Skip to main content

Chương 11: CÔNG VỤ: SỰ LAN RỘNG CỦA CƠ ĐỐC GIÁO TRONG THẾ GIỚI HY LẠP - LA MÃ (Nối tiếp từ Phúc Âm theo Lu-ca)

·20059 words·95 mins·
Author
Lily
Table of Contents

TÂN ƯỚC LƯỢC KHẢO

I. CÁC VẤN ĐỀ DẪN NHẬP
#

1. Tác Giả
#

Theo truyền thống của Hội Thánh thời ban đầu, Lu-ca là tác giả sách Công-vụ các Sứ-đồ. Nếu đúng như vậy, thì sách này là phần tiếp nối của sách Phúc Âm theo Lu-ca. Bằng chứng nội tại trong sách Công-vụ ủng hộ quan điểm Lu-ca là tác giả. Cũng giống như Phúc Âm của ông mở đầu với lời đề tặng gửi Thê-ô-phi-lơ, sách Công-vụ cũng vậy. Từ vựng và văn phong trong hai sách rất giống nhau.

Dù những điều trên không chứng minh tuyệt đối rằng ông đã viết cả sách Lu-ca lẫn Công-vụ, nhưng việc thường xuyên sử dụng các thuật ngữ y khoa phù hợp với việc Lu-ca là một thầy thuốc. Qua cách ông dùng từ “chúng tôi” khi thuật lại các hành trình của Phao-lô, tác giả Công-vụ ngụ ý rằng ông là bạn đồng hành của Phao-lô. Các bạn đồng hành khác của Phao-lô không phù hợp với dữ kiện trong văn bản. Ví dụ, Ti-mô-thê và một số người ít được biết đến hơn được nhắc đến tách biệt khỏi “chúng tôi” và “chúng ta” trong Công-vụ 20:4-6. Theo các thư tín của Phao-lô, cả Tít và Si-la (vẫn còn những bạn đồng hành khác không được đề cập trong Công-vụ 20:4-6) đều không đồng hành với Phao-lô đến Rô-ma hay ở lại với ông tại đó. Thế nhưng tường thuật về chuyến đi đến Rô-ma lại nằm trong phần “chúng tôi”. Bằng phương pháp loại trừ, Lu-ca vẫn là ứng viên duy nhất hợp lý cho tác giả của sách Công-vụ.

“Lu-ca là thầy thuốc rất yêu dấu, chào anh em” (Cô-lô-se 4:14).

“Khi đã quyết định rằng chúng tôi sẽ khởi hành đi Y-ta-li … chúng tôi cho tàu ra khơi. … Rồi chúng tôi đến thành Rô-ma” (Công-vụ 27:1-2; 28:14, lược qua nhiều câu có từ “chúng tôi” ở giữa).

2. Kỹ Thuật Văn Chương
#

Cùng với sách Phúc Âm theo Lu-ca và Thư Hê-bơ-rơ, sách Công-vụ chứa một số đoạn văn Hy Lạp trau chuốt nhất trong Tân Ước. Mặt khác, sự thô ráp trong văn phong Hy Lạp xuất hiện khi Lu-ca dường như dựa vào các nguồn tài liệu Semite hoặc mô phỏng theo Bản Bảy Mươi (Septuagint). Một số học giả cho rằng các bài diễn văn và bài giảng trong Công-vụ là thủ pháp văn chương do Lu-ca sáng tác để làm phong phú câu chuyện. Đúng là một số sử gia cổ đại đã làm như vậy, nhưng không đến mức độ như đôi khi người ta khẳng định.

“Về những bài diễn văn đã được đọc lên …, thật khó cho tôi, và cho những người khác đã thuật lại chúng cho tôi, để nhớ chính xác từng lời. Vì vậy, tôi đã đặt vào miệng mỗi diễn giả những tư tưởng phù hợp với hoàn cảnh, được diễn đạt theo cách mà tôi nghĩ họ có thể sẽ diễn đạt, đồng thời tôi cố gắng, hết sức có thể, để giữ đúng ý chính của những gì thực sự đã được nói.” (Thucydides, Histories 1.22.1).

Dù Lu-ca không nhất thiết phải ghi lại từng lời các bài diễn văn và bài giảng, nhưng có vẻ như ông đã ghi lại chính xác nội dung cốt lõi của những gì đã được nói. Bằng chứng cho sự chính xác này đến từ những điểm tương đồng nổi bật về cách diễn đạt giữa các bài giảng của Phi-e-rơ trong Công-vụ và sách 1 Phi-e-rơ, cũng như giữa các bài giảng của Phao-lô trong Công-vụ và các thư tín của ông. Những điểm tương đồng này khó có thể là ngẫu nhiên; và không có bằng chứng nào cho thấy Lu-ca đã mô phỏng hoặc sử dụng các thư tín của hai sứ đồ theo bất kỳ cách nào, hoặc cho thấy Phi-e-rơ và Phao-lô đã mô phỏng sách Công-vụ khi viết thư của mình. Lời giải thích thỏa đáng duy nhất là Lu-ca không bịa đặt các bài diễn văn và bài giảng, mà đã tóm lược nội dung của chúng một cách chính xác đến nỗi cách dùng từ đặc trưng của Phi-e-rơ và Phao-lô hiện rõ trong phần tường thuật của Lu-ca cũng như trong các thư tín của họ.

3. Các Nguồn Tư Liệu
#

Đối với nội dung trong sách Công-vụ, Lu-ca đã dựa vào ký ức của chính mình khi có thể. Có lẽ ông đã ghi chép các chi tiết vào nhật ký lúc các sự kiện xảy ra. Chắc chắn, ông cũng nhận được thêm thông tin từ Phao-lô, từ các Cơ Đốc nhân tại Giê-ru-sa-lem, An-ti-ốt xứ Sy-ri, và những nơi khác mà ông đi cùng với hoặc không đi cùng Phao-lô, từ các bạn đồng hành khác của Phao-lô như Si-la và Ti-mô-thê, và từ Phi-líp - chấp sự kiêm nhà truyền giảng, và từ một môn đồ tên là Mê-na-sôn - người có nhà cho ông ở trọ (Công-vụ 21:8, 16). Ngoài ra, Lu-ca cũng có sẵn các nguồn tài liệu bằng chữ viết, như nghị quyết của Hội đồng Giê-ru-sa-lem (Công-vụ 15:23-29) và có thể là các văn kiện bằng tiếng A-ram hoặc Hê-bơ-rơ liên quan đến các sự kiện ban đầu của Cơ Đốc giáo tại Giê-ru-sa-lem và vùng lân cận.

