguy cơ chính mình cũng sẽ bị bắt bớ, các lãnh đạo Hội Thánh chân chính sẽ chăm sóc những người tị nạn vì bị bắt bớ, và sẽ nhận được phần thưởng xứng đáng. Các lãnh đạo Hội Thánh giả dối sẽ ngược đãi các môn đồ anh em mình, phung phí tài nguyên cho những thú vui ích kỷ của bản thân và bè phái, và sẽ nhận lấy sự trừng phạt thích đáng.

6. Ẩn Dụ về Mười Người Nữ Đồng Trinh
#

Đọc Ma-thi-ơ 25:1-13.

Chàng rể và bạn bè của anh ta đến nhà cô dâu để rước cô về nhà anh, là nơi diễn ra lễ tiệc cưới. Việc chú rể đến trễ đến tận nửa đêm có lẽ là do gia đình cô dâu cứ nài nỉ yêu cầu chú rể và gia đình anh ta phải tăng thêm sính lễ. Sự nài nỉ này cho thấy sự lưu luyến của gia đình cô dâu khi phải chia tay con gái mình, đồng thời cũng là một lời khen ngợi chú rể, hay đúng hơn là gia đình anh ta, đã chọn được một cô gái xuất sắc, xứng đáng với sính lễ lớn hơn. Đèn của mười trinh nữ có thể là những ngọn đuốc quấn giẻ cần được liên tục tẩm dầu, hoặc những bình lửa bằng đồng đựng nhựa đường, dầu, và giẻ để cháy, hoặc những chiếc đèn bằng đất nung có vòi, tim đèn, và dầu ô-liu làm nhiên liệu. Những cây đèn này cần phải được giữ cho cháy luôn, vì sẽ không dễ gì thắp chúng lên một cách vội vàng khi đám rước đến, nhưng năm trinh nữ dại dột đã không lường trước khả năng chú rể đến trễ, nên đã để hết dầu.

  • Mười trinh nữ = những người tự xưng là môn đồ Chúa Jesus
  • Năm cô dại = những môn đồ giả
  • Năm cô khôn = những môn đồ thật
  • Dầu đèn = những việc lành của môn đồ chứng minh sự sẵn sàng của họ cho sự trở lại của Chúa Jesus
  • Sự đến của chú rể = sự trở lại của Chúa Jesus
  • Việc các cô dại đi mua dầu và trở về quá trễ để vào dự tiệc = sự vô vọng của những kẻ bị bắt gặp trong tình trạng không sẵn sàng
  • Tiệc cưới = sự cứu rỗi cuối cùng

7. Ẩn Dụ về Các Ta-lâng
#

Đọc Ma-thi-ơ 25:14-30.

Ẩn dụ tiếp theo về các ta-lâng cũng dạy rằng những việc lành là bằng chứng của môn đồ chân thật. Ở đây, “ta-lâng” không phải là tài năng, mà là đơn vị tiền tệ lớn nhất (xem Ma-thi-ơ 18:24), tượng trưng cho những cơ hội được ban cho theo khả năng.

Người đầy tớ không chịu đầu tư ta-lâng duy nhất được giao đại diện cho những môn đồ giả. Lời nói của hắn trong Ma-thi-ơ 25:24 thực chất là nói rằng việc đầu tư sẽ chẳng mang lại lợi ích gì cho hắn, vì ông chủ sẽ lấy cả lợi nhuận lẫn vốn gốc. Tên đầy tớ này đã không xem xét đến khả năng được chia sẻ niềm vui với chủ (hình ảnh về phần thưởng đời đời) hoặc bị quăng ra ngoài (hình ảnh về sự trừng phạt đời đời).

8. Chiên và Dê
#

Đọc Ma-thi-ơ 25:31-46.

Bài giảng kết thúc với một sự nhấn mạnh nữa về những việc lành như là bằng chứng của môn đồ thật.

