Skip to main content

Chương 10: GIĂNG: TIN VÀO CHÚA JESUS ĐỂ ĐƯỢC SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI

·23842 words·112 mins·
Author
Lily
Table of Contents

TÂN ƯỚC LƯỢC KHẢO

(Hình 1: Vương cung thánh đường Thánh Giăng ở Ê-phê-sô)

I. CÁC VẤN ĐỀ MỞ ĐẦU
#

1.1. Tác Giả
#

Được viết bằng văn phong giản dị, Phúc Âm Cuối Cùng thể hiện sự sâu sắc thần học vượt trội so với các Phúc Âm Cộng Quan. Truyền thống Hội Thánh thời kỳ đầu cho rằng Sứ đồ Giăng đã viết Phúc Âm này vào cuối thế kỷ thứ nhất tại Ê-phê-sô - một thành phố thuộc Tiểu Á. Đặc biệt quan trọng là lời chứng của Irenaeus, là học trò của Polycarp, mà Polycarp lại là môn đồ của chính sứ đồ Giăng – một sự kế thừa truyền thống trực tiếp chỉ cách một thế hệ trung gian giữa Irenaeus và Giăng.

Đọc thêm: MỐI LIÊN HỆ GIỮA GIĂNG VÀ IRENAEUS

“Giăng, môn đồ của Chúa, người đã tựa đầu vào ngực Chúa Jesus - ông cũng đã viết Phúc Âm khi đang ở Ê-phê-sô, tỉnh A-si” (Irenaeus, Against Heresies 3.1.1).

Tôi vẫn còn nhớ rõ các sự kiện lúc ấy … đến nỗi tôi có thể miêu tả chính xác nơi mà Polycarp được phước đã ngồi … cùng những lời ông kể về các cuộc đàm đạo của ông với Giăng và với những người khác đã từng thấy Chúa” (Irenaeus được Eusebius trích dẫn, Church History 5.20.5-6).

MẢNH RYLANDS CỦA SÁCH GIĂNG (RYLANDS FRAGMENT OF JOHN)

Trong quá khứ, một số học giả khẳng định rằng Phúc Âm Thứ Tư chỉ có vào giữa thế kỷ thứ hai, và do đó được cho là được viết sau khi Sứ đồ Giăng đã qua đời khá lâu. Nhưng việc phát hiện ra Mảnh Rylands chứa một phần nội dung của sách Giăng đã buộc họ phải từ bỏ quan điểm đó. Mảnh giấy cói này có niên đại khoảng năm 135 và vì thế, nó cho thấy phải có hàng thập kỷ trước thời điểm khoảng năm 135 cho quá trình viết, sao chép, và lưu hành sách Giăng đến tận vùng nội địa Ai Cập, là nơi mảnh giấy cói được tìm thấy. Các mảnh giấy cói cổ khác có chứa văn bản của sách Giăng cũng hỗ trợ cho ý nghĩa này của Mảnh Rylands.

(Hình 2: Mảnh giấy cói Rylands, chứa một đoạn trích từ Phúc Âm Giăng có niên đại từ nửa đầu thế kỷ thứ hai)

Tuy nhiên, nhiều học giả vẫn không bị thuyết phục rằng Sứ đồ Giăng đã viết Phúc Âm Thứ Tư. Một số người cho rằng một môn đồ của Sứ đồ Giăng, có lẽ là Trưởng lão Giăng - được nhắc đến từ rất sớm bởi Papias - mới là người đã viết sách này và về sau bị nhầm lẫn với vị sứ đồ cùng tên. Nhưng khi xem xét kỹ hơn tuyên bố của Papias, có thể thấy rằng ông có lẽ đã dùng từ “trưởng lão” theo nghĩa là sứ đồ; và như vậy tuyên bố của Papias trở thành một bằng chứng quan trọng cho việc xác định tác giả của sách chính là Sứ đồ Giăng.

NGƯỜI TẬN MẮT CHỨNG KIẾN

Tác giả của Phúc Âm Thứ Tư tuyên bố mình là người tận mắt chứng kiến mục vụ của Chúa Jesus (Giăng 1:14; so sánh 19:35; 21:24-25) và vì thế, ông thể hiện một phong cách viết Semitic (đặc biệt thấy rõ trong các câu tuyên bố được viết theo thủ pháp song hành), sự hiểu biết chính xác về phong tục của người Do Thái (ví dụ, phong tục đổ nước và thắp sáng bằng chân đèn nhiều nhánh trong Lễ Lều Tạm, được ngụ ý trong Giăng 7:37-39; 8:12), và về địa lý xứ Palestine trước khi thành Giê-ru-sa-lem và Đền thờ bị phá hủy vào năm 70 (ví dụ, cái ao có năm vòm cửa gần Cửa Chiên [5:2] và sân lát đá bên ngoài dinh đổng tốc [praetorium] [19:13], cả hai đều ở Giê-ru-sa-lem). (Vì vậy, một số học giả xác định niên đại của Phúc Âm Thứ Tư sớm hơn khoảng ba thập kỷ so với những năm cuối của thế kỷ thứ nhất).

Ngoài ra, khắp nơi trong sách đều xuất hiện những chi tiết như người ta mong đợi từ một nhân chứng trực tiếp, dù đôi khi không mấy liên quan đến cốt truyện - các con số cụ thể (sáu ché nước [Giăng 2:6], ba hoặc bốn dặm [6:19], một trăm thước [21:8], 153 con cá [21:11]), các tên riêng (Na-tha-na-ên [1:45-51], Ni-cô-đem [3:1-21; 7:50; 19:39], La-xa-rơ [11:1-44; 12:9-11], Man-chu [18:10] và những người khác), cùng nhiều chi tiết mô tả sống động tương tự.

Những đặc điểm này chứng thực cho cả truyền thống có từ rất sớm về tác giả của sách là một sứ đồ và hệ quả của nó rằng sách Phúc Âm này đại diện cho một truyền thống lịch sử đáng tin cậy.

Đọc thêm: VÍ DỤ VỀ PHÉP SONG HÀNH TRONG GIĂNG 3:31

a. “Đấng từ trên cao đến là trên hết mọi loài;

b. kẻ từ đất đến là thuộc về đất,

b’. và nói ra cũng như là thuộc về đất.

a’. Còn Đấng từ trời đến thì trên hết mọi loài.”

(Hình 3: Di tích Ao Bê-tết-đa [Bethesda, or Bethzatha])

TRƯỞNG LÃO GIĂNG

“Nhưng nếu có ai đến, là người đã từng theo các trưởng lão, tôi sẽ hỏi thăm về lời của các trưởng lão, rằng Anh-rê, Phi-e-rơ, Phi-líp, Thô-ma, Gia-cơ, Giăng, Ma-thi-ơ, hay bất kỳ môn đồ nào khác của Chúa đã nói gì, và rằng Aristion cùng Trưởng lão Giăng, là các môn đồ của Chúa, đang nói gì" (nguyên văn, ‘đang nói,’ ám chỉ thời điểm hiện tại khi Papias thực hiện cuộc hỏi thăm của mình] (Papias, được Eusebius trích dẫn trong Church History 3.39.4).

Trong lời chứng của Papias, cả hai lần cái tên Giăng xuất hiện, đều đi kèm với cả hai danh xưng “trưởng lão” và “môn đồ của Chúa”. Ngược lại, Aristion - mặc dù được gọi là “môn đồ của Chúa” - lại không có danh hiệu “trưởng lão” khi được đề cập cùng với Giăng. Sự tương phản này cho thấy chỉ có một cá nhân duy nhất tên là Giăng. Papias muốn làm rõ danh tính duy nhất của Giăng bằng cách lặp lại danh xưng “trưởng lão”, vừa được dùng cho các sứ đồ, nhưng lược bỏ danh xưng này khi nhắc đến Aristion. Việc Papias nhắc đến Giăng lần thứ hai, vì Giăng là người duy nhất trong số các môn đồ của Chúa vẫn còn sống và đang rao giảng, đồng thời cũng là một sứ đồ.

Dẫu vậy, phải thừa nhận rằng, Eusebius đã diễn giải Papias như thể Papias đang nói đến hai người khác nhau cùng tên Giăng, và thậm chí còn viện dẫn một truyền thống về hai người tên Giăng với những đài tưởng niệm khác nhau - dường như là để dành cho hai người khác nhau - ở Ê-phê-sô. Nhưng một người có thể có nhiều hơn một đài tưởng niệm, và điều đó vẫn thường xảy ra. Vì Eusebius không thích sách Khải-huyền, nên ông muốn tìm cách phủ nhận tác giả của sách này là một sứ đồ. Do đó, ông đã dựng lên hình ảnh một Trưởng lão Giăng được cho là khác với Sứ đồ Giăng để có thể gán sách Khải-huyền cho một người không có thẩm quyền sứ đồ.

MÔN ĐỒ ĐƯỢC CHÚA YÊU

Hơn nữa, tác giả viết với tư cách là “môn đồ được Chúa Jesus yêu,” không phải vì tự cao (ông không bao giờ nêu đích danh mình), mà để nhấn mạnh rằng nội dung của Phúc Âm này là đáng tin cậy, vì nó đến từ một người mà Chúa Jesus đã tin cậy giao phó cho. Hơn nữa, môn đồ được yêu này liên tục xuất hiện trong mối quan hệ mật thiết với Phi-e-rơ (Giăng 13:23-24; 20:2-10; 21:2, 7, 20-24). Các sách Phúc Âm Cộng Quan cho chúng ta biết rằng Gia-cơ và Giăng, là hai con trai của Xê-bê-đê, từng làm nghề đánh cá với Phi-e-rơ, và cùng với Phi-e-rơ hình thành nhóm nhỏ trong vòng Mười Hai Sứ Đồ. Vì Gia-cơ đã tử đạo từ rất lâu trước thời điểm sách này được viết (Công-vụ 12:1-5) và vì Phi-e-rơ được mô tả là một nhân vật khác với “môn đồ được yêu”, nên chỉ còn Giăng - người có thể là “môn đồ được yêu” và là tác giả của Phúc Âm thứ Tư. Bởi nếu một ai đó khác không phải là “môn đồ được yêu” đã viết sách này, thì tại sao người ấy không gắn tên Giăng cho cụm từ “môn đồ được Chúa Jesus yêu”? Tính ẩn danh của “môn đồ được yêu” khó có thể giải thích được, trừ khi chính ông là người đã viết Phúc Âm, và qua quá trình loại trừ, nhận diện ông chính là Sứ đồ Giăng.

Đọc thêm: TIẾN TRÌNH LOẠI TRỪ ĐỂ XÁC ĐỊNH SỨ ĐỒ GIĂNG LÀ “MÔN ĐỒ ĐƯỢC CHÚA YÊU” VÀ LÀ TÁC GIẢ CỦA SÁCH PHÚC ÂM THỨ TƯ

Các Phúc Âm Cộng QuanPhúc Âm Giăng
Phi-e-rơPhi-e-rơ (được phân biệt với “môn đồ được Chúa yêu”)
Gia-cơ(đã tử đạo)
GiăngMôn đồ được Chúa yêu (“Chính môn đồ ấy làm chứng về những việc nầy, và đã ghi chép lại” - Giăng 21:24)

1.2. Mối Quan Hệ của Phúc Âm Giăng với Các Sách Phúc Âm Cộng Quan
#

BỔ SUNG CHO CÁC SÁCH CỘNG QUAN

Giăng bổ sung cho các Phúc Âm Cộng Quan và có thể đã chỉnh sửa chúng ở một số điểm, mặc dù nhiều người cho rằng ông không biết đến các sách đó. Các sách Cộng Quan nhấn mạnh mục vụ của Chúa Jesus tại Ga-li-lê, các ẩn dụ của Ngài, và chủ đề vương quốc của Đức Chúa Trời. Còn Giăng nhấn mạnh mục vụ của Chúa Jesus tại Giu-đê, bỏ qua các ẩn dụ và — phần lớn — các giảng dạy về vương quốc Đức Chúa Trời, thay vào đó là những bài giảng dài và chủ đề sự sống đời đời. Giăng cũng bổ sung cho các sách Cộng Quan bằng cách làm rõ rằng mục vụ công khai của Chúa Jesus kéo dài đáng kể hơn so với những gì người ta nghĩ khi chỉ đọc các sách Cộng Quan. Các sách Cộng Quan chỉ đề cập đến Lễ Vượt Qua cuối cùng, khi Chúa Jesus chịu chết. Nhưng Giăng xác định có ba Lễ Vượt Qua, và có lẽ là bốn, trong suốt thời gian Chúa Jesus thi hành mục vụ trên đất, cho thấy mục vụ đó kéo dài ít nhất là hơn hai năm và có lẽ từ ba đến ba năm rưỡi.

Đọc thêm: SỰ NHẤN MẠNH TRONG CÁC PHÚC ÂM CỘNG QUAN VÀ PHÚC ÂM GIĂNG

Các Phúc Âm Cộng QuanPhúc Âm Giăng
Mục vụ của Chúa Jesus ở Ga-li-lêMục vụ của Chúa Jesus ở Giu-đê
Các ẩn dụCác bài giảng dài
Vương quốc của Đức Chúa TrờiSự sống đời đời

CÁC BÀI GIẢNG CỦA CHÚA JESUS TRONG SÁCH GIĂNG

Ngoại trừ một phần trong sách Ma-thi-ơ, Phúc Âm Thứ Tư chứa nhiều bài giảng dài của Chúa Jesus hơn so với các Phúc Âm Cộng Quan. Các bài giảng này có xu hướng rút ngắn phần tường thuật. Những câu hỏi và sự phản đối từ thính giả thường xen kẽ trong các bài giảng này, và Giăng thường xuyên ghi lại lời Chúa Jesus theo một phong cách khác biệt ở nhiều điểm so với những gì các tác giả Phúc Âm Cộng Quan ghi chép. Những khác biệt này một phần có thể xuất phát từ cách Giăng dịch sang tiếng Hy Lạp những lời dạy mà Chúa Jesus ban đầu nói bằng tiếng A-ram, và đôi khi có lẽ bằng tiếng Hê-bơ-rơ; và một phần từ thói quen diễn giải mở rộng của Giăng, dẫn đến kết quả là từ vựng, văn phong, và những quan tâm thần học của người viết Phúc Âm thường xuất hiện trong phần ghi chép của ông về sự dạy dỗ của Chúa Jesus.

Từ vựng và văn phong của chính Giăng có thể được nhận ra từ những phần trong Phúc Âm Thứ Tư - nơi mà Chúa Jesus không nói, và từ các thư 1-3 Giăng. Trong các Phúc Âm Cộng Quan, việc dịch thuật rõ ràng mang tính nguyên văn hơn và việc diễn giải mở rộng ít xuất hiện hơn. Thông thường, việc dịch ý và diễn giải mở rộng có thể truyền đạt ý định của người nói và những hàm ý rộng hơn trong lời của họ, thậm chí còn hiệu quả hơn là trích dẫn trực tiếp; vì vậy, phương pháp của Giăng hoàn toàn không phải là không hợp lệ.

Mặt khác, chúng ta không nên nghiêm trọng quá mức độ diễn giải của Giăng hay tính không sát nghĩa trong bản dịch, bởi hai phân đoạn song song nổi tiếng trong Ma-thi-ơ 11:25-27 và Lu-ca 10:21-22 cho thấy Chúa Jesus có thể và đã phán với phong cách được thể hiện trong Phúc Âm Thứ Tư. Nổi bật trong những phân đoạn này là mối quan hệ Cha-Con và sự nhấn mạnh vào sự mặc khải, sự hiểu biết, và sự lựa chọn của Đức Chúa Trời - tất cả đều là những điểm đặc trưng của Phúc Âm Giăng. Cũng có thể Giăng đã ghi lại những khía cạnh trang trọng hơn trong sự dạy dỗ của Chúa Jesus, chẳng hạn như những bài giảng trong nhà hội và những cuộc tranh luận với các nhà thần học Do Thái.

Đọc thêm: MỘT VÍ DỤ VỀ PHẦN CÓ KHẢ NĂNG LÀ DIỄN GIẢI RIÊNG CỦA GIĂNG (THỂ HIỆN TRONG PHÚC ÂM THỨ TƯ VÀ THƯ I GIĂNG) CHO LỜI CỦA CHÚA JESUS ĐƯỢC GHI LẠI BỞI SÁCH PHÚC ÂM CỘNG QUAN

Địa chỉVăn bản
Ma-thi-ơ 18:3“Quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu các ngươi không đổi lại và nên như đứa trẻ, thì chẳng được vào nước thiên đàng đâu”
Giăng 3:3“Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng sanh lại, thì không thể thấy được nước Đức Chúa Trời.”
Giăng 3:5“Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng nhờ nước và Thánh Linh mà sanh, thì không được vào nước Đức Chúa Trời.”

Đọc thêm: MỘT VÍ DỤ CHO THẤY CÓ NHỮNG LỜI TUYÊN BỐ MANG ĐẶC ĐIỂM CỦA TRUYỀN THỐNG GIĂNG (Johannine Thunderbolt) TRONG CÁC PHÚC ÂM CỘNG QUAN

“Ngoài Cha, không ai biết Con; cũng không ai biết Cha, ngoài Con và người nào mà Con muốn bày tỏ Cha cho họ.” (trích Ma-thi-ơ 11:25-27; tương tự Lu-ca 10:21-22)

1.3. Thần Học Giăng
#

VĂN PHONG

Xuyên suốt Phúc Âm Thứ Tư, nhiều chủ đề thần học quan trọng xuất hiện và tái xuất hiện trong các tổ hợp khác nhau và thường cũng xuất hiện trong các thư 1-3 Giăng và sách Khải-huyền. Giăng trình bày các chủ đề này bằng cách khéo léo đan xen phần tường thuật và bài giảng, để lời của Chúa Jesus bày tỏ ý nghĩa bên trong của những việc Ngài làm (xem bố cục bên dưới). Do đó, nhiều hành động của Ngài mang tính biểu tượng. Ví dụ, việc Chúa Jesus rửa chân cho các môn đồ biểu tượng cho sự tẩy sạch khỏi tội lỗi. Ngoài ra còn có sự mỉa mai thường xuyên, chẳng hạn như câu hỏi đầy ẩn ý của Ngài: “Ta đã bày tỏ cho các người thấy nhiều việc lành từ Cha. Vì việc nào trong những việc đó mà các người ném đá Ta?” (Giăng 10:32). Và cũng như những việc làm của Chúa Jesus mang ý nghĩa biểu tượng, lời nói của Ngài thường mang nhiều ý nghĩa. “Sinh lại” cũng có nghĩa là “sinh từ trên cao” (3:3-7), và việc đề cập đến Chúa Jesus bị “đưa lên cao” không chỉ ngụ ý chỉ sự đóng đinh của Ngài, mà còn ám chỉ sự đóng đinh đó như một sự tôn cao - một sự vinh hiển (12:20-36, đặc biệt là câu 32).

CÁC CHỦ ĐỀ

Các chủ đề thần học trong sách Giăng bắt đầu dưới đề mục sự mặc khải. Chúa Jesus là Lời (logos) mặc khải của Đức Chúa Trời. Với tư cách đó, Ngài bày tỏ lẽ thật, một điều vượt trên cả sự chân thật. Đó là thực tại về thân vị và tính cách của chính Đức Chúa Trời, mà Chúa Jesus làm chứng, và chính Đức Chúa Cha, Đức Thánh Linh, Kinh Thánh cùng những người khác cũng làm chứng nữa. Ánh sáng của sự mặc khải này chiếu rọi những ai tin và đẩy lùi sự tối tăm của điều ác. Sự đẩy lùi tối tăm chính là sự phán xét thế gian.

Không phải Chúa Jesus đến để kết án thế gian, nhưng Ngài đến để phân biệt ra những người thuộc về sự sáng và những người thuộc về sự tối tăm. Những kẻ thuộc về sự tối tăm đã tự kết án chính mình bởi sự không tin của họ. Thế gian, tức xã hội loài người bị Sa-tan thống trị, chống đối ánh sáng và qua đó trở thành đối tượng của cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời. Điều này càng làm nổi bật một sự thật đáng chú ý là Đức Chúa Trời “yêu thương thế gian” (Giăng 3:16). Tình yêu của Ngài đã được thể hiện qua Chúa Jesus Christ và tiếp tục bày tỏ chính nó qua tình yêu thương mà các môn đồ của Chúa Jesus dành cho nhau.