Ví dụ về sự tương đồng giữa các bài giảng của Phi-e-rơ và Phao-lô trong sách Công Vụ và trong các thư tín của họ

Phi-e-rơ theo Công-vụ 2:23Phi-e-rơ trong 1 Phi-e-rơ 1:20
“Người [Đức Chúa Jêsus] này đã bị nộp theo kế hoạch định sẵn và sự biết trước của Đức Chúa Trời.”“Đấng [Đức Chúa Jêsus] đã được biết trước từ trước khi sáng thế, nhưng vì anh em mà được bày tỏ ra trong những thời kỳ cuối cùng này.”
Phao-lô theo Công-vụ 13:38-39Phao-lô trong Rô-ma 3:28
“Vậy, hỡi anh em, hãy biết rằng nhờ Ngài [Đức Chúa Jêsus] mà sự tha tội được rao giảng cho anh em; và nhờ Ngài mà mọi người tin đều được xưng công bình về mọi điều mà luật pháp Môi-se chẳng có thể làm cho anh em được xưng công bình.”“Vì chúng tôi kể rằng người ta được xưng công bình bởi đức tin, chớ không bởi việc làm theo luật pháp.”

4. Độ Chính Xác Lịch Sử
#

Ở mức độ lớn, các khám phá khảo cổ học đã ủng hộ độ chính xác lịch sử của Lu-ca. Ví dụ, ngày nay chúng ta biết rằng việc ông sử dụng các tước hiệu cho nhiều loại quan chức chính quyền địa phương và tỉnh - các tổng đốc (procurators), quan tổng lãnh (consuls), quan thị chính (praetors), quan chấp chính (politarchs), các nhà lãnh đạo tỉnh A-si (Asiarchs), và những chức vụ khác - là hoàn toàn chính xác đối với thời kỳ và địa phương mà ông đang viết. Sự chính xác này đáng chú ý gấp bội vì việc sử dụng các tước hiệu này luôn trong tình trạng thay đổi liên tục do địa vị chính trị của các cộng đồng khác nhau không ngừng biến động.

5. Đoạn Kết và Niên Đại
#

Sách Công-vụ các Sứ-đồ kết thúc một cách đột ngột. Lu-ca đưa câu chuyện về Phao-lô đến chỗ ông bị giam tại Rô-ma, đã chờ đợi hai năm để được xét xử trước mặt Sê-sa (Caesar). Nhưng chúng ta không đọc thêm được gì nữa. Chuyện gì đã xảy ra cho Phao-lô? Ông có thực sự ra trình diện Sê-sa không? Nếu có, ông có bị kết án không? Có bị tử đạo không? Được tha bổng? Được thả tự do? Lu-ca không cho biết. Nhiều giả thuyết đã được đưa ra để giải thích sự kết thúc đột ngột này.

  • Việc xác nhận tính chính xác lịch sử của sách Công-vụ đã làm cho “Giả thuyết Tübingen” của thế kỷ 19 trở nên lỗi thời. Giả thuyết này cho rằng một tác giả ở thế kỷ thứ hai đã viết sách Công-vụ nhằm dung hòa các quan điểm được cho là mâu thuẫn giữa Cơ Đốc giáo theo Phi-e-rơ (Petrine Christianity) và Cơ Đốc giáo theo Phao-lô (Pauline Christianity). Không có bằng chứng cho sự phân rẽ như vậy, và một tác giả muộn khó có thể viết chính xác về các điều kiện ở thế kỷ thứ nhất như Lu-ca đã làm. F. C. Baur của Đại học Tübingen, Đức, là người dẫn đầu trường phái tư tưởng Tübingen. Theo giả thuyết của ông, Cơ Đốc giáo theo Phi-e-rơ mang tính luật pháp, còn Cơ Đốc giáo theo Phao-lô chống lại luật pháp.

  • Có lẽ Lu-ca đã định viết một sách thứ ba để trả lời những câu hỏi còn bỏ ngỏ. Tuy nhiên, sách đầu tiên của ông, Phúc Âm Lu-ca, đã kết thúc với cảm giác trọn vẹn, mặc dù có lẽ ông đã có dự định viết sách Công-vụ, nối tiếp sau sách Phúc Âm của mình.

  • Có thể Lu-ca đã hết giấy cuộn papyrus (giấy cói). Nhưng chắc hẳn ông đã thấy chỗ cuộn giấy sắp hết và định hình một kết luận thích hợp cho phần còn lại của cuộn giấy.

  • Có thể một biến cố cá nhân đã ngăn cản Lu-ca hoàn tất sách Công-vụ. Nhưng sách này đã đủ dài để lấp đầy một cuộn giấy cói lớn.

  • Có lẽ Công-vụ 20:22-25; 21:4, 10-14 ngụ ý đủ rõ rằng Phao-lô đã tử đạo tại Rô-ma. Nhưng những phân đoạn đó nói về khả năng Phao-lô tử đạo dưới tay những người Do Thái thù nghịch tại Giê-ru-sa-lem, chứ không phải dưới tay Sê-sa tại Rô-ma; và phần còn lại của sách Công-vụ kể về việc Phao-lô thoát khỏi sự tử đạo bởi tay những người Do Thái và được các quan chức La Mã minh oan.

  • Có lẽ Lu-ca đã hoàn thành mục đích cho thấy sự tiến triển của Cơ Đốc giáo từ Giê-ru-sa-lem - nơi khởi nguồn, đến Rô-ma - thủ đô của đế quốc. Nhưng chức vụ trong tù của Phao-lô tại Rô-ma tạo nên một cao trào đáng thất vọng; một cộng đồng Cơ Đốc đã tồn tại ở đó từ trước; và vẫn còn câu hỏi tại sao Lu-ca không kể điều gì đã xảy ra cho Phao-lô - nhân vật chính trong Công-vụ 13-28.

