Skip to main content

Chương 09: LU-CA - SỰ TRUYỀN BÁ CƠ ĐỐC GIÁO TRONG THẾ GIỚI HY LẠP - LA MÃ RỘNG LỚN

·25564 words·121 mins·
Author
Lily
Table of Contents

TÂN ƯỚC LƯỢC KHẢO

(Hình 1: Những tàn tích ở Núi Gerizim, phía nam nhà thờ Byzantine)

I. GIỚI THIỆU
#

1.1. Các Nguồn Tư Liệu và Mục Đích
#

Tác giả của Phúc Âm Thứ Ba bắt đầu bằng việc tham chiếu đến những tác phẩm trước đó kể về nguồn gốc của Cơ Đốc giáo dựa trên lời chứng của “những người chứng kiến trực tiếp và những người rao giảng Lời [Chúa]” (Lu-ca 1:1-2). Ông sau đó định nghĩa dự án của mình là “một bản tường thuật có trình tự” về truyền thống đó và nêu rõ mục đích là để thuyết phục độc giả về tính đáng tin cậy của nó (1:3-4).

1.2. Tác giả
#

Sách Phúc Âm Lu-ca và sách Công-vụ các Sứ-đồ phải có chung một tác giả, vì cả hai đều bắt đầu bằng lời đề tặng Thê-ô-phi-lơ (Theophilus), thể hiện những mối quan tâm chung, cũng như một phong cách văn chương tương đồng. Hơn nữa, sách Công-vụ có nhắc đến “sách thứ nhất” (Công-vụ 1:1), nghĩa là trước sách Công-vụ, tác giả sách này đã từng viết một sách khác gửi đến cho Thê-ô-phi-lơ.

Vì sách Lu-ca và Công-vụ có chung một tác giả, chúng ta suy ra tác giả của bộ sách Lu-ca – Công-vụ chính là Lu-ca, dựa trên thực tế rằng Lu-ca là người duy nhất trong số các bạn đồng hành của Sứ đồ Phao-lô được nhắc đến trong các Thư tín của Phao-lô có lịch trình phù hợp để có thể viết ra những phân đoạn sử dụng ngôi “chúng tôi” (“we”-sections) trong sách Công-vụ. Tất cả những người đồng hành khác đều bị loại trừ, vì lịch trình của họ theo các Thư tín của Phao-lô không thể dung hòa với các di chuyển địa lý trong các phân đoạn “chúng tôi” của sách Công-vụ (xem chương 12).

Hơn nữa, quyền tác giả của Lu-ca còn được truyền thống của Hội Thánh thời kỳ đầu ủng hộ: Quy điển Muratori, lời tựa của anti-Marcionite cho sách Lu-ca, Irenaeus (Against Heresies 3.1.1), cùng các tác giả Cơ Đốc sau này.

Đọc thêm: VÍ DỤ VỀ MỘT PHÂN ĐOẠN “CHÚNG TÔI” TRONG SÁCH CÔNG-VỤ

“Vậy, chúng tôi từ thành Trô-ách đi thuyền thẳng đến đảo Sa-mô-tra-xơ; bữa sau, đến thành Nê-a-bô-li” (Công-vụ 16:11) ➡ Việc Lu-ca sau đó chuyển sang dùng đại từ ngôi thứ ba, “rồi họ lên đường” (Công-vụ 16:40), ngụ ý rằng ông đã ở lại thành Phi-líp.

1.3. Nhà Truyền Giáo (Evangelist)
#

Lu-ca có lẽ là một người ngoại bang (hoặc ít nhất là một người Do Thái theo văn hóa Hy Lạp - Hellenistic Jew) và có thể đã được cải đạo tại An-ti-ốt, Syria (so sánh Lời tựa của anti-Marcionite cho sách Lu-ca và “chúng tôi” trong Codex D của Công-vụ 11:28, nói về An-ti-ốt). “Lu-ca” là một cái tên Hy Lạp. Trong những lời chào cuối thư Cô-lô-se 4:10-14, Phao-lô dường như phân biệt Lu-ca với những người Do Thái, có lẽ là những người Do Thái Hê-bơ-rơ (Hebraistic ones), và liên kết ông với những người ngoại bang. Khả năng sử dụng ngôn ngữ Hy Lạp thành thạo của Lu-ca cũng cho thấy ông là một người ngoại bang (hoặc một người Do Thái theo văn hóa Hy Lạp), am hiểu tiếng Hy Lạp hơn hầu hết người Do Thái đương thời.

Văn phong Hy Lạp của Lu-ca, cùng với văn phong của Thư Hê-bơ-rơ, là tinh tế nhất trong Tân Ước. Các ngoại lệ xuất hiện khi Lu-ca dường như đang sử dụng các nguồn truyền khẩu hoặc văn viết mang tính Semit, hoặc vận dụng một văn phong Hy Lạp mang màu sắc Semit để nghe có vẻ “Kinh Thánh”, nghĩa là giống với bản Bảy Mươi (tương tự như cách sử dụng các từ “ngươi”, “người”, “của ngươi”, và các hình thức động từ đi kèm nghe có vẻ “Kinh Thánh” trong tiếng Anh [và tương tự trong tiếng Việt] do ảnh hưởng của bản King James). Mặt khác, cả hai sách do Lu-ca viết đều bắt đầu bằng một lời đề tặng trang trọng theo phong cách văn chương Hy Lạp - La Mã - là những sách duy nhất trong Tân Ước làm điều này. Trong Cô-lô-se 4:14, Phao-lô gọi Lu-ca là “thầy thuốc rất yêu dấu”, một mô tả phù hợp với sự quan tâm của Lu-ca đến bệnh tật nhiều hơn bình thường và bởi việc ông thường xuyên sử dụng các thuật ngữ y học (ví dụ, xem Lu-ca 14:2: “một người bị bệnh phù thũng”). Tuy nhiên, đặc điểm này trong cách viết của Lu-ca không nên bị nhấn mạnh quá mức.

1.4. Thê-ô-phi-lơ và Độc Giả Ngoại Bang
#

Lu-ca tặng tác phẩm của mình cho Thê-ô-phi-lơ, có lẽ là một người sắp hoặc mới cải đạo, hoặc một người bảo trợ đã tài trợ tài chính cho việc lưu hành sách Lu-ca – Công vụ. Lu-ca định hướng cả hai sách của mình cho độc giả là những người ngoại bang, đặc biệt là những người có mối quan tâm cởi mở về nguồn gốc lịch sử của Cơ Đốc giáo — rất có thể là những người đã chính thức cải đạo sang Do Thái giáo (proselytes) và đặc biệt là những người kính sợ Đức Chúa Trời (God-fearers). Nhóm độc giả này là những người đã từ bỏ việc thờ hình tượng và lối sống trụy lạc, đồng thời tham gia vào các nhà hội của người Do Thái. Mối quan tâm của Lu-ca là thiết lập hình ảnh về sự tin kính về tôn giáo, sự tinh sạch về đạo đức, và sự vô tội về chính trị của Chúa Jesus và những người theo Ngài (đặc biệt xem phần tường thuật của Lu-ca về phiên tòa xét xử Chúa Jesus trước mặt Phi-lát trong Lu-ca 23:1-25, nơi quan tổng đốc La Mã liên tục tuyên bố Chúa Jesus vô tội).

Lu-ca cho thấy Phúc Âm mang tính phổ quát, rằng Chúa Jesus đã phá đổ bức tường ngăn cách giữa người Do Thái và người ngoại bang và thiết lập một cộng đồng toàn cầu, nơi những rào cản cũ giữa nô lệ và tự do, giữa nam và nữ không còn tồn tại. Vì hướng đến độc giả ngoại bang, Lu-ca không thể hiện mối quan tâm hẹp của người Do Thái về sự ứng nghiệm các lời tiên tri về Đấng Mê-si như Ma-thi-ơ, mà thể hiện mối quan tâm rộng hơn về kế hoạch lịch sử của Đức Chúa Trời được mặc khải qua Cựu Ước và về tính liên tục của Cơ Đốc giáo với Do Thái giáo (so sánh với mối quan tâm trong 2 Ma-ca-bê 1:18-2:18 về việc thiết lập tính liên tục của Do Thái giáo hậu lưu đày với Do Thái giáo tiền lưu đày thông qua việc tìm lại được lửa bàn thờ cổ và các sách thánh). Lu-ca cũng điều chỉnh những cách diễn đạt đặc trưng Do Thái và những ám chỉ đến phong tục Do Thái để người ngoại bang có thể hiểu rõ hơn. Ví dụ, “sự tàn phá gớm ghiếc” (Mác 13:14 par.) trở thành “đạo binh vây thành” Giê-ru-sa-lem (Lu-ca 21:20).

“Phi-lát nói với Tòa Công Luận về Chúa Jesus rằng: ‘Các ngươi đã giải người nầy đến cho ta, về việc cáo người là xui dân làm loạn; nhưng ta đã tra hỏi trước mặt các ngươi, không thấy người mắc tội nào như các ngươi đã cáo. Bởi chưng Hê-rốt cũng vậy, vua đã cho đem người về cho chúng ta, và nầy, người chẳng có phạm tội gì đáng chết. … Ta đã bảo các ngươi rằng chính mắt ta thấy người không phạm tội gì. Vả, Hê-rốt cũng vậy, vì vua đã giao người về cho chúng ta. Nầy, người chẳng có làm điều gì đáng chết.’” (Lu-ca 23:14-15, 22).

1.5. Tính Phổ Quát
#

Có nhiều chi tiết cụ thể cho thấy Lu-ca đang truyền bá Cơ Đốc giáo trong thế giới Hy Lạp - La Mã rộng lớn - những dấu hiệu này phần lớn không có trong các sách Phúc Âm khác:

  • Lu-ca đặc biệt quan tâm đến việc xác định niên đại cho mục vụ của Chúa Jesus bằng các sự kiện của lịch sử thế tục (Lu-ca 1:5; 2:1; 3:1-2).
  • Chúa Jesus là “ánh sáng… cho các dân ngoại” (2:32).
  • Một trích dẫn từ Ê-sai 40 bao gồm lời tuyên bố rằng “mọi xác thịt sẽ thấy sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời” (3:6).
  • Gia phổ của Chúa Jesus không chỉ truy ngược về Áp-ra-ham, tổ phụ của dân tộc Do Thái (như trong Ma-thi-ơ 1:1-2), mà còn về A-đam, tổ phụ của toàn thể nhân loại, và cuối cùng là chính Đức Chúa Trời (3:23-38).
  • Chúa Jesus chỉ ra rằng Ê-li đã ở với một bà góa người Si-đôn (Phoenician) thay vì một người Y-sơ-ra-ên, và Ê-li-sê đã chữa lành cho một người phung người Sy-ri (Na-a-man) thay vì một người Y-sơ-ra-ên (4:25-27).
  • Giống với Ma-thi-ơ, Lu-ca ghi lại Đại Mạng Lệnh truyền giảng Tin Lành cho “muôn dân” (24:47; so sánh với Ma-thi-ơ 28:19-20). Nhưng tính phổ quát trong Ma-thi-ơ là tính phổ quát của Cơ Đốc giáo Do Thái đã loại bỏ được tính cục bộ của mình, còn tính phổ quát trong Lu-ca là tính phổ quát mang tinh thần Hy Lạp hóa, vốn không hề biết đến tính cục bộ Do Thái (Jewish parochialism).

Tính phổ quát trong sách Lu-ca không chỉ bao gồm người ngoại bang, mà còn cả những người bị xã hội ruồng bỏ, chẳng hạn như người phụ nữ tội lỗi đã xức dầu lên chân Chúa Jesus (Lu-ca 7:36-50), Xa-chê là người thu thuế (19:1-10), tên tội phạm ăn năn chết bên cạnh Chúa Jesus (23:39-43), đứa con hoang đàng (15:11-32, trong ẩn dụ), người thu thuế ăn năn (18:9-14, trong ẩn dụ), người Sa-ma-ri, và những người nghèo khó. Gia-cơ và Giăng bị quở trách vì muốn khiến lửa từ trời giáng xuống một ngôi làng của người Sa-ma-ri (9:51-56). Người Sa-ma-ri nhân lành trong ẩn dụ xuất hiện dưới ánh sáng tích cực (10:29-37). Một trong mười người phung trở lại tạ ơn Chúa Jesus vì được chữa lành là một người Sa-ma-ri, được gọi là “người ngoại bang nầy” (17:11-19). Tại Na-xa-rét, Chúa Jesus giảng “Tin Lành cho người nghèo” (4:16-22). Ma-ri nói rằng Đức Chúa Trời “đã đem người có quyền xuống khỏi ngôi họ, và nhắc kẻ khiêm nhường lên; kẻ đói, thì đã cho đầy thức ngon, còn kẻ giàu, thì đuổi về tay không” (1:52b-53). Phước lành cho người nghèo không có thêm cụm từ “trong tâm linh” như trong Ma-thi-ơ (6:20; đối chiếu Ma-thi-ơ 5:3), cũng như phước lành cho người đói không có thêm cụm từ “sự công bình” (6:21; đối chiếu Ma-thi-ơ 5:6). Và Lu-ca cân bằng các “phước lành cho” người nghèo và đói với những lời than “khốn cho” người giàu và no đủ (6:24-25). Ông là tác giả Phúc Âm duy nhất ghi lại lời Chúa Jesus: “Khi nào ngươi đãi tiệc trưa hay tiệc tối, đừng kêu bạn hữu, anh em, bà con hay láng giềng giàu. … Song khi nào đãi tiệc, hãy mời những kẻ nghèo khó, tàn tật, què, đui” (14:12-13). Chính Lu-ca gọi những người Pha-ri-si là “kẻ ham tiền” (16:14) và ghi chép cho chúng ta các ẩn dụ về người giàu mà dại, người quản gia bất trung nhưng đã hành động nhân từ (và do đó được xem là khôn khéo), và người giàu với La-xa-rơ (12:13-21; 16:1-13, 19-31).

Tính phổ quát của sách Phúc Âm Lu-ca cũng thể hiện qua sự quan tâm đặc biệt đến phụ nữ: Ma-ri, Ê-li-sa-bét, và An-ne trong câu chuyện Chúa Jesus giáng sinh (Lu-ca 1:5-2:39), bà góa tại thành Na-in (7:11-17), những người phụ nữ hỗ trợ tài chính cho Chúa Jesus (8:1-3), một người phụ nữ tội lỗi (7:36-50), Ma-thê và Ma-ri (10:38-42), một bà góa nghèo (21:1-4), và những người phụ nữ đã than khóc Chúa Jesus (23:27-31), chứng kiến Ngài chịu đóng đinh (23:49), và định đi ướp xác Ngài nhưng thay vào đó tận mắt chứng kiến ngôi mộ trống và báo tin Ngài đã sống lại (23:55-24:11).

Như vậy, Lu-ca khắc họa Chúa Jesus là một Đấng Cứu Thế mang tầm vóc toàn cầu với lòng cảm thông rộng lớn - một Đấng hòa mình với mọi hạng người, giao thiệp với cả người Pha-ri-si lẫn người thu thuế (Lu-ca 5:27-32; 7:36; 11:37; 14:1; 19:1-10), và quan tâm đến những nạn nhân của tai họa xảy đến cho cá nhân họ (7:11-17; 8:40-56; 9:37-43). Trong khi Ma-thi-ơ tập trung vào Chúa Jesus và vương quốc, thì Lu-ca tập trung vào Chúa Jesus và con người, với những phác họa nhân vật rất sống động.

1.6. Sự Cầu Nguyện
#

Nhiều lần trong sách Phúc Âm Lu-ca, Chúa Jesus được mô tả là một người của sự cầu nguyện: Ngài cầu nguyện khi chịu phép Báp-têm (Lu-ca 3:21), sau khi phục vụ đoàn dân (5:16), trước khi chọn mười hai sứ đồ (6:12), trước lời tuyên xưng của Phi-e-rơ và lời báo trước về sự chết và sự sống lại của chính Ngài (9:18), vào thời điểm Ngài hóa hình (9:28-29), khi bảy mươi hai môn đồ trở về từ mục vụ của họ (10:21), trước khi dạy các môn đồ cầu nguyện (11:1), tại Ghết-sê-ma-nê (22:39-46), và hai lần trên thập tự giá (23:34, 46). Hầu hết những lần nhắc đến sự cầu nguyện của Chúa Jesus này đều là đặc trưng riêng của sách Phúc Âm Lu-ca. Chỉ có Lu-ca ghi lại hai ẩn dụ của Chúa Jesus về sự cầu nguyện (11:5-13; 18:1-8) và cho chúng ta biết rằng Chúa Jesus đã cầu nguyện đặc biệt cho Phi-e-rơ (22:31-32).

1.7. Đức Thánh Linh
#

Lu-ca cũng nhấn mạnh tương tự về công việc của Đức Thánh Linh. Ông cho chúng ta biết rằng:

  • Giăng Báp-tít được đầy dẫy Đức Thánh Linh từ khi còn trong lòng mẹ (Lu-ca 1:15).
  • Đức Thánh Linh ngự trên Ma-ri để bà có thể sinh ra Con của Đức Chúa Trời một cách mầu nhiệm (1:35).
  • Khi Ma-ri đến thăm Ê-li-sa-bét, Ê-li-sa-bét được đầy dẫy Đức Thánh Linh để nói rằng: “Phước cho ngươi trong đám đàn bà, và phước cho thai trong lòng ngươi” (1:42).
  • Khi Giăng Báp-tít được sinh ra và đặt tên, cha của ông là Xa-cha-ri được đầy dẫy Đức Thánh Linh và nói tiên tri (1:67).
  • Đức Thánh Linh ngự trên Si-mê-ôn, báo cho ông biết rằng trước khi qua đời ông sẽ được thấy Đấng Christ, và dẫn ông đến Đền thờ để gặp Con Trẻ, là Đấng Christ (2:25-27).
  • Sau khi nhận lãnh Đức Thánh Linh trong lễ Báp-têm, Chúa Jesus “đầy dẫy Đức Thánh Linh” và “được Đức Thánh Linh đưa” vào đồng vắng (4:1).
  • Sau sự cám dỗ, Chúa Jesus trở về xứ Ga-li-lê “trong quyền năng của Đức Thánh Linh” (4:14).
  • Khi bảy mươi hai môn đồ trở về sau mục vụ thành công của họ, Chúa Jesus vui mừng “trong Đức Thánh Linh” (10:21).
  • Trước khi thăng thiên, Chúa Jesus hứa rằng Đức Thánh Linh sẽ mặc cho các môn đồ “quyền phép từ trên cao” (24:49).

Do đó, sách Phúc Âm Lu-ca (và sau này là sách Công-vụ) tràn đầy sự hân hoan về một phong trào không thể cưỡng lại của Thánh Linh Đức Chúa Trời trong lịch sử nhân loại - vì thế có nhiều đề cập đến sự vui mừng (Lu-ca 1:14, 44, 47; 6:21, 23; 10:21; 15:5-7, 9, 10, 23-25, 32; 24:52-53). Lu-ca viết với niềm tin tuyệt đối vào sự tiến triển tất yếu thành công của Phúc Âm, được khai mở bởi Chúa Jesus, là “Chúa” (một cách gọi Chúa Jesus được ưa chuộng trong sách Lu-ca), và được tiếp tục bởi các môn đồ của Ngài trong năng quyền của Đức Thánh Linh.

1.8. Niên Đại và Nơi Viết
#

Không có nan đề nào ngăn trở việc xác định niên đại khá sớm cho sách Phúc Âm Thứ Ba, ngay sau thời điểm của sách Mác (và có lẽ cả Ma-thi-ơ) với giả định rằng Lu-ca có sử dụng sách Mác.

Nhiều học giả nghĩ rằng việc Lu-ca thay đổi cụm từ “sự tàn nát gớm ghiếc” (Mác 13:14) thành “cuộc vây hãm thành Giê-ru-sa-lem” (Lu-ca 21:20) chứng tỏ rằng ông đã viết sách Phúc Âm của mình sau năm 70. Nhưng lập luận này một lần nữa bỏ qua hoặc phủ nhận khả năng rằng Chúa Jesus thực sự đã tiên tri về cuộc vây hãm và sự hủy diệt thành Giê-ru-sa-lem. Lu-ca có thể đã không đề cập đến sự tàn nát gớm ghiếc đơn giản chỉ vì ông biết các độc giả là người ngoại bang của ông sẽ không hiểu cụm từ này có ý nghĩa gì. Nếu quả thật Lu-ca đang điều chỉnh lời của Chúa Jesus cho phù hợp với các sự kiện vào khoảng năm 70, thì tại sao ông vẫn giữ lại mệnh lệnh, “Hãy trốn lên núi” (21:21), bất chấp thực tế là trong cuộc vây hãm thành Giê-ru-sa-lem, các Cơ Đốc nhân đã chạy trốn đến Pella - nằm trong một khu vực không có núi ở bên kia sông Giô-đanh (nếu quả thực họ có chạy trốn đến Pella – bằng chứng về việc này vẫn còn đang tranh cãi)?