Để bày tỏ tình yêu của Đức Chúa Trời, Chúa Jesus đã từ Cha mà xuống và hành động hướng đến “giờ” của Ngài, tức thời điểm Ngài chịu khổ hình và chịu chết thay cho thế gian. Vì đã bày tỏ vinh quang của Cha bằng cách này, nên Cha đáp lại bằng cách tôn vinh Con với sự tôn cao trên trời. Bởi sự lựa chọn của Đức Chúa Trời và bởi đức tin của chính họ (Giăng giữ nguyên nghịch lý giữa sự lựa chọn của Đức Chúa Trời và của con người), một số người trải nghiệm sự sinh ra từ trên bởi Đức Thánh Linh, để họ có thể biết Đức Chúa Trời qua Chúa Jesus Christ. Nhưng dù sự lựa chọn và đức tin chỉ đặc trưng cho một số người, thì lời mời gọi lại mang tính phổ quát. Những ai tiếp nhận lời mời gọi đó sẽ nhận được sự sống đời đời (vừa mang tính chất của sự sống thần linh, vừa mang tính vĩnh cửu về thời gian), một chỗ ở trong Đấng Christ, và Đấng Paraclete, tức Đức Thánh Linh trong vai trò là Đấng An Ủi (Comforter), Đấng Cố Vấn (Counselor), và Đấng Công Tố (Prosecutor). Việc đề cập đến các chủ đề này ở đây chỉ là đang chạm nhẹ đến bề mặt của thần học Giăng. Mỗi chủ đề đều có những sắc thái cần được giải thích đầy đủ.

Đọc thêm: CÁC VÍ DỤ CHO THẤY LỜI MỜI GỌI MANG TÍNH PHỔ QUÁT TRONG SÁCH GIĂNG

“Kìa, Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi!” (Giăng 1:29).

“[Nhiều người Sa-ma-ri nói:] ‘Chúng tôi biết rằng chính Ngài thật là Cứu Chúa của thế gian’” (Giăng 4:42).

“[Chúa Jesus phán:] ‘Ta còn có những chiên khác không thuộc về chuồng nầy. Ta cũng phải đem chúng về nữa’” (Giăng 10:16).

1.4. Mục Đích Viết
#

Trên hết, Giăng viết với mục đích tạo dựng đức tin:

“Đức Chúa Jêsus đã làm trước mặt môn đồ Ngài nhiều phép lạ khác nữa, mà không chép trong sách nầy. Nhưng các việc nầy đã chép, để cho các ngươi tin rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, tức là Con Đức Chúa Trời, và để khi các ngươi tin, thì nhờ danh Ngài mà được sự sống.” (Giăng 20:30-31).

THẦN TÍNH VÀ NHÂN TÍNH CỦA CHÚA JESUS

Mang nội dung thuộc thần học về Đấng Christ (Christology), đức tin này nhấn mạnh thần tính của Chúa Jesus là Con Đức Chúa Trời độc nhất và tiền hiện hữu, là Đấng vâng phục Cha Ngài mà trở nên một con người thực sự để chịu chết chuộc tội, mang lại sự cứu rỗi cho những con người khác. Sự nhấn mạnh như vậy đối nghịch với sự phủ nhận nhân tính và sự chết của Chúa Jesus bởi những người theo thuyết Ngộ Đạo (Gnostics), là những kẻ tà giáo trong Cơ Đốc giáo thời ban đầu, cho rằng bất cứ thứ gì thuộc vật chất hay thể chất vật lý đều vốn dĩ là xấu xa (xem chương 3). Vì thế, không chỉ thần tính của Chúa Jesus được nhấn mạnh (bắt đầu với “Ngôi Lời là Đức Chúa Trời” [Giăng 1:1] và nhiều lần xuyên suốt Phúc Âm); mà nhân tính của Ngài cũng được nhấn mạnh: “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt” (1:14), cảm thấy mệt và khát (4:6-7; 19:28), khóc (11:35), thực sự chết đi và sống lại (19:30-42; 20:12, 17, 20, 27-28).

“TA LÀ …”

Chính Chúa Jesus đòi hỏi đức tin Christology này bằng cách đưa ra một loạt những tuyên bố “Ta là …” trong Phúc Âm Thứ Tư:

  • Ta là bánh của sự sống” (Giăng 6:35, 48; so sánh 6:41, 51).
  • Ta là ánh sáng của thế gian” (8:12).
  • Ta là cửa” (10:7, 9).
  • Ta là người chăn tốt lành” (10:11, 14).
  • Ta là sự sống lại và sự sống” (11:25).
  • Ta là đường đi, chân lý và sự sống” (14:6).
  • Ta là gốc nho thật” (15:1, 5).

Ngoài ra, còn có những tuyên bố “Ta là” không đi kèm bổ ngữ. Những tuyên bố này ngụ ý rằng Ngài chính là Đấng “TA LÀ/GIÊ-HÔ-VA” trong Cựu Ước (Giăng 4:25-26; 8:24, 28, 58; 13:19; so sánh 6:20; 7:34, 36; 14:3; 17:24; Xuất Ê-díp-tô Ký 3:14).

Xuất Ê-díp-tô Ký 3:14Giăng 8:58
“Đức Chúa Trời phán với Môi-se: ‘TA LÀ ĐẤNG TA LÀ [I AM WHO I AM].’”“[Chúa Jesus phán:] ‘Trước khi chưa có Áp-ra-ham, đã có TA LÀ.’”

LAI THẾ HỌC ỨNG NGHIỆM

Khi một người tin nhận Chúa Jesus, họ lập tức nhận được sự sống đời đời - do đó C. H. Dodd đã sử dụng cụm từ “lai thế học ứng nghiệm” (realized eschatology); tuy nhiên “lai thế học khởi nguyên” (inaugurated eschatology) có lẽ thích hợp hơn, vì Giăng 5:25-29 đề cập đến sự sống lại và sự phán xét còn chưa đến, và Giăng 21:22 nói về sự trở lại của Chúa Jesus. Sự vui hưởng trọn vẹn đang chờ đợi trong tương lai, nhưng mọi tín hữu đều được nếm trước một chút trong hiện tại. (Có lẽ một số Cơ Đốc nhân khi ấy bị xao động và một số người ngoại đạo hoài nghi về sự chậm trễ trong ngày Chúa trở lại; vì thế Giăng nhấn mạnh đến sự cứu rỗi ngay bây giờ). Với sự nhấn mạnh này, Giăng tìm cách truyền bá Phúc Âm cho những người chưa tin hoặc để củng cố đức tin cho các tín đồ. (Việc Giăng viết cho những người chưa tin, cho tín hữu, hay cho cả hai vẫn còn là vấn đề tranh cãi).

LUẬN CHIẾN CHỐNG LẠI GIĂNG BÁP-TÍT?

Việc sửa lại những hiểu lầm của tín hữu do bị ảnh hưởng bởi một tà giáo đã phát triển học thuyết của nó xung quanh nhân vật Giăng Báp-tít có thể là một mục đích phụ đằng sau việc Giăng biên soạn Phúc Âm Thứ Tư (tương tự như người Mandeans ngày nay ở Iraq, là những người xem Giăng Báp-tít là đối tượng để họ thờ phượng). Công vụ 19:1-7 cho thấy sự hiện diện của những môn đồ của Giăng Báp-tít tại Ê-phê-sô vài thập kỷ trước đó, vào thời của Phao-lô; và theo truyền thống sơ khai, sứ đồ Giăng đã viết Phúc Âm của ông tại Ê-phê-sô. Hơn nữa, Giăng đã rất cố gắng để cho thấy:

  • Chúa Jesus vượt trội hơn Giăng Báp-tít.
  • Giăng Báp-tít phải lu mờ đi còn Chúa Jesus phải được nâng lên.
  • Thông qua các môn đồ của Ngài, Chúa Jesus làm Báp-têm cho nhiều môn đồ hơn Giăng Báp-tít.
  • Giăng Báp-tít làm chứng về Chúa Jesus.
  • Chúa Jesus có lời chứng còn lớn hơn cả lời chứng mà Giăng Báp-tít đã làm chứng cho Ngài (Giăng 1:15-37; 3:25-30; 4:1-2; 5:33-40).

Tuy nhiên, vấn đề này vẫn còn nghi vấn, vì những hiện tượng này cũng có thể chỉ phản ánh chính kinh nghiệm của sứ đồ Giăng khi ông chuyển từ việc theo Giăng Báp-tít sang tin theo Chúa Jesus.

LUẬN CHIẾN CHỐNG LẠI NGƯỜI DO THÁI?

Một số người cho rằng Giăng đã viết Phúc Âm như một bài luận chiến chống lại người Do Thái, là những người vào cuối thế kỷ thứ nhất đã đưa vào buổi nhóm thờ phượng trong nhà hội Lời Chúc Dữ chống lại tà giáo (dưới góc nhìn của Do Thái giáo) nhằm loại bỏ tất cả những tín hữu Cơ Đốc người Do Thái vẫn còn đến tham dự các buổi thờ phượng đó. Lời Chúc Dữ này có thể là lý do cho sự ra đời của Phúc Âm Thứ Tư - như một sự khích lệ cho các tín hữu gốc Do Thái chịu đựng việc bị tẩy chay khỏi nhà hội mà không giấu diếm danh tính Cơ Đốc của mình hoặc từ bỏ đức tin (so sánh Giăng 9:22 và 16:2, là những câu đề cập đến việc các môn đồ của Chúa Jesus bị trục xuất khỏi nhà hội).

Tuy nhiên, mặc dù “người Do Thái” xuất hiện với hình ảnh tiêu cực xuyên suốt sách Giăng, thì “thế gian” cũng xuất hiện với hình ảnh tiêu cực không kém - và với cùng một lý do: sự vô tín (xem, ví dụ, 15:18-19). Hơn nữa, Giăng không hề che giấu bản sắc Do Thái của Chúa Jesus; và các Cuộn Sách Biển Chết đã cho thấy từ vựng tôn giáo trong Phúc Âm Giăng mang đặc trưng của Do Thái giáo thế kỷ thứ nhất.

Đọc thêm: LỜI CHÚC DỮ CHO NHỮNG KẺ THEO TÀ GIÁO

“Nguyện cho những kẻ bị khai trừ chẳng còn hy vọng, và trong thời chúng con, xin nhanh chóng diệt tận gốc vương quốc của sự kiêu ngạo. Nguyện cho những người Cơ Đốc và những kẻ theo tà giáo bị diệt vong tức thì. Nguyện chúng bị xóa khỏi sách sự sống, và không được ghi tên cùng với những người công chính.”

Đọc thêm: MỘT SỐ TỪ VỰNG TÔN GIÁO PHỔ BIẾN TRONG CÁC CUỘN BIỂN CHẾT VÀ SÁCH GIĂNG

  • ánh sáng
  • ánh sáng của sự sống
  • ánh sáng” đối nghịch với “tối tăm
  • yêu thương con cái sự sáng / lẫn nhau
  • sự hiểu biết” / “biết
  • lẽ thật

1.5. Các Nguồn Tư Liệu
#

Những giả thuyết về các nguồn tư liệu văn học khác nhau được dùng để biên soạn Phúc Âm Thứ Tư vấp phải trở ngại trước sự thống nhất của văn phong xuyên suốt toàn bộ sách. Những giả thuyết về sự xáo trộn bố cục, tuy giải quyết được một số vấn đề trong việc giải nghĩa, nhưng lại tạo ra những vấn đề khác; và với một ngoại lệ nhỏ, thì ngoại lệ này thiếu bằng chứng từ các bản sao chép cổ.

Giăng 1:11-12 tóm tắt ba nội dung chính trong Phúc Âm thứ Tư:

  1. Ngài đã đến trong xứ mình, nhưng dân Ngài chẳng tiếp nhận Ngài” — bối cảnh u tối của Phúc Âm bao gồm những sự chối bỏ Chúa Jesus lặp đi lặp lại bởi người Do Thái;
  2. Nhưng hễ ai đã tiếp nhận Ngài” — như những ngoại lệ sáng chói, một số cá nhân đã tiếp nhận Chúa Jesus qua sự gặp gỡ cá nhân với Ngài;
  3. thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời” — Giăng mô tả chi tiết một số phép lạ Chúa Jesus đã làm, nhưng gọi chúng là “dấu chỉ” và “công việc”, vì giá trị biểu tượng của chúng về sự biến đổi đã diễn ra trong những ai tiếp nhận Chúa Jesus.

Cả ba nội dung này hội tụ trong câu chuyện về sự chết và sự sống lại của Chúa Jesus:

  1. Dân Ngài chẳng tiếp nhận Ngài” — việc Ngài bị đóng đinh bởi tay người Do Thái.
  2. Nhưng hễ ai đã tiếp nhận Ngài” — ba người phụ nữ cùng tên Ma-ri và môn đồ được yêu đứng bên thập tự giá.
  3. Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời” — sự biến đổi bởi quyền năng phục sinh của Chúa Jesus.

II. BỐ CỤC SÁCH GIĂNG
#

Click vào link để xem Bố cục sách Giăng

III. ĐỌC SÁCH GIĂNG VỚI SỰ GIẢI THÍCH
#

3.1. Lời Tựa
#

NGÔI LỜI (TIẾNG HY LẠP: LOGOS) NHẬP THỂ

Đọc Giăng 1:1-18

Sách Phúc Âm Thứ Tư mở đầu bằng một lời tựa. Một số học giả cho rằng trong phần đề tựa này, tác giả sách Phúc Âm đã chỉnh sửa một bài thánh ca có sẵn trước đó; trong khi các học giả khác cho rằng Giăng đã tự mình sáng tác dựa trên bối cảnh các câu chuyện Cựu Ước về sự sáng tạo và việc ban luật pháp trên núi Si-na-i.

  • Ban đầu” nhắc lại Sáng-thế Ký 1:1.

  • Có Ngôi Lời” nhắc lại việc Đức Chúa Trời phán để tạo dựng trật tự từ hỗn mang (ví dụ: “Đức Chúa Trời phán: ‘Phải có sự sáng;’ thì có sự sáng”), chỉ khác là lời phán này đã trở thành một thân vị tiền hiện hữu với Đức Chúa Trời, chia sẻ chính thân vị của Đức Chúa Trời, hành động như đại diện của Đức Chúa Trời trong công trình sáng tạo, và trong Chúa Jesus Christ đã nhập thể (“mặc lấy xác thịt”) - tức trở nên một con người trọn vẹn với thân thể vật lý, để bày tỏ cho nhân loại sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, không phải trong sự bày tỏ của chớp nhoáng và sấm sét như tại núi Si-na-i, nhưng trong sự mặc khải về ân điển và lẽ thật của Đức Chúa Trời, đã thay thế luật pháp Môi-se được ban tại Si-na-i.

  • Bởi vì động từ mô tả việc “[Ngôi Lời] ở giữa chúng ta”, σκηνόω, mang ý nghĩa cư ngụ trong một Đền tạm/ sống trong một cái lều (Giăng 1:14), nên vinh quang của ân điển và lẽ thật này của Đức Chúa Trời cũng thay thế vinh quang thần thượng đã từng ngự xuống Đền tạm (tức nơi thánh bằng lều) khi Môi-se hoàn tất việc xây dựng theo bản thiết kế được ban cho ông trên núi Si-na-i.

  • Là lời phán hữu hình của Đức Chúa Trời, Ngôi Lời đối lập với danh hiệu thần thánh theo văn hóa Hy Lạp là “Sự Thinh Lặng” (Silence), và đồng nhất với ánh sáng của sự nhận biết Đức Chúa Trời, vốn đối nghịch với sự tối tăm của sự thiếu hiểu biết về Đức Chúa Trời. Sự nhận biết này đem lại sự sống cho những ai tiếp nhận Ngôi Lời, nghĩa là tin vào danh Ngài, tin rằng Ngài chính là Đấng mà danh Ngài bày tỏ, tức Ngôi Lời thần linh.

  • Khác với thế gian (xã hội của những người không tin), các tín đồ đã nhận được sự sống này không phải qua sự sinh sản của loài người (“chẳng phải bởi khí huyết, hoặc bởi tình dục, hoặc bởi ý người”) nhưng bởi sự tái sinh thuộc linh (“bởi Đức Chúa Trời mà sanh”; so sánh với Giăng 3:3-8) và nhờ đó trở nên con cái Đức Chúa Trời bất kể nguồn gốc sinh học. Nhìn chung, ngay cả dân riêng của Ngôi Lời, là những người cùng chung nguồn gốc Do Thái với Ngài, cũng không tiếp nhận Ngài để trở nên con cái Đức Chúa Trời. Nhưng họ không tiếp nhận Ngài không phải vì thiếu chứng cớ, vì Giăng Báp-tít đã làm chứng về Ngài, thậm chí tuyên bố rằng Ngài cao trọng hơn ông bởi sự ưu tiên về mặt thời gian, tức sự tiền hiện hữu của Ngài.

Mặc dù cụm từ “ban đầu” liên hệ Ngôi Lời ngay lập tức với Sáng-thế Ký 1:1, nhưng những cách dùng khác cũng có thể đã ảnh hưởng đến việc tác giả Phúc Âm áp dụng thuật ngữ này cho Chúa Jesus Christ:

  1. Cách sử dụng cụm từ “lời của Đức Giê-hô-va” trong Cựu Ước;
  2. Cách sử dụng cụm từ “Lời của Đức Giê-hô-va” hoặc “Lời của Đức Chúa Trời” như một đại diện thay thế cho Đức Chúa Trời trong các bản Targums (là các bản dịch thoáng kèm diễn giải của Cựu Ước);
  3. Cách mô tả sự khôn ngoan được thân vị hóa, trong Cựu Ước và văn học Do Thái thời kỳ giữa hai giao ước, sử dụng những từ ngữ rất giống với cách mô tả Ngôi Lời của tác giả Phúc Âm Thứ Tư;
  4. Cách Tân Ước dùng từ “Lời” để chỉ Phúc Âm; và
  5. Cách các triết gia như phái Khắc Kỷ và Philo - một triết gia người Do Thái sống ở Alexandria (Ai Cập) thế kỷ thứ nhất, sử dụng từ logos để chỉ nguyên lý lý trí (Lý Tính - Reason) - thứ mà họ cho là chi phối vũ trụ.

Tuy nhiên, trái ngược với ảnh hưởng từ cách sử dụng mang tính triết học này, tác giả Phúc Âm Thứ Tư viết về sự giao tiếp thần linh, chứ không phải về suy nghĩ của Đức Chúa Trời; và khác với mọi ảnh hưởng có thể có, Giăng xác định logos là một con người cụ thể trong lịch sử trong thời của ông.

Sự độc đáo của logos hay Ngôi Lời này được thể hiện qua tính từ “độc nhất”, theo truyền thống được dịch là “độc sanh”. Có một nan đề liên quan đến bình luận văn bản về việc liệu Giăng 1:18 nên được đọc là “Đức Chúa Trời độc nhất” ("[the] only God") (cách đọc lại nhìn ngược lại Giăng 1:1 về sự đồng nhất giữa Ngôi Lời và Đức Chúa Trời, và đòi hỏi trong cụm từ tiếp theo của 1:18 ["… ở trong lòng Cha"] có một sự chuyển từ “Đức Chúa Trời” sang “Cha”). Hay nên đọc là “Con độc sanh” ("the only Son") (cách đọc này hướng tới phía trước, tức từ “Cha” trong cụm từ kế tiếp [“… ở trong lòng Cha”], và nhấn mạnh vào việc Chúa Jesus là Con Đức Chúa Trời trong toàn bộ phần còn lại của Phúc Âm)? Các bản sao chép cổ nhất và tốt nhất ghi là “Đức Chúa Trời” thay vì “Con”.