Giải pháp tốt nhất cho rằng Lu-ca đã viết cho đến các sự kiện trong phạm vi chúng đã xảy ra; nghĩa là, vào thời điểm Lu-ca viết sách Công-vụ, Phao-lô vẫn đang chờ xét xử trước mặt Sê-sa Nê-rô (Caesar Nero). Chắc chắn sẽ là vô nghĩa nếu Lu-ca tìm cách chứng minh sự vô tội về mặt chính trị của Cơ Đốc giáo, như ông vẫn làm xuyên suốt sách, nếu ông viết sau khi Nê-rô đã quay sang chống lại Cơ Đốc nhân (vào năm 64). Lúc đó đã quá muộn để viện dẫn những phán quyết có lợi cho Cơ Đốc giáo của các quan chức cấp thấp hơn! Vì vậy, khả năng là Lu-ca đã viết sách Công-vụ khi Phao-lô đã ở Rô-ma được hai năm (khoảng năm 63).

Một bằng chứng khác cho niên đại sớm này là sự thiếu vắng các ám chỉ về cuộc bách hại dưới thời Nê-rô, về sự tử đạo của Gia-cơ - em cùng mẹ của Chúa (cũng trong những năm 60), và về sự hủy diệt Giê-ru-sa-lem (năm 70). Trong sách Công-vụ, thần học tương đối chưa phát triển và cuộc tranh luận về địa vị của tín đồ gốc Dân Ngoại dường như chỉ ra cùng hướng, nhưng điều này cũng có thể chỉ phản ánh sự chính xác của Lu-ca trong việc mô tả Hội Thánh thời ban đầu, mà không hàm ý gì về niên đại viết sách.

Về mặt thần học, sự kết thúc đột ngột của sách Công-vụ gợi ý về công tác truyền giảng Tin Lành toàn cầu vẫn chưa hoàn thành. Điều mà Hội Thánh đầu tiên đã bắt đầu, Hội Thánh sau này phải hoàn tất.

6. Mục Đích
#

Cũng như trong sách Phúc Âm của mình, Lu-ca hướng sách Công-vụ đến với người Dân Ngoại, đặc biệt là những người có sự quan tâm cởi mở đến nguồn gốc lịch sử của Cơ Đốc giáo. Khi làm vậy, ông tiếp tục nhấn mạnh đến lòng tin kính, sự trong sạch về đạo đức, và sự vô tội về mặt chính trị của những người tin Chúa Jesus, và khắc họa Cơ Đốc giáo như một tôn giáo phổ quát - một tôn giáo truyền thống bắt nguồn từ Do Thái giáo nhưng rộng mở cho tất cả mọi người. Trong sách Lu-ca, câu chuyện tiến triển đến Giê-ru-sa-lem, trung tâm của Do Thái giáo. Trong sách Công-vụ, câu chuyện tiến triển đến Rô-ma, trung tâm của thế giới. Quyền năng của Đức Thánh Linh khiến cho sự tiến triển này trở nên khả thi. Lu-ca không viết về sự lan rộng của Cơ Đốc giáo đến Ai Cập hay phương Đông, nhưng chúng ta đọc thấy những câu tóm tắt lặp đi lặp lại về sự thành công của Tin Lành ở bất cứ nơi nào Cơ Đốc nhân rao giảng: “Đạo Đức Chúa Trời càng ngày càng tràn ra, số môn đồ tại thành Giê-ru-sa-lem thêm lên nhiều lắm” (Công-vụ 6:7; xem thêm 9:31; 12:24; 16:5; 19:20; 28:30-31).

Lu-ca đặc biệt chú trọng chứng minh rằng Cơ Đốc giáo xứng đáng được tiếp tục phát triển tự do, vì nó bắt nguồn từ Do Thái giáo - một tôn giáo có địa vị hợp pháp, và vì nó không gây ra bất kỳ mối đe dọa nào cho chính quyền La Mã. Nhiều lần Lu-ca mô tả Cơ Đốc giáo như một dạng Do Thái giáo được ứng nghiệm và trích dẫn các phán quyết có lợi liên quan đến Cơ Đốc giáo và những người ủng hộ nó đến từ nhiều loại quan chức địa phương và tỉnh khác nhau.

Một sự biện hộ như vậy là cần thiết, bởi vì Cơ Đốc giáo đã khởi đầu với một bất lợi là người sáng lập nó đã chết bằng cách bị đóng đinh trên cây thập tự - hình phạt của La Mã dành cho tội phạm - và bởi vì sự rối loạn nổi lên ở bất cứ nơi nào Cơ Đốc giáo lan truyền đến. Ngay trong Phúc Âm của mình, Lu-ca đã cho thấy cả Phi-lát (Pilate) và Hê-rốt An-ti-ba (Herod Antipas) đều tuyên bố Chúa Jesus vô tội, và rằng chính áp lực từ đám đông đã dẫn đến sự phán xử bất công. Trong sách Công-vụ, Lu-ca cũng cho thấy những rối loạn liên quan đến Cơ Đốc giáo phát sinh từ sự bạo loạn của đám đông và từ những cáo buộc sai trái, thường là của những người Do Thái không tin, chứ không phải do bất kỳ hành vi sai trái nào của chính các Cơ Đốc nhân. Bằng cách này, Lu-ca hy vọng xóa tan thành kiến chống lại Cơ Đốc giáo và giành được thiện cảm từ những người như Thê-ô-phi-lơ - người được gọi là “quý nhân” trong Lu-ca 1:3 có thể là người có địa vị chính trị có ảnh hưởng cũng như địa vị xã hội quý tộc, hoặc ít nhất là tầng lớp trung lưu (so sánh cách xưng hô “quý ngài khả kính Phê-tu” dành cho một tổng đốc Rô-ma trong Công-vụ 26:25).

II. BỐ CỤC SÁCH CÔNG VỤ CÁC SỨ ĐỒ
#

Click vào link để xem Bố cục sách Công-vụ các Sứ-đồ

III. ĐỌC SÁCH CÔNG VỤ CÁC SỨ ĐỒ VỚI SỰ GIẢI THÍCH
#

3.1. Sự Chờ Đợi Đức Thánh Linh
#

Đọc Công-vụ 1:1-8.

“Sách thứ nhất” ngụ ý chỉ Phúc Âm Lu-ca. Trong đoạn mở đầu sách Công-vụ, trọng tâm được đặt vào việc Chúa Jesus đã lựa chọn và huấn luyện các sứ đồ như là cầu nối giữa Ngài (trong quá khứ) và các Cơ Đốc nhân (trong hiện tại), cũng như nhấn mạnh vào sức thuyết phục của những lần Chúa Jesus hiện ra sau khi Ngài sống lại.