Do lông và thịt mà chúng cung cấp, chiên có giá trị hơn dê. Tại Palestine, chiên và dê thường gặm cỏ chung trong các bầy hỗn hợp vào ban ngày và sau đó phải được tách ra vào ban đêm, vì chiên thích không khí thoáng đãng nhưng dê cần hơi ấm của nơi trú ẩn. Ở đây, việc tách chiên khỏi dê tượng trưng cho việc tách những môn đồ thật khỏi phần còn lại của nhân loại trong Sự Phán Xét Cuối Cùng. Những việc làm nhân đạo của “chiên” đại diện cho sự chăm sóc dành cho những môn đồ của Chúa Jesus đang bị bắt bớ, được Ngài gọi là “những anh em hèn mọn nhất của Ta” (xem cách Chúa Giê-xu chỉ dùng từ “nhỏ” và “anh em” để chỉ các môn đồ của Ngài trong Ma-thi-ơ 5:22, 23, 24, 47; 7:3, 4, 5; 10:21, 42; 11:11; 12:48, 49, 50; 18:6, 10, 14, 15, 21, 35; 23:8, và cũng xem việc Ngài đồng hóa chính mình trong 10:40 chỉ với những môn đồ túng thiếu của Ngài). Một lần nữa, việc làm tốt này chứng tỏ ai là môn đồ thật, vì nó sẽ khiến người đó phải đối mặt với sự bắt bớ (so sánh với 24:10-12).

(Hình 14: Một đàn dê và chiên hỗn hợp)

A’. Phần Tường Thuật
#

1. Âm Mưu và Sự Xức Dầu
#

Đọc Ma-thi-ơ 26:1-5.

Phần tường thuật về cuộc thương khó của Chúa Jesus trong sách Ma-thi-ơ bắt đầu bằng lời tuyên bố của Ngài rằng các môn đồ biết rằng còn hai ngày nữa là đến Lễ Vượt qua, và Ngài sẽ bị nộp để chịu đóng đinh. Sau đó, Ma-thi-ơ xác định sân (hoặc dinh thự) của Cai-phe - thầy tế lễ thượng phẩm - là nơi Tòa Công Luận nhóm lại để âm mưu giết Chúa Jesus.

Đọc Ma-thi-ơ 26:6-16.

Trong câu chuyện về sự xức dầu cho Chúa Jesus, Ma-thi-ơ xác định những người chất vấn về việc xức dầu là các môn đồ, để qua đó, câu trả lời của Chúa Jesus (1) thêm vào sự hiểu biết của họ, và (2) việc Giu-đa Ích-ca-ri-ốt đi thỏa thuận với Tòa Công Luận trở thành một phản ứng chống lại câu trả lời của Chúa Jesus. Trong thỏa thuận nộp Chúa Jesus cho Tòa Công Luận, các thành viên Tòa Công Luận đã trả tiền cho Giu-đa ngay tại chỗ.

2. Lễ Vượt Qua
#

Đọc Ma-thi-ơ 26:17-25.

Bằng cách đề cập đến “các môn đồ” mà không nói rõ chỉ có hai người trong số họ (Ma-thi-ơ 26:17), Ma-thi-ơ biến sự vâng lời của hai người tuân theo chỉ dẫn của Chúa Jesus trong việc chuẩn bị Lễ Vượt Qua thành một gương mẫu về sự vâng lời nói chung của các môn đồ chân chính. Câu 26:19a nhấn mạnh sự vâng lời này: “Các môn đồ làm y như lời Chúa Jesus đã dặn” (so sánh với 21:6).

Khi Chúa Jesus tuyên bố rằng một trong mười hai sứ đồ sẽ phản Ngài, chính kẻ phản bội — Giu-đa Ích-ca-ri-ốt — lại hỏi: “Thưa Thầy, có phải con không?” Môn đồ giả mạo! Câu trả lời ngụ ý phủ định và cách xưng hô tôn kính cho thấy sự giả hình của hắn. Ba mươi miếng bạc đã kêu leng keng trong túi hắn rồi. Câu trả lời của Chúa Jesus, “Chính ngươi nói đó!”, khiến lời Giu-đa vừa nói đã tự kết tội chính hắn.

3. Những Lời Thiết Lập
#

Đọc Ma-thi-ơ 26:26-29.