Việc tác giả Phúc Âm Thứ Tư xác định Ngôi Lời sáng tạo là Đức Chúa Trời độc nhất dường như nhằm phản bác giáo lý Ngộ Đạo của Cerinthus vốn cho rằng Đấng Sáng Tạo (Creator) khác với Đức Chúa Trời tối cao (supreme God). Tương tự, sự nhập thể của Ngôi Lời Đức Chúa Trời trong một con người duy nhất là Jesus Christ dường như cũng nhằm đả kích giáo lý Ngộ Đạo của Cerinthus, vốn phân biệt giữa một linh thần thánh, là Đấng Christ, và một con người bằng xác thịt, là Jesus, và cho rằng Đấng Christ đã rời bỏ Jesus trước cuộc khổ nạn, mặc dù Đấng Christ đã ngự xuống trên Jesus ngay sau khi Jesus chịu Báp-têm.

Đọc thêm: MỘT VĂN BẢN MA THUẬT THỜI HY LẠP HÓA

“Lập tức đặt ngón tay trỏ của bàn tay phải lên miệng và nói: ‘Thinh lặng! Thinh lặng!’ (biểu tượng của vị thần sống động, bất hoại). ‘Xin hãy bảo vệ con, hỡi Thinh lặng!’” (Papyrus Paris 574).

Đọc thêm: SỰ KHÔN NGOAN - THẦN HỌC VỀ ĐẤNG CHRIST (WISDOM-CHRISTOLOGY) TRONG PHÚC ÂM GIĂNG?

Trong Sirach 24:9, sự khôn ngoan được nhân cách hóa tuyên bố về sự tiền hiện hữu: “Trước các thời đại, ban đầu, Ngài [Đức Chúa Trời] đã dựng nên ta.” Sự tương đồng với sự tiền hiện hữu của Ngôi Lời trong Giăng 1:1 và một số điểm tương đồng khác đã khiến nhiều học giả nghĩ rằng Giăng mô tả Chúa Jesus là sự khôn ngoan nhập thể và — có lẽ vì Chúa Jesus là nam — nên từ “Ngôi Lời” ("logos" - từ giống đực trong tiếng Hy Lạp) được dùng thay thế cho từ “sự khôn ngoan” ("sophia” - từ giống cái trong tiếng Hy Lạp).

Mặt khác, cần lưu ý rằng Giăng vẫn sử dụng một số từ giống cái khác trong tiếng Hy Lạp để chỉ về Chúa Jesus (ví dụ: “đường đi”, “lẽ thật”, và “sự sống”) nhưng không bao giờ dùng từ “sự khôn ngoan” cho Ngài, dù tác giả sử dụng rất nhiều từ đồng nghĩa — lẽ ra trong trường hợp này có thể ghép “sự khôn ngoan” với “Ngôi Lời”. Cũng lưu ý sự tương phản giữa Ngôi Lời là Đấng Sáng Tạo và sự khôn ngoan là một tạo vật. Vậy phải chăng Giăng đang đặt Ngôi Lời đối lập với sự khôn ngoan?

Đọc thêm: TRÍCH DẪN MỘT LẬP LUẬN TRIẾT HỌC CỦA ZENO

“Luật Tự Nhiên, tức Lý Trí Đúng Đắn [Right Reason - logos], thấm nhuần muôn vật, cũng giống như Zeus, là Đấng Tối Cao đứng đầu cai trị vũ trụ” (Zeno, Fragment 162).

Đọc thêm: TÀ THUYẾT CỦA CERINTHUS

“Cerinthus … cho rằng Chúa Jesus không được sinh ra bởi một trinh nữ. … Hơn nữa, Đấng Christ đã ngự xuống trên Jesus sau khi Jesus chịu Báp-têm. … Nhưng cuối cùng, Đấng Christ đã rời bỏ Jesus. … Jesus chịu khổ và sống lại, trong khi Đấng Christ không thể chịu khổ vì Ngài là một thực thể thần linh” (về Cerinthus theo Irenaeus, Against Heresies 1.26.1; xem thêm 3.11.1, 3).

3.2. Lời Chứng của Giăng Báp-tít
#

CHIÊN CON CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Đọc Giăng 1:19-34.

Giờ đây tác giả Phúc Âm Thứ Tư trình bày chi tiết lời chứng của Giăng Báp-tít về Chúa Jesus. Để dọn đường cho lời chứng này, trước hết Giăng xác nhận với “người Do Thái” (không phải toàn dân, mà là những người lãnh đạo sống ở Giê-ru-sa-lem, xứ Giu-đê) rằng chính ông không phải là Đấng Christ, cũng không phải là Ê-li trở lại thế gian, hoặc tiên tri mà nhiều người Do Thái trông đợi sẽ xuất hiện trong thời kỳ cuối cùng. Việc Giăng Báp-tít tự nhận mình chỉ là một “tiếng kêu” cũng là để dọn đường. Chính lời chứng của ông xác định Chúa Jesus:

  • Là Đấng mà những người Do Thái chất vấn ông không hề biết (so sánh Giăng 1:10-11),
  • Là Đấng mà dây giày của Ngài, ông cũng không xứng đáng để mở,
  • Là Chiên Con sinh tế không chỉ bởi Đức Chúa Trời chuẩn bị mà còn chính Đức Chúa Trời (1:1c) để cất tội lỗi của thế gian,
  • Là Đấng cao trọng hơn ông vì Ngài hiện hữu trước ông,
  • Là Đấng mà ông đã thấy Đức Thánh Linh ngự xuống và ở lại trên Ngài để Ngài có thể làm Báp-têm cho người ta bằng Đức Thánh Linh chứ không chỉ bằng nước,
  • Là Con Đức Chúa Trời.

Như vậy, lời rao giảng về sự ăn năn của Giăng Báp-tít đã trở thành một lời chứng về Chúa Jesus, và phép báp-têm của ông trở thành một dịp tiện để bày tỏ Chúa Jesus cho dân Y-sơ-ra-ên.

(Hình 4: Báp-têm ở hạ lưu sông Jordan ngày nay)

3.3. Những Môn Đồ Đầu Tiên
#

Đọc Giăng 1:35-42.

Sự lặp lại lời chứng của Giăng Báp-tít khiến hai môn đồ của ông, là Anh-rê và một người không được nêu tên (có lẽ là sứ đồ Giăng - tác giả Phúc Âm Thứ Tư), đi theo Chúa Jesus và ở lại với Ngài. Việc ở lại về mặt không gian dường như biểu tượng cho sự ở lại về mặt thuộc linh trong Đấng Christ được đề cập sau này (Giăng 15:1-7).

Hai môn đồ đã gọi Chúa Jesus là một rabbi, hoặc một giáo sư; nhưng khi nói với anh mình là Si-môn, Anh-rê xác định Chúa Jesus là Đấng Mê-si, hay Đấng Christ. Khi vừa thấy Si-môn, Chúa Jesus bày tỏ sự toàn tri (omniscience) của Ngài về tên hiện tại của Si-môn, tên cha của Si-môn, và tên tương lai của ông là Sê-pha (là tiếng A-ram của cái tên Hy Lạp Phi-e-rơ, cả hai đều có nghĩa là “đá”).

Nếu tính từ lúc mặt trời mọc, “giờ thứ mười” sẽ là 4 giờ chiều; nhưng nếu vậy thì phần còn lại trong ngày quá ít khiến câu nói “họ ở lại cùng Ngài trong ngày đó” trở nên vô nghĩa. Vì vậy, tốt hơn nên tính từ nửa đêm, để câu này sẽ được hiểu là họ đã ở với Chúa Jesus từ lúc 10 giờ sáng trở đi.

Đọc Giăng 1:43-51.

Chúa Jesus chủ động kêu gọi Phi-líp. Việc mô tả Phi-líp là “người Bết-sai-đa” tạo bối cảnh cho việc mô tả Chúa Jesus là “người Na-xa-rét”, từ đó dẫn đến câu hỏi của Na-tha-na-ên rằng “há có điều gì tốt ra từ Na-xa-rét được sao” (xem bản đồ bên dưới để thấy vị trí của Bết-sai-đa và Na-xa-rét). Câu hỏi này và chi tiết mô tả thêm về Chúa Jesus là “con của Giô-sép” mang tính châm biếm, vì tác giả Phúc Âm Giăng đã định vị nguồn gốc của Chúa Jesus là “ở trong lòng Cha” (Giăng 1:18) và Giăng Báp-tít đã mô tả Chúa Jesus là “Con Đức Chúa Trời” (1:34). Nhưng mô tả của Phi-líp về Chúa Jesus là “Đấng mà Môi-se và các tiên tri đã viết” là đúng sự thật.

Một lần nữa Chúa Jesus thể hiện sự toàn tri, lần này là về tính cách và hoạt động của Na-tha-na-ên. Và lần này, “Rabbi” được nâng lên thành “Con Đức Chúa Trời” - sửa chữa cho việc Phi-líp gọi Chúa Jesus là “con của Giô-sép”, và thành “Vua của Y-sơ-ra-ên” - phù hợp với việc Na-tha-na-ên được Ngài gọi là “một người Y-sơ-ra-ên chân chính”. Việc Phi-líp mô tả Chúa Jesus là “người Na-xa-rét” được sửa chữa khi chính Chúa Jesus mô tả mình là “Con Người”, như một cái thang, giống cái thang của Gia-cốp (Sáng-thế Ký 28:12) kết nối trời với đất. Vì “thiên sứ” còn có nghĩa là “sứ giả” - cụm từ “những thiên sứ lên xuống trên Con Người” mô tả Chúa Jesus như là Đấng mang sứ điệp từ trời.

Các vị thần thường có nhiều tên gọi và danh hiệu, và vì Chúa Jesus là thần, do đó tác giả liệt kê chất chồng nhiều tên gọi và danh hiệu khác nhau cho Chúa Jesus xuyên suốt chương này.

3.4. Dấu Lạ Đầu Tiên của Chúa Jesus
#

Đọc Giăng 2:1-12.

Việc xác định ngày Chúa Jesus thực hiện dấu lạ đầu tiên là “ngày thứ ba” có thể nhằm báo trước dấu lạ cao trào về sự phục sinh của Ngài vào ngày thứ ba (so sánh Giăng 2:19). Tiệc cưới gợi lên sự vui mừng của sự cứu rỗi (so sánh Khải-huyền 19:6-9; Ma-thi-ơ 22:1-14; 25:1-13).

Việc Chúa Jesus biến nước thành rượu tại Ca-na tượng trưng cho sự thay thế các nghi lễ của người Do Thái bằng Tin Lành; vì Giăng mô tả nước dưới góc độ là nghi lễ thanh tẩy của người Do Thái, và việc giữ rượu ngon nhất đến cuối gợi nhớ đến tuyên bố trước đó của Giăng rằng “luật pháp được ban qua Môi-se, còn ân điển và lẽ thật đến qua Chúa Jesus Christ” (1:17; xem bản đồ bên dưới để biết vị trí Ca-na).

Lời tuyên bố độc lập của Chúa Jesus với mẹ Ngài (Giăng 2:4) ngụ ý rằng Ngài sẽ chỉ hành động theo thời điểm của Đức Chúa Trời - Cha Ngài. Lịch trình này sẽ dẫn đến “giờ” của Chúa Jesus, tức là tuần lễ cao trào về sự chết và sống lại của Ngài (7:30; 8:20; 12:23, 27; 13:1; 17:1).

Khả năng không thấm nước của các chậu đá giữ cho nước bên trong không bị ô uế theo nghi lễ. Dung tích khổng lồ của các chậu đá, mỗi cái chứa hai hoặc ba chục gallon nước (khoảng 75 - 115 lít), làm tăng thêm mức độ ấn tượng của dấu lạ sắp diễn ra. Việc đổ đầy nước đến miệng chậu cũng có tác dụng nhấn mạnh tương tự.

Lời nhận xét của người quản gia dựa trên tác động của việc say rượu, cụ thể là khách mời sau khi đã uống nhiều rượu thì say và không thể phân biệt được rượu ngon và rượu kém chất lượng. Vì vậy, chủ tiệc thường đãi rượu ngon trước. “Đây là dấu lạ đầu tiên” ngụ ý sẽ còn nhiều dấu lạ nữa, và việc sử dụng từ “dấu lạ” thay vì “phép lạ” (vốn có nghĩa là “hành động quyền năng”) cho thấy Giăng đang hướng sự chú ý của độc giả đến ý nghĩa biểu tượng trong hành động của Chúa Jesus, chứ không phải hiệu quả vật lý của chúng.

Đọc thêm: MỘT CÂU HỎI VỀ RƯỢU

Trong phần tường thuật về Bữa Ăn Tối Cuối Cùng của Chúa Jesus, Giăng không đề cập đến rượu mà Chúa Jesus phán là tượng trưng cho máu của Ngài. Phải chăng rượu mà Chúa Jesus hóa ra từ nước tại Ca-na đã là điềm báo và thay thế cho rượu của Tiệc Thánh trong Phúc Âm Giăng?

3.5. Thanh Tẩy Đền Thờ
#

Đọc Giăng 2:13-22.

Giăng đề cập đến việc Chúa Jesus thanh tẩy Đền thờ khá sớm, trong khi các sách Cộng Quan chỉ đề cập đến sự kiện này trong Tuần Lễ Khổ Nạn. Một số người cho rằng Chúa Jesus đã thanh tẩy Đền thờ hai lần để mở đầu và kết thúc mục vụ công khai của Ngài; số khác cho rằng các sách Cộng Quan đã trì hoãn việc thuật lại sự thanh tẩy này do bỏ qua tất cả những lần Ngài đến Giê-ru-sa-lem, trừ lần cuối cùng; và một số khác cho rằng theo thói quen ngầm báo trước các sự kiện trong tương lai, Giăng đã đưa sự kiện thanh tẩy Đền thờ lên trước để liên kết chặt chẽ nó với lời nhận diện của Giăng Báp-tít về Chúa Jesus là Chiên Con của Đức Chúa Trời (Giăng 1:29, 36) và để dành chỗ cho việc Chúa Jesus làm cho La-xa-rơ sống lại (thay vì sự kiện thanh tẩy Đền thờ) trở thành sự kiện châm ngòi cho âm mưu của Tòa Công luận nhằm giết Chúa Jesus (so sánh Giăng 11:1-57; 12:9-19; với Mác 11:15-19).

Phù hợp với hình ảnh của Đấng mà Giăng đã xác định là Đức Chúa Trời, Chúa Jesus luôn chủ động hành động. Ngài thấy những người buôn bán trong Đền thờ, Ngài lấy dây bện làm roi, đuổi bò và chiên ra, đổ tiền của những người đổi bạc, bảo những người bán bồ câu hãy đem chúng đi và đừng biến nhà Cha Ngài thành nơi buôn bán — không hành động nào trong số này được đề cập trong các sách Cộng Quan, và tất cả đều làm nổi bật tính chủ động thần thượng của Chúa Jesus - điều này cũng được nhấn mạnh bởi việc trích dẫn một tham chiếu từ Cựu Ước về sự sốt sắng cho nhà Đức Chúa Trời (Thi-thiên 69:9). Việc đuổi những con vật đang được bán để làm sinh tế và việc đuổi những chim bồ câu dùng cho việc tế lễ tượng trưng cho sự lỗi thời của những sinh tế này, vì giờ đây Chiên Con của Đức Chúa Trời đã xuất hiện.

Trong một lời ám chỉ bí ẩn về thân thể Ngài, lời mỉa mai của Chúa Jesus khi thách thức người Do Thái phá hủy “đền thờ này” ám chỉ đến cái chết hy sinh của Ngài bởi chính tay họ (xem Giăng 19:16-18); và lời tiên tri Ngài sẽ dựng lại Đền thờ trong ba ngày ám chỉ việc Ngài sẽ làm sống lại thân thể ấy từ cõi chết bằng chính quyền năng thần thánh của mình. Vì theo định nghĩa, Đền thờ là nơi ở của thần linh, nên việc Chúa Jesus là Đức Chúa Trời (1:1-18) khiến thân thể Ngài trở thành một Đền thờ mới thay thế cho Đền thờ cũ tại Giê-ru-sa-lem. Bốn mươi sáu năm xây dựng Đền thờ đề cập đến việc trùng tu do Hê-rốt Đại Đế khởi xướng.

"[Chúa Jesus phán,] ‘Nầy, tại sao Cha yêu ta: Ấy vì ta phó sự sống mình, để được lấy lại. Chẳng có ai cất sự sống ta đi, nhưng tự ta phó cho; ta có quyền phó sự sống, và có quyền lấy lại; ta đã lãnh mạng lịnh nầy nơi Cha ta.’" (Giăng 10:17-18)

3.6. Ni-cô-đem và Sự Sanh Lại từ Trên
#

Đọc Giăng 2:23-3:21.

Câu chuyện về Chúa Jesus và Ni-cô-đem - một thành viên của Tòa Công luận, minh họa cho sự toàn tri của Chúa Jesus về tình trạng bên trong của con người. Ni-cô-đem là một ví dụ về những người tin vào danh Chúa Jesus chỉ vì những dấu lạ Ngài làm (so sánh Giăng 2:23 với 3:1-2); nhưng Chúa Jesus biết họ vẫn cần một sự đổi mới triệt để đến mức cấu thành một sự tái sanh - một sự sanh ra từ trời (so sánh Giăng 2:24-25 với 3:3-8) và xảy ra qua đức tin nơi Chúa Jesus là Con độc nhất của Đức Chúa Trời, là Đấng đã từ trời giáng xuống và sẽ trở lại trời bằng cách chịu treo lên trên thập tự giá (3:11-21).

Việc Ni-cô-đem đến với Chúa Jesus, là ánh sáng thật, vào ban đêm, tượng trưng cho việc ông ra khỏi bóng tối của sự vô tri, tội ác, và sự chết, và bước vào sự sáng của sự hiểu biết, lẽ thật, và sự sống. Nước và gió là cách nói hình bóng chỉ về Đức Thánh Linh, là Đấng thực hiện sự tái sinh từ trên cao (so sánh Giăng 7:37-39; Ê-xê-chi-ên 36:25-27; Tít 3:5). Ở đây, Giăng sử dụng một trạng từ Hy Lạp mang cả hai nghĩa, “lần nữa, mới” và “từ trên cao”. Tương tự, ông cũng dùng một danh từ Hy Lạp có cả hai nghĩa là “gió” và “Đức Thánh Linh”.

Việc “gió muốn thổi đâu thì thổi” tượng trưng cho quyền tể trị của Đức Thánh Linh trong việc tạo nên sự tái sinh (so sánh 6:44). Sự bất toàn của “sự sinh ra bởi xác thịt” có nghĩa là sự bất toàn của dòng dõi Do Thái theo huyết thống.

Nghe tiếng gió mà không biết nguồn gốc và đích đến của gió tượng trưng cho việc nghe tiếng của Đức Thánh Linh mà không hiểu được sự huyền nhiệm trong sự vận hành của Đức Thánh Linh (so sánh Giăng 10:16, 27; Khải-huyền 2:7, 11, 17, 29). “Điều thuộc về đất” có nghĩa là những hình bóng về nước và gió, “điều thuộc về trời” là thực tại của sự tái sinh từ trên cao bởi sự vận hành của Đức Thánh Linh.

Việc Môi-se treo con rắn bằng đồng lên để cứu dân Y-sơ-ra-ên, xem Dân số ký 21:8-9. Việc Chúa Giê-xu bị treo lên là để cứu mọi người trên thế gian. Việc Đức Chúa Trời treo Ngài lên trên thập tự giá định nghĩa cách Đức Chúa Trời yêu thương thế gian. Cũng như những người tin Chúa được hưởng sự sống đời đời trước khi thời đại sắp đến, những kẻ chẳng tin cũng đang ở dưới án phạt trước sự Phán Xét Cuối Cùng. Nhưng sự phán xét không chỉ có nghĩa là sự đoán phạt; nó còn có nghĩa là sự phân rẽ, ở đây là giữa kẻ làm điều ác và người làm theo lẽ thật, tức là lẽ thật của Đức Chúa Trời trong Chúa Jesus Christ.

"‘Ta sẽ rưới nước trong trên các ngươi… Ta sẽ ban Thần Ta trong các ngươi’" (Ê-xê-chi-ên 36:25, 27).