“Trong ít ngày” hướng về sự tuôn đổ Đức Thánh Linh vào ngày Lễ Ngũ Tuần (Công-vụ 2:1-4). Các sứ đồ băn khoăn liệu bây giờ Đức Chúa Jesus có khôi phục vương quốc Y-sơ-ra-ên hay không, nghĩa là liệu Ngài có lập tức thiết lập vương quốc của Đấng Mê-si trên đất với Y-sơ-ra-ên chiếm vị trí trung tâm và được ưu tiên hay không. Họ nghĩ đến khả năng này vì Cựu Ước liên kết sự tuôn đổ Thánh Linh của Đức Chúa Trời với thời đại của Đấng Mê-si.

Đọc thêm: VỀ SỰ TUÔN ĐỔ THÁNH LINH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI TRONG THỜI ĐẠI CỦA ĐẤNG MÊ-SI

  • “Ta sẽ đổ Thần Ta trên dòng dõi ngươi” (Ê-sai 44:3).
  • “Ta sẽ đặt Thần Ta trong các ngươi” (Ê-xê-chi-ên 36:27).
  • “Ta sẽ đổ Thần Ta trên nhà Y-sơ-ra-ên” (Ê-xê-chi-ên 39:29).
  • “Ta sẽ đổ Thần Ta trên mọi xác thịt… Trong những ngày đó, Ta sẽ đổ Thần Ta” (Giô-ên 2:28-29).

3.2. Mệnh Lệnh Trọng Đại
#

Câu trả lời của Chúa Jesus chuyển hướng sự chú ý của các môn đồ từ vấn đề thời gian liên quan đến Đấng Mê-si, vốn chỉ liên quan đến dân tộc Y-sơ-ra-ên, sang công tác truyền giáo toàn cầu, hướng đến mọi dân tộc. Do đó, phù hợp với Công-vụ 1:8, Tin Lành sẽ được truyền bá:

  • Khắp Giê-ru-sa-lem và xứ Giu-đê trong các chương 1-7
  • Đến Sa-ma-ri và các vùng lân cận khác trong các chương 8-12
  • Đến các miền xa xôi trong các chương 13-28

Nếu như Phi-e-rơ là nhân vật lãnh đạo trong việc rao giảng Tin Lành cho người Do Thái phần lớn trong các chương 1-12, thì Phao-lô là nhân vật lãnh đạo trong việc rao giảng Tin Lành cho dân ngoại phần lớn trong các chương 13-28.

3.3. Sự Thăng Thiên và Sự Lựa Chọn Ma-thia
#

Đọc Công-vụ 1:9-26.

Hai người nam có mặt lúc ​Chúa Jesus thăng thiên (Công-vụ 1:10) gợi nhớ đến hai người nam hiện diện trong sự hóa hình (Lu-ca 9:30-31, Môi-se và Ê-li) và phục sinh của Ngài (Lu-ca 24:4-7).

Đám mây tiếp Ngài khuất đi” tượng trưng cho sự hiện diện của Đức Chúa Cha, giống như trong lúc Chúa Jesus chịu Báp-têm, hóa hình, và tái lâm.

Một quãng đường ước đi một ngày Sa-bát” tương đương với ba phần năm dặm (khoảng 1 km). Vậy, Chúa Jesus và các môn đồ đã không di chuyển xa khỏi nơi ở của họ hơn mức được phép trong ngày Sa-bát. Điều này chứng tỏ họ là những người tuân giữ luật pháp, chứ không vi phạm luật pháp. Các môn đồ của Chúa Jesus là những người tin kính, luôn dành thời gian để chuyên tâm cầu nguyện - nhưng không loại bỏ những người khác; vì phụ nữ, bao gồm mẹ của Chúa Jesus và các em trai Ngài, đều thuộc cùng một nhóm, là một cộng đồng tôn giáo lý tưởng. Ngay cả sự phản bội của Giu-đa Ích-ca-ri-ốt đối với Chúa Jesus cũng không thể phá hoại cộng đồng này; vì sự phản bội đó đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh được Đức Thánh Linh soi dẫn. Giu-đa Ích-ca-ri-ốt đã nhận lấy hình phạt công bằng và công khai, để lại một chỗ trống sớm được lấp đầy bởi một người thay thế hoàn toàn xứng đáng. Cũng như tất cả các sứ đồ khác, Ma-thia đã đi theo Chúa Jesus từ thời kỳ Giăng Báp-tít thi hành mục vụ cho đến khi Chúa Jesus thăng thiên; và việc bắt thăm trúng nhằm Ma-thia cho thấy rằng, với tư cách là Chúa được tôn cao, Chúa Jesus chọn ông làm sứ đồ, giống như Ngài đã chọn các sứ đồ khác.

3.4. Lễ Ngũ Tuần
#

Đọc Công-vụ 2:1-47.

Ngày Lễ Ngũ Tuần mang đến phép Báp-têm trong Thánh Linh đã được hứa, ở đây được gọi là sự đầy dẫysự tuôn đổ. Tất cả những hình ảnh này đều nhấn mạnh sự dư dật. Tiếng động kèm theo, giống như tiếng gió thổi mạnh, nhấn mạnh quyền năng và chơi chữ dựa trên các từ gốc Hy Lạp chỉ “gió” (pnoē) và “Thánh Linh” (pneuma). Sự xuất hiện của ngọn lửa hình cái lưỡi hiện ra trên mỗi môn đồ tượng trưng cho khả năng nói tiếng lạ, tức là các ngoại ngữ — một dấu hiệu về tính phổ quát của Tin Lành.

Những người hành hương, từ những nơi khác không phải trong xứ Palestine, đến dự lễ, cả người Do Thái sống rải rác ngoài xứ Palestine và người ngoại đã chính thức cải đạo sang Do Thái giáo, đều kinh ngạc khi nhận ra tiếng nói của quê hương mình được thốt ra bởi những người Do Thái Palestine (tức những người Do Thái sống ở trong xứ Palestine) chưa từng học các thứ tiếng đó. Nhưng một số người Do Thái Palestine trong đám đông lại không hiểu những lời đó, và vì thế, đã đưa ra một cáo buộc sai lầm và ngu ngốc khi cho rằng các môn đồ đang lảm nhảm vì say rượu.