Mệnh lệnh ăn bánh và uống chén nhấn mạnh nghĩa vụ của các môn đồ và tạo thành những lời thiết lập (words of institution), vì chính những mệnh lệnh này đã thiết lập thực hành Cơ Đốc về việc dự Tiệc Thánh của Chúa, còn được gọi là giữ Lễ Hiệp Thông (Communion) hay cử hành Bí Tích Thánh Thể (Eucharist) (“tạ ơn”). Chúa Jesus không nói các môn đồ phải uống cạn rượu, mà là tất cả họ phải uống chén đó.

Việc giải thích sự đổ huyết của Chúa Jesus là “để tha tội” là một lý do chính đáng để ăn mừng. Cụ thể hơn, rượu nho đỏ trong chén tượng trưng cho huyết của Ngài, là nền tảng của một giao ước mới, đối lập với giao ước Môi-se vốn dựa trên huyết của các sinh tế chỉ có khả năng che đậy tội lỗi một cách tạm thời. Huyết của Chúa Jesus cất tội lỗi đi, nghĩa là xóa bỏ chúng hoàn toàn.

4. Vườn Ghết-sê-ma-nê
#

Đọc Ma-thi-ơ 26:30-46.

Trong câu chuyện về Chúa Jesus tại vườn Ghết-sê-ma-nê, Ma-thi-ơ tập trung vào Phi-e-rơ bằng cách không nêu tên Gia-cơ và Giăng (đối chiếu với Mác 14:33). Ma-thi-ơ đang dùng Phi-e-rơ như một tấm gương tiêu cực về sự thiếu cầu nguyện. Ngược lại, Chúa Jesus nổi bật như một tấm gương tích cực về sự chuyên tâm cầu nguyện. Ma-thi-ơ đếm rõ số lần Chúa Jesus cầu nguyện — một, hai, ba — và xác định rõ nội dung của cả ba lần đó. Tương ứng, ba lần Phi-e-rơ thất bại trong việc cầu nguyện sẽ dẫn đến việc ông chối bỏ Chúa Jesus ba lần.

5. Sự Bắt Chúa Jesus
#

Đọc Ma-thi-ơ 26:47-56.

Khi Giu-đa Ích-ca-ri-ốt đến gần Chúa Jesus để bắt Ngài, Chúa Jesus gọi hắn là “Bạn”, chính cách xưng hô đã được dùng trong ẩn dụ về tiệc cưới khi nhà vua nói với người đàn ông không mặc áo lễ (Ma-thi-ơ 22:12), và một cách mỉa mai, Ngài bảo hắn hãy làm việc bẩn thỉu của mình. Như thế, sự giả dối trong việc làm môn đồ của Giu-đa được nhấn mạnh.

Ma-thi-ơ xác định người vung gươm là “một kẻ trong những người ở với Chúa Jesus”, và mệnh lệnh của Chúa Jesus bảo hãy nạp gươm vào vỏ là hình mẫu cho sự dạy dỗ về nguyên tắc không báo thù trong Bài Giảng trên Núi (Ma-thi-ơ 5:38-42). Mười hai đạo binh thiên sứ mà Ngài có quyền sử dụng sẽ cung cấp một đạo binh cho Ngài và mười một đạo binh cho các sứ đồ (dĩ nhiên, ngoại trừ Giu-đa Ích-ca-ri-ốt). Như thường lệ trong Ma-thi-ơ, trọng tâm nằm ở sự ứng nghiệm lời tiên tri trong Cựu Ước.

6. Cai-phe và Phi-e-rơ
#

Đọc Ma-thi-ơ 26:57-68.

Ma-thi-ơ mô tả Tòa Công Luận đang tìm kiếm chứng cớ giả đủ nghiêm trọng để kết án tử hình Chúa Jesus, nhưng không tìm được. Chứng cớ sau đó của hai nhân chứng (một con số đủ để xác lập sự thật, Phục-truyền 19:15) gần như trùng khớp với lời Chúa Jesus trong Giăng 2:19.

Cai-phe bắt Chúa Jesus thề; nhưng vì Chúa Jesus đã cấm thề nguyện (Ma-thi-ơ 5:33-37), Ngài đáp lại câu hỏi của Cai-phe rằng Ngài có phải là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời không bằng câu trả lời: “Chính ngươi nói đó.” Như vậy, Chúa Jesus làm gương cho chính sự dạy dỗ của Ngài. Nhưng Phi-e-rơ đã không vâng theo lời dạy đó, khi chối bỏ Chúa Jesus và dùng lời thề để chối.