Sách Công-vụ kết thúc với việc Sứ đồ Phao-lô đang chờ xét xử tại thành Rô-ma, có lẽ vì các sự kiện lúc đó chưa tiến triển xa hơn vào thời điểm sách được viết (xem chương 11). Nếu vậy, sách Công-vụ phải có niên đại trước năm 64-67 - thời kỳ được cho là xác thực nhất về sự tử đạo của Phao-lô. Nếu Lu-ca viết sách Phúc Âm trước sách Công-vụ (nhiều khả năng là như vậy), thì sách Phúc Âm cũng phải có niên đại từ một thời điểm sớm hơn một chút. Nơi viết có thể là Rô-ma - nơi Lu-ca đã đi cùng Phao-lô đến đó trong thời gian Phao-lô bị tù (mặc dù truyền thống thời kỳ đầu còn phân vân giữa Hy Lạp hoặc Rô-ma là nơi Lu-ca đã viết sách Phúc Âm).

Đọc thêm: PHAO-LÔ Ở RÔ-MA

“Khi chúng tôi đã đến thành Rô-ma, Phao-lô được phép ở riêng với một người lính canh giữ.” (Lu-ca tường thuật trong Công-vụ 28:16)

“Lu-ca là thầy thuốc rất yêu dấu, chào anh em, Đê-ma cũng vậy.” (Phao-lô, viết Cô-lô-se 4:14 trong khi đang bị giam giữ ở Rô-ma)

1.9. Bố Cục và Tư Liệu
#

Sách Phúc Âm Lu-ca là sách tường thuật toàn diện nhất trong các sách Phúc Âm Cộng Quan; thực vậy, đây là sách dài nhất trong Tân Ước. Trong hai chương đầu, Lu-ca bắt đầu bằng lời tựa và những câu chuyện liên quan đến sự giáng sinh và thời thơ ấu của Chúa Jesus. Kế tiếp là phép Báp-têm, gia phổ, và sự cám dỗ của Chúa Jesus trong 3:1-4:13, mục vụ tại Ga-li-lê trong 4:14-9:50, hành trình cuối cùng xuống Giê-ru-sa-lem trong 9:51-19:27, và cuối cùng là Tuần Lễ Thương Khó, sự đóng đinh, sự sống lại, mục vụ sau khi sống lại, và sự thăng thiên của Chúa Jesus trong 19:28-24:53.

Hành trình cuối cùng xuống thành Giê-ru-sa-lem là đóng góp quan trọng nhất của Lu-ca cho sự hiểu biết của chúng ta về công tác của Chúa Jesus. Trong phần đó, ông trình bày mục vụ của Chúa Jesus tại xứ Bê-rê (Perea), đưa ra nhiều ẩn dụ nổi tiếng nhất - nhưng không được ghi chép ở nơi nào khác (ẩn dụ về người Sa-ma-ri nhân lành, người giàu mà dại, đứa con hoang đàng, người giàu và La-xa-rơ, người Pha-ri-si và người thu thuế, cùng những ẩn dụ khác), và nhấn mạnh ý nghĩa của Giê-ru-sa-lem như là mục tiêu của mục vụ mà Chúa Giê-xu thi hành. (Về sau, trong sách Công-vụ, Giê-ru-sa-lem sẽ trở thành nơi mà các nhân chứng Cơ Đốc ra đi để truyền giảng Phúc Âm cho thế giới.)

Phần tường thuật về sự giáng sinh của Chúa Jesus trong sách Lu-ca có nhiều thông tin không có trong sách Ma-thi-ơ, bao gồm một số bài thánh ca, câu chuyện về sự ra đời của Giăng Báp-tít và của Chúa Jesus. Cuối cùng, Lu-ca cung cấp tài liệu về sự sống lại của Chúa Jesus khá khác biệt so với các sách Phúc Âm khác, và trở thành tác giả Phúc Âm duy nhất miêu tả sự thăng thiên của Chúa Jesus.

II. BỐ CỤC
#

Click vào link để xem Bố cục sách Lu-ca

III. GIẢI NGHĨA SÁCH LU-CA
#

A. Sự Giáng Sinh và Thời Thơ Ấu của Chúa Jesus
#

1. Lời Tựa
#

Đọc Lu-ca 1:1-4.

Trong lời tựa, Lu-ca đề cập đến các ghi chép có trước đó về Chúa Jesus, những lời chứng của các nhân chứng trực tiếp, công trình điều tra của chính ông về các sự kiện và lời chứng này, cùng mục đích của ông là trình bày truyền thống về Chúa Jesus như một lời chứng đáng tin cậy.

Các ghi chép trước đó mà Lu-ca đề cập đến có thể bao gồm sách Mác và Ma-thi-ơ. Tính mạch lạc trong sách Phúc Âm Lu-ca được thể hiện qua sự sắp xếp cẩn thận; tuy nhiên, đôi khi bố cục theo chủ đề và địa lý có thể được ưu tiên hơn trình tự thời gian. Mặc dù từ “quý nhân” mô tả Thê-ô-phi-lơ một cách cao quý, nhưng chúng ta không có thêm thông tin nào khác về ông. Có lẽ Thê-ô-phi-lơ là người bảo trợ cho công trình biên soạn của Lu-ca, nhưng vẫn còn nhiều khả năng khác.

2. Thiên Sứ Báo Tin cho Xa-cha-ri và Ma-ri
#

Đọc Lu-ca 1:5-56.

Ngay sau lời tựa, Lu-ca đưa ra khung tham chiếu lịch sử: “trong đời vua Hê-rốt, trị vì xứ Giu-đê.” Tiếp theo là chuỗi sự kiện:

  • Thiên sứ báo tin cho Xa-cha-ri về sự ra đời của Giăng Báp-tít, việc vợ ông là bà Ê-li-sa-bét sẽ mang thai Giăng,
  • Thiên sứ báo tin cho Ma-ri về sự ra đời của Chúa Giê-su, và
  • Ma-ri đi thăm Ê-li-sa-bét.

“Ban A-bi-gia” (Lu-ca 1:5) là một trong hai mươi bốn ban của các thầy tế lễ phục vụ tại Đền thờ mỗi năm hai lần, mỗi lần kéo dài một tuần. Phù hợp với việc đề cao những lý tưởng tôn giáo và đạo đức cao trọng nhất của văn hóa Hy Lạp, Lu-ca mô tả Ê-li-sa-bét thuộc dòng dõi của A-rôn - anh của Môi-se trong chi phái Lê-vi, cũng như chồng bà là Xa-cha-ri cũng thuộc dòng dõi thầy tế lễ, và nhấn mạnh sự công bình của cả hai người.

Theo thông lệ, các thầy tế lễ bắt thăm để xác định ai được đặc ân dâng hương trong Đền thờ; và một khi đã được đặc ân này, thì thầy tế lễ đó sẽ không tham gia trong lần kế tiếp, để các thầy tế lễ khác có cơ hội. Nhưng với Lu-ca, việc Xa-cha-ri trúng thăm là do sự quan phòng của Đức Chúa Trời, không phải ngẫu nhiên (so sánh Công-vụ 1:24-26).

Một lần nữa, phù hợp với việc Lu-ca đề cao những lý tưởng tôn giáo và đạo đức cao trọng nhất, việc Giăng Báp-tít kiêng rượu và thức uống say, được đầy dẫy Đức Thánh Linh từ trước khi được sinh ra, mục vụ cải cách của ông đối với Y-sơ-ra-ên, và vai trò của ông như là Ê-li, đều nhấn mạnh sự thánh khiết đặc biệt (so sánh Lê-vi Ký 10:9; Dân-số Ký 6:2-4; Các Quan Xét 13:4; 1 Sa-mu-ên 1:11; Ma-la-chi 4:5). Sự đồng trinh của Ma-ri, việc bà được ơn trước mặt Đức Chúa Trời, việc bà thụ thai bởi Đức Thánh Linh khi vẫn còn đồng trinh, sự thánh khiết và thân phận là Con Đức Chúa Trời của con trai bà, là Đấng mà bà sẽ đặt tên là Jesus, cùng sự vâng phục trong đức tin của Ma-ri cũng đều nhấn mạnh điều đó. Đáng chú ý, Lu-ca đang kể câu chuyện từ góc nhìn của Ma-ri.

“Tháng thứ sáu” khi thiên sứ báo tin cho Ma-ri là tháng thứ sáu của thai kỳ của Ê-li-sa-bét (Lu-ca 1:26). Việc Ê-li-sa-bét được đầy dẫy Đức Thánh Linh cho thấy uy quyền trong lời chúc phúc của bà đối với Ma-ri và Chúa Jesus, cùng việc bà gọi Chúa Jesus là “Chúa.” Bài ca ngợi khen của Ma-ri, theo truyền thống được gọi là Magnificat (theo từ mở đầu có nghĩa là “ngợi khen” trong Kinh Thánh bản La-tinh Vulgate), sử dụng nhiều ngôn từ từ bài ca của An-ne (1 Sa-mu-ên 2:1-10) và làm nổi bật chủ đề về công lý cho người nghèo, người đói, và người bị áp bức.

(Hình 2: Bức tranh vẽ cảnh thiên sứ Gáp-ri-ên [Gabriel] báo tin cho Ma-ri - bên trong nhà thờ Chính thống giáo Hy Lạp ở Na-xa-rét [Nazareth])

3. Sự Ra Đời của Giăng Báp-tít
#

Đọc Lu-ca 1:57-80.

Luật pháp Môi-se quy định phép cắt bì vào ngày thứ tám (Sáng-thế Ký 17:12-14; 21:4; Lê-vi Ký 12:3; so sánh Phi-líp 3:5). Việc người ta phải dùng cử chỉ để ra dấu hỏi Xa-cha-ri trong Lu-ca 1:62 cho thấy ông không những bị câm mà còn bị điếc. Bà ca tụng mang tính tiên tri của ông theo truyền thống được gọi là Benedictus (theo từ mở đầu có nghĩa là “đáng ngợi khen” trong bản La-tinh Vulgate) và làm nổi bật các chủ đề về sự ứng nghiệm, sự giải cứu khỏi áp bức, sự tha tội, và sự phục vụ Đức Chúa Trời trong hòa bình — một lần nữa, phù hợp với những lý tưởng tôn giáo và đạo đức cao trọng nhất, cũng như cả những lý tưởng xã hội và chính trị.

4. Sự Ra Đời của Chúa Jesus
#

Đọc Lu-ca 2:1-20.

Về sự giáng sinh của Chúa Jesus, Lu-ca một lần nữa đưa ra khung tham chiếu lịch sử - lần này với phạm vi rộng hơn nhiều, phù hợp với tính phổ quát của sự cứu rỗi mà Chúa Jesus mang đến.

Một vấn đề nảy sinh từ việc Lu-ca đề cập đến chức tổng trấn của Qui-ri-ni-u (Quirinius) tại Syria. Theo Ma-thi-ơ, Hê-rốt Đại đế vẫn còn đang cai trị xứ Giu-đê khi Chúa Jesus giáng sinh. Hê-rốt qua đời vào năm 4 TCN. Tuy nhiên, theo các tài liệu ngoài Tân Ước, người ta cho rằng Qui-ri-ni-u làm tổng trấn xứ Syria hơn một thập kỷ sau đó, tức vào năm 6-7 Công nguyên. Dù vậy, vẫn có khả năng ông ta đã giữ chức vụ này sớm hơn. (Vào thế kỷ thứ sáu, một tu sĩ Cơ Đốc tên là Dionysius Exiguus đã tính toán sai năm giáng sinh của Chúa Jesus khi thiết lập hệ thống niên đại Trước Công nguyên và Công nguyên, theo đó Chúa Jesus được cho là sinh vào ngày 25 tháng 12 năm 1 TCN và được cắt bì sau đó tám ngày vào ngày 1 tháng 1 năm 1 Công nguyên, và không có năm 0.)

Cuộc kiểm tra dân số của Sê-sa Au-gút-tơ (Caesar Augustus) theo truyền thống được cho là nhằm mục đích đánh thuế, nhưng có thể nó là để các cư dân trong đế quốc xác nhận lòng trung thành với Au-gút-tơ. Khăn dùng để bọc con trẻ là những miếng vải quấn chặt quanh một đứa trẻ sơ sinh, như phong tục thời đó. Máng cỏ là nơi đựng thức ăn cho gia súc.

Những người chăn chiên xuất hiện trong câu chuyện giáng sinh của Chúa Jesus phù hợp với thị trấn Bết-lê-hem, quê hương của Đa-vít - vị vua chăn chiên. Việc họ ở ngoài đồng qua đêm cho thấy khó có khả năng Chúa Jesus được sinh ra vào mùa đông. Những người được một thiên sứ của Chúa báo tin mừng là dân Y-sơ-ra-ên - người Do Thái. Bài ca của đoàn thiên sứ theo truyền thống được gọi là Gloria in Excelsis Deo (theo những từ mở đầu có nghĩa là “vinh danh Chúa trên các tầng trời” trong bản La-tinh Vulgate). “Bình an” ngụ ý chỉ muôn vàn phước lành của sự cứu rỗi, và cụm từ “bình an dưới đất cho người Ngài thương” chỉ ý tốt (goodwill) mà Đức Chúa Trời dành cho dân Ngài, chứ không phải ý tốt của con người dành cho nhau.

Việc Ma-ri “ghi nhớ và suy ngẫm” về tất cả những sự kiện này ám chỉ rằng bà là nguồn cung cấp thông tin cho Lu-ca (so sánh Lu-ca 2:51), và cụm từ “mọi điều họ [những người chăn chiên] đã nghe và thấy, đúng như đã được bảo trước” viện dẫn đến lời chứng của nhân chứng kết hợp với sự mặc khải thiên thượng (so sánh 1:1-4).

(Hình 3: Papyrus 904 – Sắc lệnh điều tra dân số của La Mã từ Ai Cập)

(Hình 4: Một máng chứa cỏ cho gia súc bằng đá)

5. Sự Dâng Con trong Đền thờ
#

Đọc Lu-ca 2:21-40.

Sự nhấn mạnh của Lu-ca tiếp tục đặt vào phẩm chất đạo đức và tôn giáo xuất chúng của những nhân vật - cả nam lẫn nữ - trong câu chuyện về sự giáng sinh này: sự vâng lời mệnh lệnh thiên thượng để đặt tên cho con trai của Ma-ri là Jesus, sự vâng giữ luật pháp Môi-se trong việc thực hiện nghi lễ tinh sạch (Lê-vi Ký 12), sự công bình, lòng sùng kính, sự trông đợi, sự được đầy dẫy Đức Thánh Linh, việc nhận được sự mặc khải từ Đức Chúa Trời, ơn tiên tri, sự phục vụ lâu dài trong Đền thờ, và sự kiêng ăn cầu nguyện không thôi.

Bài ca tụng Đức Chúa Trời của Si-mê-ôn được gọi là Nunc Dimittis (theo những từ mở đầu trong bản La-tinh Vulgate, có nghĩa là “Nay xin Chúa cho”). Việc sự cứu rỗi được chỉ định cho cả dân ngoại lẫn dân Y-sơ-ra-ên (Lu-ca 2:32) góp phần vào tính phổ quát trong sách Lu-ca. “Sự sa ngã và trỗi dậy của nhiều người trong Y-sơ-ra-ên” (2:34) có lẽ ám chỉ sự phán xét đối với những người Do Thái chối bỏ Chúa Jesus và sự cứu rỗi dành cho những ai tiếp nhận Ngài. Chính Chúa Jesus là dấu hiệu mà một số người sẽ chống đối (2:34). Và lưỡi “gươm sẽ đâm thấu lòng ngươi [Ma-ri]” (2:35) có lẽ tượng trưng cho việc Chúa Jesus - con đầu lòng của Ma-ri - sẽ bị đóng đinh trên thập tự giá. Sự phát triển về thể chất, trí tuệ, và được ơn Đức Chúa Trời cho thấy Chúa Jesus là con người lý tưởng (2:40).

6. Chuyến Viếng Thăm Đền Thờ
#

Đọc Lu-ca 2:41-52.

Bây giờ Lu-ca thuật lại một sự kiện cụ thể cho thấy Chúa Jesus đã rất thông minh từ khi còn nhỏ và kết thúc bằng một lời khác về sự trưởng thành hoàn hảo của Ngài về mặt trí tuệ (“khôn ngoan”), thể chất (“thân hình”), thuộc linh (“được đẹp lòng Đức Chúa Trời”), và xã hội (“được đẹp lòng người ta”). Phần giữa, Lu-ca ghi nhận lòng tận tụy của Chúa Jesus đối với Đức Chúa Trời - Cha của Ngài - và sự vâng phục của Ngài đối với Giô-sép và Ma-ri.

Vì các bé trai người Do Thái bắt đầu đảm nhận trách nhiệm của người lớn trong Do Thái giáo ở tuổi mười ba, chuyến viếng thăm Đền thờ lần này có thể nhằm mục đích chuẩn bị cho Chúa Jesus những trách nhiệm đó.

B. Phần Mở Đầu cho Mục Vụ của Chúa Jesus
#

1. Mục Vụ của Giăng Báp-tít
#

Đọc Lu-ca 3:1-20.

Lu-ca, một lần nữa, đưa ra một khung tham chiếu lịch sử giới thiệu mục vụ dọn đường cho Chúa của Giăng Báp-tít.

Lu-ca trích dẫn lời tiên tri Ê-sai đủ dài để bao gồm và nêu bật tính phổ quát của câu “mọi xác thịt sẽ thấy sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời”. Trong khi rao giảng, Giăng Báp-tít trả lời các câu hỏi của đám đông; và Lu-ca ghi lại những lời này cho thấy các lý tưởng xã hội như lòng bác ái, sự trung thực, công lý, và sự thỏa lòng. Đối lập với những lý tưởng này là sự độc ác của Hê-rốt (An-ti-ba), kẻ thù nghịch Giăng, mà theo ghi chép của Lu-ca, Hê-rốt An-ti-ba còn làm nhiều điều gian ác, không chỉ việc bỏ tù Giăng. Sự tương phản này làm nổi bật tính đáng ngưỡng mộ của phong trào Cơ Đốc, bắt đầu với Giăng Báp-tít.

(Hình 5: Tượng Sê-sa Ti-be-rơ [Tiberius Caesar]. Lu-ca 3:1-2: “Vào năm thứ mười lăm triều đại của Tiberius Caesar, ... có lời Đức Chúa Trời phán cùng Giăng, con trai của Xa-cha-ri, trong đồng vắng.”)

2. Phép Báp-têm và Gia Phổ của Chúa Jesus
#

Đọc Lu-ca 3:21-38.

Phần tường thuật của Lu-ca về phép Báp-têm của Chúa Jesus nêu bật sự tin kính của Ngài qua chi tiết “Ngài đang cầu nguyện” (Lu-ca 3:21). Hình thể giống như chim bồ câu của Đức Thánh Linh ngự xuống trên Chúa Jesus khiến sự kiện này có thể được chứng kiến tận mắt (một lần nữa, so sánh 1:1-4). Việc ghi chép độ tuổi của Chúa Jesus khi Ngài bắt đầu thi hành mục vụ mang đến một mốc tham chiếu lịch sử.

Việc Lu-ca truy nguyên gia phổ của Chúa Jesus không chỉ dừng ở Áp-ra-ham, hay thậm chí A-đam, mà còn đến tận Đức Chúa Trời, làm nổi bật thân phận Con Đức Chúa Trời của Chúa Jesus và tính phổ quát của sự cứu rỗi Ngài mang đến. Về những điểm khác nhau giữa gia phổ của Chúa Jesus trong sách Ma-thi-ơ và Lu-ca, xin đọc thêm các sách chú giải hai sách Phúc Âm này và các sách luận về sự giáng sinh của Chúa Jesus.

3. Sự Cám Dỗ
#

Đọc Lu-ca 4:1-13.

Câu chuyện Chúa Jesus chịu cám dỗ khắc họa Ngài là Đấng đầy dẫy Đức Thánh Linh, luôn được Đức Thánh Linh dẫn dắt, và từ chối phục vụ chính mình bằng cách lợi dụng thân phận Con Đức Chúa Trời của mình.

Việc sắp xếp cám dỗ cuối cùng xảy ra tại Giê-ru-sa-lem (Lu-ca 4:9) có liên hệ đến sự nhấn mạnh của Lu-ca về thành phố này như là điểm đến trong mục vụ của Chúa Jesus và là điểm khởi đầu cho lời chứng Cơ Đốc sau này. Việc ma quỷ chấm dứt mọi cám dỗ và lìa khỏi Chúa Jesus cho đến khi có một cơ hội khác (4:13) làm nổi bật chiến thắng thuộc linh của Chúa Jesus.

(Hình 6: Vùng hoang mạc xứ Giu-đê [Judea], nơi Chúa Jesus bị cám dỗ lần đầu tiên)

C. Mục Vụ tại Ga-li-lê
#

1. Trong Nhà Hội tại Na-xa-rét
#

Đọc Lu-ca 4:14-30.

“Được quyền phép của Đức Thánh Linh” (Lu-ca 4:14) là đặc điểm nổi bật trong tường thuật về Chúa Jesus tại Ga-li-lê để bắt đầu mục vụ giảng dạy của Ngài. Kết quả là danh tiếng Ngài được lan rộng và dân chúng ngưỡng mộ Ngài. Thói quen tham dự nhà hội chứng tỏ sự tin kính tôn giáo của Ngài. Việc Chúa Jesus áp dụng Ê-sai 61:1-2 cho chính mình tiếp tục khắc họa hình ảnh Ngài được Đức Thánh Linh ngự trị và thêm vào yếu tố được đề cao trong xã hội là sự phục vụ người nghèo, tù nhân, người mù, và kẻ bị áp bức.