“Vậy, Môi-se làm một con rắn bằng đồng và treo lên một cây sào. Khi một con rắn cắn ai, người ấy nhìn lên con rắn bằng đồng thì được sống” (Dân-số ký 21:9).

Đọc thêm: Ý NGHĨA KÉP

Sinh ra

  • lần nữa (ý nghĩa thời gian)
  • từ trên cao (ý nghĩa không gian)

pneuma (tiếng Hy Lạp)

  • gió (ý nghĩa bề mặt)
  • Đức Thánh Linh (ý nghĩa sâu xa)

3.7. Phép Báp-têm
#

Đọc Giăng 3:22-36.

Con đường trở về Ga-li-lê đầu tiên dẫn qua vùng nông thôn Giu-đê dọc theo sông Giô-đanh - nơi Chúa Jesus dành thời gian với các môn đồ. Việc đề cập đến việc họ làm Báp-têm cho người ta là để chuẩn bị cho Giăng 4:1-2; nhưng trước mắt, chi tiết này nhằm thu hút sự chú ý đến thành công của Chúa Jesus vượt trội hơn Giăng Báp-tít và tạo cơ hội để Giăng Báp-tít một lần nữa làm chứng về sự cao trọng hơn của Chúa Jesus. Phải chăng tất cả sự nhấn mạnh này về lời chứng của Giăng Báp-tít cho thấy sự cao trọng hơn của Chúa Jesus là nhắm vào những môn đồ cứng lòng của Giăng Báp-tít tại Ê-phê-sô - nơi sứ đồ Giăng được cho là đang viết Phúc Âm Thứ Tư (so sánh Công-vụ 18:24-19:7)?

3.8. Người Đàn Bà Sa-ma-ri
#

Đọc Giăng 4:1-42.

Tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho thế gian, không chỉ riêng cho người Do Thái, được bày tỏ qua sự cần thiết khi Chúa Jesus phải đi ngang qua vùng Sa-ma-ri để cứu rỗi người dân ở đó, cho dù người Sa-ma-ri bị người Do Thái thù ghét. Xuất phát từ sự cần thiết này, Ngài chủ động bắt chuyện với người đàn bà Sa-ma-ri tại giếng Gia-cốp. Nếu tính từ lúc mặt trời mọc, giờ thứ sáu sẽ là giữa trưa. Nhưng việc các môn đồ đã vào thành Si-kha mua thức ăn, kết hợp với tập quán của người Do Thái là ăn hai bữa một ngày, một bữa vào buổi sáng và bữa còn lại vào xế chiều hoặc tối, lại ủng hộ cách tính giờ thứ sáu từ giữa trưa (“giờ thứ sáu” = 6 giờ chiều, so sánh phần giải nghĩa về Giăng 1:39; xem bản đồ để biết vị trí của Si-kha).

Bề ngoài, “nước hằng sống” có nghĩa là dòng nước chảy, luôn tươi mát. Nhưng loại nước ấy tượng trưng cho Đức Thánh Linh ban sự sống (so sánh Giăng 7:37-39). Giống như nước dùng cho nghi thức thanh tẩy đựng trong những chum đá (2:6), nước trong giếng Gia-cốp đại diện cho Do Thái giáo, giờ đây sẽ được thay thế bằng nước mang lại sự sống đời đời. ("Sẽ chẳng khát bao giờ" đề cập đến sự cứu rỗi đời đời, không phải sự thỏa mãn về tâm lý - càng không phải về thể chất.) Phải chăng năm đời chồng của người đàn bà tượng trưng cho năm sách của Môi-se, tức Ngũ Kinh, được người Sa-ma-ri và người Do Thái cùng công nhận làm nền tảng cho niềm tin và tập tục của họ, và người đàn ông hiện tại của bà tượng trưng cho sự bội đạo của người Sa-ma-ri khỏi Do Thái giáo? “Hòn núi này” là núi Ga-ri-xim gần đó, nơi đền thờ của người Sa-ma-ri nằm trong đống đổ nát.

Chúng ta không nên nghĩ rằng “linh hồn” và “lòng chân thành” của con người như là “tâm thần” và “lẽ thật” mà sự thờ phượng thật đối với Đức Chúa Trời là Cha phải diễn ra (Giăng 4:23); đúng hơn, hai từ này chỉ về Đức Thánh Linh (3:5-8 và một lần nữa 7:37-39) và Chúa Jesus, chính là Lẽ Thật (1:14, 17; 14:6). Đức Thánh Linh và Chúa Jesus cung cấp nơi chốn mới của sự thờ phượng.

Mùa gặt mà Chúa Jesus nói với các môn đồ của Ngài, vừa trở về, là sự sống đời đời cho những người Sa-ma-ri đến nghe và tin vào Ngài. Ngài gieo - Ngài khởi đầu tiến trình. Các môn đồ sẽ gặt, và sẽ hoàn tất nó trong công tác truyền giáo của họ.

Đọc thêm: NƠI CHỐN CỦA SỰ THỜ PHƯỢNG

Với sự xuất hiện của Chúa Jesus, là Ngôi Lời nhập thể, nơi thờ phượng Đức Chúa Trời đã chuyển từ một công trình vật chất tại Giê-ru-sa-lem (Đền thờ) sang thân thể vật lý của Chúa Jesus, từ cạnh sườn bị đâm thấu của Ngài, nước của Đức Thánh Linh chảy ra như một món quà cho những người tin (xem Giăng 7:37-39 với 19:34).

(Hình 5: Núi Gerizim và núi Ebal ngày nay)

3.9. Sự Chữa Lành Con Trai Của Một Viên Quan
#

Đọc Giăng 4:43-54.

Khi Chúa Jesus không tìm thấy đức tin đáng tin cậy tại Giu-đê - nơi được gọi là “quê hương Ngài”, vì đáng lẽ Ngài phải tìm thấy đức tin như thế ngay tại trung tâm của Do Thái giáo (xem Giăng 2:23-25) - Ngài tiếp tục đi đến Ga-li-lê, nơi người Ga-li-lê tiếp nhận Ngài (so sánh 1:11-13).

Sự nhấn mạnh vào tình trạng gần kề cái chết đến nỗi phép chữa lành đồng nghĩa với việc làm cho sống khiến dấu lạ thứ hai này của Chúa Jesus tượng trưng cho sự cứu rỗi khỏi sự chết đời đời để vào sự sống đời đời thông qua việc tin vào lời Ngài. Nếu tính từ giữa trưa, “giờ thứ bảy” (= 7 giờ tối) cho thấy viên quan hoàng gia này đã đi bộ khoảng hai mươi dặm (từ Ca-bê-na-um đến Ca-na) trong một ngày (xem bản đồ bên dưới để biết vị trí của Ca-bê-na-um trong tương quan với Ca-na).

3.10. Sự Chữa Lành Người Bại Trong Ngày Sa-bát
#

Đọc Giăng 5:1-47.

Như trước đó, Chúa Jesus lại đi đến thành Giê-ru-sa-lem nhân vì một kỳ lễ (không được nêu tên), và tại đó Ngài chữa lành một người bệnh không thể đi lại được.

Giống như những lần đề cập trước đây về (1) nước được sử dụng cho các nghi lễ thanh tẩy của người Do Thái, (2) nước trong giếng Gia-cốp, và (3) năm đời chồng của người đàn bà Sa-ma-ri, việc đề cập đến năm cái vòm bao quanh hồ nước tại Bê-tết-đa (hay Bết-sai-đa) kết hợp với vấn đề ngày Sa-bát gợi ý một sự ám chỉ mang tính biểu tượng đến năm sách của Môi-se, tức Luật Pháp, vốn không thể ban sự cứu rỗi, trong khi Chúa Jesus thì có thể - và Ngài đã làm (lần nữa so sánh Giăng 1:17). (Các nhà khảo cổ hiện đại dường như đã phát hiện ra năm cái vòm này; cho thấy ở đây Giăng không hoàn toàn đề cập đến năm cái vòm chỉ với nghĩa biểu tượng). Thậm chí, có thể 38 năm bệnh tật của người đàn ông cũng mang tính biểu tượng ám chỉ đến 38 năm dân Y-sơ-ra-ên lang thang trong đồng vắng (Phục-truyền 2:14).

Dù sao đi nữa, việc Chúa Jesus ban sức mạnh cho người này thay thế cho sự yếu đuối của thân thể (từ Hy Lạp chỉ “bệnh tật” trong câu 5:5 có nghĩa là “yếu đuối”) tượng trưng cho quyền năng ban sự sống của Chúa Jesus. Việc người đàn ông đứng dậy, vác giường của mình (một tấm thảm được dùng làm giường), và đi khi nghe lời Chúa Jesus tượng trưng cho sự vượt qua từ sự chết sang sự sống đời đời, cả trong hiện tại khi người đó hoán cải, lẫn trong tương lai, khi người đó sống lại - điều mà Chúa Jesus sắp nói đến.

Luật của các Rabbi cho phép một thầy thuốc được chữa bệnh trong ngày Sa-bát chỉ khi mạng sống của bệnh nhân bị đe dọa. Vì vậy, việc Chúa Jesus chữa lành chứng bệnh này, vốn không được coi là một trường hợp khẩn cấp nguy hiểm đến tính mạng, cũng như việc người được chữa lành vác giường của mình mà đi, đã vi phạm luật của các Rabbi và dẫn đến sự bách bớ. Chúa Jesus ví công việc chữa bệnh của Ngài trong ngày Sa-bát với công việc của Đức Chúa Trời là Cha Ngài cho đến thời điểm hiện tại, dù đó là ngày Sa-bát. Trong sự đánh đồng như vậy, việc Ngài gọi Đức Chúa Trời là Cha của Ngài tương đương với một lời tuyên bố về sự ngang hàng với Đức Chúa Trời. Nhưng làm Con Đức Chúa Trời cũng bao hàm việc xem và làm những điều Cha làm, giống như một người con trai bình thường học nghề bằng cách quan sát và làm theo những gì cha mình làm.

Lời chứng của Chúa Jesus về chính Ngài không được chấp nhận được, vì các tòa án Do Thái xem lời chứng của một người về bản thân có thể bị chi phối bởi lợi ích cá nhân. Vì vậy, Chúa Jesus viện dẫn các lời chứng (1) của Giăng Báp-tít, (2) của những công việc mà Cha đã giao cho Ngài làm, chẳng hạn như công việc chữa lành trong ngày Sa-bát vừa rồi, và (3) của chính Cha Ngài dưới hình thức Lời của Ngài, tức Chúa Jesus - Ngôi Lời (Logos), đang ngự trong những người tin.

Người ta thường cho rằng trong Giăng 5:46, Chúa Jesus có ý nói rằng Môi-se đã viết về Ngài trong Phục-truyền 18:15, 18. Nhưng sự ám chỉ này cũng có thể liên quan đến câu chuyện của Môi-se về việc Đức Chúa Trời ban ma-na để nuôi dân Y-sơ-ra-ên trên đường từ Ai Cập đến Ca-na-an, vì trong chương tiếp theo (Giăng 6), Chúa Jesus sẽ so sánh chính Ngài là bánh sự sống với ma-na đó.

“Dân Y-sơ-ra-ên gọi bánh ấy là ma-na. Nó trắng như hột ngò, vị như bánh ngọt pha mật ong” (Xuất Ê-díp-tô Ký 16:31)

Đọc thêm:

“Nhưng không ai có thể được tin cậy khi họ tự mình làm chứng về bản thân” (Mishnah, Ketubbot 2:9)

(Hình 6: Mô hình ao Bethzatha [Bethesda])

3.11. Chúa Hóa Bánh Cho Năm Ngàn Người Ăn
#

Đọc Giăng 6:1-71.

Việc Giăng liên kết phép lạ hóa bánh cho năm ngàn người ăn với Lễ Vượt Qua, kết hợp với những lời Chúa Jesus bàn về việc ăn thịt và uống huyết Ngài, khiến cho những chiếc bánh Ngài dùng để cho đám đông ăn trở thành biểu tượng cho sự chết hy sinh của Ngài với tư cách là Chiên Con Lễ Vượt Qua thật (xem Giăng 1:29, 36 với 19:34-36; Xuất Ê-díp-tô Ký 12:43-46; Dân-số ký 9:12). Địa điểm là trên một ngọn núi củng cố thêm tính biểu tượng bằng cách gợi nhớ đến Môi-se trên núi Si-na-i. Là Đức Chúa Trời nhập thể, Chúa Jesus chủ động và bày tỏ sự toàn tri của Ngài. Việc xác định bánh làm bằng lúa mạch nhắc chú ý đến tính biểu tượng của Lễ Vượt Qua, vì Lễ Vượt Qua trùng với mùa thu hoạch lúa mạch.

Trong phần này, Giăng không đề cập đến việc phân nhóm cho đám đông năm ngàn người (trái ngược với các sách Cộng Quan), và cỏ được mô tả là “nhiều”; vì vậy, Giăng dường như muốn miêu tả đám đông như “một bầy” duy nhất của Chúa Jesus - Đấng Chăn Chiên Hiền Lành - người dẫn chiên mình ra để chúng ăn trên những đồng cỏ xanh tươi (Giăng 10:1-16). Ngài ban cho họ bánh và cá cũng như Ngài ban thịt của Ngài làm bánh sự sống. “Để không có gì bị mất” khiến việc thu gom những miếng thức ăn thừa trở thành biểu tượng cho việc Chúa Jesus không để mất một ai trong số những người mà Cha đã ban cho Ngài.

Việc xác định Chúa Jesus là “Đấng tiên tri phải đến thế gian” có lẽ ám chỉ đến vị tiên tri giống Môi-se trong Phục-truyền 18:15 (dù bản văn đó sử dụng chủ từ số ít, mang nghĩa tập thể, để chỉ về cả một dòng tiên tri giống Môi-se mà Đức Chúa Trời sẽ dấy lên). Chúa Jesus sẽ không để cho những người chỉ vì được no bụng, nhưng không nhận ra dấu lạ Ngài làm, tôn Ngài làm vua. Tin vào Ngài chính là công việc mà Đức Chúa Trời đòi hỏi, theo nghĩa rằng đức tin cứu rỗi là đức tin hành động và bền bỉ. Tuy nhiên, sự nhấn mạnh tương đương cũng đặt trên sự cần thiết của việc Đức Chúa Trời kéo người ta đến với Chúa Jesus.

Đức Chúa Jêsus lại phán [với những kẻ đến bắt Ngài]: ‘Ta đã nói với các ngươi rằng chính ta đây; vậy nếu các ngươi tìm bắt ta, thì hãy để cho những kẻ nầy đi. Ấy để được ứng nghiệm lời Ngài đã phán: Con chẳng làm mất một người nào trong những kẻ mà Cha đã giao cho Con.’” (Giăng 18:8-9)

Nhà Y-sơ-ra-ên đặt tên lương thực nầy là ma-na; nó giống như hột ngò, sắc trắng, mùi như bánh ngọt pha mật ong.” (Xuất Ê-díp-tô ký 16:31)

3.12. Bánh Sự Sống
#

Là bánh sự sống, Chúa Jesus vừa là Đấng đang sống vừa là Đấng ban sự sống. Nguồn gốc từ trời của ma-na đại diện cho nguồn gốc từ trời của Chúa Jesus, là Ngôi Lời ban đầu ở cùng Đức Chúa Trời và là Đức Chúa Trời (Giăng 1:1). Lời của Chúa Jesus về việc ăn thịt và uống huyết Ngài gần như trùng với lời thiết lập giao ước trong Bữa Ăn Tối Cuối Cùng đến nỗi Sứ đồ Giăng, về sau, sẽ lược bỏ những lời ấy khi thuật lại bữa ăn đó.

Ý tưởng về việc ăn thịt người khiến người Do Thái ghê tởm, và Lê-vi Ký 17:10-14 cấm uống huyết. Nhưng Chúa Jesus dùng việc ăn và uống như ẩn dụ cho đức tin, tức là tin vào ích lợi từ sự chết hy sinh của Ngài; bởi sự phân tách giữa thịt và huyết biểu thị tính bạo lực của một cái chết như vậy.

Xác thịt” tương phản với Thánh Linh và “chẳng ích chi” không phải nói đến thịt hy sinh của Chúa Jesus, mà là xác thịt vô ích của con người bình thường, như trong Giăng 3:6. Việc nhiều môn đồ của Chúa Jesus quay đi báo trước sự bội đạo của những người tự xưng là Cơ Đốc nhân, chẳng hạn như những người theo thuyết Ngộ Đạo vào thời Giăng viết Phúc Âm.

“Các ngươi không một ai được ăn huyết.” (Lê-vi Ký 17:12).

3.13. Lễ Lều Tạm
#

Đọc Giăng 7:1-9.

Các lãnh đạo Do Thái ở Giu-đê vẫn đang tìm cách giết Chúa Jesus (xem Giăng 5:18); vì vậy hiện tại, Ngài vẫn ở lại Ga-li-lê. Ngay cả lời thúc giục mỉa mai của các anh em (theo huyết thống) không tin Ngài cũng không khiến Ngài đi cùng những khách hành hương đến dự Lễ Lều Tạm, dù đây là kỳ lễ được ưa chuộng nhất trong các kỳ lễ tôn giáo của người Do Thái và sẽ mang lại cho Ngài cơ hội tốt nhất để bày tỏ quyền năng siêu nhiên của mình.

Chúa Jesus tuân theo một thời gian biểu khác với các anh em của mình, là những người mà thế gian không thể ghét họ vì họ thuộc về thế gian; trong khi sự thù ghét của thế gian đối với Ngài, bởi vì Ngài phơi bày những việc ác của nó. Điều này dẫn đến việc Chúa Jesus phải sắp xếp các chuyến đi của mình để tránh cái chết đến quá sớm.

Đọc Giăng 7:10-52.

Sự trì hoãn và tính bí mật trong hành trình của Chúa Jesus đến dự Lễ Lều Tạm cùng việc Ngài vẫn giữ kín danh tính cho đến giữa kỳ lễ đã giúp Ngài không bị bắt. Đến lúc Ngài thực sự xuất hiện công khai, Chúa Jesus đã trở thành một chủ đề được dân chúng bàn luận sôi nổi, đến mức sự kỳ diệu và táo bạo trong sự dạy dỗ của Ngài khiến một số người trong đám đông kinh ngạc, thậm chí làm tê liệt bọn lính mà các thầy tế lễ và người Pha-ri-si sai đến để bắt Ngài.

Việc Chúa Jesus đã học nơi Đức Chúa Trời, là Cha của Ngài, bù đắp trỗi hơn cho sự thiếu hụt học vấn theo kiểu Rabbi. Ngược lại, những giáo lý của một Rabbi đến từ chính họ, là những kẻ vi phạm luật pháp Môi-se. Khi Chúa Jesus hỏi các lãnh đạo Do Thái tại sao họ tìm giết Ngài, đám đông đến từ Ga-li-lê chế nhạo Ngài, vì họ không biết việc các lãnh đạo Do Thái đang tìm giết Chúa Jesus (mặc dù họ, vì sợ các lãnh đạo Do Thái, đã không dám bàn luận công khai về Ngài).

Vì ý muốn giết Chúa Jesus bắt nguồn từ việc Ngài đã chữa lành cho một người bại tại ao Bê-tết-đa trong ngày Sa-bát (Giăng 5:1-18), nên Ngài biện hộ cho phép chữa lành đó bằng cách chỉ ra rằng luật Môi-se coi phép cắt bì - sự cắt xén một phần thân thể, quan trọng hơn ngày Sa-bát: phép cắt bì phải được thực hiện vào ngày thứ tám sau khi đứa bé trai được sinh ra, cho dù ngày đó là vào ngày Sa-bát (Lê-vi Ký 12:3). Chúa Jesus lập luận rằng việc chữa lành toàn bộ thân thể của một người lại càng nên được ưu tiên hơn luật ngày Sa-bát.