Đọc Ma-thi-ơ 26:69-75.

Ba lần thất bại không cầu nguyện của Phi-e-rơ tại vườn Ghết-sê-ma-nê giờ đây đã đuổi kịp ông. Xét theo Ma-thi-ơ 10:32-33, việc ông chối Chúa “trước mặt mọi người” đặt ra một số phận khủng khiếp. Chẳng trách Phi-e-rơ đã khóc lóc cách cay đắng.

“Song ai sẽ chối ta trước mặt người ta, ta cũng sẽ chối họ trước mặt Cha ta ở trên trời” (Ma-thi-ơ 10:33).

7. Giu-đa Ích-ca-ri-ốt và Phi-lát
#

Đọc Ma-thi-ơ 27:1-10.

Song song với tiếng khóc cay đắng của Phi-e-rơ là sự tự sát của Giu-đa Ích-ca-ri-ốt. Điều này cảnh báo đối với sự phản bội trong Hội Thánh giữa cơn bắt bớ (so sánh Ma-thi-ơ 24:10). Như thường lệ, Ma-thi-ơ ghi nhận một lời tiên tri trong Cựu Ước được ứng nghiệm (xem Giê-rê-mi 19:1, 11; Xa-cha-ri 11:12-13).

Đọc Ma-thi-ơ 27:11-14.

Trong cuộc thẩm vấn Chúa Jesus trước mặt Phi-lát, Ma-thi-ơ nhấn mạnh sự nhu mì của Chúa Jesus như một tấm gương cho các môn đồ Ngài noi theo (so sánh Ma-thi-ơ 5:5; 11:29; 21:5).

(Hình 15: Thung lũng Hinnom, nơi có cánh đồng của thợ gốm)

8. Vợ của Phi-lát
#

Đọc Ma-thi-ơ 27:15-26.

Trước khi bất công giao Chúa Jesus để chịu đóng đinh, vợ của Phi-lát - người tuyên bố Ngài là người công chính - đã cảnh báo Phi-lát đừng dính dáng gì đến Chúa Jesus. Phi-lát đáp lại bằng cách rửa tay và tuyên bố mình vô tội về huyết của Chúa Jesus trong một nghi thức như Môi-se đã truyền trong Phục-truyền 21:1-9. Toàn dân, những người đã đòi đóng đinh Chúa Jesus, nhận lấy trách nhiệm về việc đó và bao gồm cả con cháu của họ. Những kẻ bài Do Thái đã lấy sự chấp nhận này làm cơ sở để bắt bớ người Do Thái, nhưng sự bắt bớ như vậy đi ngược lại lệnh cấm của Chúa Jesus về việc sử dụng gươm vì Ngài (Ma-thi-ơ 26:52-54).

9. Sự Đóng Đinh
#

Đọc Ma-thi-ơ 27:27-44.

Phần tường thuật của Ma-thi-ơ về sự đóng đinh Chúa Jesus làm nổi bật những sự sỉ nhục nhằm vào Ngài với tư cách là nạn nhân của sự bắt bớ, đồng thời cũng làm nổi bật vương quyềnthân phận là Con Đức Chúa Trời của Ngài. Mặc dù kẻ thù của Chúa Jesus chế nhạo vương quyền và thân phận Con Đức Chúa Trời, Ma-thi-ơ trình bày sự chế nhạo của họ một cách mỉa mai là đúng sự thật: không chỉ việc khoác áo choàng cho Chúa Jesus và đội mão gai trên đầu Ngài, mà còn việc đặt cây sậy trong tay phải Ngài và quỳ gối trước mặt Ngài; không chỉ việc tung hô Ngài là “Vua dân Giu-đa”, mà còn cả cách ghi trên tấm bảng: “NGÀI LÀ JESUS, VUA DÂN GIU-ĐA”, và lời nhạo báng: “Hắn là Vua của Y-sơ-ra-ên!” cộng với hai lần xuất hiện của cụm từ “Con Đức Chúa Trời”.