Câu hỏi, “Đây không phải là con trai của Giô-sép sao?” minh họa cho sự thiếu hiểu biết của dân chúng về sự ra đời bởi một người nữ đồng trinh của Chúa Jesus (xem Lu-ca 3:23) và khiến Ngài thấy trước sự chối bỏ sau cùng của những người đồng hương. Việc đề cập đến những phép lạ Chúa Jesus làm tại Ca-bê-na-um trước, dù những việc ấy được tường thuật trong đoạn văn sau, cho thấy Lu-ca đã đưa chuyến viếng thăm Na-xa-rét lên trước để biến nó thành khuôn mẫu cho sự tiếp nhận Chúa Jesus nói chung: từ được thán phục đến bị chối bỏ.

Việc Chúa Jesus nhắc đến sự kiện Ê-li và Ê-li-sê đến với dân ngoại báo trước sự cứu rỗi cho dân ngoại. Đáng chú ý, Ngài dừng việc đọc Kinh Thánh ngay trước cụm từ “ngày báo thù” (Ê-sai 61:2) - một chủ đề trung tâm trong học thuyết về Đấng Mê-si theo chủ nghĩa dân tộc (nationalistic messianism) của người Do Thái thế kỷ thứ nhất, là những người diễn giải cụm từ này theo nghĩa họ sẽ trả thù các dân ngoại.

Việc Lu-ca ghi nhận cơn thịnh nộ đến mức muốn giết người của mọi người trong nhà hội cho thấy sự chối bỏ Chúa Jesus là do sự sai trật đạo đức nơi họ, chứ không phải nơi Ngài.

(Hình 7: Vách đá gần Na-xa-rét [Nazareth])

2. Trong Nhà Hội tại Ca-bê-na-um
#

Đọc Lu-ca 4:31-44.

Chúa Jesus tiếp tục giảng dạy trong nhà hội tại Ca-bê-na-um (so sánh Lu-ca 4:15) - nơi Ngài bị một người bị quỷ ám đối chất. Sự lớn tiếng của người bị quỷ ám và câu nói đầu tiên của quỷ “Lạy Chúa Jesus, Ngài đến để tiêu diệt chúng tôi sao?” (4:34) làm tăng thêm sự xung đột. Việc quỷ vật người đó xuống giữa hội chúng khiến phép trừ quỷ được mọi người chứng kiến (so sánh với sự nhấn mạnh của Lu-ca về lời chứng trực tiếp, 1:1-4), và việc quỷ không làm hại gì người ấy khi ra khỏi, càng tô đậm quyền năng lẫn thẩm quyền trong lời quở trách của Chúa Jesus với con quỷ.

Tương tự, tình trạng sốt nặng của mẹ vợ của Si-môn và việc bà lập tức đứng dậy phục vụ sau khi được chữa lành càng nhấn mạnh quyền năng lẫn thẩm quyền trong lời quở trách cơn sốt của Chúa Jesus — và cũng tương tự như vậy đối với sự đa dạng của các loại bệnh tật mà những người khác mắc phải khi họ được đem đến với Ngài, và việc Ngài chữa lành từng người một chỉ với sự đặt tay. Chúa Jesus thể hiện thẩm quyền và quyền năng của mình bằng cách khiến cho những con quỷ phải im lặng ngay cả sau khi chúng đã ra khỏi người ta và la hét rằng Ngài là Con của Đức Chúa Trời.

Lu-ca dùng “Đấng Christ” như một từ đồng nghĩa với “Con Đức Chúa Trời” (so sánh Lu-ca 9:20; 22:67 với 22:70; 23:35). Việc đám đông tìm kiếm Chúa Jesus và cố gắng giữ Ngài ở lại chứng tỏ sức thu hút của Ngài, và việc Chúa Jesus đi rao giảng tin lành của vương quốc Đức Chúa Trời trong các nhà hội khắp các thành phố miền Giu-đê chứng tỏ sự trung tín với sứ mạng của Ngài.

(Hình 8: Di tích một nhà hội ở Ca-bê-na-um [Capernaum])

3 Sự Đánh Cá Lạ Lùng
#

Đọc Lu-ca 5:1-11.

Sự giảng dạy Lời Đức Chúa Trời của Chúa Jesus quá thu hút đến nỗi một đoàn dân đông chen lấn Ngài, khiến Ngài phải mượn chiếc thuyền của Si-môn (Phi-e-rơ) để có thể ngồi dạy dỗ họ từ ngoài khơi, cách khỏi bờ biển - nơi đám đông đang đổ về.

Sự thất bại của một đêm đánh cá (không có Chúa Jesus ở cùng) khiến cho sự thành công gần như không thể tin nổi khi đánh cá cùng Ngài trở nên ấn tượng hơn bao giờ hết. Sự thu hút đám đông giờ đây chuyển thành sự thu hút môn đồ. Si-môn và các bạn chài của ông trước đó trong sự sợ hãi đã yêu cầu Chúa Jesus lìa khỏi họ, giờ đây quyết định từ bỏ mọi sự mà đi theo Ngài.

4. Sự Chữa Lành cho Một Người Phung và Một Người Bại
#

Đọc Lu-ca 5:12-16.

Tình trạng bị phung nặng của một người được Chúa Jesus chữa lành cách lạ lùng đến nỗi tin tức về Ngài thu hút đám đông từ những vùng ngày càng xa. Không bị tha hóa bởi sự nổi tiếng này, Chúa Jesus vẫn tiếp tục lánh đi để cầu nguyện.

Đọc Lu-ca 5:17-26.

Trong câu chuyện chữa lành cho một người bị bại liệt, Lu-ca tiếp tục nhấn mạnh mức độ thu hút của Chúa Jesus và quyền năng Ngài có từ Đức Chúa Trời để chữa lành. Sự nhấn mạnh thêm về việc người ta không thể khiêng người bại liệt chen qua đám đông càng tô đậm sự nổi tiếng của Chúa Jesus. Việc gỡ mái nhà và dòng người bại liệt xuống “vào giữa” đám đông khiến phép lạ chữa lành có thể được xác minh bởi các nhân chứng trực tiếp, và việc anh ta lập tức đứng dậy càng làm tăng thêm sự kỳ diệu. Việc người được chữa lành cũng như các nhân chứng tôn vinh Đức Chúa Trời đã chứng minh giá trị tôn giáo trong hoạt động của Chúa Jesus và bác bỏ lời buộc tội Ngài phạm thượng khi tuyên bố tha tội cho người bại.

5. Sự kêu gọi Lê-vi
#

Đọc Lu-ca 5:27-39.

Việc Lê-vi “bỏ hết mọi sự” để theo Chúa Jesus và “dọn một tiệc lớn đãi Ngài tại nhà mình” một lần nữa tôn cao sức thu hút của Chúa Jesus.

Câu hỏi đặt cho các môn đồ: “Tại sao các ngươi ăn uống với bọn thu thuế và kẻ tội lỗi?” vẽ lên bức tranh về sự hài hòa trong xã hội tại bàn ăn, thu hút các độc giả chịu ảnh hưởng văn hóa Hy Lạp của Lu-ca; và cụm từ “để ăn năn” cho thấy nền tảng của sự hài hòa này là sự cải đạo cá nhân. Vì Chúa Jesus đã trả lời câu hỏi mà họ đặt ra cho các môn đồ, những người Pha-ri-si và các thầy thông giáo chuyển hướng chất vấn sang Chúa Jesus.

6. Dự Tiệc thay vì Kiêng Ăn
#

Tần suất kiêng ăn của các môn đồ Giăng Báp-tít và người Pha-ri-si, cùng việc họ cầu nguyện trong lúc kiêng ăn, làm nổi bật sự tách biệt xã hội của họ. Việc ăn uống của các môn đồ Chúa Jesus chỉ những gì họ đang làm tại nhà của Lê-vi. Sử dụng hình ảnh chàng rể và phù rể (hoặc khách dự tiệc cưới), Chúa Jesus nói với những người Pha-ri-si và các thầy thông giáo rằng họ không thể bắt các môn đồ của Ngài kiêng ăn, nghĩa là không thể bắt họ ngừng ăn uống trong nhà của Lê-vi. Sử dụng thêm các hình ảnh khác, Chúa Jesus nói rằng việc chấm dứt sự vui hưởng tình trạng hài hòa xã hội tại bàn ăn trong nhà Lê-vi sẽ giống như xé áo mới để vá áo cũ, một miếng vá bằng vải mới vốn không hợp với áo cũ, và giống như làm đổ mất rượu mới do đựng trong bầu da cũ, vì rượu mới sẽ làm nứt bầu da cũ. Nhưng giống như những người thích rượu cũ hơn rượu mới, những người Pha-ri-si và các thầy thông giáo thích sự cô lập xã hội qua những lần kiêng ăn và cầu nguyện thường xuyên của họ hơn là sự hài hòa xã hội trong bữa ăn của các môn đồ với những người thu thuế và kẻ tội lỗi đã ăn năn.

7. Vấn Đề Ngày Sa-bát
#

Đọc Lu-ca 6:1-11.

Các môn đồ vò gié lúa trong tay để tách hạt ăn được ra khỏi trấu không ăn được. Tương tự như trong Lu-ca 5:30-31, những người Pha-ri-si hướng câu hỏi của họ nhắm đến các môn đồ của Chúa Jesus, nhưng chính Ngài là người trả lời thay các môn đồ.

“Chỉ dành cho các thầy tế lễ mà thôi” (Lu-ca 6:4) nhấn mạnh tính bất hợp pháp trong việc Đa-vít và những người của ông ăn bánh thánh, và do đó nhấn mạnh lòng nhân từ của Chúa Jesus khi Ngài dùng thẩm quyền của Ngài là Chúa trên ngày Sa-bát để cho phép các môn đồ thỏa cơn đói bằng cách vi phạm luật ngày Sa-bát.

Việc mô tả bàn tay bị teo là tay phải (Lu-ca 6:6) và do đó được cho là cần thiết nhất (vì đại đa số mọi người thuận tay phải) cũng nhấn mạnh lòng nhân từ của Chúa Jesus khi Ngài chữa lành nó. Cơn thịnh nộ nổi lên vì phép lạ chữa lành đóng vai trò như một sự tương phản để càng làm nổi bật lòng nhân từ này, và việc nhắc lại việc bệnh nhân đứng dậy giữa hội chúng trong nhà hội khiến sự phục hồi trở thành một phép lạ được nhiều người chứng kiến tận mắt.

(Hình 9: Cánh đồng lúa mì vào mùa thu hoạch)

8. Bài Giảng Nơi Đồng Bằng
#

Đọc Lu-ca 6:12-49.

Lu-ca giới thiệu Bài Giảng Nơi Đồng Bằng của Chúa Jesus cùng với việc lựa chọn mười hai sứ đồ. Việc Chúa Jesus cầu nguyện suốt đêm trên núi trước khi chọn họ khiến Ngài trở thành một hình mẫu của sự tin kính. Việc Ngài gọi họ là sứ đồ làm nổi bật thẩm quyền của họ với tư cách là nhân chứng trực tiếp về mục vụ của Ngài (so sánh Công-vụ 1:21-22).

Đám đông lớn đang chờ Chúa Jesus ở chân núi là một lời nhắc nhở về sức thu hút của Ngài, và những phép trừ quỷ cùng các phép chữa bệnh khác xảy ra chỉ bằng việc chạm vào Ngài là những lời nhắc nhở về quyền năng của Ngài.

Trong bài giảng của Chúa Jesus, bốn phước lành được cân bằng bởi bốn tai vạ. Cả hai nhóm đều đề cập đến điều kiện kinh tế và xã hội của các môn đồ Chúa Jesus và những kẻ bắt bớ họ. Những chỉ dẫn sau đó dạy cho các môn đồ biết cách sống trong những hoàn cảnh này, nghĩa là lấy thiện thắng ác, bằng tình yêu thương và lòng thương xót, sự rộng lượng, và sự sẵn lòng giúp đỡ.

Phước lànhTai vạ (Khốn cho)
“Phước cho các ngươi là kẻ nghèo khó”“Khốn cho các ngươi là kẻ giàu có”
“Phước cho các ngươi là kẻ đói bây giờ”“Khốn cho các ngươi là kẻ no đủ bây giờ”
“Phước cho các ngươi là kẻ khóc lóc bây giờ”“Khốn cho các ngươi là kẻ vui cười bây giờ”
“Phước cho các ngươi khi người ta ghét các ngươi”“Khốn cho các ngươi khi mọi người đều khen các ngươi”

9. Người Thầy Đội và Bà Góa ở Na-in
#

Đọc Lu-ca 7:1-10.

Với mục tiêu hướng đến đối tượng độc giả là dân ngoại, Lu-ca nhấn mạnh sự xứng đáng, và khiêm nhường, cũng như đức tin lớn của một đội trưởng (tất nhiên thầy đội này là người ngoại bang) - người đã tìm kiếm và nhận được từ Chúa Jesus sự chữa lành cho người đầy tớ rất được ông quý trọng.

Đọc Lu-ca 7:11-17.

Trong một xã hội do nam giới thống trị, cái chết của đứa con trai duy nhất của một góa phụ khiến bà rơi vào hoàn cảnh tuyệt vọng (bà không còn người đàn ông nào để nương tựa); vì vậy, Lu-ca nhấn mạnh lòng thương xót của Chúa Jesus khi khiến con trai của người đàn bà góa ở Na-in sống lại và giao anh lại cho bà. Việc đám đông kinh sợ tôn vinh Đức Chúa Trời và nhận biết Chúa Jesus là phát ngôn viên của Đức Chúa trời (ý nghĩa của từ “tiên tri”) đã thêm một lợi ích tôn giáo vào lợi ích xã hội từ phép lạ của Chúa Jesus.

10. Giăng Báp-tít
#

Đọc Lu-ca 7:18-35.

Trong phân đoạn liên quan đến câu hỏi của Giăng Báp-tít, Lu-ca làm nổi bật việc Chúa Jesus thực hiện các phép lạ ngay tại chỗ, trong khi hai sứ giả của Giăng đang theo dõi, để làm nổi bật độ tin cậy của truyền thống chứng kiến tận mắt này (so sánh Lu-ca 1:1-4). Lời tán dương của Chúa Jesus dành cho Giăng nhấn mạnh sự tương phản giữa sự cứng cỏi hơn cả một tiên tri của Giăng và lối sống xa hoa của giới quý tộc tự nuông chiều bản thân.

Một sự tương phản tương tự trong Lu-ca 7:29-30, giữa một bên là dân chúng cùng những kẻ thu thuế biết ăn năn và một bên là người Pha-ri-si cùng các chuyên gia về luật pháp Môi-se tự cho mình là công bình, làm nổi bật sự công bình của Đức Chúa Trời, khi Ngài khước từ nhóm sau và chấp nhận nhóm trước như là con cái của sự khôn ngoan (7:35) - tức những người mà bằng sự thuận phục của họ đối với phép Báp-têm của Giăng đã chứng tỏ mình khôn ngoan trái ngược với những người khước từ.

11. Một Người Đàn Bà Tội Lỗi
#

Đọc Lu-ca 7:36-50.

Câu chuyện về sự tha thứ dành cho một người đàn bà tội lỗi đưa ra một ví dụ cụ thể về hiệu quả yêu thương của sự tha thứ từ Chúa Jesus.

Ở xứ Palestine, vì người ta phải đi bộ trên những con đường đất bằng đôi dép hở mũi, nên việc lấy nước rửa chân cho khách trở thành phép lịch sự của chủ nhà người Do Thái. Trong các dịp vui mừng, theo phép lịch sự, người ta sẽ hôn chào thăm nhau và xức dầu ô-liu lên đầu để bày tỏ niềm vui. Trong các bữa ăn trang trọng, khách dự tiệc nằm dài ở tư thế nghiêng trên đệm với chân hướng ra xa bàn; vì vậy, người phụ nữ đã dễ dàng tiếp cận chân của Chúa Jesus. Theo phong tục thời bấy giờ, những người không được mời cũng được phép vào nhà và quan sát bữa tiệc của chủ nhà.

(Hình 10: Một đôi dép được tìm thấy ở Masada)

12. Sự Hỗ Trợ của Những Người Phụ Nữ
#

Đọc Lu-ca 8:1-21.

Việc Chúa Jesus đi lại khắp nơi thu hút các độc giả chịu ảnh hưởng văn hóa Hy Lạp của Lu-ca, là những người bị cuốn hút bởi những chuyến đi. Việc công bố tin lành về vương quốc Đức Chúa Trời tạo nên một âm điệu vui tươi. Sự đồng hành của Mười Hai Sứ Đồ cung cấp lời chứng trực tiếp. Sự hỗ trợ của những người phụ nữ dành cho Chúa Jesus và Mười Hai Sứ Đồ là minh họa cho lý tưởng Hy Lạp về việc chia sẻ tài sản. Việc mô tả các bệnh tật trước đây của những người phụ nữ này thu hút sự chú ý đến những lợi ích mà mục vụ của Chúa Jesus mang lại cho phụ nữ.

13. Các Ẩn Dụ
#

Việc các đám đông tụ tập ở hết thành này đến thành khác chứng tỏ sức thu hút của Chúa Jesus. Trong ẩn dụ đầu tiên của Ngài, việc hạt giống bị giẫm đạp trên lối đi được nhấn mạnh bằng vị trí ngay trên mép lối đi (nên mới bị giẫm đạp), chứ không phải bên cạnh lối đi. “Trên đá” (không phải “trên đất đá sỏi”) nhấn mạnh sự thiếu độ ẩm; vì ngay cả đất mỏng cũng giữ được một ít độ ẩm cho lớp đá sỏi bên dưới, nhưng đá thì không giữ được chút nước nào.

Việc xác định hạt giống là Lời Đức Chúa Trời đồng nghĩa với sứ điệp của Chúa Jesus (xem Lu-ca 5:1). Vấn đề được ẩn dụ đặt ra là đức tin để được cứu, trái ngược với sự bội đạo khi bị thử thách và những bận tâm về sự lo lắng, giàu có, và lạc thú. Đức tin bền đỗ bày tỏ một tấm lòng với vẻ đẹp đạo đức. Do đó, mệnh lệnh hãy chú ý đến “cách các ngươi nghe” (8:18) giải thích ẩn dụ về cây đèn chiếu sáng (8:16) và điều bí ẩn được bày tỏ (8:17) như là bông trái tốt đẹp của đức tin kiên trì.

Việc mẹ và anh em Chúa Jesus không thể đến gần Ngài vì đoàn dân đông lắm (Lu-ca 8:19) một lần nữa chứng tỏ sức thu hút của Ngài. Và việc nghe và làm theo Lời Đức Chúa Trời là những đặc điểm xác định gia đình thuộc linh của những người theo Chúa Jesus (8:21), một lần nữa nhấn mạnh đức tin bền đỗ vào sứ điệp của Ngài.

14. Dẹp Yên Cơn Bão và Đuổi Quỉ Quân Đội
#

Đọc Lu-ca 8:22-25.

Câu chuyện Chúa Jesus dẹp yên cơn bão làm sống lại câu hỏi về đức tin.

Đọc Lu-ca 8:26-39.

Câu chuyện về việc trừ quỉ Quân Đội (Legion) cung cấp một ví dụ khác về quyền năng cứu rỗi của Chúa Jesus, được tôn cao bởi nhiều chi tiết:

  • Thời gian dài người bị quỷ ám sống trần truồng và vô gia cư
  • Anh ta quỳ xuống trước mặt Chúa Jesus
  • Anh ta nài xin Chúa Jesus
  • Việc Quân Đoàn (Legion) khẩn khoản xin Chúa Jesus đừng truyền cho chúng xuống vực sâu (một từ khác để chỉ “âm phủ” - so sánh Ma-thi-ơ 25:41; 2 Phi-e-rơ 2:4; Khải-huyền 20:3)
  • Việc Chúa Jesus cho phép lũ quỉ nhập vào đàn heo
  • Tình trạng tỉnh táo và tư thế ngồi dưới chân Chúa Jesus của người đã được giải cứu
  • Nỗi sợ hãi lớn bao trùm dân chúng trong vùng

Việc những người chăn heo “thấy” (Lu-ca 8:34) cung cấp lời chứng trực tiếp. Việc người đã được trừ quỷ rao truyền khắp cả thành, là nơi anh ta từng sống, cung cấp lời chứng trực tiếp từ người trong cuộc (so sánh 8:27).

15. Con Gái Giai-ru và Người Phụ Nữ Bị Băng Huyết
#

Đọc Lu-ca 8:40-56.

Sự chào đón đầy mong đợi của đám đông đối lập với lời cầu xin trong Lu-ca 8:37.