3.5. Bài Giảng của Phi-e-rơ
#

Phi-e-rơ đồng nhất những gì vừa xảy ra với lời tiên tri trong Giô-ên 2:28-32. Dù các dấu hiệu trên trời và dưới đất được báo trước (máu, lửa, luồng khói, mặt trời tối tăm, mặt trăng đỏ như máu) còn chờ ứng nghiệm vào thời kỳ tái lâm, ông vẫn tiếp tục trích dẫn để bao gồm lời tuyên bố mang tính phổ quát rằng “ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu.” Đối với Phi-e-rơ, Chúa Jesus là Chúa, danh Ngài đem lại sự cứu rỗi.

Bài giảng của Phi-e-rơ tiếp tục nhấn mạnh (1) việc Đức Chúa Trời xác nhận Chúa Jesus bằng các phép lạ, (2) kế hoạch của Đức Chúa Trời và tội lỗi của người Do Thái trong cái chết của Chúa Jesus, (3) việc Đức Chúa Trời khiến Chúa Jesus sống lại từ cõi chết để ứng nghiệm Kinh Thánh, và (4) bản chất thiên thượng của vương quyền của Chúa Jesus, do đó không đe dọa về mặt chính trị đối với La Mã.

Phép Báp-têm báo hiệu sự ăn năn, và sự ban cho Đức Thánh Linh báo hiệu sự tha tội. “Hết thảy mọi người ở xa” nhấn mạnh việc Đức Chúa Trời kêu gọi cả dân ngoại lẫn người Do Thái.

Nhiều người tin đạo làm gia tăng cộng đồng Cơ Đốc, khiến cho sự tin kính và quyền năng, sự không ích kỷ và hòa thuận của cộng đồng trở nên nổi bật, đến mức nhận được sự ngưỡng mộ và kính sợ của mọi người.

“Và câu ngạn ngữ: ‘Của cải bạn hữu là của chung’ – và quả đúng như vậy, vì tình bạn cốt ở sự chia sẻ, và anh em cũng như đồng chí đều có mọi thứ là của chung” (Aristotle, Nicomachean Ethics 8.9.1-2).

3.6. Chữa Lành Người Ăn Xin Què
#

Đọc Công-vụ 3:1-4:31.

Việc Phi-e-rơ và Giăng lên đền thờ vào giờ cầu nguyện, giờ thứ chín (tức 3 giờ chiều), cho thấy họ sống đời sống đức tin Cơ Đốc của mình trong khuôn khổ Do Thái giáo. Phép lạ chữa lành họ thực hiện khiến người ta ca ngợi Đức Chúa Trời, và với lòng tin kính chân thật, Phi-e-rơ không nhận công lao về mình. Thay vào đó, ông mô tả Chúa Jesus là Đấng Thánh, Đấng Công Bình, và là Đấng Phục Sinh - Đấng đáng nhận mọi công lao. Một sự nhấn mạnh khác về tội lỗi của người Do Thái trong cái chết của Chúa Jesus được cân bằng bởi lòng khoan dung của Phi-e-rơ ("Tôi biết anh em đã làm điều đó vì lòng ngu dốt, cũng như các nhà lãnh đạo của anh em vậy") và kế hoạch của Đức Chúa Trời ("Bằng cách đó Đức Chúa Trời đã làm ứng nghiệm điều Ngài đã dùng miệng tất cả các đấng tiên tri báo trước"). Sự nhấn mạnh vào sự ăn năn khiến Cơ Đốc giáo trở thành một phong trào cải cách đạo đức. “Kỳ phục hồi muôn vật” làm cho Cơ Đốc giáo mang tính phổ quát, cũng như lời trích dẫn về lời hứa của Đức Chúa Trời rằng trong dòng dõi Áp-ra-ham mọi dân tộc trên đất sẽ được phước. Và thế là, bất chấp việc bị bắt bởi những người Sa-đu-sê, là những người không tin có sự sống lại nào cả, huống chi là sự sống lại của Chúa Jesus, số tín hữu vẫn gia tăng lên hàng ngàn, Đức Thánh Linh đầy dẫy Phi-e-rơ, và ông gọi phép lạ chữa lành đúng như bản chất của nó, là “một việc lành” mà thế giới chịu ảnh hưởng của văn hóa Hy Lạp ngưỡng mộ. Lời tuyên bố của Phi-e-rơ rằng chẳng có sự cứu rỗi trong ai khác ngoài Chúa Jesus vừa mang đến một Tin Lành cho tất cả mọi người, vừa loại trừ bất kỳ con đường cứu rỗi nào khác. Và lòng can đảm, sự dạn dĩ của Phi-e-rơ, Giăng và toàn thể cộng đồng Cơ Đốc cho thấy lòng tận hiến của họ đối với Đức Chúa Trời, lòng trung thành với lẽ thật, và năng lực từ Đức Thánh Linh.

3.7. Đời Sống Cộng Đồng
#

Đọc Công-vụ 4:32-5:11.

Một lần nữa, việc chia sẻ của cải lại xuất hiện trong sự mô tả của Lu-ca về cộng đồng lý tưởng này (so sánh Công-vụ 2:44-45); và cũng như việc Giu-đa Ích-ca-ri-ốt phản bội Chúa Jesus đã nhận lấy hình phạt công bằng và nhanh chóng trong 1:15-20, thì sự gian dối và lòng bác ái thiếu trọn vẹn của A-na-nia và Sa-phi-ra cũng tương phản với lòng bác ái rộng rãi của Ba-na-ba và đã nhận lấy hình phạt công bằng và nhanh chóng. Như vậy, lý tưởng được duy trì (so sánh với cái chết mang tính kỷ luật của Na-đáp và A-bi-hu trong lịch sử sơ khai của dân Y-sơ-ra-ên).

“Hai con trai A-rôn, Na-đáp và A-bi-hu, mỗi người đều cầm lư hương mình, để lửa vào, bỏ hương lên và dâng một thứ lửa lạ trước mặt Đức Giê-hô-va; ấy là điều Ngài không phán dặn họ. Một ngọn lửa từ trước mặt Đức Giê-hô-va lòe ra, nuốt tiêu họ và họ chết trước mặt Đức Giê-hô-va … Vậy, họ [Mi-sa-ên và Ên-sa-phan] đến gần khiêng thây còn mặc áo lá trong ra ngoài trại quân, y như lời Môi-se đã biểu.” (Lê-vi Ký 10:1-2, 5)

3.8. Thành Công và Chống Đối
#

Đọc Công-vụ 5:12-42.