Việc nhổ vào Ngài là để chế nhạo áo choàng của Ngài; việc lấy cây sậy đánh vào đầu Ngài là để chế nhạo vương miện của Ngài. Việc pha rượu với mật đắng khiến rượu có vị đắng và nhằm sỉ nhục Chúa Jesus bằng một thức uống ban đầu có vẻ nhân từ nhưng hóa ra lại độc ác (so sánh Thi-thiên 69:21, đặc biệt trong bản Bảy Mươi [69:22]). Bản thân sự đóng đinh bị lu mờ bởi cảnh bọn lính chia nhau áo xống của Ngài.

10. Sự Sống Lại của Các Thánh và Sự Cải Đạo của Dân Ngoại
#

Đọc Ma-thi-ơ 27:45-61.

Khi Chúa Jesus trút hơi thở cuối cùng, một vài kẻ đứng xung quanh đã ngăn cản một người trong số họ cho Ngài uống. Chúa Jesus tắt hơi sau một tiếng kêu lớn. Một trận động đất xé đá và mở các ngôi mộ, khiến nhiều người được sống lại. Những sự sống lại này khích lệ các Cơ Đốc nhân bền lòng chịu đựng sự bắt bớ cho đến chết, nếu cần; vì như Chúa Jesus đã chịu bắt bớ nhưng rồi được sống lại, thì những người theo Ngài cũng sẽ được sống lại như vậy (so sánh Ê-xê-chi-ên 37:7, 12-13; Đa-ni-ên 12:2).

Không chỉ viên đội trưởng tuyên xưng thân phận Con Đức Chúa Trời của Chúa Jesus; mà những người lính đứng canh giữ cùng ông cũng làm vậy. Cùng nhau, họ, giống như các nhà thông thái đã đến dâng lễ vật cho hài nhi Jesus Christ, đại diện cho nhiều người ngoại bang sau này trở thành môn đồ của Chúa Jesus.

11. Lòng Nhân Từ Những Người Phụ Nữ và Giô-sép
#

Việc những người phụ nữ phục vụ Chúa Jesus trên đường Ngài xuống thành Giê-ru-sa-lem là một hình mẫu về cách các môn đồ phải chăm sóc cho nhau giữa cơn bắt bớ; và việc mô tả Giô-sép người A-ri-ma-thê là một môn đồ của Chúa Jesus khiến việc chôn cất thi thể Ngài của ông trở thành một hành động tưởng nhớ đầy yêu thương, điều này càng được thể hiện rõ hơn qua các mô tả về tấm vải liệm bằng vải gai sạch dành cho Chúa Jesus và ngôi mộ mới thuộc sở hữu của chính Giô-sép.

12. Sự Mua Chuộc Lính Canh
#

Đọc Ma-thi-ơ 27:62-28:20.

Cụm từ “Ngày mai, là ngày sau ngày Chuẩn Bị” có nghĩa là “ngày Sa-bát, ngày sau Thứ Sáu”.

Độ tin cậy trong những lời báo trước về sự sống lại của Chúa Jesus tương phản với sự dối trá của các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si, những kẻ không chỉ hối lộ những lính canh mộ để nói rằng các môn đồ của Chúa Jesus đã đánh cắp thi thể Ngài, mà còn hứa sẽ hối lộ Phi-lát để ông ta xử khoan dung nếu nghe tin những lính canh đã ngủ gục khi làm nhiệm vụ - một sự sao nhãng có thể bị trừng phạt bằng cái chết.

Điều mà các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si gọi là “sự lừa dối trước” (Ma-thi-ơ 27:64) chính là đức tin xưng nhận Chúa Jesus là Đấng Christ và Con Đức Chúa Trời.

13. Chúa Jesus Phục Sinh
#

Như trong sự kiện các thánh sống lại ở Ma-thi-ơ 27:51-53, một trận động đất xảy ra, chỉ khác là lần này là một trận động đất lớn, xứng hợp với thân phận của Chúa Jesus là Đấng Christ và Con Đức Chúa Trời. Cũng tương xứng với thân phận đó là việc một thiên sứ của Chúa giáng xuống lăn tảng đá đi và những lính canh run sợ. Tuy nhiên, đối với những người phụ nữ là môn đồ của Chúa Jesus, niềm vui lớn hòa lẫn với sự sợ hãi cho đến khi sự hiện ra của Chúa Jesus Phục Sinh xóa tan nỗi sợ. Việc họ nắm lấy chân Ngài xác nhận sự sống lại của Ngài, và việc họ thờ phượng Ngài một lần nữa xứng hợp với thân phận của Ngài (Ma-thi-ơ 28:9). Mười Một Sứ Đồ cũng vậy, ngoại trừ một số người nghi ngờ (Ma-thi-ơ 28:17). Những người nghi ngờ này minh họa cho sự nguy hiểm của việc ít đức tin trong một Hội Thánh bị bắt bớ.