Việc Giai-ru chỉ có một đứa con gái làm tăng thêm nỗi đau trong lời thỉnh cầu của ông. Khi Chúa Jesus đang trên đường đến nhà Giai-ru, Ngài nhận biết rằng có năng lực từ Ngài phát ra và hỏi: “Ai đã chạm đến Ta?” Việc Chúa Jesus lặp lại câu hỏi và người phụ nữ nhận ra rằng mình không thể tiếp tục ẩn mình làm nổi bật khả năng tiên tri (prophetic clairvoyance) của Ngài. Lời khai của bà “trước mặt cả dân chúng” một lần nữa cung cấp cả lời chứng của người trong cuộc và lời chứng của người chứng kiến.

Theo cách riêng của mình, lời khuyên “đừng làm phiền Chúa Jesus nữa” và mệnh lệnh của Ngài bảo “đừng khóc” đều làm nổi bật phép lạ khiến người chết sống lại. Việc đấm ngực, bên cạnh việc khóc lóc, và chi tiết những người khóc than biết rõ đứa trẻ đã chết cũng nhấn mạnh phép lạ này. Sự trở lại của hơi thở (“linh hồn”) nơi cô bé cho phép cô đứng dậy và báo hiệu sự cứu sống cô khỏi cái chết.

16. Mục vụ của Mười Hai Sứ Đồ
#

Đọc Lu-ca 9:1-6.

Phần tường thuật của Lu-ca về mục vụ của Mười Hai Sứ Đồ làm nổi bật quyền năng lẫn thẩm quyền mà Chúa Jesus đã ban cho họ, cùng với các yếu tố về việc Ngài sai phái họ, tương ứng với ý nghĩa của từ “sứ đồ” (so sánh Lu-ca 6:13), và về hành trình truyền giáo và chữa bệnh của họ qua từng làng, phù hợp với sự quan tâm của văn hóa Hy Lạp về các chuyến đi.

Đọc Lu-ca 9:7-9.

Những việc làm của Mười Hai Sứ Đồ đến tai Hê-rốt (An-ti-ba), và sự bối rối cùng mong muốn gặp Chúa Jesus (tức Đấng đã ban quyền năng và thẩm quyền cho Mười Hai Sứ Đồ) của ông ta được Lu-ca sử dụng để chế nhạo Hê-rốt, kẻ cao sang quyền thế làm điều ác (3:19-20), và để tôn cao Chúa Jesus - Đấng đầy ân điển làm điều lành.

Đọc Lu-ca 9:10-17.

Việc Chúa Jesus đón tiếp những đám đông theo Ngài đến Bết-sai-đa, dù Ngài đã rút lui đến đó để có sự riêng tư với các môn đồ, làm chứng về sự nhân từ của Ngài. Sự nhân từ của Chúa Jesus cũng được thể hiện qua việc Ngài nói chuyện với đám đông về vương quốc Đức Chúa Trời, chữa lành người bệnh, và cho khoảng năm ngàn người ăn.

17. Sự Xưng Nhận của Phi-e-rơ
#

Đọc Lu-ca 9:18-27.

Lu-ca một lần nữa cho thấy sự tin kính của Chúa Jesus qua chi tiết Ngài đang cầu nguyện một mình vào thời điểm Phi-e-rơ tuyên xưng Ngài là “Đấng Christ của Đức Chúa Trời”, tức “Đấng được Đức Chúa Trời xức dầu”.

Bằng cách đặt mạng lệnh nghiêm cấm các môn đồ tiết lộ việc Ngài là Đấng Christ đi liền với lời báo trước rằng Ngài sẽ phải chịu thương khó, chịu chết, và sống lại, Lu-ca chỉ ra rằng với tư cách là Đấng Christ của Đức Chúa Trời, Chúa Jesus và vương quốc Đức Chúa Trời mà Ngài mang đến không nguy hiểm về mặt chính trị: Chúa Jesus đến để chịu bị khước từ, chứ không phải để làm cách mạng. Tương tự, những người theo Ngài phải liều mạng sống mình mỗi ngày, vì lợi ích họ sẽ có được trong đời sau, chứ không phải vì lợi ích chính trị trong đời này.

18. Sự Hóa Hình
#

Đọc Lu-ca 9:28-36.

Lời giới thiệu của Lu-ca về sự hóa hình, “Vả, độ tám ngày sau khi phán các lời đó”, nêu rõ sự ứng nghiệm của lời tiên tri trước đó của Chúa Jesus rằng một số người trong vòng những người nghe Ngài sẽ không chết trước khi thấy vương quốc Đức Chúa Trời. Việc xác định “tám ngày” thay vì “sáu ngày” như trong Mác và Ma-thi-ơ dường như phản ánh tuần lễ có tám ngày theo quy định của người La Mã, nhưng vì Lu-ca sử dụng từ “độ” để ước chừng khoảng thời gian đã qua, nên chi tiết này vốn không mâu thuẫn với Mác và Ma-thi-ơ.

Một lần nữa, sự cầu nguyện của Chúa Jesus chứng tỏ sự tin kính của Ngài. Sự vinh hiển của Môi-se và Ê-li cũng như của Chúa Jesus và cuộc nói chuyện của họ về sự ra đi của Ngài, tức việc Ngài sắp hoàn thành tại Giê-ru-sa-lem, cho thấy vương quốc Đức Chúa Trời là thuộc về thiên đàng, không đe dọa đến Đế quốc La Mã đương thời; vì sự ra đi của Chúa Jesus hóa ra là sự thăng thiên lên trời (Lu-ca 9:51; 24:50-51; Công-vụ 1:9-11).

Việc liên kết đề nghị thiếu suy nghĩ của Phi-e-rơ với tình trạng mê mệt do buồn ngủ của ông và hai môn đồ còn lại làm giảm nhẹ lỗi của ông một cách đáng được thông cảm. Nỗi sợ hãi của họ giải thích cho sự im lặng sau này của họ, và việc thêm cụm từ “Đấng được chọn” vào “Con Ta” phân biệt Chúa Jesus với Môi-se và Ê-li như là Đấng duy nhất mà các môn đồ nên lắng nghe.

19. Phép Đuổi Quỉ Khó và Người Đuổi Quỉ Lạ
#

Đọc Lu-ca 9:37-43a.

Sự việc tiếp theo xảy ra “vào ngày hôm sau” vì sự buồn ngủ của các môn đồ ngụ ý rằng họ đã ở lại qua đêm trên Núi Hóa Hình.

Việc người cha nài xin Chúa Jesus và đứa trẻ là con trai duy nhất làm tăng thêm nỗi đau, và qua đó càng cho thấy lòng nhân từ của Chúa Jesus khi trao lại đứa con đã được chữa lành khỏi linh ô uế cho người cha. Sự kinh ngạc của mọi người trước sự vĩ đại của Đức Chúa Trời giúp Chúa Jesus không bị buộc tội tự đề cao bản thân, dù rằng mọi người đều sững sờ về mọi việc Ngài làm. Một lời tiên tri khác về sự thương khó và cách nó được giới thiệu cũng giúp Ngài tránh khỏi cáo buộc đó.

Đọc Lu-ca 9:43b-50.

Ý nghĩa bị che giấu trong lời của Chúa Jesus một lần nữa giảm nhẹ lỗi cho các môn đồ khi họ tranh luận xem ai trong số họ là người lớn nhất. Việc “biết ý tưởng trong lòng họ” cho thấy Chúa Jesus sở hữu khả năng của tiên tri là thấu biết suy nghĩ của người khác. Việc Ngài đặt một đứa trẻ nhỏ “bên cạnh mình” cùng những lời dạy liền sau đó của Ngài khiến cho kẻ nhỏ trở nên lớn. Tương tự, Chúa Jesus xác nhận có người dùng danh Ngài để trừ quỉ nhưng không đi theo cùng Nhóm Mười Hai. Qua đó cho thấy sức thu hút lan rộng của Chúa Jesus trong sách Lu-ca.

D. Hành Trình Cuối Cùng Đến Giê-ru-sa-lem
#

1. Hành Trình đến Giê-ru-sa-lem
#

Đọc Lu-ca 9:51-62.

Giờ đây, Lu-ca bắt đầu tường thuật nhật ký hành trình (travelogue) lý thú theo phong cách Hy Lạp về chuyến đi của Chúa Jesus đến Giê-ru-sa-lem để được đưa lên trời. Việc Ngài “nhất quyết” lên đường cho thấy lòng dũng cảm trước những lời tiên báo về sự thương khó trước đó. Việc sai các sứ giả đi trước để chuẩn bị biến hành trình này thành một cuộc thăm viếng của bậc quân vương (xem đặc biệt Lu-ca 10:1; 19:28-38, 44c), và phần lớn hành trình cung cấp một khuôn khổ tường thuật cho những lời dạy mở rộng của Chúa Jesus. Ngay cả những tường thuật về phép lạ cũng dẫn đến lời dạy của Ngài.

Là cư dân vùng trung tâm xứ Palestine và là hậu duệ từ những cuộc hôn nhân giữa những người Y-sơ-ra-ên miền bắc (không bị bắt đi lưu đày bởi người A-si-ri) và những người ngoại bang (bị người A-si-ri đưa đến miền bắc Y-sơ-ra-ên), người Sa-ma-ri thù ghét người Do Thái và ngược lại — do đó có một ngôi làng của người Sa-ma-ri từ chối tiếp đón Chúa Jesus, và câu hỏi của Gia-cơ và Giăng về việc có nên khiến lửa từ trời giáng xuống tiêu diệt ngôi làng đó không. Việc Chúa Jesus khiển trách Gia-cơ và Giăng và việc Ngài đi đến một làng khác thể hiện lòng khoan dung.

Ba sự kiện cuối trong chương này nhấn mạnh đến sự lang thang (“Con Người không có chỗ mà gối đầu”), sự rao giảng (“Hãy rời bỏ [cha ngươi] và rao giảng khắp nơi về vương quốc của Đức Chúa Trời”), và sự bền chí (“Ai đã tra tay cầm cày, còn ngó lại đằng sau, thì không xứng đáng với nước Đức Chúa Trời”).

Đọc thêm:

“Sự thù ghét cũng nảy sinh giữa người Sa-ma-ri và người Do Thái vì lý do sau. Vào dịp lễ, người Ga-li-lê có thói quen đi ngang qua lãnh thổ Sa-ma-ri trên đường đến Thành Thánh. Có lần, khi họ đang đi ngang qua, một số người dân của một ngôi làng tên là Ginaeum, nằm trên biên giới giữa Sa-ma-ri và Đồng Bằng Lớn, đã giao chiến với người Ga-li-lê và giết chết rất nhiều người trong bọn họ. Đám đông [người Do Thái] cầm vũ khí đã đốt phá và cướp bóc một số làng của người Sa-ma-ri” (Josephus, Cổ Sử Do Thái [Jewish Antiquities] 20.6.1 §§118-24).

2. Nhiệm Vụ của Nhóm Bảy Mươi Hai
#

Đọc Lu-ca 10:1-16.

Vì người Do Thái cổ đại tính tổng số các dân tộc trên thế giới là bảy mươi hai, việc Chúa Jesus chỉ định và sai phái bảy mươi hai môn đồ khác đi trước Ngài có lẽ tượng trưng cho sứ mạng truyền giáo toàn cầu của Hội Thánh (so sánh Lu-ca 24:27; Công-vụ 1:8).

Một số bản sao chép cổ của sách Lu-ca ghi con số tròn “bảy mươi”, nhưng các bản sao chép này thường có độ tin cậy thấp hơn so với những bản ghi là “bảy mươi hai”. Các mệnh lệnh như đừng chào hỏi dọc đường, đừng di chuyển từ nhà này sang nhà khác trong một khu vực, và hãy ăn những gì được dọn ra, là do sự cần kíp, vì Chúa Jesus sắp đến. “Sự bình an” (shalom trong tiếng Hê-bơ-rơ) là một lời chào thông thường của người Semit, nhưng ở đây nó hàm ý những phước lành cứu rỗi mà Chúa Jesus đang mang đến. Vì vậy, “người đáng hưởng bình an” (Lu-ca 10:6) là một người sẵn lòng đón nhận những phước lành đó. Bởi vì Chúa Jesus sắp đến, vương quốc Đức Chúa Trời (hay sự cai trị của Đức Chúa Trời) đã đến gần.

Đọc Lu-ca 10:17-24.

Chúa Jesus ví những phép trừ quỉ mà Nhóm Bảy Mươi Hai báo cáo với sự sa ngã như chớp từ trời của Sa-tan, là kẻ cai trị các quỉ. Lời hứa bảo vệ các môn đồ của Chúa Jesus (Lu-ca 10:19) liên quan đến việc đi lại trong nỗ lực truyền giáo (rắn và bò cạp dọc đường), chứ không phải để thể hiện quyền năng siêu nhiên. Để ngăn chặn sự kiêu ngạo, Chúa Jesus nhấn mạnh niềm vui trong đặc ân (việc ghi tên vào thiên đàng) hơn là niềm vui trong thành tích (việc trừ quỉ). Tương tự, sự vui mừng của chính Ngài, được cảm thúc bởi Đức Thánh Linh luôn hành động trong đời sống Ngài, nằm ở sự mặc khải của Đức Chúa Cha qua Ngài cho những người tấm lòng như trẻ thơ trong sự học hỏi (như Nhóm Bảy Mươi Hai), thay vì cho những người tự cho mình là khôn ngoan và hiểu biết. Đặc ân nhận được sự mặc khải của Ngài vượt xa mọi điều mà các tiên tri và vua chúa từng hưởng.

(Hình 11: Một bọ cạp có nọc độc chết người ở miền nam Israel)

3. Người Sa-ma-ri Nhân Lành
#

Đọc Lu-ca 10:25-37.

Tiếp theo, Chúa Jesus bày tỏ ân điển với một thầy dạy luật bằng cách khen ngợi câu trả lời của ông, dù ông đang thử Ngài. Câu trả lời đúng của thầy dạy luật nêu lên những lý tưởng về tôn giáo và xã hội.

Ẩn dụ về người Sa-ma-ri nhân lành tước bỏ nỗ lực tự biện minh của thầy dạy luật bằng cách chỉ ra rằng: để vâng lời yêu người lân cận như yêu chính mình một cách tự nhiên, bạn phải tự mình trở thành một người lân cận, hơn là định nghĩa ai là hoặc không phải là người lân cận của mình. Trở thành một người lân cận có nghĩa là đối xử với bất kỳ người nào đang gặp nhu cầu ở gần bạn như là người lân cận của mình, mà không phải vất vả định nghĩa; trong khi việc vất vả định nghĩa người nào mới là người lân cận sẽ ngăn cản bạn giúp đỡ người đang gặp nhu cầu.

Chúa Jesus gây sốc cho thầy dạy luật bằng cách khiến người giúp đỡ trong ẩn dụ là một người Sa-ma-ri. Một người Do Thái như thầy dạy luật sẽ mong đợi Chúa Jesus, nhiều lắm thì cũng chỉ khiến người Sa-ma-ri trở thành một người cần được giúp đỡ, để bài học sẽ là: một người Do Thái nên giúp đỡ ngay cả đó là một người Sa-ma-ri đang cần được giúp đỡ. Thay vào đó, bài học của Chúa Jesus là: ngay cả một người Sa-ma-ri cũng giúp đỡ một người Do Thái đang cần được giúp đỡ. Thế là chấm dứt niềm kiêu hãnh sắc tộc trong xã hội lý tưởng của Chúa Jesus!

Đọc thêm: BỐI CẢNH CỦA ẨN DỤ VỀ NGƯỜI SA-MA-RI NHÂN LÀNH

Con đường từ Giê-ru-sa-lem xuống Giê-ri-cô giảm độ cao hơn 3,000 feet trong chưa đầy 15 dặm, xuyên qua các hẻm núi và khe suối đầy rẫy bọn cướp. Thầy tế lễ và người Lê-vi có thể sợ bị ô uế theo nghi lễ, nếu chạm vào một xác chết. Sự ô uế đó sẽ khiến họ phải trả giá, vì phải mua tro của con bò cái tơ có sắc tía để thanh tẩy, mất đặc quyền trong Đền thờ (như ăn của tế lễ) trong suốt một tuần bị ô uế. Họ sẽ còn phải sắp xếp chôn cất cho xác chết, và xé áo tốt của mình như một dấu hiệu cho tang chế. Thầy tế lễ và người Lê-vi nhận thấy nạn nhân này một mối đe dọa khiến họ bị thiệt hại về lợi ích cá nhân và gây ra sự bất tiện cho bản thân.

Người Sa-ma-ri cũng có lý do tương tự để bỏ qua nạn nhân đang bị thương và có thể đã chết này, bởi vì người Sa-ma-ri cũng cần tránh bị ô uế từ người chết — và thậm chí còn có lý do nhiều hơn, vì rất có thể nạn nhân là một người Do Thái đáng ghét. Nhưng người Sa-ma-ri không chỉ dừng lại để giúp đỡ; ông chữa vết thương bằng rượu để sát trùng và dầu ô liu để làm dịu, xé vải từ khăn xếp hoặc áo lót bằng vải gai của chính mình để băng bó vết thương, đi bộ trong khi nạn nhân cưỡi con lừa của ông (tốc độ di chuyển chậm hơn khiến họ có nguy cơ gặp nguy hiểm lớn hơn, vì có thể bị bọn cướp tấn công lần nữa), trả tiền cho chủ quán trọ đủ cho hai tuần dưỡng thương, và cam kết chi trả không giới hạn cho bất kỳ chi phí phát sinh nào — tất cả mà không hy vọng được hoàn lại, vì người Sa-ma-ri không có quyền pháp lý trong các tòa án của người Do Thái.

Khi được yêu cầu xác định ai là người lân cận thật sự trong ẩn dụ, thầy dạy luật đã không thể tự mình nói ra là “người Sa-ma-ri”, mà thay vào đó, ông ta dùng một cách nói vòng, là “người đã thương xót anh ta.”

(Hình 12: Con đường bộ thời cổ đại nối giữa Giê-ru-sa-lem và Giê-ri-cô)

4. Ma-thê và Ma-ri
#

Đọc Lu-ca 10:38-42.

Nhật ký hành trình (travelogue) tiếp tục với một đoạn kể về việc phụ nữ được tham gia vào những đặc ân của việc làm môn đồ - vốn trước đây chỉ dành cho nam giới: ngồi dưới chân Chúa Jesus và lắng nghe lời Ngài. Phụ nữ không cần phải phục vụ bữa ăn.

5. Sự Cầu Nguyện
#

Đọc Lu-ca 11:1-13.

Sự tin kính của Chúa Jesus một lần nữa được thể hiện qua việc Ngài cầu nguyện, nhưng lần này sự cầu nguyện của Ngài dẫn đến sự dạy dỗ về cách cầu nguyện. Lời Cầu Nguyện của Chúa được Lu-ca ghi lại ngắn hơn so với trong Ma-thi-ơ, dạy các môn đồ nên cầu nguyện điều gì.

Những ẩn dụ và lời dạy sau cho họ biết cầu nguyện như thế nào: cầu nguyện với sự kiên nhẫn.

  • Như những người ăn xin biết rằng, nếu cứ tiếp tục xin, người ta sẽ cho. Nếu bạn tìm kiếm đủ lâu, bạn sẽ tìm thấy. Nếu bạn không ngừng gõ cửa, người bên trong cuối cùng sẽ mở cửa.
  • Trong mối quan hệ cha - con với các môn đồ, Đức Chúa Trời sẽ đáp lại những lời cầu nguyện kiên trì của họ còn hơn biết bao nhiêu! Cả cá và rắn đều có vảy và dài, nên đôi khi chúng trông giống nhau. Trứng và bọ cạp cũng vậy - nếu bọ cạp cuộn tròn càng và đuôi của nó lại.
  • Dường như người lữ hành trong ẩn dụ của Chúa Jesus đã khởi hành vào buổi chiều để tránh cái nóng của buổi trưa, nên đến nửa đêm - thời điểm đã rất muộn theo tiêu chuẩn của người phương Đông cổ đại, là những người đi ngủ sớm. Luật hiếu khách của phương Đông khiến chủ nhà của người lữ khách phải đánh thức hàng xóm để xin thức ăn. Ba ổ bánh mì nhỏ được coi là bữa ăn đủ cho một người. Sự miễn cưỡng của hàng xóm càng tăng lên, vì các gia đình ở xứ Palestine thường ngủ gần nhau trên cùng một chiếc thảm trong cùng một phòng, nên việc đứng dậy và mở cửa sẽ đánh thức cả gia đình. Trong câu trả lời của người hàng xóm, sự vắng mặt của một cách gọi lịch sự: “bạn ơi” (như trong cách người chủ nhà nài xin bạn mình) cho thấy sự bực bội.

6. Sự Vô Tín
#

Đọc Lu-ca 11:14-36.

Việc đưa ra cáo buộc Chúa Jesus trừ quỷ bằng quyền lực của chúa quỉ (Bê-ên-xê-bun), đặt liền kề với yêu cầu Ngài làm một dấu lạ từ trời, Lu-ca đã phơi bày một sự hoài nghi đến mức vô lý của những kẻ từ chối sự thật rằng những bằng chứng hiện có đã đủ thuyết phục.

Trong ẩn dụ của Chúa Jesus:

  • Ngón tay của Đức Chúa Trời tượng trưng cho quyền năng của Ngài,
  • Người mạnh sức được vũ trang toàn diện cùng lâu đài và tài sản của hắn tượng trưng cho Sa-tan và vương quốc của hắn cùng những kẻ bị quỉ ám,
  • Người mạnh hơn và chiến thắng của người ấy tượng trưng cho Chúa Jesus và các phép trừ quỷ của Ngài.