Không giống như đám đông đến từ Ga-li-lê, một số người ở Giê-ru-sa-lem biết về việc các lãnh đạo Do Thái đang tìm giết Chúa Jesus. Họ tự hỏi liệu có phải các lãnh đạo không giết Chúa Jesus vì biết Ngài là Đấng Christ chăng, rồi chính họ lại phủ nhận tư cách Mê-si của Ngài vì cho rằng Ngài đến từ Ga-li-lê, trong khi họ tin rằng nguồn gốc của Đấng Christ phải là điều không ai biết. Chúa Jesus đáp lại bằng một lời tuyên bố rằng Ngài vừa đến từ Đức Chúa Trời vừa đến từ Ga-li-lê.

Được bảo vệ bởi quyền năng thần thượng khỏi sự bắt bớ cho đến khi “giờ” của Ngài đến, giờ đây Chúa Jesus phán rằng Ngài sẽ đi. Các lãnh đạo Do Thái nghĩ rằng Ngài đang ám chỉ một sứ mạng dạy dỗ cho dân ngoại ("người Hy Lạp") sống cùng người Do Thái bên ngoài xứ Palestine ("dân tản lạc" - Dispersion), nhưng điều Chúa Jesus đang nói là việc trở về cùng Cha Ngài ở trên trời.

Trong bảy ngày đầu của Lễ Lều Tạm, các thầy tế lễ mang nước đựng trong một cái bình bằng vàng từ hồ Si-lô-am về Đền thờ, rồi long trọng đổ nước ra. Vào ngày thứ tám (hoặc thứ bảy) trọng đại của kỳ lễ, Chúa Jesus lớn tiếng tuyên bố Ngài là nguồn của nước thật, tức Thánh Linh ban sự sống. Nhưng một số người trong đám đông nghĩ Ngài chỉ là một người Ga-li-lê, bèn phản đối rằng Chúa Jesus không thể là Đấng Christ, vì Ngài đến từ Ga-li-lê chứ không phải từ Bết-lê-hem (xem Mi-chê 5:2). Như vậy, trong cùng một đoạn văn này đã cho thấy những quan điểm tưởng chừng mâu thuẫn nhau: rằng sẽ không có ai biết nguồn gốc của Đấng Christ đến từ đâu, và rằng Đấng Christ sẽ được biết là sinh ra tại Bết-lê-hem.

“Hỡi Bết-lê-hem Ép-ra-ta,… từ nơi ngươi sẽ xuất hiện một Đấng cai trị trong Y-sơ-ra-ên” (Mi-chê 5:2).

(Hình 7: Mô hình ao Siloam ở thứ kỷ thứ 1)

![](https://i.ibb.co/nMpzCyHy/hinh-08.jpg)

(Hình 8: Những bậc đá tạo thành một bên ao Siloam.)

3.14. Ánh Sáng của Thế Gian
#

Đọc Giăng 8:12-59

Cuộc đối thoại tiếp tục. Suốt kỳ Lễ Lều Tạm kéo dài cả tuần, người Do Thái giữ cho bốn cây chân đèn khổng lồ cháy sáng trong khu vực Đền thờ để kỷ niệm trụ lửa đã dẫn dắt và bảo vệ dân Y-sơ-ra-ên trong đồng vắng. Tập tục này tạo nên bối cảnh cho lời tuyên bố của Chúa Jesus rằng Ngài là ánh sáng của thế gian - trước hết có nghĩa là mặt trời, nhưng chung cuộc có nghĩa rằng Chúa Jesus là ánh sáng của sự sống đời đời cho tất cả những ai tin vào Ngài. (Trong suốt những ngày của kỳ lễ, người ta thường giữ lửa cháy liên tục, để tránh công việc vất vả khi phải nhóm lại lửa; nên ánh sáng được liên kết với sự sống và bóng tối với sự chết, vì sự qua đời của một người kéo theo sự tàn lụi của ngọn lửa mà người ấy duy trì.) Nhưng ánh sáng cũng mang đến sự phán xét trên bóng tối. Vì vậy, Chúa Jesus chơi chữ dựa trên một số ý nghĩa có thể có của từ xét đoán trong tiếng Hy Lạp: (1) sự hình thành ý kiến, ở đây một cách hời hợt; (2) sự phân biệt; và (3) sự kết tội.

Khi những người Pha-ri-si hỏi: “Cha của thầy ở đâu?” (câu 19), họ không chỉ thách thức Chúa Jesus đưa Cha của Ngài ra làm nhân chứng. Họ cũng ám chỉ rằng Ngài được sinh ra ngoài giá thú. Lời tuyên bố của những người Do Thái không tin rằng họ “chưa hề làm tôi mọi ai” đã bỏ qua thực tế rằng họ đang phải phục tùng về mặt chính trị đối với La Mã, chưa kể các đế quốc trước đó. Trước lời khoe khoang về việc họ là dòng dõi của Áp-ra-ham, Chúa Jesus đáp lại rằng dòng dõi thuộc linh vượt trội hơn dòng dõi huyết thống. Người Do Thái đã tự đặt mình vào ách nô lệ của tội lỗi; vì vậy, họ giống Ích-ma-ên (là đứa con của nô lệ, phải rời khỏi nhà Áp-ra-ham) hơn giống Y-sác (là đứa con tự do, được ở lại trong nhà).

Lời tuyên bố, “Trước khi Áp-ra-ham sinh ra, Ta là,” đưa ra một lời tuyên bố rằng Chúa Jesus là Đức Chúa Trời hằng hữu của sự cứu chuộc, tức Đấng Tự Hữu Hằng Hữu (Yahweh) - TA LÀ ĐẤNG TA LÀ (I AM WHO I AM) (Xuất Ê-díp-tô Ký 3:14)**.

(Hình 9: Menorah [chân đèn nhiều nhánh] được khắc trên đá trong một nhà hội Do Thái thế kỷ thứ nhất ở Ostia, Ý)

3.15. Câu Chuyện Về Người Đàn Bà Phạm Tội Ngoại Tình
#

Câu chuyện về người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình (Giăng 7:53-8:11) không thuộc về vị trí này hay bất kỳ chỗ nào khác trong Kinh Thánh. Các bản sao chép cổ nhất và tốt nhất hoàn toàn không có đoạn này (các bản sao chép cổ nhất và tốt nhất vẫn chưa được phát hiện khi bản dịch tiếng Anh King James được xuất bản vào năm 1611). Về sau, các bản sao chép kém hơn đã chèn đoạn này vào nhiều vị trí khác nhau: một số chèn ở đây (Giăng 7:53-8:11), số khác chèn sau Giăng 7:36, 7:44, 8:12, 21:25, Lu-ca 21:38, hoặc Lu-ca 24:53. Chính các nguyên tắc bình luận văn bản (textual criticism) đảm bảo độ tin cậy cho phần còn lại của văn bản Tân Ước đã loại trừ đoạn văn này. Ngược lại, việc khẳng định tính nguyên bản của đoạn văn này trong văn bản Tân Ước sẽ làm suy yếu nền tảng cho sự đảm bảo của chúng ta rằng chúng ta có một văn bản về cơ bản là chính xác ở những phần khác của Tân Ước. Tuy nhiên, bản thân câu chuyện có thể có thật về mặt lịch sử, và đã được lưu truyền trong truyền thống Cơ Đốc trước khi được đưa vào văn bản kinh điển.

Trong câu chuyện, những kẻ tố cáo Chúa Jesus cố gắng đặt Ngài vào một tình thế tiến thoái lưỡng nan. Nếu Ngài đề nghị hình phạt tử hình theo luật Môi-se, họ có thể tố cáo Ngài chống lại nhà cầm quyền La Mã, vốn cấm người Do Thái thi hành hình phạt tử hình. Nếu Ngài không đề nghị hình phạt tử hình, họ có thể phá hủy danh tiếng Ngài bằng cách nói với mọi người rằng Ngài không tuân giữ luật Môi-se. Theo thông lệ, người tố cáo lớn tuổi nhất sẽ ném hòn đá đầu tiên. Vì vậy, trung tâm của sự chú ý chuyển sang người lớn tuổi nhất khi Chúa Jesus thách thức họ: “Ai trong các ngươi là người vô tội, hãy ném hòn đá đầu tiên.” Từng người tố cáo lần lượt bỏ đi khi họ trở thành người lớn tuổi nhất trong nhóm, do sự rời đi trước đó của một người lớn tuổi hơn. Các giả thuyết khác nhau về việc Chúa Jesus viết gì trên đất đều không có kết luận chắc chắn. Lời cuối cùng Chúa Jesus nói với người đàn đà là “đừng phạm tội nữa” cho thấy Ngài không dạy một thái độ dễ dãi đối với tội tà dâm.

3.16. Chữa Lành Người Mù Bẩm Sinh
#

Đọc Giăng 9:1-41.

Một số người Do Thái nghĩ rằng một người có thể phạm tội trong kiếp trước hoặc trong bụng mẹ, và bị trừng phạt vì điều đó trong đời này. Số khác nghĩ rằng con cái chịu khổ vì tội lỗi của cha mẹ. Các môn đồ đang cân nhắc những khả năng này khi thấy một người mù từ khi được sinh ra, là người mà Chúa Jesus sắp chữa lành cho.

Phép chữa lành này mang ánh sáng đến cho người mù và do đó phát triển chủ đề Chúa Jesus là ánh sáng của thế gian. Việc người ấy bị mù từ lúc mới sinh khiến phép chữa lành của Ngài trở thành một kiểu tái sinh (so sánh Giăng 3:3-8). Chúa Jesus lấy nước miếng trộn thành bùn và xức lên mắt người mù để gợi lên đức tin, vì nước miếng được dân chúng cho là có sức chữa bệnh, và cũng để tạo bối cảnh cho việc rửa sạch, biểu tượng cho sự tẩy sạch thuộc linh bởi Đức Thánh Linh.

Ý nghĩa của từ Si-lô-am ("được sai đi") chỉ về Chúa Jesus là Đấng được Đức Chúa Trời sai đến để ban Đức Thánh Linh, được tượng trưng bởi nước từ ao Si-lô-am trong bối cảnh của Giăng 7:37-39. Một lần nữa Chúa Jesus vi phạm quy tắc của các giáo sư Do Thái (Rabbi) rằng không được chữa bệnh trong ngày Sa-bát, trừ khi mạng sống bị đe dọa. Thêm vào đó, việc trộn bùn cấu thành hành động nhào nặn và do đó bị xem là làm việc trong ngày Sa-bát. Nỗi sợ hãi trước các nhà lãnh đạo Do Thái (người Pha-ri-si) của cha mẹ người trước đây bị mù có lẽ đại diện cho nỗi sợ bị bách hại của các tín hữu người Do Thái trong cộng đồng của Giăng. Việc bị “đuổi ra ngoài” trong Giăng 9:34 đề cập đến việc khai trừ người trước đây bị mù khỏi nhà hội và dường như báo trước việc khai trừ các tín hữu Cơ Đốc người Do Thái khỏi các nhà hội sau này. Để chống lại hành động này, Chúa Jesus tuyên phán sự phán xét trên những người Pha-ri-si bằng cách nói rằng nếu họ mù, họ sẽ nhận ra nhu cầu của mình, ăn năn, tin, và được cất tội lỗi khỏi họ. Nhưng vì họ thấy, họ cảm thấy tự mãn, và do đó vẫn không ăn năn và không được tha thứ.

“Và Antoninus đã hỏi Rabbi: ‘Khi nào thì ham muốn làm điều ác bắt đầu chi phối một người? Có phải từ lúc được thụ thai hay từ lúc được sinh ra?’ Rabbi đáp: ‘Đó là từ lúc được thụ thai’” (Babylonian Talmud, Sanhedrin 91b).

3.17. Người Chăn Hiền Lành
#

Đọc Giăng 10:1-21.

Ẩn dụ về người chăn hiền lành bàn về (1) người mù (một con chiên), (2) Chúa Jesus (Người Chăn Hiền Lành) và (3) những người Pha-ri-si (bọn trộm cướp).

Những người chăn chiên để chiên của họ qua đêm trong một khu vực có tường bao quanh (chuồng chiên) dưới sự trông coi của người gác cửa. Vào buổi sáng, những người chăn chiên đến gặp người gác cửa và gọi chiên của họ ra, những con chiên nhận ra tiếng của người chăn và tên riêng của chúng. Ngược lại, bọn trộm cướp trèo qua tường của chuồng chiên và khiến đàn chiên hoảng sợ. Nói cách khác, người chăn được nhận biết bởi lòng nhân từ của ông và sự đáp thuận của đàn chiên, như người mù và Chúa Jesus trong câu chuyện trước đó. Bọn trộm cướp được nhận biết bởi sự đối xử tàn bạo của chúng với đàn chiên và bởi sự đáp kháng của đàn chiên, như người mù và những người Pha-ri-si trong câu chuyện trước đó.

Khi Chúa Jesus tuyên bố Ngài là cửa chuồng chiên, Ngài thay đổi phép ẩn dụ một chút, phù hợp với nhu cầu của những người chăn chiên khi không có người gác cổng, họ phải dùng thân mình để canh giữ lối vào chuồng chiên bằng cách ngủ ngay tại đó. Việc người chăn chiên phải đối mặt với nguy hiểm khi ngủ ngoài trời, tại ngay lối vào chuồng chiên, dẫn đến việc Chúa Jesus nói về sự hy sinh mạng sống của mình vì chiên, nhưng đồng thời cũng nhấn mạnh đến thẩm quyền của Ngài không chỉ là tự nguyện hy sinh mạng sống mà còn để tự mình lấy lại nó. Sự chết và sự sống lại của Chúa Jesus sẽ không xảy đến với Ngài một cách thụ động. Là Đức Chúa Trời nhập thể và trong sự vâng phục Cha Ngài, Ngài sẽ làm cho những điều đó xảy ra.

Những chiên khác” mà Chúa Jesus phải đem vào trong một bầy duy nhất, tức Hội thánh không bị phân rẽ của những tín hữu thật (những kẻ tà giáo như phái Ngộ đạo không được tính), đại diện cho Dân Ngoại.

Đọc thêm: SỰ KẾT NỐI GIỮA GIĂNG 9 VÀ 10

  • Người mù bẩm sinh = Con chiên của Chúa Jesus
  • Người Pha-ri-si = Bọn trộm cướp.
  • Chúa Jesus = Người Chăn Hiền Lành chăm sóc chiên của Ngài, và là cửa chuồng dẫn vào sự bảo vệ của đàn chiên (sự cứu rỗi) và dẫn ra đồng cỏ (sự sống đời đời).

(Hình 10: Cửa vào một chuồng chiên ở xứ Palestine)

3.18. Lễ Khánh Thành Đền Thờ (Hanukkah)
#

Đọc Giăng 10:22-42

Bối cảnh chuyển sang Lễ Khánh Thành Đền Thờ, còn gọi là Lễ Ánh Sáng hay Hanukkah, được tổ chức vào tháng mười hai để kỷ niệm việc Judas Maccabeus tái cung hiến Đền thờ sau khi Antiochus Epiphanes làm ô uế nó (đọc chương 1). Tại đó, vào giữa mùa đông lạnh giá và dưới mái hiên Sa-lô-môn trong Đền thờ, không có đám đông khách hành hương từ Ga-li-lê nào có cảm tình với Chúa Jesus. Vì vậy, khi “người Do Thái” – cách gọi của Giăng ở đây để chỉ những lãnh đạo ở Giê-ru-sa-lem – vây quanh Chúa Jesus, họ đã gài bẫy Ngài nhằm ném đá hoặc để bắt giữ Ngài. Và khi Chúa Jesus thoát khỏi tay (hoặc sự nắm giữ) của họ, Ngài làm điều đó bằng chính thần quyền tuyệt đối của mình.

Theo lời Chúa Jesus, sự không tin của các lãnh đạo Do Thái không chứng minh Ngài là kẻ mạo danh; nó cho thấy họ không thuộc về bầy chiên của Ngài và dân của Đức Chúa Trời. Khi có sự phản đối về việc Chúa Jesus tuyên bố mình ngang hàng với Đức Chúa Trời, Ngài lập luận rằng nếu chính Kinh Thánh của người Do Thái dùng từ “các thần” để chỉ những người nhận được Lời Đức Chúa Trời (xem Thi-thiên 82:6), thì họ không nên phản đối lời tuyên bố của Chúa Jesus, là Đấng chính là Lời ấy (Giăng 1:1), rằng Ngài là Con Đức Chúa Trời. Sự “nên thánh” của Chúa Jesus trong Giăng 10:36 không đề cập đến việc được tẩy sạch khỏi tội lỗi, mà là sự biệt riêng cho nhiệm vụ thực hiện các công việc của Cha trên thế gian.

3.19. Sự Sống Lại Của La-xa-rơ
#

Đọc Giăng 11:1-44.

Trong câu chuyện về La-xa-rơ, Ma-riMa-thê, việc Giăng mô tả Ma-ri là người “đã xức dầu thơm cho Chúa và lấy tóc mình lau [dầu] chân Ngài” ngầm báo trước câu chuyện trong Giăng 12:1-8 và khiến sự kiện Chúa Jesus làm cho La-xa-rơ sống lại tượng trưng cho việc chính Ngài sẽ sống lại từ cõi chết. Vì hành động xức dầu sẽ chuẩn bị cho sự chôn cất Ngài và hành động lau dầu khỏi chân Ngài sẽ báo hiệu rằng: nhờ sự phục sinh, dầu thơm sẽ không còn cần thiết nữa (cũng so sánh sự kiện La-xa-rơ và sự kiện Chúa Jesus chết và sống lại, trong cả hai câu chuyện đều có một người phụ nữ than khóc, tấm vải liệm cùng với chi tiết về khăn che mặt, hòn đá lấp cửa mộ, và sự nghi ngờ của Thô-ma).

Chính Ngài là sự sống lại, Chúa Jesus không chỉ làm cho La-xa-rơ sống lại và sẽ tự mình sống lại từ cõi chết; Ngài cũng sẽ làm cho sống lại những ai tin Ngài mà qua đời trước ngày sau cùng để hưởng sự sống đời đời. Những tín hữu chưa qua đời tại thời điểm đó sẽ không bao giờ chết (so sánh 1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:16-18). Việc Chúa Jesus “đau lòng xúc động” với sự phẫn nộ (ἐμβριμάομαι - diễn tả một cảm xúc mãnh liệt) trong Giăng 11:33,38 cho thấy Ngài đang khơi dậy quyền năng thần thượng của mình. Việc Ngài khóc thương La-xa-rơ thể hiện tình yêu dành cho người đã khuất và tạo cơ hội cho những người đứng xem đặt câu hỏi liệu Chúa Jesus có thể giữ cho La-xa-rơ khỏi chết không. Câu hỏi đó, đến lượt nó, làm cho việc Chúa Jesus làm cho La-xa-rơ sống lại trở nên vượt trội hơn là việc ngăn chặn cái chết. Sự sống lại của La-xa-rơ càng đáng kinh ngạc hơn vì người Do Thái tin rằng linh hồn người chết bay lượn trên thi thể trong ba ngày rồi mới rời đi, sau khi không còn hy vọng được hồi sinh; trong khi đó, La-xa-rơ đã chết bốn ngày, vượt quá một ngày khỏi hy vọng được sống lại - điều này thể hiện rõ qua việc mùi của tử thi đã bốc lên. Đáng chú ý, chính bởi lời phán của Chúa Jesus - Ngôi Lời, mà La-xa-rơ bước ra khỏi mộ (so sánh Giăng 5:25, 28-29).

Đọc thêm: VẢI LIỆM CỦA LA-XA-RƠ

Tập tục của người Do Thái khi chôn cất là đặt thi thể lên một tấm vải lanh dài gấp đôi thi thể, sao cho chân thi thể ở một đầu tấm vải, gấp phần còn lại của tấm vải qua đầu và phủ kín thi thể, buộc hai chân lại với nhau và buộc hai tay khép chặt vào thân bằng những dải vải lanh, cuối cùng thêm một tấm vải khác để che mặt.

Đọc thêm: NIỀM TIN CỦA NGƯỜI DO THÁI VỀ LINH HỒN SAU KHI CHẾT

“Trong ba ngày, linh hồn trở lại ngôi mộ. Nó định nhập lại vào thi thể. Nhưng khi thấy sắc mặt của thi thể đã thay đổi, thì nó bỏ đi và rời khỏi thi thể” (Genesis Rabbah 100 [64a]).