Ma-thi-ơ chưa từng đề cập đến việc Chúa Jesus chỉ định một ngọn núi trước đó (Ma-thi-ơ 28:16); vì vậy, việc đề cập đến một ngọn núi ở đây kết hợp với việc nhắc đến các điều răn của Ngài (28:20a) gợi ý đến ngọn núi - nơi Ngài đã ban các điều răn (tức nơi Chúa Jesus giảng Bài Giảng trên Núi). Thẩm quyền phổ quát của Ngài khiến mọi dân tộc trở thành cánh đồng truyền giáo thích hợp của các môn đồ, một sứ mạng sẽ kéo dài cho đến tận thế. Trong lúc đó, lời hứa của Ngài sẽ luôn ở cùng các môn đồ nhắc nhở lại “Em-ma-nu-ên, nghĩa là Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta” (Ma-thi-ơ 1:23) và ban cho họ sự can đảm để bền lòng chịu đựng sự bắt bớ sẽ xảy ra khi họ thi hành Đại Mạng Lệnh.

TÓM LẠI
#

Truyền thống của Hội Thánh thời ban đầu ghi nhận sứ đồ Ma-thi-ơ là tác giả của Phúc Âm Ma-thi-ơ. Một số đặc điểm của sách phù hợp với nhận định này. Nhiều học giả cho rằng thời điểm biên soạn là vào khoảng cuối thập niên 70 của thế kỷ thứ nhất; nhưng những tài liệu đặc trưng của Ma-thi-ơ — chẳng hạn như chuyện thuế Đền thờ và vị thế nổi bật tương đối của người Sa-đu-sê — ủng hộ một thời điểm sớm hơn, trước năm 70. Công thức mở đầu, “Từ lúc đó, Chúa Jesus bắt đầu…” chia phần tường thuật của Ma-thi-ơ thành ba phần (xem Ma-thi-ơ 4:17; 16:21); và công thức kết thúc, “Khi Chúa Jesus phán xong…,” tạo nên cấu trúc năm phần cho các bài giảng của Chúa Jesus (xem 7:28; 11:1; 13:53; 19:1; 26:1).

Sách Phúc Âm Ma-thi-ơ mang đậm chất Cơ Đốc giáo Do Thái qua những đặc điểm như: việc nhấn mạnh vào sự ứng nghiệm Cựu Ước, việc miêu tả Chúa Jesus như một nhà lập pháp giống Môi-se, và sự cần thiết của việc làm lành để vâng theo các mệnh lệnh của Chúa Jesus một cách có hiểu biết. Dựa trên những điểm nhấn mạnh của Ma-thi-ơ, chúng ta có thể suy ra đối tượng độc giả mà ông nhắm đến bao gồm một hoặc nhiều Hội Thánh có sự hiện diện của cả những môn đồ giả lẫn môn đồ thật của Chúa Jesus và đang bị cám dỗ, vì sự bắt bớ mà thỏa hiệp lời chứng Cơ Đốc, từ bỏ đức tin của mình, và thậm chí phản bội lẫn nhau trước những kẻ bắt bớ. Vì vậy, Ma-thi-ơ, có lẽ viết sách Phúc Âm của mình tại An-ti-ốt, xứ Sy-ri, để cảnh báo chống lại sự thỏa hiệp, từ bỏ đức tin, và phản bội như vậy, đồng thời thúc giục họ nên chạy trốn khỏi sự bắt bớ như một cơ hội để môn đồ hóa muôn dân.

CHÚ THÍCH
#


  1. par. : là viết tắt của paralell(s), có nghĩa là những đoạn song song trong các sách Phúc Âm khác mô tả cùng một sự kiện. ↩︎