Lời phước lành mà Chúa Jesus dành cho “những kẻ nghe và làm theo Lời” cho thấy Ngài là một giáo sư giảng dạy có tiêu chuẩn đạo đức cao. Sự lên án những người đồng thời với Ngài là “dòng dõi gian ác” cho thấy Ngài không dung thứ cho những đạo đức thấp kém.

Xuất hiện ngay sau Chúa Jesus như dấu hiệu của Giô-na, “ngọn đèn để trên chân đèn” dường như cũng tượng trưng cho Chúa Jesus. Nhưng “ngọn đèn của thân thể anh em” tượng trưng cho cách một người nhận thức về Chúa Jesus.

6. Người Pha-ri-si và Các Thầy Dạy Luật
#

Đọc Lu-ca 11:37-52.

Tiếp theo là một số cuộc trò chuyện trong bữa ăn mà các độc giả chịu ảnh hưởng văn hóa Hy Lạp của Lu-ca rất thích thú.

Động từ thường được dịch là “rửa” trong Lu-ca 11:38 theo nghĩa đen là “làm báp-têm” và có thể đề cập đến việc dìm cả thân thể, được người Pha-ri-si và những người khác thực hành, chứ không chỉ là rửa tay. Luôn là một giáo sư về đạo đức và tôn giáo, Chúa Jesus đối lập sự gian ác của lòng tham lam với sự tốt lành của lòng rộng rãi, và kết hợp đức tính xã hội của sự công bình với đức tính tôn giáo của lòng yêu kính Đức Chúa Trời.

Sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời sẽ sai các tiên tri và sứ đồ dường như là sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời được nhân cách hóa, hoặc có lẽ là một cuốn sách nay đã thất lạc tên là “Sự Khôn Ngoan của Đức Chúa Trời”, hoặc Chúa Jesus đang nói về chính Ngài như là sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời.

Đọc Lu-ca 11:53-12:59.

Sức thu hút ngày càng tăng của Chúa Jesus đối với hàng ngàn người tương phản với phản ứng thù địch của một số ít thầy thông giáo và người Pha-ri-si.

Chúa Jesus dạy các môn đồ về lời nói (Lu-ca 12:1b-12).

  • Đầu tiên, Ngài cảnh báo họ về sự giả dối trong lời nói (12:1b-3).
  • Gọi các môn đồ là “bạn hữu ta”, một cách xưng hô thể hiện lý tưởng xã hội, Ngài sau đó cảnh báo chống lại việc nói năng vì sợ hãi loài người, và khích lệ họ nói trong sự kính sợ Đức Chúa Trời và nương dựa nơi Đức Thánh Linh, là Đấng mà những kẻ chống đối các môn đồ sẽ phạm thượng đến - điều sẽ dẫn đến sự hủy diệt đời đời của chúng (12:4-12).

Nói với một người trong đám đông và sau đó với cả đám đông, Chúa Jesus cảnh báo chống lại lòng tham (Lu-ca 12:13-14, 15-21).

Khi ở với các môn đồ một lần nữa, Ngài cảnh báo chống lại sự lo lắng (Lu-ca 12:22-32), truyền lệnh về việc bố thí (12:33-34), và dặn họ phải sẵn sàng cho sự tái lâm của Ngài (12:35-40). Khi Phi-e-rơ hỏi liệu Ngài có nói với đám đông như với các môn đồ không, Chúa Jesus tiếp tục nói với các môn đồ bằng cách định nghĩa sự sẵn sàng của họ cho sự tái lâm của Ngài qua lối sống trung tín, công bình, đáng tin cậy, và ôn hòa (12:41-48), và bằng cách mô tả sự đến lần thứ nhất của Ngài như là sự phân rẽ môn đồ khỏi những kẻ không phải môn đồ — với một cái giá phải trả rất lớn cho chính Ngài (12:49-53).

Cuối cùng, quay lại với đám đông, Chúa Jesus bảo họ hãy giải hòa với Đức Chúa Trời trước khi hết thời gian (Lu-ca 12:54-59).

7. Sự Ăn Năn
#

Đọc Lu-ca 13:1-9.

Giải hòa với Đức Chúa Trời có nghĩa là ăn năn và sinh bông trái của hành vi tốt lành, nhưng thời gian là có hạn.

Không có thêm thông tin nào về việc Phi-lát ra lệnh giết một số người hành hương từ Ga-li-lê tại Giê-ru-sa-lem khi họ đang dâng tế lễ trong Đền thờ, hoặc về sự sập tháp Si-lô-am (Siloam, có lẽ là một tháp trong tường thành Giê-ru-sa-lem gần ao Si-lô-am). Đối với những người thuật lại sự việc, Chúa Jesus trước tiên nói với họ về sự cần thiết phải ăn năn (Lu-ca 13:1-5) và, sau đó qua ẩn dụ, Ngài nói về thời gian dành cho việc ăn năn là có hạn. Cây vả hút chất dinh dưỡng từ đất một cách mạnh mẽ, khiến các cây nho và cây cỏ xung quanh bị thiếu hụt dưỡng chất. Vì vậy, cây vả trong ẩn dụ chỉ được cho thêm một năm nữa để sinh hoa kết quả; nếu không, nó sẽ bị chặt đi để không choán chỗ cách vô ích (13:6-9).

(Hình 13: Một cây vả)

8. Sự Chữa Lành
#

Đọc Lu-ca 13:10-21.

Chủ đề về thời gian để ăn năn được tiếp nối bởi thời gian chữa lành.

Việc Chúa Jesus chữa lành một người phụ nữ trong ngày Sa-bát thể hiện cả lòng nhân ái của Ngài, tương phản với sự phẫn nộ theo lề luật của người cai nhà hội, và sự quý trọng của Chúa Jesus dành cho người phụ nữ như là “con gái của Áp-ra-ham”.

Theo sau đó là hai ẩn dụ. Những ẩn dụ này giải thích sự hổ thẹn của những kẻ chống đối Chúa Jesus và niềm vui của cả dân chúng trước những điều kỳ diệu Ngài làm như là vương quốc Đức Chúa Trời đã lớn lên, giống như hạt cải nảy mầm mọc thành cây, và lan rộng, giống như chất gây nở (tương tự như men) đã thấm vào một khối bột lớn. Từ “vì thế” giới thiệu hai ẩn dụ về hạt cải và chất gây nở liên kết chúng với hiệu quả ngay lập tức của phép lạ Chúa Jesus vừa làm.

9. Sự Cứu Rỗi
#

Đọc Lu-ca 13:22-30.

Lu-ca tiếp tục nhắc nhở độc giả về tính chất của phần tường thuật hiện tại như là một nhật ký hành trình (Lu-ca 13:22). Thay vì trả lời câu hỏi về số lượng người được cứu, Chúa Jesus dạy về việc đừng làm điều ác như là bằng chứng của sự cứu rỗi (13:27). Một sự cứu rỗi dựa trên cơ sở của bằng chứng như vậy sẽ bao gồm nhiều dân ngoại, như đối tượng mà Lu-ca đang viết cho, nhưng sẽ loại trừ nhiều người Do Thái (13:28-29). “Những kẻ cuối sẽ nên đầu” là dân ngoại, “những kẻ đầu sẽ trở thành cuối” là người Do Thái. Sự làm đầu sau cùng có nghĩa là được cứu rỗi, sự làm cuối sau cùng có nghĩa là bị hư mất (13:30).

10. Hê-rốt - Con Chồn Cáo
#

Đọc Lu-ca 13:31-35.

Hê-rốt An-ti-ba cũng đang đi đến Giê-ru-sa-lem (xem Lu-ca 23:8-12), nhưng Chúa Jesus từ chối để sự việc đó ngăn cản Ngài tiếp tục hành trình đến Giê-ru-sa-lem.

“Con cáo đó” trong nguyên bản tiếng Hy Lạp là giống cái và ám chỉ một cách châm biếm sự tầm thường của Hê-rốt: một con cáo cái không thể trở thành sư tử, và có thể ám chỉ sự nhu nhược của Hê-rốt trước người vợ bất hợp pháp của ông ta là Hê-rô-đia.

(Hình 14: Di tích Machaerus - một pháo đài cổ của người Do Thái, nằm ở phía đông Biển Chết, thuộc lãnh thổ Jordan ngày nay. Giăng Báp-tít được cho là đã bị Hê-rốt truyền lệnh chém đầu tại đây.)

11. Sự Chữa Lành và Cuộc Trò Chuyện Tại Bàn Ăn
#

Đọc Lu-ca 14:1-24.

Tại bữa ăn trong ngày Sa-bát tại nhà của một người Pha-ri-si có thế lực, Chúa Jesus chữa lành một người mắc bệnh phù thũng (Lu-ca 14:1-6). Phép chữa lành này một lần nữa thể hiện tinh thần nhân đạo của Chúa Jesus (so sánh 13:10-17) và dẫn đến cuộc trò chuyện tại bàn ăn (so sánh 7:36-50).

  • Phần đầu của cuộc nói chuyện, liên quan đến việc chữa lành, đã làm cho các thầy dạy luật và người Pha-ri-si hiện diện tại đó phải im lặng vì xấu hổ (so sánh 13:17).
  • Phần thứ hai đề cập đến danh dự và sự xấu hổ trong việc tiếp đãi khách (14:7-11) và trong việc mời khách (14:12-14).
  • Trong phần thứ ba của cuộc trò chuyện tại bàn ăn (14:15-24), tính phổ quát của Phúc Âm được đề cập, xuất phát từ danh dự bị xúc phạm của một người, khi lời mời dự tiệc của ông đã bị những người ông mời đầu tiên từ chối. Họ đại diện cho những người Do Thái tự cho mình là công bình, như các thầy dạy luật và người Pha-ri-si đang ngồi tại bàn với Chúa Jesus. Những người nghèo, tàn tật, đui mù, què quặt được đưa đến dự tiệc đại diện cho những người bị xã hội ruồng bỏ; và những người được đưa từ ngoài thành vào dự tiệc đại diện cho dân ngoại.

12. Môn Đồ của Chúa Jesus
#

Đọc Lu-ca 14:25-35.

Sau khi nhắc lại cho độc giả về độ nổi tiếng của Chúa Jesus và tính chất của phần tường thuật này như là một nhật ký hành trình (Lu-ca 14:25), Lu-ca trích dẫn những lời dạy của Chúa Jesus - Đấng đã sử dụng nguy cơ bị sỉ nhục như một cú hích để thúc đẩy những người đang đi theo Ngài trở thành môn đồ chân chính qua sự hy sinh bản thân.

Muối mà mất đi vị mặn (dịch theo nghĩa đen là “trở nên dại dột”) sẽ phải chịu sự sỉ nhục là bị vứt bỏ vì vô dụng.

13. Một Nhóm Ba Ẩn Dụ
#

Đọc Lu-ca 15:1-32.

Trước những lời lằm bằm của những người Pha-ri-si và các thầy thông giáo về việc Chúa Jesus giao du với những người thu thuế và kẻ tội lỗi, một nhóm gồm ba ẩn dụ được Chúa Jesus sử dụng để dạy dỗ đám đông. Trong cả ba ẩn dụ, yếu tố sự vui mừng khi tìm thấy kẻ bị mất được đặt trong sự tương phản với những lời lằm bằm đó; và trong ẩn dụ thứ ba, sự tức giận của người anh cả đại diện cho những lời lằm bằm.

CON CHIÊN BỊ LẠC

Liên quan đến ẩn dụ về con chiên bị lạc, những người công bình không cần ăn năn bị thu hút đến với Chúa Jesus do có sự tương đồng về đạo đức và tôn giáo từ trước (xem Lu-ca 1:6, 17; 2:25; 23:50; Công-vụ 10:22, 35); nhưng Ngài phải “kêu gọi” những kẻ công khai phạm tội (Lu-ca 5:32).

ĐỒNG BẠC BỊ THẤT LẠC

Như là một phần của hồi môn được trao cho người phụ nữ khi kết hôn, những người vợ ở xứ Palestine thường đội một chiếc khăn trùm đầu được trang trí bằng những đồng tiền xu. Đồng bạc bị mất có lẽ thuộc về một chiếc khăn như vậy.

Người phụ nữ làm mất đồng bạc phải thắp đèn, không phải vì trời tối, mà vì những ngôi nhà ở Palestine không có cửa sổ, mà chỉ có một cánh cửa thấp - chỉ cho phép một chút ánh sáng lọt vào. Rõ ràng là đồng bạc đã rơi xuống phần thấp hơn trong ngôi nhà có một phòng. Ở đó, nó có thể đã bị che khuất dưới một ít rơm rạ rải rác, vì gia súc nhỏ thường được nuôi trong nhà. Người phụ nữ quét nhà bằng cây chổi, có lẽ là một nhánh cây cọ, không phải để quét ra đồng bạc, mà để làm cho nó kêu vang trên nền đất cứng, nhờ đó bà có thể xác định được vị trí của nó.

Sự vui mừng của bà khi tìm thấy đồng bạc tượng trưng cho “sự vui mừng trước mặt các thiên sứ của Đức Chúa Trời về một kẻ có tội ăn năn.” Chúa Jesus không nói đến sự vui mừng của các thiên sứ, mà là sự vui mừng của chính Đức Chúa Trời trước sự hiện diện của các thiên sứ. Điều này tạo nên một sự tương phản rõ rệt với lời dạy của các ra-bi Do Thái, “Có sự vui mừng trước mặt Đức Chúa Trời khi những kẻ chọc giận Ngài bị diệt vong khỏi thế gian” (Sifra Numbers 18, 8 §117 [37a]).

(Hình 15: Một chiếc khăn trùm đầu được trang trí bằng các đồng bạc)

NGƯỜI CON TRAI HOANG ĐÀNG

Theo luật trưởng nam, một người con trai thứ nhận được tài sản thừa kế ít hơn nhiều so với người con trai cả. “Thu gom mọi thứ lại” có nghĩa là chuyển đổi thành tiền mặt, có lẽ bằng cách bán đi.

Vì heo là loài ô uế theo nghi lễ đối với người Do Thái, nên việc phải chăn heo thuê cho một người ngoại bang và việc bị đói đến mức muốn lấy vỏ đậu của heo mà ăn cho thấy tình cảnh tuyệt vọng của đứa con hoang đàng. Sự ăn năn nảy sinh từ cảm giác khốn khổ và túng quẫn khiến cậu quyết định trở về nhà cha với lời thú tội, “Thưa cha [một cách xưng hô tôn kính], con đã phạm tội với trời [một cách nói thay thế cho ‘Đức Chúa Trời’ một cách tôn kính của người Do Thái] và trước mặt cha [một lời thừa nhận mình có tội trong mối quan hệ với người cha, sau lời thừa nhận tương tự trong mối quan hệ với Đức Chúa Trời],” và với lời cầu xin được cha nhận lại chỉ như một người đầy tớ. Từ bỏ mọi quyền lợi của người con đối với cha mình, cậu chỉ xin được cha thương xót.

NGƯỜI CHA

Nhưng đứa con hoang đàng đã đánh giá thấp tình yêu của cha mình, cũng như những người Pha-ri-si và các thầy thông giáo đang đánh giá thấp tình yêu của Đức Chúa Trời. Khi thấy con trai trở về, người cha chạy đến gặp cậu. Hành động chạy là bất thường và mất thể diện đối với một cụ già phương Đông, nhưng tình yêu và sự vui mừng đã lấn át việc phải cư xử đúng mực của người cha, như thể nói rằng ngay cả Đức Chúa Trời cũng quên đi phẩm giá của Ngài trong sự vui mừng vỡ òa khi một tội nhân quay về với Ngài trong sự ăn năn.

Nụ hôn của người cha bày tỏ sự tha thứ. Đứa con bắt đầu thốt lên lời xưng tội đã chuẩn bị sẵn, nhưng trước khi cậu nói đến việc xin được cha nhận lại như một đầy tớ, người cha đã ngắt lời cậu với một loạt những mệnh lệnh:

  • Mặc cho cậu áo choàng tốt nhất như một dấu hiệu của danh dự,
  • Đeo vào ngón tay cậu một chiếc nhẫn (là ấn tín để đóng trên các tài liệu pháp lý) như một dấu hiệu của quyền làm con được phục hồi,
  • Xỏ dép vào chân cậu như một dấu hiệu cho thấy cậu không còn là một người lao động làm thuê nữa, và
  • Giết bò con béo để làm một bữa tiệc ăn mừng. Vì chế độ ăn uống hàng ngày của người Do Thái cổ đại không có thịt, nên sự hiện diện của thịt trong thực đơn biểu thị đây là một bữa tiệc.

(Hình 16: Một chiếc nhẫn ấn tín)

NGƯỜI ANH CẢ

Đến đây ẩn dụ đã có thể kết thúc, nhưng nó tiếp tục với góc độ của người anh cả. Lời nói của người anh cả với cha mình rất đáng chú ý. Anh ta thô lỗ bỏ qua cách xưng hô tôn kính, “Thưa cha.” Anh ta tránh gọi đứa con hoang đàng là em mình, mà chỉ nhắc đến cậu như là “đứa con của cha.” Anh ta phàn nàn rằng cha mình chưa bao giờ cho anh ta dù chỉ một con dê con, chứ đừng nói đến một con bò con béo, để tổ chức tiệc với bạn bè.

Người anh cả tuân theo nghĩa vụ mà thiếu đi sự cân bằng của sự tự do, phục vụ cha mà không có tình thân, và tự hào về những thành tích của bản thân. Chẳng trách anh ta cảm thấy oán giận vì ân điển của cha dành cho đứa con hoang đàng. (Có một ẩn dụ của các ra-bi kể về một người con được chuộc khỏi kiếp nô lệ, nhưng được đưa trở về nhà như một nô lệ, thay vì một người con, để ép buộc người con đó phải vâng lời.)

Lời đáp của người cha dành cho người anh cả bắt đầu một cách ân cần bằng cách gọi trìu mến, “Con ơi”, nhắc anh rằng toàn bộ gia sản của gia đình giờ đây đã thuộc về anh, và giải thích về sự thích đáng của việc ăn mừng vì “em của con” (không phải “con của ta”) đã (coi như) chết và bị mất, nhưng giờ đã sống lại và được tìm thấy.

Phản ứng sau đó của người anh cả là gì? Chúa Jesus không nói, nhưng để ngỏ ẩn dụ, vì những người Pha-ri-si và các thầy thông giáo và tất cả những ai tin cậy vào công đức của chính mình sẽ tự hoàn thành ẩn dụ này, hoặc bằng cách từ bỏ sự tự công bình của mình để tham dự vào bữa tiệc của sự cứu rỗi của Đấng Mê-si, hoặc bằng cách tự loại mình ra ngoài bằng cách duy trì sự tự mãn của mình.

Cuối cùng, người anh cả cho thấy rằng một người không cần phải cảm thấy lạc lối để thực sự bị lạc lối. Người ta có thể xa cách Đức Chúa Trời ngay trên chính mảnh đất quê hương. Nhưng tất cả mọi người — cả kẻ tội lỗi trắng trợn lẫn người anh cả đứng đắn — đều được mời gọi trên cùng một điều kiện, đó là ân điển tha thứ của Đức Chúa Trời.

14. Ẩn Dụ về Người Quản Gia Bất Trung
#

Đọc Lu-ca 16:1-13.

Chúa Jesus kể ẩn dụ tiếp theo với các môn đồ. Giống như ẩn dụ trước về đứa con hoang đàng, ẩn dụ này minh họa cho sự thiển cận của việc phung phí của cải: bằng cách cố gắng phục vụ cả của cải lẫn chủ mình, một người quản gia đã sa vào lòng yêu tiền, phung phí tài sản của chủ, và đánh mất đi địa vị của mình. Giống như con người nói chung, những ai sa vào lòng yêu tiền, thì phung phí phần thưởng thiên thượng của mình, và đánh mất địa vị của mình trong nhà Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, bằng cách tương phản với sự thiển cận dại dột của đứa con hoang đàng, ẩn dụ về người quản gia bất trung cũng cho thấy một cách nhìn xa khôn ngoan trong việc sử dụng của cải; đó là, dùng nó để kết bạn thông qua sự rộng rãi.

Người quản gia bảo những con nợ của chủ mình vứt bỏ các tờ khế cũ và viết các tờ khế mới, với số nợ nhỏ hơn, bằng chính chữ viết tay của họ. Người quản gia hi vọng rằng, nếu mưu kế bị phát hiện, việc không có chữ viết tay của ông trên các tờ khế sẽ giúp ông khỏi bị khiển trách. Vì ở những nơi khác Chúa Jesus so sánh Đức Chúa Trời với một quan án bất chính mà không cho rằng Đức Chúa Trời bất chính, và so sánh sự trở lại của Ngài với việc đột nhập vào nhà của một tên trộm mà không cho rằng Ngài là kẻ trộm, nên sự bất lương của người quản gia không làm hỏng điểm tích cực của sự so sánh hiện tại. Cụ thể, người quản gia sử dụng tiền bạc để giúp đỡ người khác, và qua đó kết bạn để chuẩn bị cho thời kỳ thất nghiệp của mình. Tương tự như vậy, các môn đồ của Chúa Jesus nên sử dụng tiền bạc vào các công việc từ thiện, vì hành động như vậy sẽ mang lại lợi ích cho chính họ trong tương lai đời đời.