Đọc thêm: CÁC CHI TIẾT TƯƠNG ĐỒNG TRONG SỰ SỐNG LẠI CỦA CHÚA JESUS VÀ LA-XA-RƠ TRONG TƯỜNG THUẬT CỦA GIĂNG

La-xa-rơChúa Jesus
ChếtChết
Vải liệm và khăn che mặtVải liệm và khăn che mặt
Ngôi mộ có đá lấp cửaNgôi mộ có đá lấp cửa
Ma-ri ở Bê-tha-ni than khócMa-ri Ma-đơ-len than khóc
Chúa Jesus làm La-xa-rơ sống lạiChúa Jesus tự mình sống lại
Sự nghi ngờ của Thô-maSự nghi ngờ của Thô-ma

3.20. Tòa Công Luận (Sanhedrin)
#

Đọc Giăng 11:45-54.

Tòa Công Luận trở nên lo sợ rằng dấu lạ mới nhất này của Chúa Jesus hồi sinh danh tiếng của Ngài, và có thể dẫn đến một cuộc nổi dậy mang danh Đấng Mê-si kích động sự trừng phạt của La Mã. Thầy cả thượng phẩm đương niên, tên là Cai-phe, gạt bỏ sự do dự của Tòa Công Luận bằng cách đề nghị án tử hình cho Chúa Jesus, để cái chết của một người có thể cứu cả dân tộc khỏi sự hủy diệt bởi tay La Mã. Tuy nhiên, lời của ông ta mang một ý nghĩa sâu xa hơn chính điều ông ta hiểu, vì ông ta đang vô thức tiên tri về cái chết của Chúa Jesus để đem lại sự cứu rỗi khỏi tội lỗi — và điều đó không chỉ cho dân tộc Do Thái, mà còn cho toàn thể dân sự Đức Chúa Trời, cả người Do Thái lẫn Dân Ngoại trong một Hội Thánh chung.

3.21. Ma-ri Xức Dầu cho Chúa Jesus
#

Đọc Giăng 11:55-12:11.

Các khách hành hương bấy giờ đang trên đường đến Giê-ru-sa-lem, từ Ga-li-lê và những nơi khác, để dự Lễ Vượt Qua. Do đó, Tòa Công Luận ra sắc lệnh tìm kiếm thông tin về nơi ở của Chúa Jesus để họ có thể bắt và xử tử Ngài. Họ cũng âm mưu giết La-xa-rơ vì sức thuyết phục mạnh mẽ của sự kiện ông được Chúa Jesus làm cho sống lại.

Việc tôn vinh sự cao quý của Chúa Jesus là Đức Chúa Trời nhập thể được thể hiện qua các chi tiết: lượng dầu thơm được dùng làm thuốc xức rất lớn (một cân La Mã nặng khoảng 326 g/ khoảng nửa lít), sự quý hiếm của nó (cam tùng nguyên chất), giá trị đắt đỏ của nó (300 đơ-ni-ê tương đương gần trọn một năm lương của một lao động chân tay), và việc nó được xức trên chân Chúa Jesus (điều mà người ta thường nghĩ đến là rửa chân bằng nước, chứ không phải bằng dầu thơm, dù là dầu thơm loại rẻ tiền — so sánh Giăng 13:1-11). Vì Ma-ri đã dùng hết lượng dầu thơm ấy trên chân Chúa Jesus, nên Giăng 12:7 nên được dịch là: “Hãy để mặc cô ấy; dầu thơm đó được dành để chuẩn bị cho ngày chôn cất của Ta.Ngày chôn cất chính là ngày này; và việc Ma-ri giữ lại dầu thơm có nghĩa là cô ấy đã không bán nó để giúp đỡ người nghèo, như Giu-đa đề nghị, mà giữ lại để chuẩn bị thân thể Chúa Jesus cho việc an táng trước khi Ngài chết.

(Hình 11: Một số bình dầu thơm thời cổ đại)

3.22. Sự Vào Thành Một Cách Khải Hoàn (Ngày Chúa Nhật Lễ Lá)
#

Đọc Giăng 12:12-19.

Trong phần này, Giăng mô tả về cuộc rước đón long trọng dành cho Chúa Jesus, liên tục nhấn mạnh đám đông rất đông từ Giê-ru-sa-lem kéo ra để chào đón và tôn vinh Ngài, hộ tống Chúa Jesus vào thành như một vị quý tộc, tức Vua của Y-sơ-ra-ên, đang viếng thăm thành phố, được thể hiện bởi những nhành cây cọ (lá kè), là hình ảnh được khắc trên đồng tiền Do Thái thời kỳ đó. Trong cái nhìn những người Pha-ri-si đang giận dữ, có vẻ như cả thiên hạ đang theo Chúa Jesus; và quả thực, đám đông đông đảo này báo trước sự thành công sắp đến của Phúc Âm trên toàn thế giới, bao gồm cả Dân Ngoại, được xác nhận bởi lời thỉnh cầu ngay lập tức của một số người Hy Lạp rằng họ muốn gặp Chúa Jesus.

3.23. Những Người Hy Lạp và Hạt Lúa Mì
#

Đọc Giăng 12:12-50.

Những người Hy Lạp này là Dân Ngoại đã cải đạo hoàn toàn sang Do Thái giáo hoặc những người kính sợ Đức Chúa Trời. Vì là người Hy Lạp, họ gửi lời thỉnh cầu đến Phi-líp, là người có tên Hy Lạp; và Phi-líp nói với Anh-rê, là người cũng có cái tên Hy Lạp. Chúa Jesus đáp rằng giờ chịu thống khổ và được tôn cao của Ngài cuối cùng đã đến; đồng thời so sánh sự chết, sự chôn, và sự sống lại của Ngài, cùng kết quả là sự sống đời đời cho tất cả những ai tin Ngài, với một hạt lúa mì rơi xuống đất, nảy mầm, và trổ sinh ra nhiều sự sống.

Trước lời nói về sự chết này, người Do Thái phản đối rằng: nếu như vậy, thì Chúa Jesus không thể là Đấng Christ. Theo quan điểm của họ, Đấng Christ sẽ không chết. Vì vậy, họ kết luận rằng Con Người phải chết mà Chúa Jesus vừa nói đến hẳn phải khác với Đấng Christ bất tử, và rằng Chúa Jesus đang tự nhận mình là Con Người, chứ không phải là Đấng Christ. Mặt khác, Chúa Jesus miêu tả sự chết và sự sống lại của Ngài là (1) một sự tôn vinh Danh của Cha Ngài (chứ sự chết của Ngài không phải là một sự hổ thẹn), (2) một sự phán xét đối với thế gian (chứ không phải sự phán xét của thế gian trên Ngài), (3) một sự trục xuất Sa-tan (chứ không phải Sa-tan loại bỏ Chúa Jesus), và (4) một sự được nâng lên khỏi đất (chứ không phải bị ném đá, bị đánh ngã - cách mà người Giu-đa đã cố gắng sử dụng để giết Ngài trong Giăng 8:59; 10:31-33; 11:8, mà là bị đóng đinh - trở thành bước đầu tiên trong sự trở về với địa vị tôn cao trên trời cùng Cha).

Sự vô tín của một số người là ứng nghiệm lời tiên tri trong Ê-sai 6:10, và việc những người khác giữ kín đức tin của mình đã vấp phải sự chỉ trích (Giăng 12:42-43). Điều này là để nhằm cảnh báo cộng đồng đương thời của Giăng về sự thất bại khi che giấu lời chứng Cơ Đốc cá nhân vì sợ bị bách hại. Mệnh lệnh của Cha mà Chúa Jesus đồng hóa với sự sống đời đời (12:50) là Ngài phó sự sống mình để rồi có thể lấy lại nó (10:17-18), vì sự sống đời đời dựa trên cái chết và sự sống lại của Ngài.

Đọc thêm: PHÉP ĐUỔI QUỶ TOÀN DIỆN (Omnibus Exorcism)

Giăng bỏ qua nhiều trường hợp đuổi quỷ thông thường (tức các trường hợp cá nhân bị quỷ ám) mà các Phúc Âm Cộng Quan thuật lại, thay vào đó tập trung vào việc đuổi quỷ toàn diện, tức đánh bật quyền lực của Sa-tan ra khỏi thế gian (thế gian được Giăng mô tả như một thực thể tập thể bị Sa-tan chiếm hữu).

3.24. Sự Rửa Chân cho Các Môn Đồ
#

Đọc Giăng 13:1-20.

Cụm từ “trước Lễ Vượt Qua” khiến cái chết của Chúa Jesus trở thành chính Lễ Vượt Qua (so sánh Giăng 1:29, 36; 18:28; và 19:33 với Xuất Ê-díp-tô Ký 12:43-46; Dân-số ký 9:12). Việc Chúa Jesus cởi áo ngoài và mặc lại tượng trưng cho việc Ngài phó sự sống mình và lấy lại (xem 10:17-18). Việc Ngài rửa chân cho các môn đồ tượng trưng cho sự tẩy sạch tội lỗi bởi Đức Thánh Linh, được biểu tượng bởi nước (3:5; 7:37-39) và được ban cho các môn đồ qua sự chết và sống lại của Chúa Jesus (19:30, 34; 20:22), nhưng đó là sự thanh tẩy vượt qua sự thanh tẩy của sự tái sinh diễn ra khi một người cải đạo.

Việc Chúa Jesus rửa chân cho các môn đồ cũng thiết lập một mẫu mực cho sự phục vụ lẫn nhau cách khiêm nhường trong Hội Thánh. Chỉ có nô lệ mới phải rửa chân cho người khác, nhưng nếu nô lệ là người Do Thái thì không phải rửa chân cho chủ mình. Vì vậy, mặc dù các môn đồ của một Rabbi phải thực hiện các nhiệm vụ tương tự của một nô lệ đối với thầy của mình, họ cũng không phải rửa chân cho thầy. Ở đây, Rabbi (Chúa Jesus) làm cho các môn đồ của mình điều mà ngay cả họ cũng cho là quá thấp hèn để làm cho Ngài.

Đọc thêm:

“Hắn [một nô lệ người Do Thái] không phải rửa chân cho chủ mình” (Midrash Mekilta về Xuất Ê-díp-tô Ký 21:2).

3.25. Kẻ Phản Bội
#

Đọc Giăng 13:21-30.

Môn đồ được yêu (được cho là Giăng) đang nằm nghiêng bên trái, lưng quay về phía Chúa Jesus, vì vậy để nói chuyện riêng với Chúa Jesus, ông chỉ cần ngả người ra sau, tựa vào ngực Ngài. Miếng bánh Chúa Jesus đưa cho Giu-đa Ích-ca-ri-ốt là một mẩu bánh nhúng vào tô súp ăn chung và theo thông lệ thường được trao cho vị khách quý.

Như thường lệ trong Phúc Âm Giăng, Chúa Jesus chủ động ra lệnh cho Giu-đa: “Sự ngươi làm hãy làm mau đi.” Như vậy, ngay cả khi dưới sự điều khiển của Sa-tan, Giu-đa cũng không thể phản bội Chúa Jesus nếu không có mệnh lệnh của Ngài. Chữ “mau” trong mệnh lệnh đó và chữ “liền” trong việc Giu-đa đi ra đảm bảo rằng sự phản bội sẽ diễn ra đúng thời điểm. Giờ của Chúa Jesus đã đến, và Ngài sẽ không để nó trôi qua mà không đảm bảo ý muốn của Cha được hoàn thành.

Ghi chú của Giăng rằng lúc Giu-đa đi ra “trời đã tối” tương phản với ghi chú trước đó về việc Ni-cô-đem đến với Chúa Jesus vào ban đêm (3:2) và thu hút sự chú ý của độc giả đến biểu tượng của việc bước vào sự tối tăm của tội lỗi và sự phán xét khi rời xa Chúa Jesus, là ánh sáng của sự cứu rỗi.

3.26. Bài Giảng Trên Phòng Cao
#

YÊU THƯƠNG NHAU

Đọc Giăng 13:31-38.

Sau khi Giu-đa đi ra, Chúa Jesus nói về cái chết và sự sống lại sắp xảy đến của Ngài như một sự tôn vinh chính mình và Đức Chúa Trời. “Kíp” (Giăng 13:32) nhấn mạnh sự nhanh chóng mà sự tôn vinh trong sự sống lại sẽ theo sau sự tôn vinh qua việc được nâng lên trên thập tự giá.

Việc các môn đồ yêu thương nhau được thiết kế để giúp bù đắp cho sự vắng mặt sắp đến của Chúa Jesus. Việc mô tả điều răn yêu thương là “mới” liên quan đến phần đầu của Phúc Âm Giăng, trong đó Chúa Jesus chưa hề ban cho các môn đồ bất kỳ điều răn nào. Điều răn mới này dựa trên điều răn yêu người lân cận như chính mình (Lê-vi Ký 19:18; so sánh Mác 12:31); nhưng “người lân cận” giờ đây đổi thành “người anh em cùng tin Chúa Jesus”, và “như [yêu] chính mình” đổi thành “như Ta [Chúa Jesus] đã yêu các ngươi”, nghĩa là yêu đến mức hy sinh mạng sống của mình khi cần thiết.

Sự thật hoàn toàn ngược lại với lời tuyên bố của Phi-e-rơ: “Tôi liều sự sống tôi vì Chúa.” Chính Chúa Jesus sẽ hy sinh mạng sống của Ngài vì Phi-e-rơ (xem Giăng 10:11).

Đọc thêm: ĐIỀU RĂN MỚI

Mệnh Lệnh CũMệnh Lệnh Mới
YêuYêu
người lân cậnlẫn nhau
như [các ngươi] yêu chính mìnhnhư Ta [Chúa Jesus] đã yêu các ngươi

Lưu ý: “Người lân cận” (là bất kỳ ai ở gần bạn, dù là người tin hay không tin) được thu hẹp thành “lẫn nhau” (các tín hữu cùng đức tin), nhưng tiêu chuẩn được nâng cao từ tình yêu bản thân lên tình yêu hy sinh của Chúa Jesus.

Đọc Giăng 14:1-31.

Phi-e-rơ đã hỏi Chúa Jesus sẽ đi đâu. Giờ đây Chúa Jesus trả lời câu hỏi đó: Ngài sẽ đi đến cùng Cha.

Nhà của Cha ta” không phải là thiên đàng; vì trong Giăng 2:16-19 cụm từ này chỉ về Đền thờ, và 2:21-22 giải thích Đền thờ chính là thân thể bị giết và được sống lại của Chúa Jesus. Hơn nữa, “nhiều chỗ ở” không phải là những “dinh thự” trên trời (KJV); vì từ này là một danh từ tương ứng với động từ “ở lại”, như trong mệnh lệnh của Chúa Jesus: “Hãy cứ ở trong ta” (15:4). Vì vậy, “nhiều chỗ ở” có nghĩa là nhiều nơi cư ngụ trong Chúa Jesus chịu đóng đinh và đã sống lại, cũng như Ngài và Cha cư ngụ trong những người tin, tức những ai ở trong Đấng Christ (14:23). Chính nhờ sự hy sinh, sự sống lại, và sự thăng thiên của Chúa Jesus mà Ngài chuẩn bị những chỗ ở đó trong chính mình.

Việc Chúa Jesus đến để đem các môn đồ về với Ngài (Giăng 14:3) có nghĩa là sự đoàn tụ của Ngài với họ sau khi Ngài sống lại; vì trái ngược với các Phúc Âm Cộng Quan, Giăng nhiều lần sử dụng động từ “đến” (ἔρχομαι) để chỉ sự hiện đến của Chúa Jesus trong các lần Ngài hiện ra với các môn đồ sau khi phục sinh (20:19, 24, 26; 21:13). Những lần đến này hướng đến một lần đến cuối cùng vẫn còn trong tương lai (21:22, 23).

Các môn đồ biết đường đi đến cùng Cha vì họ biết Chúa Jesus, chính Ngài là con đường đó; và Ngài là con đường vì Ngài cũng là lẽ thật - là sự hiện thân của Đức Chúa Trời trong xác thịt loài người (Giăng 1:14); và với tư cách là lẽ thật của Đức Chúa Trời nhập thể, Chúa Jesus là sự sống, vì trong Ngài, những người tin Ngài tìm thấy sự sống đời đời của chính Đức Chúa Trời.

Những việc các môn đồ làm sẽ không “lớn hơn” những việc của Chúa Jesus làm theo nghĩa thể hiện quyền năng lớn hơn (Giăng không bao giờ dùng thuật ngữ “phép lạ”, vốn có nghĩa là “những hành động quyền năng”), nhưng lớn hơn theo nghĩa mở rộng khắp thế gian. Chúa Jesus đã giới hạn mình trong xứ Palestine; các môn đồ của Ngài sẽ mang Phúc Âm đi xa và lan rộng hơn.

Cầu xin trong danh Chúa Jesus có nghĩa là kêu cầu thẩm quyền của Chúa Jesus. Cầu xin Ngài trong chính danh Ngài (Giăng 14:14) ngụ ý sự hiệp một của Chúa Jesus với Cha, vì lời cầu nguyện thường được hướng đến Đức Chúa Cha (15:16; 16:23).

Đọc thêm:


PARACLETE

Một từ Hy Lạp được chuyển tự thành “Paraclete” là nền tảng cho nhiều bản dịch tiếng Anh khác nhau, chẳng hạn như “Đấng Yên Ủi” (Comforter), “Đấng Cố Vấn” (Counselor) và “Đấng Truy Tố” (Prosecutor) (hoặc “Đấng Công Tố” - Advocate), và chỉ về Đức Thánh Linh. Tuy nhiên, cụm từ “một Paraclete khác” ngụ ý rằng Chúa Jesus cũng là một Đấng Paraclete. Giống như trong các vai trò này Chúa Jesus đã đại diện cho Cha, thì từ này về sau Đức Thánh Linh sẽ đại diện cho Chúa Jesus và Cha trong các vai trò đó. Thật vậy, qua Đức Thánh Linh, Chúa Jesus và Cha sẽ ở cùng những người tin, cũng như họ sẽ ở trong Chúa Jesus.

Việc Đức Thánh Linh dạy các môn đồ mọi sự bằng cách nhắc họ nhớ lại mọi điều Chúa Jesus đã phán bác bỏ những sự mặc khải tự xưng là vượt xa hơn Chúa Jesus, như trong trường hợp của các mặc khải theo tà thuyết Ngộ Đạo. Là Đức Chúa Trời nhập thể, Chúa Jesus cung cấp sự mặc khải trọn vẹn về Đức Chúa Trời. Đức Thánh Linh chỉ có thể giải thích sự mặc khải đó.

Ngay lập tức, kẻ cai trị thế gian (Sa-tan) đang đến trong con người của Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, là kẻ mà hắn đã nhập vào (Giăng 13:27) và đang trên đường đến vườn Ghết-sê-ma-nê. Vì vậy, lời Chúa Jesus phán: “Hãy đứng dậy, chúng ta đi khỏi đây” cho thấy Ngài quyết tâm có mặt ở đó để bị bắt. Ngài sẽ không bỏ lỡ giờ của mình.

Đọc thêm: CÁCH DỊCH TỪ “PACACLETE”

Vai trò của Paraclete (tức Đức Thánh Linh)Bản dịch Tiếng AnhBản dịch Tiếng Việt
An ủi tín hữu trong sự vắng mặt của Chúa JesusComforterĐấng Yên Ủi
Dạy dỗ tín hữu những điều Chúa Jesus đã phán và sẽ còn phánCounselorĐấng Cố Vấn
Kết tội những kẻ vô tín về sự chối bỏ Chúa Jesus của họProsecutor (Advocate)Đấng Truy Tố (Công Tố)

ẨN DỤ VỀ VƯỜN NHO VÀ NHỮNG CÂY NHO

Các từ Hy Lạp thường được dịch thành “cây nho” và “nhánh” cũng có nghĩa lần lượt là “vườn nho” và “những cây nho”. Chúa Jesus nói về việc cắt tỉa. Nhưng người ta không tỉa các cành nho bằng cách cắt bỏ những nhánh nhỏ của chúng. Người ta tỉa những cây nho bằng cách cắt bỏ những cành không sinh trái. Vì vậy, trong trường hợp này, tốt hơn nên hiểu đây là về một vườn nhonhững cây nho của nó, hơn là một cây nhocác nhánh của nó.