Các dấu kỳ, phép lạ và số người tin đạo gia tăng. Những người tin đạo bao gồm cả phụ nữ lẫn nam giới. Sự hiệp nhất ngự trị. Hành lang Sa-lô-môn đặt các tín hữu tại trung tâm thờ phượng của Do Thái giáo, tức đền thờ. Sự ngưỡng mộ và kính sợ đối với họ vẫn tiếp tục.

Sự chống đối nảy sinh từ lòng ghen tị, chứ không phải từ bất kỳ lời phàn nàn chính đáng nào. Sự can thiệp của thiên sứ và sự ưu ái của dân chúng làm thất bại âm mưu của Tòa Công Luận; và ngay trong Tòa Công Luận, một tiếng nói lý trí đã thắng thế, đó là tiếng nói của thầy dạy luật được mọi người kính trọng - Ga-ma-li-ên.

3.9. Các Bà Góa
#

Đọc Công-vụ 6:1-8:1a.

Khi các tín hữu theo văn hóa Hy Lạp (Hellenistic believers) phàn nàn rằng các bà góa của họ đang bị bỏ quên trong việc phân phát khẩu phần thực phẩm, các tín hữu theo truyền thống Do Thái (Hebraistic believers) một cách ân cần đã chọn ra bảy tín hữu theo văn hóa Hy Lạp để giám sát việc phân phát này. Điều này được thể hiện qua tên của bảy người nam được chọn là những cái tên tiếng Hy Lạp, chứ không phải tên tiếng Hê-bơ-rơ hay A-ram. Có lẽ chức vụ chấp sự (“người phục vụ, người giúp đỡ”) sau này trong Hội Thánh, liên quan đến các công việc thường nhật của đời sống Hội Thánh và đặc biệt là việc phân phát của bố thí, đã phát triển từ sự kiện này.

3.10. Ê-tiên
#

Việc nhiều thầy tế lễ tin nhận Chúa càng thắt chặt mối quan hệ giữa Cơ Đốc giáo và Do Thái giáo. Ê-tiên, là một trong bảy chấp sự, không chỉ lo việc phục vụ bàn tiệc mà ông còn thực hiện nhiều dấu kỳ, phép lạ và rao giảng Tin Lành. Phải cần đến hành động của một đám đông hung hãn và những lời chứng dối mới có thể dẫn đến sự tử đạo của ông. Dù chính quyền La Mã gần như nắm toàn quyền định tội tử hình, nhưng việc ném đá Ê-tiên đã bắt đầu và diễn ra như một cuộc hành hình tự phát. Ngay cả Tòa Công Luận cũng biến thành một đám đông cuồng loạn; họ thậm chí không đưa ra một phán quyết chính thức.

Vẻ mặt sáng láng như thiên sứ của Ê-tiên, khải tượng của ông về vinh quang Đức Chúa Trời và về Chúa Jesus đang đứng bên hữu Đức Chúa Trời, cùng những lời cầu nguyện bày tỏ lòng tin cậy và sự tha thứ đã minh chứng cho sự vô tội của ông. Ngược lại, sự giận dữ, nghiến răng và hành động bốc đồng của Tòa Công Luận đã kết án chính việc họ ném đá ông. Sau-lơ, là người mà họ đã để áo choàng dưới chân để rảnh tay ném đá, sau này chính là sứ đồ Phao-lô mà chúng ta thường biết đến. (Tuy nhiên, hai cái tên này không đại diện cho hai giai đoạn vô tín và tin Chúa của cuộc đời ông; đơn giản Sau-lơ là tên tiếng Hê-bơ-rơ, còn Phao-lô là tên họ phổ biến và có âm thanh tương tự trong tiếng Hy Lạp-La Mã).

Bài giảng của Ê-tiên đã phơi bày sự giả dối của những lời cáo buộc cho rằng ông đã phạm thượng đến Môi-se, Đức Chúa Trời, luật pháp, và đền thờ. Ngược lại, chính những kẻ tố cáo ông mới là những người phạm thượng khi bước theo vết chân của tổ phụ mình — những người từng khước từ các sứ giả của Đức Chúa Trời, bao gồm cả Môi-se — qua việc họ đã giết Chúa Jesus. Còn về đền thờ, họ đã làm sai lệch tính chính đáng (tức sự đúng đắn và được thừa nhận trước mặt Đức Chúa Trời) của nó khi không nhận biết rằng Đức Chúa Trời ngự trong vũ trụ do chính tay Ngài tạo dựng, chứ không phải trong đền thờ do tay người lập nên, như một trong chính các tiên tri của họ đã nói (Ê-sai 66:1-2).

3.11. Sau-lơ, Phi-líp, và Thuật Sĩ Si-môn
#

Đọc Công-vụ 8:1b-40.

Việc Ê-tiên bị ném đá đã châm ngòi cho một cuộc bắt bớ tại Giê-ru-sa-lem, khi những người Do Thái không tin Chúa, dưới sự dẫn dắt của Sau lơ, đã tấn công những người Do Thái tin nhận Ngài. Kết quả là các tín hữu bị tan lạc khắp nơi, dẫn đến việc Tin Lành được rao truyền tại vùng Giu-đê và Sa-ma-ri, như đã thấy qua câu chuyện Phi-líp giảng đạo tại Sa-ma-ri và những nơi khác.

Việc làm phép Báp-têm cho người Sa-ma-ri, cả nam lẫn nữ, đã mở rộng tính bao hàm của Hội Thánh. Việc tin Chúa và nhận phép Báp-têm của những người Sa-ma-ri, vốn trước đây từng sùng bái thuật sĩ Si-môn vì những trò ma thuật của hắn, cho thấy quyền năng vượt trội của các dấu kỳ phép lạ mà Phi-líp thực hiện. Ngay cả sự tin nhận, phép Báp-têm, và sự kinh ngạc của chính Si-môn cũng minh chứng cho điều đó.