“Con cái đời này” có nghĩa là những người thuộc về thế gian. “Con cái sự sáng” là các môn đồ của Chúa Jesus. “Của (mammon) bất nghĩa” ở đây không có nghĩa là của cải có được một cách bất chính, mà ngụ ý rằng của cải có sức mạnh dẫn dắt những người sở hữu nó hành động bất chính. Vì khi Chuá Jesus nói rằng, “Vậy nếu các ngươi không trung tín về của bất nghĩa, có ai đem của thật giao cho các ngươi?”, Ngài không dạy các môn đồ phải trung tín với của cải có được từ các hành vi phi pháp, mà câu này có nghĩa rằng họ phải trung tín trong việc sử dụng thứ của cải nguy hiểm này. Việc dùng của cải để kết bạn làm nổi bật một lý tưởng xã hội mà Lu-ca sử dụng để thu hút đối tượng độc giả chịu ảnh hưởng bởi văn hóa Hy Lạp của mình.

Đọc Lu-ca 16:14-18.

Một sự mô tả những người Pha-ri-si là những kẻ ham mê tiền bạc (Lu-ca 16:14) liên kết phần tiếp theo (16:15-18) với phần trước đó về của cải (16:1-13). Việc họ chế nhạo Chúa Jesus khiến Ngài phơi bày họ là những kẻ bị Đức Chúa Trời ghét bỏ mặc dù được những người đồng loại ngưỡng mộ, trái ngược với những người thu thuế và kẻ tội lỗi, là những người mặc dù bị người Pha-ri-si ghét bỏ, đang cố sức bằng sự ăn năn để vào vương quốc của Đức Chúa Trời. Việc người Pha-ri-si li dị và tái hôn, hoặc kết hôn với người đã li dị, là một ví dụ về việc họ vi phạm luật pháp bằng cách phạm tội ngoại tình, mặc dù họ tự xưng là công bình và mặc dù Luật pháp và Các Tiên tri vẫn còn hiệu lực.

15. Ẩn Dụ về Người Giàu và La-xa-rơ
#

Đọc Lu-ca 16:19-31.

Những người Pha-ri-si yêu tiền bạc giống như người giàu trong ẩn dụ, là kẻ đã ích kỷ và thiển cận khi phớt lờ La-xa-rơ - một người nghèo khó bất lực. Do đó, người giàu là hình ảnh đối lập của người quản gia khôn ngoan biết nhìn xa trong Lu-ca 16:1-8.

“La-xa-rơ” là phiên âm tiếng Hy Lạp của tên trong tiếng Hê-bơ-rơ: Ê-lê-a-xa, có nghĩa là “Đức Chúa Trời là (sự) giúp đỡ của (người ấy)”. Không có ai khác giúp đỡ anh ta. Những mẩu bánh vụn từ bàn của người giàu mà La-xa-rơ ao ước được ăn, có thể là những miếng bánh được dùng như khăn lau tay rồi bị ném xuống dưới gầm bàn. Cụm từ “lòng Áp-ra-ham” ngụ ý về một bữa tiệc trên thiên đàng, nơi La-xa-rơ là một vị khách mới đến, đang nằm tựa trên gối ngay trước mặt Áp-ra-ham. Khung cảnh bữa tiệc làm cho lời của người giàu xin Áp-ra-ham sai La-xa-rơ nhúng đầu ngón tay vào nước trở nên phù hợp. Cách xưng hô của người giàu, “Hỡi Cha Áp-ra-ham”, gợi nhắc đến nguồn gốc Do Thái của ông từ Áp-ra-ham. Nhưng lời đáp của Áp-ra-ham, bắt đầu bằng “Con ơi”, cho thấy rằng mặc dù là người Do Thái, người giàu đã được hưởng mọi lợi thế, nhưng nguồn gốc Hê-bơ-rơ không đảm bảo cho sự phước hạnh trên thiên đàng.

Lời tuyên bố cuối cùng rằng, dầu có một người nào đó sống lại từ cõi chết, thì vẫn sẽ không thuyết phục được những kẻ giàu vi phạm các mệnh lệnh của Môi-se và các tiên tri trong việc giúp đỡ người nghèo, ám chỉ sự phục sinh của Chúa Jesus và, bất chấp điều đó, sự khước từ Tin Lành vẫn sẽ tiếp diễn nơi đa số người Do Thái, như trong Công-vụ 13:44-48; 14:1-2; 17:1-9; 18:5-6; 19:8-9; 28:16-28.

16. Cộng Đồng Cơ Đốc
#

Đọc Lu-ca 17:1-10.

Giờ đây Chúa Jesus quay lại với các môn đồ và phán về các mối quan hệ trong cộng đồng của họ:

  • Sự chắc chắn rằng sẽ có một số người (“kẻ làm gương xấu”) khiến những người khác (“kẻ bé mọn”) phạm tội (“vấp phạm”), có lẽ thông qua sự bội đạo.
  • Sự cần thiết phải quở trách một môn đồ phạm tội (“anh em ngươi”) và tha thứ cho một người biết ăn năn nhiều lần nếu cần.
  • Sự tha thứ là một mệnh lệnh, và để vâng phục mệnh lệnh này, thì ngay cả một đức tin rất nhỏ (chỉ bằng hạt cải) cũng đã đủ, vì tha thứ như một hành động của sự vâng lời, xuất phát từ ý thức về bổn phận đơn thuần, tức bổn phận của một đầy tớ đối với chủ mình.

Cây dâu (sycamina) trong Lu-ca 17:6 có thể là cây si, cây dâu tằm, hoặc cây sung - những loại cây phát triển nhờ có bộ rễ cây khỏe, đâm sâu xuống đất.

(Hình 17: Một cây sycamina ở Israel)

18. Sự Chữa Lành cho Mười Người Phung
#

Đọc Lu-ca 17:11-19.

Một lần nữa Lu-ca nhắc độc giả rằng đây là hành trình của Chúa Jesus đến thành Giê-ru-sa-lem. Việc mười người phung đứng đằng xa phản ánh một đòi hỏi của luật Môi-se rằng người phung phải sống cách biệt với người khác (Lê-vi Ký 13:45-46; Dân-số Ký 5:2-4). Trọng tâm của sự kiện không hẳn đặt vào việc Chúa Jesus chữa lành mười người phung, mà là vào sự tôn vinh Đức Chúa Trời, lòng biết ơn đối với Chúa Jesus, và đức tin cứu rỗi nơi một người phung là người Sa-ma-ri; vì Lu-ca đang hướng đến các độc giả dân ngoại.

Cụm từ “giữa xứ Sa-ma-ri và xứ Ga-li-lê” (Lu-ca 17:11) chứa đựng hai điểm khó hiểu: (1) ranh giới giữa hai vùng này chạy theo hướng đông-tây, trong khi “trên đường xuống Giê-ru-sa-lem” chạy từ bắc xuống nam; (2) việc xuống Giê-ru-sa-lem sẽ đưa Chúa Jesus từ Ga-li-lê xuyên qua Sa-ma-ri, nhưng Lu-ca lại đề cập đến Sa-ma-ri trước Ga-li-lê. Có khả năng, dù không chắc chắn, bản gốc của Lu-ca viết là “xuyên qua xứ Sa-ma-ri và xứ Ga-li-lê” và đề cập đến Sa-ma-ri trước, không phải theo thứ tự địa lý, mà vì Lu-ca đang hướng sự chú ý của độc giả đến người Sa-ma-ri xuất hiện trong câu chuyện tiếp theo.

19. Vợ của Lót
#

Đọc Lu-ca 17:20-37.

Để trả lời một câu hỏi của những người Pha-ri-si, Chúa Jesus ngăn họ khỏi suy nghĩ rằng vương quyền của Đức Chúa Trời sắp đến với những dấu hiệu quan sát được. Mặc dù những người Pha-ri-si không nhận ra sự hiện diện của nước Đức Chúa Trời, nước Đức Chúa Trời đã ở giữa họ.

Quay sang các môn đồ, Chúa Jesus phán về tương lai: thời kỳ ngay trước và bao gồm sự trở lại không thể nhầm lẫn của Ngài (“những ngày của Con Người” đỉnh điểm trong “ngày của Ngài”) là một thời kỳ không được bắt chước vợ của Lót - bà đã hóa thành một trụ muối, vì ngoảnh lại nhìn về thành Sô-đôm, trong khi bà đáng lẽ phải chạy trốn khỏi sự hủy diệt của nó mà không do dự (Sáng-thế Ký 19:26). Tuy nhiên, đối với Lu-ca, điểm quan trọng nằm ở tính tương lai của những ngày đó (“các ngươi sẽ ước ao thấy một trong những ngày của Con Người mà không thấy”) và do đó nằm ở tính vô hại về mặt chính trị của vương quyền Đức Chúa Trời được Chúa Jesus mang đến lúc bấy giờ. Cơ Đốc giáo không đe dọa xã hội La Mã, mà cải thiện nó.

20. Ẩn Dụ về Bà góa và Quan Án Không Công Bình
#

Đọc Lu-ca 18:1-8.

Tiếp tục bài giảng của Chúa Jesus cho các môn đồ là một ẩn dụ dạy họ cầu nguyện một cách kiên nhẫn và bền bỉ cho sự công chính cho đến khi Ngài tái lâm.

Trong xã hội Do Thái cổ đại, việc các cô gái kết hôn ở độ tuổi rất sớm - khoảng mười ba hoặc mười bốn tuổi - dẫn đến việc nhiều người trong số họ trở thành các góa phụ trẻ. Việc một bà góa đem vụ kiện của mình đến với một quan án, thay vì một tòa án, ngụ ý đó là một vấn đề về tiền bạc, chẳng hạn như một món nợ chưa được trả, hoặc một phần gia tài của bà bị giữ lại. Việc một quan án “không kính sợ Đức Chúa Trời” có nghĩa là ông ta thiếu sự trung thực; “không vị nể ai hết” có nghĩa là ông thiếu lòng thương xót. Rõ ràng là một đối thủ giàu có và có thế lực của bà góa trong ẩn dụ của Chúa Jesus đã hối lộ quan án, nhưng bà góa thì quá nghèo để làm điều tương tự. Vũ khí duy nhất của bà là một đức tin kiên trì rằng công lý sẽ được thực thi, nếu bà làm quan án bực mình với sự kiên trì của mình.

Bà góa đại diện cho các môn đồ, bị bách hại một cách bất công bởi kẻ thù của họ, và do đó không có tính chất lật đổ chính quyền La Mã. Sự chậm trễ trong việc bà góa nhận được công lý tượng trưng cho sự chậm trễ trong sự tái lâm của Chúa Jesus. Nhưng sự chậm trễ sẽ không kéo dài, vì Đức Chúa Trời quan tâm đến công lý nhiều hơn quan án trong ẩn dụ rất nhiều. Câu hỏi duy nhất: vậy thì, liệu các môn đồ của Chúa Jesus có duy trì đức tin của mình trong thời gian chờ đợi hay không.

21. Ẩn Dụ về Người Pha-ri-si và Người Thu Thuế
#

Đọc Lu-ca 18:9-17.

Nếu ẩn dụ trước (ẩn dụ về bà góa và quan án) nói về sự cầu nguyện cho công lý khi bị bách hại; ẩn dụ tiếp theo nói về sự cầu nguyện cho sự xưng công bình liên quan đến tội lỗi của cá nhân. Nhắm đến những người tự cho mình là công bình và người khác là kẻ tội lỗi, ẩn dụ này dạy về sự khiêm nhường. Trẻ sơ sinh, là những đứa trẻ bé nhất, sau đó trở thành hình mẫu về sự khiêm nhường trong lời dạy của Chúa Jesus.

Lời cầu nguyện của người Pha-ri-si có thể được so sánh với một đoạn trích từ Sách Cầu Nguyện của người Do Thái (Jewish Prayer Book): “Tạ ơn Chúa, là Đức Chúa Trời của chúng tôi, Vua của cả cõi hoàn vũ, đã không dựng nên con là người ngoại bang … đã không dựng nên con là nô lệ … đã không dựng nên con là phụ nữ.”

Các độc giả hiện đại - những người thường có định kiến rằng người Pha-ri-si luôn là những kẻ giả hình và người thu thuế là hình mẫu của sự khiêm nhường - đã khiến ẩn dụ đầy thách thức và gây sốc này thành một bài học đạo đức đơn giản, và dễ dàng đứng về phía lên án người Pha-ri-si mà không nhận ra rằng chính chúng ta có thể đang phạm cùng một sai lầm: tự cho mình là công bình. Để cảm nhận trọn vẹn sức mạnh của ẩn dụ này, độc giả hiện đại cần gột bỏ định kiến và đặt mình vào vị trí của những thính giả đầu tiên nghe Chúa Jesus kể ẩn dụ này.

Trong bối cảnh đương thời, người Pha-ri-si là những lãnh đạo tôn giáo được kính trọng. Họ là những người phục vụ Đức Chúa Trời một cách nghiêm túc bằng cách kiêng ăn từ lúc mặt trời mọc đến lúc mặt trời lặn vào các ngày thứ Hai và thứ Năm hằng tuần, bằng cách dâng một phần mười tất cả tài sản của họ, cũng như tuân giữ các điều răn về đạo đức và nghi lễ của luật pháp Môi-se. Dân chúng rất ngưỡng mộ họ. Mặt khác, những người thu thuế cộng tác với những kẻ đô hộ La Mã đáng ghét, bóc lột chính đồng bào Do Thái của mình, và thực hiện đủ mọi loại gian lận. Dân chúng ghê tởm họ.

Thính giả của Chúa Jesus hẳn đã bị sốc khi nghe Ngài hạ thấp người Pha-ri-si và tôn cao người thu thuế. Nhưng chính sự bất ngờ trong việc đảo ngược vai trò tốt-xấu đã nhấn mạnh bản chất của sự tha thứ như là món quà của Đức Chúa Trời cho những người không xứng đáng được nhận và được ban cho chỉ dựa trên đức tin ăn năn.

“Và những sự kiêng ăn của các ngươi không nên giống như bọn đạo đức giả, vì họ kiêng ăn vào các ngày thứ Hai và thứ Sáu; còn các ngươi [Cơ Đốc nhân], trái lại, hãy kiêng ăn vào các ngày thứ Tư và thứ Sáu [!]” (Didache 8:1).

Đọc Lu-ca 18:18-30.

Trong khi những ai tự cho mình là công bình cần học bài học khiêm nhường để vào vương quốc Đức Chúa Trời, thì một viên quan trẻ cực kỳ giàu có cần học bài học về lòng bác ái đến mức bán hết tài sản của mình mà phân phát cho người nghèo và theo Chúa Jesus.

Đọc Lu-ca 18:31-34.

Đây là lần thứ hai Chúa Jesus báo trước về sự thương khó và sự phục sinh của Ngài (so sánh Lu-ca 9:22) nhấn mạnh vào việc (1) những sự kiện này làm ứng nghiệm các phân đoạn tiên tri trong Cựu Ước và (2) lời tiên tri của Chúa Jesus bị che giấu khỏi sự hiểu biết của các môn đồ. Lu-ca đang giải thích cho sự thiếu hiểu biết của các môn đồ để miêu tả cộng đồng Cơ Đốc dưới ánh sáng hấp dẫn nhất có thể.

Đọc Lu-ca 18:35-43.

Việc chữa lành một người ăn xin mù dẫn đến việc anh ta tôn vinh Đức Chúa Trời và những người chứng kiến dâng lời ngợi khen Đức Chúa Trời — một sự thành công về mặt tôn giáo bên cạnh sự thành công về mặt chữa bệnh.

22. Xa-chê
#

Đọc Lu-ca 19:1-10.

Các sự kiện trong Lu-ca chương 19 chứa đầy những ghi chú về cuộc hành trình của Chúa Jesus đến thành Giê-ru-sa-lem. Nhật ký hành trình sắp kết thúc.

Tự thân câu chuyện về Xa-chê cho thấy sự cứu rỗi thậm chí có thể đến với một người giàu nếu anh ta ăn năn. Bằng cách hứa bố thí phân nửa tài sản mình cho người nghèo và đền gấp bốn lần cho những người bị anh ta gian lận, Xa-chê đã vượt xa các giới hạn thông thường của việc bố thí và đền bù. Vì trong các trường hợp gian lận tài chính, như của Xa-chê, luật Môi-se quy định việc đền bù số tiền gốc cộng thêm chỉ 20 phần trăm. Trong bức tranh lớn hơn của Lu-ca, sự dư dật trong việc bố thí và đền bù của Xa-chê cho thấy những lợi ích xã hội của Cơ Đốc giáo.

“Người ấy phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, cộng thêm một phần năm, và giao cho người mà mình đã làm thiệt hại.” (Dân-số Ký 5:6-7; cũng xem Lê-vi Ký 6:1-5).

23. Ẩn Dụ về Mười Nén Bạc (Minas)
#

Đọc Lu-ca 19:11-27.

Vào thời bấy giờ, việc các lãnh đạo địa phương phải đến Rô-ma để có được sự ủng hộ của chính quyền La Mã cho quyền cai trị xứ của họ đã tạo nên bối cảnh cho ẩn dụ về những nén bạc (từ được dịch là nén bạc ở đây là mina (μνᾶ) - đơn vị tiền tệ thời cổ đại, mỗi mina tương đương với giá trị của khoảng 100 đồng xu denarius, tức khoảng ba tháng lương của một người lao động chân tay). Ẩn dụ này cho thấy rằng cả thế giới Hy Lạp nói chung, lẫn chính quyền La Mã nói riêng, đều không có gì phải quan ngại Cơ Đốc giáo, vì Cơ Đốc nhân xem mình là những cá nhân phải chịu các tiêu chuẩn phán xét nghiêm ngặt bởi Chúa của chính họ. Họ được yêu cầu phải sống sinh lợi và đang chờ đợi sự cai trị của Đức Chúa Trời, thay vì kích động cuộc nổi loạn chống lại La Mã. Các chi tiết trong ẩn dụ tượng trưng cho:

  • Người quý tộc = Chúa Jesus
  • Việc người quý tộc phải đi đến một xứ xa = Sự thăng thiên của Chúa Jesus về trời
  • Việc người quý tộc nhận quyền cai trị ở đó = Sự tôn cao của Chúa Jesus ngự bên hữu Đức Chúa Trời ở trên trời (so sánh Công-vụ 2:32-36)
  • Ước muốn của các công dân rằng họ không muốn người quý tộc cai trị họ = Sự chối bỏ Chúa Jesus của các nhà lãnh đạo Do Thái (so sánh Lu-ca 23:13-25)
  • Sự trở lại của người quý tộc = Sự tái lâm của Chúa Jesus
  • Việc gọi các đầy tớ đến để tính sổ = Sự Phán Xét Cuối Cùng
  • Việc xử tử những kẻ thù của người quý tộc = Sự trừng phạt cuối cùng dành cho các nhà lãnh đạo Do Thái

Trường hợp của người đầy tớ đã gói nén bạc của mình trong một chiếc khăn (Lu-ca 19:20) cho thấy sự bất khả thi của việc trở thành môn đồ của Chúa Jesus nhưng lại muốn được an toàn. Việc theo Chúa Jesus thực sự đòi hỏi phải mạo hiểm đầu tư cả mạng sống, trái ngược với sự an toàn của việc bảo toàn mạng sống.

E. Tuần Lễ Thương Khó - Sự Chết, Sự Phục Sinh, Mục Vụ Sau Phục Sinh và Sự Thăng Thiên của Chúa Jesus
#

1. Trong Đền Thờ
#

Đọc Lu-ca 19:28-48.

Sự kiện Chúa Jesus vào thành cách khải hoàn và việc Ngài dẹp sạch nạn buôn bán trong Đền thờ cho thấy vương quyền của Chúa Jesus là thuộc về thiên đàng và hòa bình, không phải thuộc về trần gian và nổi loạn. Vương quyền của Ngài đặc trưng bởi các phép lạ chữa lành, không phải các hành động nổi dậy, và dẫn đến việc ngợi khen Đức Chúa Trời cách vui mừng và cải cách tôn giáo. Chúa Jesus không chiến đấu; Ngài khóc. Chỉ có những thầy tế lễ thượng phẩm biến chất của Đền thờ chống đối Ngài; còn dân chúng thì tán thưởng sự dạy dỗ của Ngài.

Đọc Lu-ca 20:1-26.

Hai chương tiếp theo, Lu-ca 20-21, kể về việc Chúa Jesus dạy dỗ, rao giảng Tin Lành và trả lời các câu hỏi trong Đền thờ.

Nỗi sợ của Tòa Công luận rằng dân chúng sẽ ném đá họ, nếu họ nói rằng phép Báp-têm của Giăng chỉ có nguồn gốc từ loài người, đã cho thấy sự thành công của lời chứng đầy ơn Đức Thánh Linh của Giăng về Chúa Jesus.