Trong Cựu Ước, cây nho tượng trưng cho Y-sơ-ra-ên (Thi-thiên 80:8-18; Ê-sai 5:1-7; Giê-rê-mi 2:21; Ê-xê-chi-ên 19:10-14; Ô-sê 10:1). Giờ đây khi Y-sơ-ra-ên đã bị gạt sang một bên vì họ chối bỏ Chúa Jesus, thì những ai ở lại trong Ngài trở thành những cây nho mới và thật theo sự gieo trồng của Đức Chúa Trời. Chúa Jesus là vườn nho. Vì vậy, với tư cách là những cây nho, những ai ở lại trong Ngài nhận được sự nuôi dưỡng thuộc linh từ Ngài.

Việc cây nho sinh trái tượng trưng cho sự vâng phục các mệnh lệnh của Chúa Jesus, đặc biệt nhất là bằng cách hoàn thành Đại Mạng Lệnh (Giăng 20:21; so sánh 4:36; 12:24). Việc chặt bỏđốt những cây nho không sinh trái tượng trưng cho sự diệt vong của những tín hữu giả. Việc tỉa sửa những cây nho sinh trái tượng trưng cho sự tẩy sạch những tín hữu thật — cụ thể hơn, là sự tẩy sạch liên tục sau sự tẩy sạch ban đầu trong sự cải đạo, giống như việc Chúa Jesus rửa chân cho các môn đồ sau khi họ đã tắm rồi (3:10).

So sánh với những kẻ ly khai theo tà thuyết Ngộ Đạo, là những kẻ khinh thường Chúa Jesus con người, phủ nhận sự nhập thể, và do đó rơi vào sự bất tuân các điều răn của Chúa Jesus (đặc biệt nhất là sự bất tuân thể hiện qua thái độ kiêu ngạo, không yêu thương các tín hữu thật), thì việc ở lại trong vườn nho tượng trưng cho việc ở lại trong Chúa Jesus bằng sự trung thành với đức tin và thực hành Cơ Đốc chính thống.

Hãy đọc Giăng 15:1-27, dùng từ “vườn nho” thay thế cho “cây nho” và từ “[các] cây nho” thay thế cho “[các] nhánh”.

Hình ảnh thay đổi từ vườn nho sang bạn hữu (nghĩa đen: “những người được yêu”). Mặc dù trong các khía cạnh khác, mối quan hệ của các môn đồ với Chúa Jesus là mối quan hệ của nô lệ với chủ, nhưng sự mặc khải của Ngài về Cha cho họ đã giống với sự giao tiếp tự do và cởi mở giữa bạn với bạn. Và giờ đây, mặc dù phải chịu sự thù ghét của thế gian, các môn đồ phải tham gia cùng Đấng Paraclete, là Thánh Linh của lẽ thật, làm chứng cho sự mặc khải này.

Đọc thêm:

“Ta đã trồng ngươi như cây nho quý, giống tốt và đáng tin cậy (Giê-rê-mi 2:21)

(Hình 13: Một cây nho với những chùm nho được khắc trên đá)

Đọc Giăng 16:1-33.

Giờ” (Giăng 16:4) là thời gian Chúa Jesus vắng mặt về thể xác và thời gian các môn đồ bị kẻ thù của Ngài bách hại. Vì Phi-e-rơ đã hỏi Chúa Jesus Ngài sẽ đi đâu (13:36; so sánh 14:5), nên lời tuyên bố của Chúa Jesus, “Không ai trong các ngươi hỏi ta: ‘Thầy đi đâu?’” ngụ ý rằng Ngài nên được hỏi lại. Thay vào đó, nỗi buồn của các môn đồ về sự bách hại sắp đến đã lấn át sự tò mò của họ về điểm đến của Ngài. Nhưng sự đến của Đức Thánh Linh (Paraclete) sẽ bù đắp hơn cho sự ra đi của Chúa Jesus và cả sự bách hại sau đó đối với những ai thật lòng tin Ngài. Vì Đức Thánh Linh (Paraclete) sẽ làm sáng tỏ (1) tội lỗi của thế gian vì không tin vào Chúa Jesus, (2) sự công chính của Chúa Jesus được thể hiện qua việc Ngài trở về cùng Cha đến nỗi ngay cả các môn đồ cũng không thể thấy Ngài, và (3) sự phán xét giáng trên Sa-tan nơi thập tự giá. Sự bày tỏ của Đức Thánh Linh (Paraclete) cho các môn đồ về những sự kiện sắp đến (16:13) vẫn sẽ tập trung vào Chúa Jesus (xem sách Khải-huyền).

Thời gian “một ít lâu” vắng mặt của Chúa Jesus sẽ là khoảng thời gian đau buồn của các môn đồ giữa cái chết và sự sống lại của Ngài, một nỗi buồn giống như cơn đau đẻ cả về cường độ lẫn sự thay thế bằng niềm vui, ở đây là niềm vui của Sự Phục Sinh - một niềm vui vững chắc đến mức vượt qua được mọi chấn thương của sự bách hại. Và niềm vui Phục Sinh được trọn vẹn bởi niềm vui nhận được câu trả lời cho những lời cầu nguyện dâng lên nhân danh Chúa Jesus; vì những câu trả lời đó cung cấp bằng chứng liên tục và lặp đi lặp lại rằng Ngài thực sự đã sống lại.

Lời Cầu Nguyện Cho Các Môn Đồ

Đọc Giăng 17:1-26.

Giờ đây Chúa Jesus chuyển lời nói của Ngài từ các môn đồ sang Cha của Ngài trên trời. Trước tiên Chúa Jesus đề cập đến chủ đề về sự tôn vinh của Ngài và của Cha, đã được nói đến trong Giăng 13:31-32; sau đó là sự gìn giữ, sự nên thánh, và sự hiệp một của các tín hữu, tức là việc họ được bảo vệ khỏi sự bội đạo và những hậu quả của nó: sự thế tục hóa và sự chia rẽ trong Hội Thánh.

Chúa Jesus cầu nguyện cho các môn đồ Ngài, nhưng không cho thế gian, vì (1) các môn đồ thuộc về Cha còn thế gian thì không, (2) các môn đồ thuộc về Chúa Jesus còn thế gian thì không, và (3) Chúa Jesus đã được tôn vinh trong các môn đồ nhưng không trong thế gian. Việc Ngài rời khỏi thế gian về cùng Cha để các môn đồ ở lại trong tình trạng dễ bị nguy hiểm từ sự tấn công của Sa-tan - do đó Ngài cầu nguyện cho sự bảo vệ họ. Sự nên thánh có nghĩa là tách biệt khỏi thế gian.

Con của sự hư mất” (Giăng 17:12, theo bản dịch truyền thống) ám chỉ Giu-đa Ích-ca-ri-ốt và mô tả ông ta là người định sẵn cho sự hư mất. Lời cầu nguyện của Chúa Jesus cho các môn đồ đạt đến đỉnh điểm trong lời thỉnh cầu cho họ được tham gia cùng Ngài trong vinh quang thiên đàng của Ngài.

Đọc thêm:

“Con của…” là cách nói của người Sê-mít để ghi nhận đặc điểm hoặc số phận của một người.

3.27. Sự Bắt Giữ
#

Đọc Giăng 18:1-11.

Mặc dù Chúa Jesus đã bảo các môn đồ đứng dậy và đi với Ngài từ Giăng 14:31b, nhưng chỉ đến bây giờ Ngài và họ mới thực sự rời bữa ăn và đi qua thung lũng Kít-rôn, ngay phía đông Giê-ru-sa-lem và Đền thờ, để đến Ghết-sê-ma-nê. Ghết-sê-ma-nê được Giăng gọi là vườn, tương ứng với khu vườn nơi Chúa Jesus sẽ phó sự sống và lấy lại (xem 19:41; 20:15). Vì thế, việc Ngài tập hợp các môn đồ trong khu vườn này tượng trưng cho sự tập hợp lớn hơn của con cái thuộc về Đức Chúa Trời trên nền tảng sự chết và sống lại của Chúa Jesus (động từ Hy Lạp chỉ sự nhóm họp xuất hiện trong cả Giăng 18:2b và 11:52).

Giăng vừa thuật lại lời cầu nguyện dài của Chúa Jesus ở phòng cao rồi; vì vậy, diễn tiến câu chuyện trong vườn Ghết-sê-ma-nê chuyển ngay đến việc Ngài bị bắt. Thật vậy, Chúa Jesus đến khu vườn này là để bị bắt. Khi những kẻ đến bắt Ngài ngã ngửa ra đất trước lời tự xưng của Ngài, “Ta là [Giê-xu người Na-xa-rét]”, mang theo hàm ý của danh xưng thần thượng “TA LÀ” (so sánh Giăng 8:58; Xuất Ê-díp-tô Ký 3:14), cho thấy Chúa Jesus kiên quyết để bị bắt, nhưng với điều kiện các môn đồ của Ngài được thả tự do như một biểu tượng cho sự cứu rỗi của họ thông qua sự chịu khổ của Ngài. Chúa Jesus tự nguyện hy sinh mạng sống mình (10:17-18). Việc Phi-e-rơ dùng gươm để bảo vệ Ngài tạo nên một sự tương phản, làm nổi bật ý chí hy sinh của Chúa Jesus.

(Hình 14: Một cây ô-liu trong vườn Ghết-sê-ma-nê)

3.28. Phiên Tòa Xét Xử Chúa Jesus Và Những Lời Chối Bỏ Của Phi-e-rơ
#

Đọc Giăng 18:12-27.

Mặc dù Cai-phe là thầy tế lễ thượng phẩm trong năm Chúa Jesus chịu chết; nhưng trước tiên, Chúa Jesus bị đưa đến chỗ cha vợ của Cai-phe là An-ne - người từng là thầy tế lễ thượng phẩm và vẫn là thế lực chính trị chủ chốt trong hệ thống cấp bậc tôn giáo của người Do Thái. Lời tuyên bố trong câu 24 rằng An-ne đã sai giải Chúa Jesus đến chỗ Cai-phe, là thầy tế lễ thượng phẩm đương niên, điều này cho thấy Cai-phe, chứ không phải An-ne, đã tiến hành cuộc thẩm vấn Chúa Jesus trước đó. Vì Chúa Jesus đã kiên định để mình bị bắt, việc trói Ngài tạo nên sự châm biếm.

Môn đồ có quen biết với thầy tế lễ thượng phẩm Cai-phe và đang đi theo sau Chúa Jesus, cùng với Phi-e-rơ, có lẽ là môn đồ được yêu (tức sứ đồ Giăng). Vì vậy, khi Cai-phe chất vấn Chúa Jesus về (a) các môn đồ và (b) sự dạy dỗ của Ngài, nghĩa là ông ta đang hỏi về (a) Phi-e-rơ và môn đồ - người mà Cai-phe quen biết, cùng với (b) những điều Chúa Jesus đã dạy họ. Không hề im lặng, Chúa Jesus - Ngôi Lời - đã trả lời một cách mạnh mẽ.

Chữ “cũng” trong hai câu hỏi đầu tiên dành cho Phi-e-rơ (Giăng 18:17, 25) ám chỉ tại đó đang có sự hiện diện của một môn đồ khác - là người mà Cai-phe quen biết. Những lời chối bỏ Chúa Jesus của Phi-e-rơ tạo nên sự tương phản kịch tính với sự thẳng thắn không ngần ngại của Chúa Jesus.

Đọc Giăng 18:28-40.

Sự châm biếm lại xuất hiện khi các nhà lãnh đạo Do Thái đứng bên ngoài nơi xét xử (praetorium - cũng được dùng làm dinh thự) của viên tổng đốc ngoại giáo để tránh bị ô uế khiến họ không được ăn Lễ Vượt Qua. Nhưng bằng cách sắp đặt cái chết của Chúa Jesus, họ trở thành công cụ trong việc dâng hiến Chúa Jesus làm con sinh tế và bỏ lỡ Lễ Vượt Qua đích thực này. Đặc biệt, Cai-phe trở thành công cụ để làm cho ứng nghiệm lời tiên tri vô thức của chính ông ta trong Giăng 11:49-52.

Tục lệ Do Thái quy định hình phạt tử hình là bằng cách ném đá. Việc dành riêng quyền xử tử cho nhà cầm quyền La Mã (trên thực tế, An-ne đã mất chức thầy tế lễ thượng phẩm vì vi phạm điều này) đã đảm bảo cái chết của Chúa Jesus được thi hành bằng cách đóng đinh. Hình thức tử hình này hàm ý một sự được nâng lên bằng thập tự giá, thay vì bị quật ngã bằng đá, và do đó — trong một sự đảo ngược thần thượng — trở thành một sự tôn cao, phù hợp với Đức Chúa Trời nhập thể, hơn là một sự hạ nhục.

Lời tuyên bố của Chúa Jesus, “Hễ ai thuộc về lẽ thật thì nghe lấy tiếng ta,” dựa trên nguyên tắc Hy Lạp rằng những người giống nhau mới hiểu nhau (so sánh với câu nói thời nay: “Phải là người trong cuộc mới hiểu”). Câu hỏi của Phi-lát, “Lẽ thật là gì?” đánh một nốt châm biếm khác, vì chính Đấng là Lẽ Thật đang đứng ngay trước mặt Phi-lát. Phán quyết của Phi-lát, “Ta không thấy người này có tội gì,” cho thấy Chúa Jesus thỏa điều kiện để chịu chết như Chiên Con vô tội của Đức Chúa Trời, tức Đấng cất tội lỗi của người khác, của thế gian (Giăng 1:29).

Đọc Giăng 19:1-16a.

Phi-lát hai lần nữa khẳng định sự vô tội của Chúa Jesus, và cố gắng làm hài lòng kẻ thù của Ngài bằng cách cho lính đánh đòn và chế nhạo Ngài.

Khi đám đông dân Do Thái buột miệng nói rằng Chúa Jesus đã tự xưng là Con Đức Chúa Trời, thì Phi-lát - người am hiểu thần thoại ngoại giáo của mình có những câu chuyện về các vị thần nổi giận với con người, vì đã không nhận ra các vị thần khi họ cải trang sống giữa con người - đã quay lại thẩm vấn Chúa Jesus thêm, vì sợ rằng Ngài có thể là một vị thần đang cải trang làm người. Chúa Jesus từ chối trả lời Phi-lát câu hỏi về nguồn gốc của Ngài ("Ngươi từ đâu?”); vì câu trả lời, “Từ trời,” sẽ khiến Phi-lát sợ hãi mà không dám cho đóng đinh Ngài. Ý muốn của Chúa Jesus là chịu bị đóng đinh.

Phi-lát đầu hàng trước lời đe dọa ẩn trong tuyên bố của các lãnh đạo Do Thái rằng với tư cách là một vị vua, Chúa Jesus là đối thủ của Sê-sa. Hàm ý: Họ sẽ tố cáo với Sê-sa nếu Phi-lát tha Chúa Jesus, và đến lượt Sê-sa sẽ xử tội Phi-lát.

Nếu tính từ lúc mặt trời mọc, “giờ thứ sáu” khi Phi-lát giao Chúa Jesus cho các lãnh đạo Do Thái để đóng đinh sẽ là 12 giờ trưa. Nhưng như đã bàn ở phần trước trong sách Giăng, việc tính từ nửa đêm cho ra một giờ hợp lý hơn, là 6 giờ sáng; vì các tổng đốc La Mã thường xử án rất sớm vào buổi sáng (so sánh phần giải nghĩa Giăng 1:39; 4:6, 52; cũng như 20:19, nơi Giăng mô tả buổi tối Chúa Nhật Phục Sinh đầu tiên là buổi tối của “ngày thứ nhất trong tuần” chắc chắn đại diện cho cách tính từ nửa đêm và giữa trưa; vì cách tính từ lúc mặt trời lặn và mọc sẽ biến buổi tối đó thành nửa đầu của ngày thứ hai trong tuần).

Ngày Chuẩn Bị Lễ Vượt Qua” có nghĩa là ngày thứ Sáu khi con chiên của Lễ Vượt Qua được hiến tế và nướng chín để ăn vào buổi tối. Với tư cách là sinh tế của Lễ Vượt Qua thật, Chúa Jesus là Chiên Con của Đức Chúa Trời sẽ chết vào đúng thời điểm.

Đọc thêm: CÁC PHIÊN THẨM VẤN TRONG CÁC PHIÊN TÒA XÉT XỬ CHÚA JESUS THEO TƯỜNG THUẬT CỦA GIĂNG

  • Trước An-ne, là cựu thầy thượng tế (không mô tả chi tiết)
  • Trước Cai-phe, là thầy thượng tế đương nhiệm và con rể của An-ne
  • Trước Phi-lát, là tổng đốc La Mã

Đọc thêm: NỀN TẢNG HIỂU BIẾT THEO NGƯỜI HY LẠP

“Vật đồng loại thì giống nhau” (Plato, Protagoras 337D).

Đọc thêm: CÁC VỊ THẦN GIẢ LÀM CON NGƯỜI TRONG TRUYỆN KỂ HY LẠP

“Hỡi Antonoos, ngươi đã làm điều tồi tệ khi đánh một kẻ lang thang bất hạnh. Ngươi sẽ bị nguyền rủa nếu hắn thực sự là một vị thần nào đó trên trời. Và các vị thần, có bề ngoài trông giống như những người ngoại quốc đến từ vùng đất khác và mang đủ loại hình dạng, thực sự viếng thăm các thành phố, quan sát cả sự bạo lực lẫn trật tự của con người” (Homer, Odyssey 17.483-87).

3.29. Sự Tôn Cao Chúa Jesus
#

Đọc Giăng 19:16b-22.

Chính “người Do Thái” - những nhà lãnh đạo mà Chúa Jesus đã phán với họ: “Hãy phá hủy đền thờ này [thân thể Ngài]…” (Giăng 2:19) - là những kẻ đã bắt và đóng đinh Chúa Jesus. Nhưng đúng với lời Ngài nói: “Chẳng có ai cất sự sống ta đi” và rằng chính Ngài tự mình phó sự sống mình (10:17-18), Chúa Jesus tự mình vác thập tự giá. Việc Giăng bỏ qua không nhắc đến Si-môn người Sy-ren cũng ngăn không cho ai nghĩ, như một số người theo thuyết Ngộ Đạo đã nghĩ, rằng Si-môn chứ không phải Chúa Jesus đã chết trên thập tự giá.

Vì Phi-lát đã nhiều lần tuyên bố Chúa Jesus vô tội, dòng chữ mà Phi-lát cho viết và đóng trên thập tự giá trong bối cảnh này là một sự khẳng định về vương quyền của Chúa Jesus trên người Do Thái, chứ không phải là một lời buộc tội nổi loạn chống lại Sê-sa. Việc Phi-lát từ chối thay đổi dòng chữ nhấn mạnh thêm sự khẳng định đó. Việc Giăng liệt kê ba ngôn ngữ của dòng chữ khắc — tiếng Hê-bơ-rơ (có lẽ là tiếng A-ram), La-tinh và Hy Lạp — ám chỉ tính phổ quát của cái chết của vị Vua Do Thái này với tư cách là Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi của cả thế gian, chứ không chỉ của người Do Thái (Giăng 1:29).

Đọc Giăng 19:23-27.

Việc chia áo ngoài của Chúa Jesus làm bốn phần, thông qua sự liên tưởng đến bốn góc đất (so sánh Khải-huyền 7:1), cũng có thể ám chỉ đến lợi ích phổ quát của sự kiện Chúa Jesus chịu đóng đinh trên thập tự giá, đồng thời ứng nghiệm Thi-thiên 22:18. Sự liền mạch (không có đường may) của áo choàng, hoặc áo trong (tấm áo dài) của Chúa Jesus, khó có thể ám chỉ đến chiếc áo không đường may mà các thầy tế lễ thượng phẩm Do Thái mặc, vì đó là một loại áo ngoài. Thay vào đó, việc tấm vải liền mạch, không có đường may, lại là lý do cho việc bắt thăm (để tránh làm hỏng chiếc áo choàng tốt như vậy nếu xé nó ra để chia), điều này giúp ứng nghiệm chính xác Thi-thiên 22:18.