3.12. Người Sa-ma-ri Nhận Lãnh Đức Thánh Linh
#

Đức Thánh Linh không giáng trên các tín hữu Sa-ma-ri cho đến khi Phi-e-rơ và Giăng đến, cầu nguyện, và đặt tay trên họ như một dấu hiệu của sự hiệp nhất giữa các tín hữu Do Thái và Sa-ma-ri. Sự chậm trễ này giúp các sứ đồ đại diện cho những tín hữu Do Thái tận mắt chứng kiến rằng Đức Chúa Trời cũng chấp nhận các tín hữu Sa-ma-ri một cách bình đẳng, thể hiện qua việc họ nhận lãnh Đức Thánh Linh trước sự hiện diện của các sứ đồ.

Việc các sứ đồ kinh hãi từ chối bán cho Si-môn thẩm quyền ban phát Đức Thánh Linh cho thấy sự thanh sạch của họ đối với tiền bạc; và lời thỉnh cầu của Si-môn nhờ các sứ đồ cầu nguyện cho mình đã tôn cao vị thế của họ so với tay phù thủy này, và qua đó, tôn cao Tin Lành của họ hơn ma thuật của hắn. Ý định mua thẩm quyền ban phát Đức Thánh Linh của Si-môn đã khiến cái tên này trở thành gốc của các danh từ simony (tội buôn thần bán thánh) và simonism (chủ nghĩa buôn thần bán thánh) chỉ các tội buôn bán chức vụ trong Hội Thánh. Một số truyền thống Cơ Đốc thời kỳ đầu còn truy nguyên nguồn gốc của tà giáo Tri Huệ giáo (Gnosticism) là từ Si-môn này.

“Về tên Si-môn tại Sa-ma-ri này, là kẻ mà mọi hình thức tà giáo đều bắt nguồn từ đó… hắn tự xưng là mang lại sự cứu rỗi cho loài người bằng cách tự mặc khải chính mình cho họ. Bởi vì… hắn cho rằng mình đã giáng thế, biến hóa hình dạng và đồng hóa với các quyền lực, các thế lực, và các thiên sứ, để xuất hiện giữa loài người như một con người, dù thực chất hắn không phải là người; và vì thế, người ta lầm tưởng rằng hắn đã chịu khổ hình tại vùng Giu-đê, trong khi thực tế hắn không hề chịu khổ” (Irenaeus, Against Heresies 1.26.2-3, đọc thêm về Tri Huệ giáo)

3.13. Hoạn Quan Ê-thi-ô-bi
#

Câu chuyện về hoạn quan Ê-thi-ô-bi là sự báo trước cho các cuộc truyền giáo cho dân ngoại của Phao-lô (Công-vụ 13-28). Vị hoạn quan này vừa tham dự một lễ hội tôn giáo của người Do Thái tại Giê-ru-sa-lem trở về. Do đó, ông ít nhất cũng là một người kính sợ Đức Chúa Trời, hoặc có lẽ là một người ngoại bang đã chính thức cải đạo sang Do Thái giáo hoàn toàn. Theo Phục-truyền Luật-lệ Ký 23:1, những người hoạn bị hạn chế về đặc quyền tôn giáo trong Do Thái giáo, nhưng luật này có thể đã được nới lỏng (so sánh với Ê-sai 56:3-5); hoặc trong sách Công-vụ, “hoạn quan” có thể là một chức danh chính thức chứ không phải mô tả về tình trạng thể xác.

Việc những lữ khách đi một mình như Phi-líp gia nhập vào các đoàn xe như của vị hoạn quan này là điều phổ biến thời bấy giờ. Đọc lớn tiếng, như cách vị hoạn quan đang làm, cũng là phong tục thời cổ đại ngay cả khi tự học. Việc làm phép Báp-têm cho một người Ê-thi-ô-bi, lại còn là một quan chức cao cấp trong chính phủ hoàng gia, càng mở rộng hơn nữa tính bao hàm của Hội Thánh. Lu-ca đang kêu gọi sự quan tâm của độc giả có tư tưởng văn hóa Hy Lạp vốn có tầm nhìn rộng mở. Và việc Phi-líp giải thích Ê-sai 53:7-8 để chỉ về Chúa Jesus đã đặt gốc rễ Tin Lành trong truyền thống cổ xưa. Cơ Đốc giáo không phải là một tôn giáo “mới nổi” hay thiếu nền tảng.

3.14. Sự Cải Đạo của Sau-lơ, Kẻ Bách Hại
#

Đọc Công-vụ 9:1-31.

Lu-ca quay trở lại với câu chuyện Sau-lơ bắt bớ “Đạo” (đây là tên gọi đầu tiên được dùng cho Cơ Đốc giáo, dù chúng ta không rõ lý do tại sao: có phải để chỉ về con đường của Chúa được Giăng Báp-tít dọn sẵn theo lời tiên tri Ê-sai 40:3? Hay chỉ về con đường thập tự giá? Hay con đường công chính? Hay để chỉ về chính Chúa Jesus là con đường cứu rỗi duy nhất?). Thế nhưng, trên con đường đi Đa-mách thuộc xứ Sy-ri, Sau-lơ - kẻ bắt bớ Chúa Jesus - đã trở thành Sau-lơ - người rao giảng về Ngài.

Việc Sau-lơ bắt bớ Chúa Jesus thông qua việc bách hại các môn đồ Ngài hàm ý về một sự hiệp một giữa họ ở dưới đất với Ngài ở trên trời. Chủ đề này sau đó trở nên nổi bật trong thần học của Phao-lô, nơi cụm từ “trong Đấng Christ” và “với Đấng Christ” xuất hiện lặp đi lặp lại để chỉ về sự hiệp nhất này.

Theo Công-vụ 9:7, những người đi cùng Sau-lơ nghe thấy tiếng của Chúa Jesus; nhưng theo một tường thuật tương tự ở 22:9, thì họ không nghe thấy tiếng Ngài. Nhưng cấu trúc ngữ pháp tiếng Hy Lạp gốc khác nhau ở chỗ cho thấy rằng trong 9:7, các môn đồ nghe thấy tiếng Ngài như một âm thanh, còn trong 22:9, họ không nghe thấy đó như những lời có ý nghĩa.

Sự cải đạo của Sau-lơ đã khiến ông bắt đầu cầu nguyện, thấy khải tượng, được cộng đồng môn đồ của Chúa Jesus tiếp nhận như một anh em, nhận lãnh Đức Thánh Linh, công bố Chúa Jesus là Con Đức Chúa Trời và là Đấng Christ, đồng thời chính ông cũng phải chịu đựng sự bắt bớ giống như những gì ông từng gây ra trước đây.