Mặc dù ẩn dụ về vườn nho ám chỉ đến Đức Chúa Trời (chủ vườn), Y-sơ-ra-ên (vườn nho), các nhà lãnh đạo Do Thái (những người trồng nho), các tiên tri Cựu Ước (các đầy tớ) và Chúa Jesus (con trai yêu dấu), nhưng thời gian dài chủ vườn đi xa dường như nhắc nhở các độc giả của Lu-ca rằng Chúa Jesus cũng đã đi xa trong một thời gian dài (so sánh Lu-ca 17:22; 19:11-12).

Các thành viên của Tòa Công luận tương ứng với những thợ xây nhà chối bỏ hòn đá góc (hay hòn đá chóp góc), và do đó, sẽ bị tan nát và bị nghiền nát trong sự phán xét. Sự gian ác của họ, được bộc lộ trong việc họ (1) tìm cách bắt Chúa Jesus “ngay giờ đó”, (2) sợ dân chúng phản ứng, (3) theo dõi Chúa Jesus, (4) sai những kẻ do thám giả vờ công bình, và (5) lập mưu gài bẫy Chúa Jesus và nộp Ngài cho tổng đốc — sự gian ác này, bằng sự tương phản, làm nổi bật Chúa Jesus dưới ánh sáng đạo đức và chính trị tốt lành.

Đọc Lu-ca 20:27-21:4.

Sự bẻ bác của Chúa Jesus đối với người Sa-đu-sê bằng cách đối lập “con đời này” với những người “được kể là xứng đáng để dự phần đời ấy [đời sắp đến] và sự sống lại từ trong kẻ chết” đã nêu bật cả (1) sự bất tử của những người được kể là xứng đáng đó, vì “họ là con cái Đức Chúa Trời, tức là con cái của sự sống lại”, và (2) việc họ sống cho Đức Chúa Trời. Như vậy, các môn đồ của Chúa Jesus cũng như chính Ngài xuất hiện dưới ánh sáng tốt lành.

Việc một số thầy thông giáo tán dương Chúa Jesus (Lu-ca 20:39) làm chứng thêm cho quyền năng trong sự bẻ bác của Ngài và chuẩn bị cho việc Ngài hỏi họ một câu hỏi (20:41-44), chỉ trích họ trước công chúng (20:45-47), và đối chiếu hành vi đáng ghét của họ với hành vi đáng ngưỡng mộ của một bà góa nghèo (21:1-4). Như thường lệ trong sách Lu-ca, Chúa Jesus hiện ra như một giáo sư có đạo đức tốt lành.

Đọc Lu-ca 21:5-38.

Vì Chúa Jesus đang ở trong Đền thờ, tại hoặc gần nơi có kho bạc, khiến một số người nhận xét với Ngài về những viên đá đẹp và các tặng vật (thảm treo, chùm nho bằng vàng, v.v.) trang trí Đền thờ. Chúa Jesus đáp lại bằng một lời tiên tri về sự hủy diệt của Đền thờ.

Khi được hỏi về thời điểm và dấu hiệu của sự hủy diệt này, Ngài nhấn mạnh sự chậm trễ và tránh những tuyên bố về tính tức thời: Đừng đi theo những kẻ nói rằng kỳ hạn đã gần; chiến tranh và cách mạng phải xảy ra trước, và ngay cả lúc đó thì sự cuối cùng cũng không đến ngay; sự bắt bớ và lời chứng của Cơ Đốc nhân sẽ xảy ra trước các trận động đất lớn, ôn dịch, nạn đói, những điều kinh khiếp và các dấu lạ lớn trên trời; và dân ngoại bang sẽ giày đạp thành Giê-ru-sa-lem một thời gian sau khi nó bị hủy diệt.

Lời khuyên dạy đừng kinh khiếp bởi chiến tranh và cách mạng tạo nên sự tách biệt giữa các môn đồ của Chúa Jesus với những cuộc chiến như vậy. Sự khôn ngoan không thể cưỡng lại sẽ đặc trưng cho lời nói của họ, và sự bền lòng trong việc chịu đựng sự bắt bớ của họ - sẽ bao gồm cả sự phản bội tệ hại nhất và sẽ xảy ra vì danh Đấng Christ, chứ không phải vì bất kỳ hành vi sai trái nào từ phía các môn đồ của Ngài. Họ nên chạy trốn khỏi Giê-ru-sa-lem và vùng nông thôn Giu-đê, thay vì ở lại và tham gia vào cuộc nổi loạn. Chính những người không phải là môn đồ sẽ bị trừng phạt. Các môn đồ phải tránh sự phóng đãng, say sưa, và những lo lắng đời này, đồng thời phải tỉnh thức bằng cách cầu nguyện. Không có gì phải sợ các Cơ Đốc nhân ở đây! Lời nói và hành vi của họ sẽ rất đáng ngưỡng mộ, như của Chúa Jesus, là Đấng đã thu hút rất nhiều sự ngưỡng mộ đến nỗi mọi người dậy sớm để nghe Ngài giảng trong Đền thờ.

(Hình 18: Phù điêu bên trong Khải Hoàn Môn Titus ở Rome, kỷ niệm sự kiện thành Jerusalem và Đền thờ bị phá hủy. Lưu ý cây đèn bảy ngọn [menorah] bị lấy làm chiến lợi phẩm.)

2. Tường Thuật về Sự Thương Khó
#

Đọc Lu-ca 22:1-6.

Phần mở đầu cho phần tường thuật sự thương khó của Chúa Jesus được đặc trưng bởi nỗi sợ của Tòa Công Luận đối với dân chúng, vì sự nổi tiếng của Chúa Jesus. Rõ ràng Tòa Công Luận sợ rằng dân chúng sẽ ném đá họ nếu họ giết Chúa Jesus, giống như việc họ sợ dân chúng sẽ ném đá họ nếu họ chối bỏ nguồn gốc thiên thượng của phép Báp-têm của Giăng (so sánh Lu-ca 20:1-8). Sự tương phản giữa nỗi sợ của họ và sự nổi tiếng của Chúa Jesus phơi bày họ trong sự xấu xa và Chúa Jesus trong ánh sáng tốt lành.

Việc Sa-tan nhập vào Giu-đa Ích-ca-ri-ốt khiến cho sự bắt bớ, xét xử, và cái chết của Chúa Jesus là do hành động từ chính quỉ vương, chứ không phải do bất kỳ hành vi sai trái nào từ phía Chúa Jesus. Việc đưa chi tiết này vào tường thuật giúp giải thích làm sao một hành động hèn hạ như vậy có thể được thực hiện bởi một trong mười hai sứ đồ, và tránh khỏi việc phá hỏng sự miêu tả của Lu-ca về Chúa Jesus và các môn đồ như một cộng đồng lý tưởng.

3. Sự Chuẩn Bị cho Lễ Vượt Qua
#

Đọc Lu-ca 22:7-13.

Sự cần thiết của việc giết chiên con của Lễ Vượt Qua vào Ngày Bánh Không Men, kết hợp với việc Chúa Jesus chủ động sai Phi-e-rơ và Giăng đi chuẩn bị bữa ăn Lễ Vượt Qua, đã miêu tả Chúa Jesus như một người Do Thái tuân giữ luật pháp, chứ không phải là một kẻ phá bỏ luật pháp (so sánh Lu-ca 2:21-24, 39, 41-52).

Việc Chúa Jesus nói rằng, “Hãy đi dọn lễ Vượt qua cho chúng ta ăn”, bao gồm các sứ đồ cùng với chính Ngài, làm nổi bật tình bằng hữu của bạn bè và tình thân của gia đình tại bàn ăn, một kiểu giao kết chiếm vị trí nổi bật trong văn hóa Hy Lạp.

4. Bữa Ăn Cùng Nhau
#

Đọc Lu-ca 22:14-23.

Việc các sứ đồ nằm ăn với Chúa Jesus một lần nữa nhấn mạnh sự giao kết tại bàn ăn giữa bạn bè và gia đình (so sánh Lu-ca 8:19-21). Lời Chúa Jesus nói rằng Ngài rất muốn ăn Lễ Vượt Qua với các sứ đồ trước khi Ngài chịu khổ nạn cũng có tác dụng tương tự. Mong muốn này xuất phát từ việc Chúa Jesus sẽ không thể ăn Lễ Vượt Qua với các sứ đồ nữa, cho đến khi Lễ Vượt Qua được ứng nghiệm trọn vẹn tại bữa tiệc của Đấng Mê-si trong vương quốc Đức Chúa Trời.

Lu-ca một lần nữa nhấn mạnh sự thông công tại bàn ăn thể hiện qua (1) mệnh lệnh bảo các môn đồ chia sẻ chén giữa vòng họ, (2) mô tả thân thể của Chúa Jesus (được đại diện bởi bánh) là được “ban cho” họ, và (3) mệnh lệnh tiếp tục duy trì sự giao kết tại bàn ăn này để tưởng nhớ Chúa Jesus sau khi Ngài ra đi.

Lu-ca cố ý tường thuật trình tự các sự kiện trong bữa ăn tạo sự nhấn mạnh kép về chén (chén thứ nhất trong Lu-ca 22:17 và chén thứ hai trong 22:20) và việc đặt chén (chén thứ nhất được phân phát trước khi ăn, và chén thứ hai được thiết lập sau bữa ăn), gợi sự liên tưởng đến một symposium thường diễn ra sau một bữa tiệc trong văn hóa Hy Lạp - La Mã (symposium có nghĩa là “uống cùng nhau” kèm theo việc trò chuyện hoặc thảo luận tại bàn ăn) đối với các độc giả ngoại bang của Lu-ca.

“Cho đến khi nước Đức Chúa Trời đến” là một lời nhắc nhở rằng thời kỳ chuyển tiếp hiện tại không gây ra mối đe dọa chính trị nào cho đế quốc La Mã. Bối cảnh của bữa tiệc chung làm cho sự hiện diện của kẻ phản bội trở nên hèn hạ nhất có thể. Việc Chúa Jesus đi “như đã được định sẵn” khiến cái chết của Ngài là điều nằm trong kế hoạch từ trước của Đức Chúa Trời, chứ không phải là sự thất bại thuần túy về mặt con người nơi Chúa Jesus.

Và việc các sứ đồ bắt đầu thảo luận với nhau xem ai trong số họ có thể là kẻ phản bội đặt họ dưới ánh sáng tốt lành qua việc họ tin và nghiêm túc tiếp nhận lời tuyên bố của Chúa Jesus rằng tay kẻ phản bội đang ở cùng Ngài tại bàn ăn.

5. Một Cuộc Tranh Cãi
#

Đọc Lu-ca 22:24-30.

Một điều không mấy tốt đẹp cho các sứ đồ khi họ tranh cãi về việc ai trong số họ dường như là người vĩ đại nhất. Nhưng một số lời dạy của Chúa Jesus, tiếp nối cuộc trò chuyện tại bàn tiệc này (symposium), đã ngay lập tức giải quyết cuộc tranh cãi đó.

Nhận xét của Chúa Jêsus không định nghĩa lại sự vĩ đại theo nghĩa phục vụ như một nô lệ, mà dạy rằng người vĩ đại nhất phải trở nên như người nhỏ nhất, tức người lãnh đạo phải trở nên như người hầu bàn, giống như chính Chúa Jesus, dù Ngài vĩ đại, đã trở nên như người hầu bàn.

Như vậy, chủ đề về sự hiệp thông tại bàn tiệc được duy trì, và sự phục vụ được dạy mà không phủ nhận sự vĩ đại. Một lần nữa, việc Chúa Jesus nhắc đến lòng trung thành của các sứ đồ với Ngài trong những lúc khó khăn và ban cho họ đặc ân được tiếp tục ăn chung bàn với Ngài trong vương quốc của Ngài, cũng như Cha Ngài là Đức Chúa Trời đã ban quyền cai trị cho Ngài, đã cho thấy hình ảnh tốt đẹp về các sứ đồ. Thật là vĩ đại!

6. Sa-tan và Si-môn
#

Đọc Lu-ca 22:31-34.

Hành động “sàng sảy như lúa mì” tượng trưng cho một nỗ lực làm lung lay lòng trung thành. Việc Chúa Jesus (1) sử dụng tên cũ “Si-môn” thay vì tên mới “Phi-e-rơ”, (2) lặp lại hai lần tên cũ “Si-môn”, (3) chỉ riêng với Si-môn, mặc dù đại từ “các ngươi” mà Sa-tan đòi sàng sảy ở số nhiều (như trong bản văn tiếng Hy Lạp), (4) cầu nguyện để đức tin của Si-môn không thất bại, và (5) chỉ ra nguy cơ của các môn đồ là đồng bạn của Si-môn rằng ông phải làm cho họ vững mạnh, tất cả đều nhằm nhấn mạnh rằng ba lần chối bỏ Chúa Jesus của Phi-e-rơ sẽ mang theo nguy cơ của sự bội đạo.

Giống như trong trường hợp của Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, hoạt động của Sa-tan giải thích làm thế nào Si-môn có thể bất trung đến mức gần như bội đạo với ba lần chối bỏ Chúa Jesus của mình, cũng như làm thế nào sự bất trung như vậy có thể bộc lộ trong cộng đồng lý tưởng của Chúa Jêsus và các môn đồ Ngài. Việc Si-môn sẽ quay trở lại đến mức làm vững mạnh các môn đồ đồng bạn của mình minh họa cho khả năng phục hồi trong cộng đồng này.

Phản ứng của Si-môn thể hiện sự tôn kính đối với Chúa Jêsus (“Lạy Chúa”) và bày tỏ sự sẵn sàng đồng hành với Chúa Jesus dù phải vào tù và cho đến chết, mà không so sánh mình với các sứ đồ khác để tự tôn cao bản thân (Lu-ca 22:33). Mặc dù Si-môn sẽ chối rằng mình có quen biết Chúa Jesus, nhưng ông không chối bỏ chính Chúa Jesus. Như vậy, Lu-ca tiếp tục miêu tả cộng đồng Cơ Đốc, được đại diện bởi các sứ đồ, theo cách tích cực nhất có thể.

7. Sự Bình Thường Hóa
#

Đọc Lu-ca 22:35-38.

Cuộc đối thoại tiếp theo trong symposium (tức thời gian “uống cùng nhau” và trò chuyện sau bữa ăn) cho thấy các sứ đồ nên trở lại với việc chuẩn bị các vật dụng cần thiết thông thường (Lu-ca 22:35-36), vì Chúa Jesus sẽ chết như một tội phạm để ứng nghiệm Ê-sai 53:12. Ngụ ý rằng, Chúa Jesus không phải là tội phạm, mặc dù Ngài sẽ bị đối xử như vậy; và các sứ đồ sẽ tiếp tục mục vụ lưu động trong sự vắng mặt của Ngài. Việc các sứ đồ trình ra hai thanh gươm (22:38) ngụ ý rằng họ đang hiểu lời Chúa Jesus vừa nói theo nghĩa đen và nghĩ đến việc bảo vệ Ngài bằng vũ lực. Chi tiết này cũng nhằm giải thích trước làm thế nào một môn đồ của Chúa Jesus yêu chuộng hòa bình có thể rút gươm và chém đứt tai phải của đầy tớ thầy cả thượng phẩm.

Câu trả lời của Chúa Jêsus, “Thôi, đủ rồi”, không có nghĩa là “hai thanh gươm là đủ dùng rồi”. Thay vào đó, nó là một lời tuyên bố chấm dứt cuộc trò chuyện, tương đương với “Thôi, đủ rồi, hãy dừng cuộc nói chuyện này lại đi”. Chúa Jesus đang chấm dứt sự hiểu lầm của các sứ đồ. Lời khuyên ban đầu của Chúa Jesus về việc bán áo ngoài để mua gươm (một cách nói cường điệu) chủ yếu nhấn mạnh rằng thời kỳ thuận lợi khi các sứ đồ được tiếp đón đã kết thúc. Từ nay, họ sẽ đối mặt với sự thù địch và nguy hiểm. Việc mang theo gươm khi đi đường trong thế giới cổ đại là điều bình thường để chống lại trộm cướp và thú dữ. Vì vậy, ý của Chúa Jesus có thể là các sứ đồ cần chuẩn bị tinh thần để tự bảo vệ mình trong mục vụ du hành sắp tới, chứ không phải để chiến đấu bảo vệ Ngài.

8. Sự Buồn Rầu và Giấc Ngủ
#

Đọc Lu-ca 22:39-46.

Symposium kết thúc. Giờ đây, Lu-ca thuật lại những sự kiện đã xảy ra tại vườn Ghết-sê-ma-nê, mà ông thay thế bằng một cách gọi ám chỉ ít cụ thể hơn là Núi Ô-li-ve (Lu-ca 21:37, 22:39), nhấn mạnh việc các môn đồ cần cầu nguyện giống như Chúa Jesus cầu nguyện. Việc Lu-ca nhắc đến nỗi buồn của các môn đồ giải thích lý do họ ngủ (22:45), trả lời trước cho câu hỏi của Chúa Jesus, “Sao các ngươi ngủ?”, và do đó một lần nữa mô tả họ, cộng đồng của họ, cùng với Chúa Jêsus, theo cách tích cực nhất có thể.

Việc liệu có phải chính Lu-ca đã viết 22:43-44, hay về sau có một người sao chép nào đó đã thêm những câu này vào tường thuật, là điều đến nay vẫn còn nghi vấn; vì hầu hết các bản sao chép tốt nhất và các bản dịch sớm nhất đều thiếu những câu này. Nếu quả thật những câu này là của Lu-ca, thì chúng tăng cường sự nhấn mạnh của ông về sự cầu nguyện của Chúa Jesus. Dù vậy, những câu này không nói rằng Chúa Jesus đổ mồ hôi thành những giọt máu (như thường bị hiểu sai), mà có nghĩa rằng những giọt mồ hôi của Ngài rơi xuống đất giống như những giọt máu, có lẽ là về kích thước và số lượng nhiều của chúng.

9. Sự Bắt Giữ
#

Đọc Lu-ca 22:47-53.

Chi tiết cái hôn của Giu-đa được Lu-ca thuật lại không chỉ là một hành động thuần túy, mà còn như một biểu tượng cho ý định phản bội. Bằng cách này, Lu-ca đã tạo ra một “khoảng đệm” trong câu chuyện khiến cho câu hỏi về việc sử dụng vũ lực trở nên cực kỳ cấp thiết và tự nhiên. Ngay sau cái hôn, các môn đồ liền hỏi: “Thưa Chúa, chúng tôi nên dùng gươm đánh chăng?” (Lu-ca 22:49); và rồi một người trong họ rút gươm ra hành động.

Việc miêu tả cái tai bị chém đứt là tai phải của người đầy tớ làm tăng thêm mức độ nghiêm trọng của hành vi bạo lực của người cầm gươm, vì hầu hết mọi người thuận tay phải khiến bên phải được cho là hữu ích và thuận lợi hơn bên trái. Câu trả lời của Chúa Jesus, “Thôi, đủ rồi!” và việc Ngài chữa lành cái tai bị chém đứt đã trả lời - “Không” - cho câu hỏi về việc sử dụng vũ lực. Từ nay trở đi, các bậc cầm quyền không có gì phải lo lắng về các môn đồ của Chúa Jesus, vì họ không được phép hành xử kiểu bạo lực như vậy nữa.

Việc những người xung quanh Chúa Jesus chứng kiến những gì sắp xảy ra làm tăng tính xác thực của sự kiện (so sánh Lu-ca 1:1-4). Và những đề cập đến “giờ của kẻ thù” và “sức mạnh của bóng tối” quy kết việc bắt giữ Chúa Jesus cho những ảnh hưởng xấu xa nhất chứ không phải do bất kỳ hành vi sai trái nào của Ngài.

10. Các Phiên Toà Xét Xử Chúa Jesus
#

TRƯỚC TÒA CÔNG LUẬN

Đọc Lu-ca 22:54-71.

Lu-ca đi thẳng đến những lời chối có quen biết Chúa Jesus của Phi-e-rơ trong sân nhà thầy cả thượng phẩm. Việc Chúa Jesus quay lại và nhìn chăm chú vào Phi-e-rơ sau lần chối thứ ba, cùng với tiếng gà gáy, đã kích hoạt ký ức của Phi-e-rơ, và khiến ông khóc lóc cay đắng.

Việc miêu tả những kẻ nhạo báng Chúa Jesus là phạm thượng, nghĩa là, đang vu khống, cho thấy Ngài vô tội.

Phiên tòa của Chúa Jesus trước Tòa Công Luận diễn ra khi trời sáng. Các câu hỏi về Đấng Christ và tư cách là Con của Đức Chúa Trời được tách ra. Câu trả lời của Chúa Jesus cho câu hỏi đầu tiên (“Nếu ngươi là Đấng Christ …”) đã phơi bày sự vô tín và sợ hãi của Toà Công Luận (so sánh Lu-ca 20:3-8), phóng chiếu một sự cai trị thuộc về thiên đàng, không đe dọa đến Sê-sa (Caesar), và dẫn đến câu hỏi thứ hai (“Vậy ngươi là Con Đức Chúa Trời sao?”).

TRƯỚC PHI-LÁT

Đọc Lu-ca 23:1-5.

Việc miêu tả Tòa Công Luận là “cả đám đông của họ” (dịch sát nghĩa Lu-ca 23:1) chuẩn bị cho việc họ sẽ áp đảo mong muốn tha bổng Chúa Jesus của Phi-lát.