Luôn làm chủ tình thế, ngay cả trên thập tự giá, Ngôi Lời là Đức Chúa Trời bình tĩnh giao phó môn đồ được yêu cho mẹ của Ngài (tức Ma-ri - mẹ của Chúa Jesus), và giao phó bà cho môn đồ được yêu, và bằng cách làm môn đồ này trở thành anh em nuôi của Ngài, Ngài đã củng cố lời chứng của môn đồ được yêu, tức tác giả của Phúc Âm Thứ Tư (19:35; 21:24).

Đọc thêm: TÀ THUYẾT NGỘ ĐẠO

“Chúa Jesus đã không tự mình chịu chết, nhưng Si-môn, một người đàn ông đến từ xứ Sy-ren, bị ép buộc, đã vác thập tự giá thay cho Chúa Jesus. Vì vậy, Si-môn, được Chúa Jesus biến hình để người ta nghĩ rằng ông là Chúa Jesus, đã bị đóng đinh vì sự vô tình và sai lầm, còn chính Chúa Jesus nhận lấy hình dạng của Si-môn và đứng bên cạnh, cười nhạo họ” (theo lời của Basilides, được coi là người sáng lập ra phái Basilides - một trong những trường phái chính của thuyết Ngộ Đạo sơ khai. Lời này được trích dẫn bởi Irenaeus trong Against Heresies 1.24.4; một số đại từ đã được thay bằng tên riêng cho rõ nghĩa).

3.30. Máu và Nước
#

Đọc Giăng 19:28-37.

Vẫn hoàn toàn làm chủ quyền năng thần linh của mình, Chúa Jesus sắp đặt cách thức cái chết của Ngài để ứng nghiệm Kinh Thánh.

Ta khát” không chỉ gợi nhớ đến Thi-thiên 22:15; 69:21, mà còn nhắc lại cơn khát của Chúa Jesus trong Giăng 4:6, dẫn đến việc Ngài đề nghị ban nước hằng sống của Đức Thánh Linh (so sánh 4:10, 13-14 với 7:37-39), cũng giống như nước tuôn ra từ cạnh sườn bị đâm của Ngài trong phân đoạn này. Vì vậy, Chúa Jesus hà hơi ban Đức Thánh Linh cho các môn đồ ngay khi gặp lại họ sau khi phục sinh (so sánh 19:34 với 20:22).

Cây ngưu tất (ὕσσωπος) có liên hệ với máu của sinh tế trong Lễ Vượt Qua (Xuất Ê-díp-tô Ký 12:22), và dòng máu tuôn ra từ Chúa Jesus khiến Ngài trở thành chính sinh tế ấy. Cách dịch thông thường của câu 30 theo bản King James là “Xong rồi” ("It is finished"), có lẽ tốt hơn nên được dịch thành, “Chúng đã được hoàn tất” (liên quan đến các “dấu lạ,” “công việc,” và “lời nói” của Chúa Jesus), vì vọng lại câu “Tất cả đã được hoàn tất” trong câu 28 (so sánh Giăng 4:34; 17:4).

Ngài gục đầu” cho thấy Chúa Jesus phó sự sống mình theo chủ ý của chính Ngài: Đức Chúa Trời nhập thể chết với sự chủ động và hoàn toàn ý thức. “Ngài trút linh hồn” mang ý nghĩa kép: tắt hơi thở và món quà là Đức Thánh Linh sắp được ban cho các môn đồ Ngài.

“Rồi hãy lấy một chùm kinh giới (ὕσσωπος) nhúng vào huyết trong chậu, bôi lên mày và hai cây cột cửa, đoạn, trong các ngươi chớ ai ra khỏi cửa nhà mình cho đến sáng mai. 23 Đức Giê-hô-va sẽ đi qua đặng hành hại xứ Ê-díp-tô; khi thấy huyết nơi mày và hai cây cột cửa, Ngài sẽ vượt qua, không cho kẻ tiêu diệt vào nhà các ngươi đặng hành hại.” (Xuất Ê-díp-tô ký 12:22-23)

3.31. Sự Chôn Cất
#

Đọc Giăng 19:38-42.

Ghi chú của Giăng rằng Giô-sép người A-ri-ma-thê là môn đồ của Chúa Jesus một cách kín giấu, vì sợ người Do Thái, có thể nhằm để phê bình những môn đồ vẫn đang giấu kín đức tin của mình vì lý do tương tự trong thời Giăng viết Phúc Âm. Mặt khác, việc Giô-sép chôn cất Chúa Jesus có thể mang lại một tấm gương tốt về một môn đồ kín giấu dám công khai đức tin, như Ni-cô-đem đã làm trong Giăng 7:50-51. Ủng hộ quan điểm này là việc cả hai đều cùng xuất hiện lúc này và lời nhắc rằng ban đầu Ni-cô-đem đến với Chúa Jesus là vào ban đêm, nhưng giờ đây ông đến vào ban ngày, mang theo một lượng lớn hương liệu (khoảng 100 litra, tương đương khoảng 33 kg). Khối lượng khổng lồ này xứng đáng với việc chôn cất Đức Chúa Trời nhập thể và ngăn chặn bất kỳ mùi hôi thối nào của sự phân hủy như đã xảy ra với thi thể của La-xa-rơ (Giăng 11:39). Như vậy, sự chôn cất Chúa Jesus càng tôn vinh Ngài, hơn là tước đoạt vinh quang của Ngài.

(Hình 15: Tấm vải liệm Turin, một số người cho rằng đây là tấm vải liệm Chúa Jesus - nhưng điều đó có lẽ là không xác thực)

3.32. Sự Sống Lại
#

Đọc Giăng 20:1-31.

Việc Ma-ri Ma-đơ-len đến mộ Chúa Jesus từ rất sớm, khi trời còn tối, làm cho sự hiện ra của Ngài với bà sau đó trở thành một sự tái khẳng định rằng Ngài chính là ánh sáng của thế gian (so sánh Giăng 8:12). Việc môn đồ được Chúa yêu không bước vào mộ ngay, dù ông đến trước Phi-e-rơ, cho thấy tính lịch sử xác thực của sự kiện; bởi nếu có sự thiên vị, người ta hẳn đã hư cấu rằng ông là người đầu tiên bước vào.

Một lần nữa, xét về tính xác thực của lịch sử, khó có khả năng bọn trộm tháo gỡ xác Chúa Jesus ra khỏi vải liệm trước khi đem đi, lại càng không thể cẩn thận cuốn khăn che mặt của Ngài lại và đặt nó riêng sang một bên. Về mặt thần học, việc các dải vải liệm và khăn che mặt vẫn còn đó chứng tỏ rằng chính Chúa Jesus đã chủ động lấy lại sự sống của mình bằng quyền năng thần thượng - Ngài không cần ai tháo gỡ vải liệm ra cho Ngài như người ta đã phải tháo gỡ cho La-xa-rơ (Giăng 11:44; so sánh Giăng 2:19; 10:18).

Việc môn đồ được yêu “thấy và tin” có liên quan đến lời tường thuật sai lầm của Ma-ri Ma-đơ-len rằng thi thể Chúa Jesus đã bị đánh cắp. Lúc này, sự thiếu hiểu biết Kinh Thánh (Cựu Ước) đã ngăn cản đức tin vào sự sống lại của Chúa Jesus.

Như thường thấy trong sách Giăng, có nhiều sự mỉa mai. Ma-ri cho rằng thi thể của Chúa Jesus đã bị chuyển đi nơi khác. Bà không nhận ra Ngài khi Ngài hiện ra với bà, và bà nghĩ Ngài là người làm vườn. Bà gọi Ngài là “Chúa” theo nghĩa “Thưa ông” dù Ngài là “Chúa” theo nghĩa “Đức Chúa Trời” (so sánh Giăng 20:28). Ma-ri cho rằng người làm vườn đã mang xác Chúa Jesus đi và đặt ở đâu đó, nên bà nói rằng bà sẽ đem Chúa đi, trong khi Ngài đã tự mình sống lại và rời khỏi mộ. Là Đấng Chăn Hiền Lành, Ngài gọi tên bà: “Ma-ri.” Là một con chiên của Ngài, bà liền nhận ra tiếng Ngài (so sánh 10:3-4, 14, 16, 27). “Đừng giữ ta” có thể ngụ ý rằng Ma-ri đã túm lấy Chúa Jesus, và vì thế có nghĩa là giờ bà phải buông Ngài ra để Ngài thăng thiên; bởi vì chỉ sau khi sự thăng thiên hoàn tất sự tôn vinh Ngài, thì Ngài mới có thể ban Đức Thánh Linh cho các môn đồ, như Ngài đã làm vào buổi tối Chúa Nhật Phục Sinh đầu tiên. Chữ “vậy” (οὖν) trong Giăng 20:19 chỉ rằng sự thăng thiên đã diễn ra vào buổi chiều hôm đó (so sánh 7:39 với 20:17, 19-22).

Để chống lại sự phủ nhận của phái Ngộ Đạo về cái chết thể xác và sự sống lại của Ngôi Lời thần linh, Giăng đề cập đến việc Chúa Jesus Phục Sinh cho các môn đồ xem hai bàn tay và cạnh sườn của Ngài, mang dấu vết của sự đóng đinh, và nhấn mạnh sự nhận biết của các môn đồ rằng Ngài chính là Chúa. Đặc biệt nổi bật là lời thốt lên của Thô-ma vốn nghi ngờ: “Chúa tôi và Đức Chúa Trời tôi!

Chúa Jesus ban sự bình an cho các môn đồ, là những người đã nhìn nhận Đấng Chịu Đóng Đinh chính là Chúa và Đức Chúa Trời Phục Sinh, và ủy thác họ với món quà là Đức Thánh Linh cùng thẩm quyền tha tộicầm giữ tội. Những điều này đã loại những kẻ theo thuyết Ngộ Đạo ra ngoài. Việc tha tộicầm giữ tội có nghĩa là tuyên bố tội được tha hay không được tha tùy theo việc tin hay không tin vào Phúc Âm chính thống (tức là Phúc Âm duy nhất).

Giăng thậm chí dùng Thô-ma - một nhân vật được phái Ngộ đạo xem là anh hùng (so sánh với sách gọi là Phúc Âm Thô-ma mang màu sắc Ngộ Đạo), để chống lại họ. Dù ban đầu hoài nghi về Chúa Jesus là Chúa và Đức Chúa Trời đã sống lại trong thân thể, Thô-ma cuối cùng đã tin vào niềm tin chính thống này.

Như vậy, giống như các dấu lạ khác Chúa Jesus đã làm quá nhiều đến nỗi Phúc Âm Giăng không thể kể hết, sự sống lại là một dấu lạ do chính Ngài thực hiện và được Giăng ghi lại để giúp người ta nhận biết rằng Đấng Christ thần linh chính là Chúa Jesus con người, và nhờ tin như vậy mà nhận được sự sống trong danh Ngài – tức là sự sống đời đời qua việc tin rằng “Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời” không ai khác chính là Chúa Jesus, như được chỉ ra bởi danh xưng “Ngôi Lời” của Ngài (so sánh Giăng 1:1, 12-14, 17).

(Hình 16: Sự thăng thiên, từ một bản sao chép có từ thế kỷ 12)

3.33. Phần Kết
#

Đọc Giăng 21:1-25.

Bởi vì Giăng 20:30-31 đã chứa lời tuyên bố về mục đích của “sách này,” nên Giăng 21:1-25 có vẻ như là một phần kết được tác giả của sách thêm vào. Ở câu cuối cùng của phần kết này, ông rốt lại đã chuyển từ việc nói về chính mình như là môn đồ được yêu sang cách nói trực tiếp “tôi.”

Phần kết được chia thành: một lần hiện ra thứ ba của Chúa Jesus Phục Sinh với các môn đồ, một cuộc trò chuyện giữa Ngài và Phi-e-rơ, và một kết luận tương tự như trong 20:30-31.

ĐÁNH CÁ

Đêm tối và bóng tối gắn liền với sự vắng mặt của Chúa Jesus và sự thất bại của các môn đồ khi không bắt được con cá nào. Việc Ngài đứng trên bờ biển với như là ánh sáng của thế gian gắn liền với bình minh và sự thành công vượt bậc trong việc bắt cá của các môn đồ.

Việc đánh bắt cá tượng trưng cho công tác truyền giáo, và việc gom cá do các môn đồ bắt được với cá mà Chúa Jesus đã có sẵn trên lửa than tượng trưng cho một Hội Thánh duy nhất, hoặc để lặp lại một ẩn dụ trước đó - một bầy chiên duy nhất (Giăng 10:16; 11:51-52). Lửa than chuẩn bị cho việc Phi-e-rơ bù đắp ba lần chối Chúa Jesus bằng ba lần xác nhận yêu Ngài, vì chính bên đống lửa than mà Phi-e-rơ đã chối Ngài (18:17-18, 25-27).

Lời bình rằng lưới không rách kết hợp với ghi chú về số lượng lớn cá bắt được (153 con) tượng trưng việc Chúa Jesus không làm mất một ai trong số những người mà Cha đã ban cho Ngài (so sánh 6:12, 39; 10:28-30; 17:11-15; 18:8-9).

Việc đề cập đến bánh cùng với cá gợi nhớ phép lạ cho năm ngàn người ăn, và việc Chúa Jesus đưa bánh cho các môn đồ tượng trưng cho việc Ngài ban chính mình Ngài - thân thể hy sinh của Ngài - làm bánh sự sống (Giăng 6:1-50).

“Chúa Giê-xu phán với họ: ‘Hãy theo ta, ta sẽ khiến các ngươi trở nên tay đánh lưới người.’” (Mác 1:17)

CHĂN CHIÊN

Sự khác biệt về nghĩa thường được nhận thấy giữa hai động từ Hy Lạp diễn tả “yêu” trong cuộc trò chuyện giữa Chúa Jesus và Phi-e-rơ ** |** đứng vững khi được xem xét kỹ.

  • Động từ thường được xem là thấp hơn (philein) lại xuất hiện nhiều lần trong sách Giăng để chỉ tình yêu của Cha dành cho Con và cho các môn đồ (Giăng 5:20; 16:27), tình yêu của Chúa Jesus dành cho La-xa-rơ (11:3, 36) và cho môn đồ được Chúa yêu (20:2), cũng như tình yêu bản thân mang tính hủy hoại (12:25) và tình yêu thế gian (15:19).

  • Động từ thường được xem là cao hơn (agapan) cũng xuất hiện trong sách Giăng để chỉ việc người ta yêu sự tối tăm hơn ánh sáng (Giăng 3:19) và yêu vinh quang loài người (12:43), cũng như tình yêu của Cha dành cho Con (3:35; 10:17; 15:9; 17:23, 24, 26) và cho các môn đồ (14:21, 23; 17:23), tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho thế gian (3:16), và tình yêu của Chúa Jesus dành cho Đức Chúa Cha (14:31), cho các môn đồ (13:1; 15:9, 12), cho Ma-thê, Ma-ri và La-xa-rơ (11:5), cũng như cho môn đồ được Chúa yêu (13:23; 19:26; 21:7).

Giăng thường thích sử dụng các cặp từ như những từ đồng nghĩa, như ngay trong chính đoạn văn này cho từ “chăn chiên” và “chiên” (xem nguyên văn Hy Lạp).

Cụm từ “hơn những người này” có nghĩa là “hơn các môn đồ khác đang có mặt [xem Giăng 21:2] yêu Ta [Chúa Jesus]”.

Nếu việc bắt cá tượng trưng cho truyền giáo, thì việc chăn chiên tượng trưng cho sự chăm sóc mục vụ dành cho những người đã tin nhận.

Đọc thêm: CÁC ĐỘNG TỪ DIỄN TẢ TÌNH YÊU TRONG CUỘC TRÒ CHUYỆN CỦA CHÚA JESUS VỚI SI-MÔN PHI-E-RƠ

Động từ trong các câu hỏi của Chúa JesusĐộng từ trong các câu trả lời của Phi-e-rơ
agapanphilein
agapanphilein
phileinphilein

Từ danh từ nổi tiếng agapē có cùng gốc từ với động từ agapan.

SỐ PHẬN CỦA PHI-E-RƠ VÀ MÔN ĐỒ ĐƯỢC YÊU

Chúa Jesus báo trước về Phi-e-rơ rằng ông sẽ chết vì bị đóng đinh khi về già, tay giang rộng để bị đóng đinh hoặc trói vào thập tự giá, và người ta sẽ mặc cho ông cây thập tự giá đó, như thể mặc áo cho ông, rồi dẫn ông, với thập tự giá trên vai, đến nơi đóng đinh. (Không có gì gợi ý về việc bị đóng đinh ngược đầu, chi tiết này có lẽ mang tính truyền thuyết về sự tử đạo của Phi-e-rơ được nhắc đến lần đầu trong sách ngụy kinh Công-vụ của Phi-e-rơ 33-41, vào cuối thế kỷ thứ hai.)

Nhưng trái với hiểu lầm phổ biến, Chúa Jesus không nói rằng môn đồ được yêu sống sót cho đến khi Ngài trở lại lần thứ hai. Việc phủ nhận rằng Đức Jesus đã nói như vậy không ngụ ý rằng môn đồ được yêu đã qua đời vào thời điểm Phúc Âm Thứ Tư được viết, bởi vì môn đồ đó “làm chứng” (thì hiện tại) vào thời điểm viết sách. Chỉ có tuổi già của ông và khả năng cái chết gần kề được ngụ ý ở đây.

Mặc dù nhiều người cho rằng ít nhất là Giăng 21:24 (nếu không phải nhiều hơn, hoặc toàn bộ chương 21) là phần được thêm vào bởi cộng đồng Cơ Đốc tập trung quanh môn đồ được yêu (tức sứ đồ Giăng), thì “chúng tôi” – những người làm chứng cho lời chứng của môn đồ được yêu – có thể bao gồm chính môn đồ này, giống như trước đó trong Phúc Âm này, Chúa Jesus đã cùng những người khác làm chứng về chính mình (5:31-47; 8:12-20).

“Vì vậy ta yêu cầu các ngươi, hỡi những kẻ hành quyết, hãy đóng đinh ta với đầu quay ngược xuống đất” (Phi-e-rơ, theo Công-vụ của Phi-e-rơ 37 [8]).

IV. TÓM LẠI
#

Bằng chứng chỉ ra rằng tác giả của Phúc Âm Thứ Tư là Sứ đồ Giăng, có lẽ sách được viết tại Ê-phê-sô vào cuối thế kỷ thứ nhất. Phúc Âm của Giăng phần lớn chứa đựng những nội dung không có trong các sách Cộng Quan, và do đó bổ sung cho chúng, với sự nhấn mạnh đặc biệt vào mục vụ của Chúa Jesus tại vùng Giu-đê và ý nghĩa thần học sâu sắc của mục vụ đó.

Nổi bật trong số các chủ đề tạo nên ý nghĩa này là hình ảnh Chúa Jesus chính là Ngôi Lời thần linh tiền hiện hữu, là Đấng đã trở nên con người để phán ra những lời của Đức Chúa Trời, bày tỏ vinh quang của ân điển và lẽ thật Đức Chúa Trời, phân rẽ con cái sự sáng khỏi con cái sự tối tăm, phán xét thế gian của những kẻ không tin, và ban sự sống đời đời qua món quà là Đức Thánh Linh cho tất cả những ai tin và ở lại trong Chúa Jesus.

Sau lời tựa giới thiệu Chúa Jesus là Ngôi Lời, Giăng sắp xếp nội dung của mình thành những khối tường thuật xen kẽ về các dấu lạ và công việc của Chúa Jesus, và những bài giảng mà lời lẽ trong đó giải thích ý nghĩa cứu rỗi của những dấu lạ và công việc ấy.