Lời buộc tội rằng họ đã phát hiện Chúa Jesus cấm dân chúng nộp thuế cho Sê-sa và xưng mình là Đấng Christ - tức một vị vua (và do đó là đối thủ của Sê-sa), đã nêu rõ những cách thức mà Ngài bị cho là đã xúi giục dân Do Thái phản nghịch La Mã. Việc từ chối nộp thuế được coi là một hành động nổi loạn. Độc giả của Lu-ca có thể dễ dàng thấy tính giả dối của những lời buộc tội này qua việc (1) Chúa Jesus nói phải nộp thuế cho Sê-sa (20:19-26), (2) Ngài nghiêm cấm các môn đồ không được nói với ai rằng Ngài là Đấng Christ (9:20-21; so sánh 4:41), (3) Ngài chưa bao giờ tự nói với dân chúng rằng Ngài là Đấng Christ - một vị vua (mặc dù chính họ đã gọi Ngài là vua khi Ngài vào thành Giê-ru-sa-lem cách khải hoàn, 19:38), và (4) Ngài từ chối trả lời câu hỏi của chính Tòa Công Luận rằng Ngài có phải là Đấng Christ không (22:66-68).

Khi thẩm vấn, chính Phi-lát thấy Chúa Jesus vô tội, nhưng Tòa Công Luận chỉ mở rộng lời buộc tội để nói rằng trong sự dạy dỗ của mình, Chúa Jesus đã xúi giục dân chúng nổi loạn từ Ga-li-lê cho đến Giê-ru-sa-lem, trong khi độc giả của Lu-ca biết rằng những gì Chúa Jesus giảng dạy là về đạo đức và sự tận hiến tôn giáo.

TRƯỚC HÊ-RỐT AN-TI-BA

Đọc Lu-ca 23:6-12.

Việc Tòa Công Luận nhắc đến Ga-li-lê khiến Phi-lát hỏi liệu Chúa Jesus có phải là người Ga-li-lê không. Khi biết được Ngài là người Ga-li-lê, Phi-lát gửi Ngài đến cho Hê-rốt An-ti-ba, là người có thẩm quyền cai trị xứ Ga-li-lê.

Hê-rốt đã muốn gặp Chúa Jesus từ lâu (Lu-ca 9:9). Sự gay gắt lấn át sự thật trong những cáo buộc của Tòa Công Luận chống lại Chúa Jesus trước mặt Hê-rốt. Xét thấy sự vô tội của Chúa Jesus, sự chế giễu mà Hê-rốt và các binh lính của ông ta dành cho Ngài khơi dậy sự cảm thông nơi các độc giả của Lu-ca (mặc dù xét theo Công-vụ 12:21, mô tả hành vi của Hê-rốt A-grip-pa I sau này mặc một bộ áo choàng sáng màu để thể hiện sự kiêu ngạo và địa vị của mình, thì Hê-rốt An-ti-ba trong hiện tại có khả năng đang mặc bộ áo choàng sáng màu cho chính mình hơn là để chế nhạo Chúa Jesus).

TRỞ LẠI PHI-LÁT

Đọc Lu-ca 23:13-25.

Đột nhiên “dân chúng” xuất hiện và đứng về phía Tòa Công Luận chống lại Chúa Jesus. Tuy nhiên, vì những người này đã cùng Tòa Công Luận buộc tội Chúa Jesus xúi giục “dân chúng” chống đối sự cai trị của La Mã, nên “dân chúng” này phải khác với “dân chúng” được cho là đã bị Ngài mê hoặc. Có lẽ những người này là “những trưởng lão trong dân” (Lu-ca 22:66), nhưng được gọi cách đơn giản là “dân chúng” để liên kết với việc Lu-ca đã gọi Tòa Công Luận là “cả đám đông của họ” (23:1).

Phi-lát lặp lại lời tuyên bố trước đó về sự vô tội của Chúa Jesus, nhấn mạnh tính hợp lệ của tuyên bố này bằng cách lưu ý rằng ông đã thẩm vấn Ngài trước sự hiện diện của Tòa Công Luận, thêm vào một lời tuyên bố tương tự của Hê-rốt, và nói rõ rằng ông sẽ tha bổng Chúa Jesus - sau một trận đánh đòn để răn đe Ngài không được gây rắc rối với Tòa Công Luận nữa.

Ý tưởng về việc tha bổng Chúa Jesus của Phi-lát đã kích hoạt tiếng kêu la đồng loạt đòi tha cho Ba-ra-ba thay thế. Việc miêu tả Ba-ra-ba là một tù nhân đã phạm tội giết người và tham gia nổi loạn ngay trước mắt Tòa Công Luận tại Giê-ru-sa-lem đã phơi bày sự bất công thô bạo của cuộc trao đổi được yêu cầu: một người yêu chuộng hòa bình ban sự sống đổi lấy một kẻ nổi loạn giết người.

Lần thứ hai Phi-lát bày tỏ mong muốn tha bổng Chúa Jesus đã làm bùng lên một yêu cầu, được lặp lại và đặt ở thì hiện tại để nhấn mạnh (theo bản văn Hy Lạp), rằng Phi-lát phải đóng đinh Chúa Jesus, nghĩa là phải xử tử Ngài như một tên tội phạm.

Một lần nữa, Phi-lát cho thấy ý định sẽ thả Chúa Jesus sau khi đánh đòn, vì Ngài không phạm tội tử hình. Điều này khẳng định sự vô tội của Chúa Jesus, ủng hộ sự vô tội về mặt chính trị của những người theo Ngài trong thời của Lu-ca, và đặt giới chức La Mã vào ánh sáng tương đối tốt đẹp, trong khi giới chức Do Thái bị đặt vào ánh sáng tồi tệ vô cùng.

Tiếng nói của giới chức Do Thái cuối cùng đã chiếm ưu thế: sự cố chấp lấn át công lý; tiếng ồn thay thế cho bằng chứng. Phi-lát chưa bao giờ tuyên bố Chúa Jesus có tội, nhưng ra lệnh thực hiện yêu cầu của Tòa Công Luận. Việc nhắc lại việc Ba-ra-ba bị giam giữ vì tội nổi loạn và giết người làm nổi bật sự bất công nghiêm trọng do Tòa Công Luận gây ra.

(Hình 19: Bia đá Pontius Pilate là một phiến đá vôi khắc chữ được tìm thấy vào năm 1961 tại địa điểm khảo cổ Caesarea Maritima. Bia đá xác nhận tên và chức danh của Pontius Pilate là "Tổng đốc xứ Judea", cùng với việc ông đã xây dựng một công trình gọi là "Tiberium". Phiến đá ban đầu được dùng để xây một đền thờ vinh danh Hoàng đế Tiberius và hiện nay là bằng chứng khảo cổ quan trọng xác nhận sự tồn tại trong lịch sử của Pilate.)

11. Con Đường Thương Khó (Via Dolorosa)
#

Đọc Lu-ca 23:26-31.

Giờ đây Lu-ca mô tả hành trình giải Chúa Jesus đi như một cuộc diễu hành, trong đó Si-môn người Sy-ren vác thập tự giá đi sau Chúa Jesus và một đoàn dân đông cùng những phụ nữ than khóc đi theo. Lòng trung thành cho đến cùng của những người này cho thấy họ nhận biết phẩm chất tốt đẹp thực sự của Chúa Jesus, trái ngược với những lời buộc tội sai trái của Tòa Công Luận nhắm vào Ngài.

Một cách vị tha, Chúa Jesus gạt bỏ lời than khóc dành cho mình và cảnh báo về những tai họa sẽ giáng xuống dân chúng. “Hỡi con gái Giê-ru-sa-lem” ngụ ý rằng Ngài đang nói về sự hủy diệt của thành Giê-ru-sa-lem (so sánh Lu-ca 19:41-44; 21:5-6). “Cây xanh” tượng trưng cho một thời kỳ thuận lợi, “cây khô” tượng trưng cho một thời kỳ bất lợi. Do đó, nếu một sự kiện tồi tệ như sự đóng đinh của Chúa Jesus xảy ra trong thời kỳ hòa bình hiện tại, thì thảm họa sẽ giáng xuống Giê-ru-sa-lem trong thời kỳ chiến tranh sắp tới sẽ còn tồi tệ hơn biết bao (một lần nữa so sánh Lu-ca 19:41-44).

12. Sự Bị Đóng Đinh với Những Tên Tội Phạm
#

Đọc Lu-ca 23:32-43.

Việc đóng đinh hai tên tội phạm cùng với Chúa Jesus càng làm nổi bật sự bất công trong việc đóng đinh Ngài. Ý nghĩa của từ “tội phạm”, nghĩa là “những kẻ làm điều ác,” tương phản với việc Chúa Jesus làm điều lành (so sánh Công-vụ 10:38: “Ngài đi khắp nơi làm việc thiện”). Lu-ca tránh dùng từ “kẻ cướp”, nghĩa là “những kẻ cách mạng” (như Mác và Ma-thi-ơ), có lẽ để ngăn độc giả của mình có nguy cơ liên kết Chúa Jesus với các cuộc nổi dậy chống lại La Mã.

Việc Chúa Jesus cầu nguyện xin sự tha thứ cho kẻ thù của Ngài và bào chữa cho sự bất công họ gây ra là do sự ngu dốt cho thấy Ngài tin kính đến cùng và vô cùng độ lượng. Sự chế nhạo của những người lãnh đạo tương phản với sự theo dõi của dân chúng. Sự nhạo báng của các binh lính cũng vậy. (Có phải Lu-ca đang tận dụng việc dân chúng không ưa các binh lính La Mã vì hành vi bắt nạt của họ, như trong Lu-ca 3:14 chăng?)

Sự phạm thượng của một trong hai kẻ tội phạm bị đóng đinh đối với Chúa Jesus tạo nên một sự tương phản làm nổi bật lời tuyên bố ngược lại của kẻ kia - là người đã nói rằng Chúa Jesus không làm gì sai. Trong cuộc trò chuyện giữa tên tội phạm thứ hai và Chúa Jesus, việc đề cập đến “vương quốc của Chúa Jesus” thay vì thiên đàng, cho thấy vương quốc của Chúa Jesus thuộc về thiên đàng và không đe dọa đến chính quyền La Mã ở trần gian.

13. Lời Cầu Nguyện trong Bóng Tối
#

Đọc Lu-ca 23:44-49.

Lu-ca giải thích bóng tối bao phủ khắp xứ từ giữa trưa cho đến đầu giờ chiều là do mặt trời không chiếu sáng. Lu-ca tiếp tục nhấn mạnh sự tin kính của Chúa Jesus thể hiện qua Ngài cầu nguyện - lời cuối cùng từ thập giá là một lời cầu nguyện - thể hiện sự tin cậy nơi Đức Chúa Cha tới tận hơi thở cuối cùng.

Viên đội trưởng, là người chứng kiến trực tiếp sự kiện này, phản ứng bằng cách tôn vinh Đức Chúa Trời với lời tuyên bố về sự công chính của Chúa Jesus. Tất cả đám đông, sau khi chứng kiến toàn bộ chuỗi sự kiện, phản ứng bằng cách than khóc về cái chết của Chúa Jesus khi họ rời khỏi hiện trường. Nhưng những người quen biết và những người phụ nữ đã theo Ngài từ Ga-li-lê vẫn ở lại, theo dõi những điều xảy ra tiếp theo.

(Hình 20: Mảnh xương của một người đàn ông bị đóng đinh, bị đâm thủng bởi một chiếc đinh đóng chặt vào gỗ - được tìm thấy trong một hộp chứa xương [ossuary] ở Jerusalem)

14. Người Đàn Ông Nhân Lành và Những Người Phụ Nữ Trung Tín
#

Đọc Lu-ca 23:50-24:12.

Ngay cả trong cái chết, Chúa Jesus cũng thu hút những điều tốt nhất: Giô-sép người A-ri-ma-thê là một người tốt và công bình, và là người kháng cự lại âm mưu của Tòa Công luận. Việc ông chôn cất thân thể Chúa Jesus trong một ngôi mộ chưa từng được sử dụng là một sự vinh danh đặc biệt đối với sự vô tội của Chúa Jesus (so sánh Lu-ca 19:30).

Những người phụ nữ tiếp tục đóng vai trò là nhân chứng tận mắt khi họ đi theo Giô-sép đến mộ và quan sát việc chôn cất. Việc họ nghỉ ngơi trong ngày Sa-bát sau khi trở về, chuẩn bị hương liệu và dầu thơm để xức cho thân thể Chúa Jesus, cho thấy họ là những người Do Thái tuân giữ luật pháp. Trong bối cảnh đương thời của Lu-ca, Cơ Đốc giáo hãy còn non trẻ và chưa được công nhận về mặt pháp lý trong thế giới Hy Lạp - La Mã; vì thế, Lu-ca thường xuyên nhấn mạnh mối liên hệ giữa Cơ Đốc giáo và Do Thái giáo nhằm giải tỏa những quan ngại có thể có nơi các độc giả mà ông hướng tới.

Vào sáng Chúa Nhật, việc những người phụ nữ phát hiện tảng đá đã được lăn ra khỏi cửa mộ, kết hợp với việc họ không tìm thấy thân thể Chúa Jesus bên trong, khiến họ bối rối. Việc hai người nam hiện ra loan báo sự phục sinh của Ngài đã cung cấp lời chứng đầy đủ (lời chứng có hai người làm chứng) và xóa tan nỗi sợ hãi của họ. Y phục sáng chói của những người nam này làm tăng thêm độ tin cậy cho lời chứng, vì nó chỉ ra nguồn gốc thần linh của họ (so sánh Lu-ca 9:30, 32 và việc xác định hai người nam này là các thiên sứ, tức là sứ giả từ Đức Chúa Trời trong 24:23). Một sự nhắc nhở về việc Chúa Jesus đã báo trước chính xác những sự kiện về cuộc khổ nạn và sự phục sinh của Ngài, mà nay đã xảy ra, giúp xóa tan sự bối rối của những người phụ nữ.

Việc mười một sứ đồ cảm thấy vô lý và không tin lời chứng của những người phụ nữ và sự xác nhận của Phi-e-rơ rằng ngôi mộ trống không cho thấy các sứ đồ chỉ tin vào sự phục sinh của Chúa Jesus dựa trên những bằng chứng chắc chắn và rõ ràng (so sánh Lu-ca 1:1-4).

15. Hai Môn Đồ Trên Đường Đến Làng Em-ma-út
#

Đọc Lu-ca 24:13-35.

Lời chứng của hai môn đồ khác (ngoài nhóm Mười Một Sứ Đồ) giờ đây tiếp nối lời chứng của hai thiên sứ đã hiện ra dưới hình dạng con người tại ngôi mộ trống.

  • Lời chứng mới này phát sinh từ một cuộc gặp gỡ cá nhân với Chúa Jesus Phục Sinh. Việc cuộc gặp gỡ này xảy ra vào chính ngày mà hai thiên sứ giải thích ngôi mộ trống là do sự phục sinh của Chúa Jesus nhấn mạnh sự thật trong lời giải thích của họ.
  • Việc nêu tên một trong hai môn đồ (Cơ-lê-ô-ba) và tên làng mà họ đang trên đường từ Giê-ru-sa-lem đến (làng Em-ma-út), cùng với việc xác định rõ khoảng cách (sáu mươi stadia, tức khoảng bảy dặm) cung cấp các bằng chứng gián tiếp làm tăng độ đáng tin cậy của lời chứng.
  • Bằng cách so sánh thói quen của Chúa Jesus là trò chuyện với các môn đồ trong lúc đi đường và tại bàn ăn, việc Ngài cũng làm điều tương tự với hai môn đồ cũng hỗ trợ lời chứng của hai người.
  • Sự buồn rầu và việc họ ban đầu không nhận ra Chúa Jesus cho thấy lời chứng của họ khó có thể là bịa đặt, vì họ rõ ràng không kỳ vọng Ngài sống lại từ cõi chết.
  • Việc Chúa Jesus giải thích Kinh Thánh cho hai người về cuộc khổ nạn và sự sống lại của Ngài một lần nữa hỗ trợ lời chứng của họ bằng cách liên kết chủ đề của lời chứng với kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời đã được đề cập và báo trước trong Cựu Ước.
  • Cảm giác ấm áp trong lòng khi nghe Chúa Jesus giải nghĩa đã biến những lời tiên tri trong Kinh Thánh từ một chân lý khách quan thành một kinh nghiệm cá nhân sâu sắc, có sức mạnh biến đổi hoàn toàn cách họ nhìn nhận thực tại và bản thân.
  • Việc mắt họ mở ra để nhận biết Chúa Jesus khiến họ trở thành những nhân chứng trực tiếp.

Một sự hiện ra của Chúa Jesus với Si-môn (Phi-e-rơ) đã thêm vào lời chứng trực tiếp của hai môn đồ một lời chứng tương tự khác.

16. Sự Sống Lại của Thân Thể và Sự Thăng Thiên
#

Đọc Lu-ca 24:36-53.

Lần hiện ra thứ ba của Chúa Jesus Phục Sinh xảy ra ở giữa tất cả các môn đồ, trong lúc hai môn đồ trên đường đến làng Em-ma-út đang kể lại lời chứng của mình.

Sự kinh hãi, sợ hãi, và nghi ngờ kéo dài một lần nữa cho thấy không có khả năng các môn đồ bịa đặt, vì những cảm xúc này xuất phát từ việc họ vốn không kỳ vọng Chúa Jesus sẽ sống lại từ cõi chết. Việc thân thể của Chúa Jesus Phục Sinh có thể nhìn thấy và sờ được, cùng với việc Ngài ăn uống, đã chứng minh rõ ràng sự phục sinh của Ngài là thân thể vật lý, và khiến các môn đồ trở thành những nhân chứng tận mắt cho điều đó. Việc nhắc lại những lời tiên tri về cuộc khổ nạn và sự phục sinh của Ngài, cùng với những lời giải thích sâu hơn về Cựu Ước (theo cách phân chia của Kinh Thánh Hê-bơ-rơ thành Luật pháp Môi-se, các Tiên tri, và các tác phẩm hỗn hợp xếp đầu là Thi Thiên) đã xác nhận những gì họ thấy và dẫn đến việc Ngài giao phó cho họ sứ mệnh rao giảng nhân danh Ngài cho muôn dân. Chủ đề trong sự rao giảng của họ — đó là sự ăn năn dẫn đến sự tha tội — sẽ tiếp tục cuộc cải cách xã hội đã được bắt đầu bởi Giăng Báp-tít và được mở rộng bởi Chúa Jesus. Lời hứa của Đức Chúa Trời là Cha rằng Ngài sẽ “mặc” họ bằng “quyền năng từ trên cao” chỉ về sự giáng lâm của Đức Thánh Linh (Công-vụ 1:4-5; 2:1-4).

Chẳng ai có thể chê trách được hiệu quả từ sự hiện ra, hành động, lời nói, phước lành, và sự thăng thiên của Chúa Jesus; bởi vì các môn đồ liên tục ngợi khen Đức Chúa Trời trong Đền thờ.

Như vậy, Lu-ca kết thúc phần một trong bộ tác phẩm có hai phần của mình bằng cách khơi gợi sự ngưỡng mộ đối với sự tin kính của cộng đồng Cơ Đốc.

IV. TÓM LẠI
#

Lu-ca viết Phúc Âm của mình, là tập đầu tiên trong bộ hai tập, nhằm khẳng định với độc giả về tính đáng tin cậy của truyền thống về Chúa Jesus, dựa trên các lời chứng của những người chứng kiến trực tiếp. Phúc Âm này trình bày hình ảnh Chúa Jesus người Do Thái theo cách thu hút độc giả là những người ngoại giáo có tư tưởng cao thượng. Vì vậy, sách nhấn mạnh vào lòng thương xót rộng lượng, sự tin kính sâu sắc, sức hấp dẫn đạo đức, sự trong sạch chính trị của Chúa Jesus, cũng như những đặc điểm tương tự nơi các môn đồ của Ngài.

Hoạt động của Đức Thánh Linh được đề cập nhiều lần, và thành Giê-ru-sa-lem xuất hiện nổi bật như là đích đến trong hành trình của Chúa Jesus, đặc biệt là chuyến đi đến đó của Ngài trong Tuần Thánh. Lu-ca đưa vào hành trình này nhiều tư liệu đặc trưng của riêng ông, bao gồm một số ẩn dụ nổi tiếng nhất của Chúa Jesus, như ẩn dụ về người con hoang đàng. Trong số những điểm đặc biệt khác còn có câu chuyện về sự ra đời của Giăng Báp-tít, góc nhìn của Ma-ri trong câu chuyện về sự giáng sinh của Chúa Jesus, chuyến viếng thăm Đền thờ của Ngài khi còn nhỏ, sứ mệnh của Bảy Mươi Hai môn đồ ngoài Mười Hai sứ đồ, việc Chúa Jesus bị xét xử trước Hê-rốt An-ti-ba, cũng như trước Tòa Công Luận và Phi-lát, sự ăn năn của một trong hai tên tội phạm bị đóng đinh cùng Chúa Jesus, Chúa Jesus Phục Sinh đi đến làng Em-ma-út cùng hai môn đồ (không phải là sứ đồ), sự nhấn mạnh vào thân thể vật lý của Chúa Jesus Phục Sinh, và sự thăng thiên của Ngài.