Phụ lục: Sau-lơ – Phao-lô

Sau-lơ sinh ra là công dân La Mã tại Tạt-sơ, một thành phố thuộc vùng đông nam tỉnh Tiểu Á. Do đó, chắc hẳn ông phải có praenomen (tức tên riêng, để phân biệt các thành viên trong gia đình), và nomen gentile (tức tên dòng tộc, để phân biệt gia tộc này với gia tộc khác) cùng với cognomen là Phao-lô (tức họ, để phân biệt gia đình này với các gia đình khác trong gia tộc); tuy nhiên, hai cái tên đầu tiên đã không còn được lưu giữ. Chúng ta không biết cha ông đã có được quốc tịch La Mã bằng cách nào - dù là qua việc mua bằng tiền, phục vụ quốc gia, hay bằng phương cách nào khác. Nhưng quốc tịch La Mã đã mang lại cho Sau-lơ những đặc quyềnsự bảo vệ pháp lý rất hữu ích cho những nỗ lực sau này của ông với tư cách là một nhà truyền giáo Cơ Đốc.

Bản thân ông, cha ông, và ít nhất là cả ông nội ông đều là những người thuộc phái Pha-ri-si (hãy lưu ý cụm từ số nhiều “các tổ phụ” trong Công-vụ 26:5-6). Họ nỗ lực khước từ ảnh hưởng của văn hóa Hy Lạp nhiều nhất có thể và sống theo truyền thống Hê-bơ-rơ thuần túy (Phi-líp 3:5-6). Phần lớn thời thanh niên, Sau-lơ sống tại Giê-ru-sa-lem, nơi ông theo học dưới sự chỉ dạy của giáo sư (rabbi) nổi tiếng Ga-ma-li-ên (Công-vụ 22:3). Chúng ta không biết liệu Sau-lơ có từng gặp trực tiếp Chúa Jesus, hoặc liệu ông đã từng kết hôn chưa. Ông không đề cập đến vợ trong các lá thư của mình; nhưng vì đời sống độc thân rất hiếm thấy trong vòng người Do Thái, một số người phỏng đoán rằng ông có thể đã sống cảnh góa vợ.

3.15. Các Phép Lạ và Khải Tượng của Phi-e-rơ, và Sự Cứu Rỗi Của Dân Ngoại Trong Nhà Cọt-nây
#

Đọc Công-vụ 9:32-11:18.

Việc Phi-e-rơ chữa lành cho Ê-nê cách mầu nhiệm và khiến Ta-bi-tha (hay Đô-ca) sống lại -người mà những việc lành của bà là hình mẫu cho nếp sống của người tin Chúa - đã minh chứng cho sự hiện diện và quyền năng của Đức Chúa Trời. Điều này diễn ra ngay trong giai đoạn Phi-e-rơ rao giảng cho dân ngoại và tiếp nhận họ vào Hội Thánh - những hành động mà sau này các tín hữu Do Thái có tư tưởng hẹp hòi đã khiển trách ông. Việc ông lưu trú tại nhà một thợ thuộc da tên là Si-môn cho thấy ông đã phần nào từ bỏ một số định kiến khắt khe của Do Thái giáo, vì thợ thuộc da bị coi là không thanh sạch về mặt nghi lễ do thường xuyên tiếp xúc với xác động vật và cần phải tránh xa.

Phải cần đến một khải tượng lặp lại ba lần mới thuyết phục được Phi-e-rơ, là người đã ba lần chối Chúa, rằng việc tiếp xúc với dân ngoại là điều được phép. Ông thấy một vật như chiếc khăn lớn, có lẽ gợi hình ảnh của một tấm bạt che nắng nơi ông đang nghỉ trưa trên mái nhà. Chiếc khăn đó chứa đầy những loài vật không thanh sạch theo nghi lễ. Mệnh lệnh của Đức Chúa Trời bảo ông hãy “làm thịt và ăn” cho thấy những hạn chế về đồ ăn trong luật pháp Môi-se, và thực sự là mọi hạn chế theo nghi lễ khác, nay đã được dỡ bỏ.

Sau khi được thuyết phục, Phi-e-rơ lên đường thực hiện sứ mệnh rao giảng cho dân ngoại tại nhà Cọt-nây, là một thầy đội La Mã, một người kính sợ Đức Chúa Trời, hay bố thí cho người Do Thái, một người cầu nguyện không ngừng, và gần đây nhất là một người được thấy khải tượng. Việc một người như thế tin nhận Tin Lành, điều đó làm cho Tin Lành thêm đáng tin cậy.

Bài giảng của Phi-e-rơ cho những người trong nhà Cọt-nây được xem là một ví dụ điển hình về Kerygma (sứ điệp Tin Lành cốt lõi/ sứ điệp rao giảng). Phù hợp với thính giả dân ngoại, bài giảng liên tục vang lên âm hưởng về tính phổ quát: “trong mọi dân… Chúa của muôn người… hễ ai tin Ngài”. Bài giảng mô tả Chúa Jesus là Đấng làm việc lành thu hút những người ngoại bang có tư tưởng cao thượng như Cọt-nây, vốn cũng là một người hay làm việc lành. Việc nhắc đến sự kiện Chúa Jesus phục sinh đã ăn uống cùng các môn đồ đã làm sống lại hình ảnh về sự thông công tại bàn ăn vốn rất được lòng các độc giả mang tư tưởng Hy Lạp của Lu-ca.

Khác với những gì đã xảy ra tại Sa-ma-ri, lúc này đã có một sứ đồ hiện diện làm chứng nhân. Do đó, Đức Chúa Trời đã ban Thánh Linh của Ngài cho dân ngoại ngay lập tức khi họ bày tỏ đức tin, thậm chí trước khi Phi-e-rơ kết thúc bài giảng và trước khi phép Báp-têm hay việc đặt tay được thực hiện. Bằng cách này, Đức Chúa Trời đã chứng minh một cách mạnh mẽ rằng Ngài tiếp nhận các tín hữu dân ngoại vào Hội Thánh với vị thế bình đẳng với các tín hữu Do Thái và Sa-ma-ri.

Nhờ đó, Phi-e-rơ có thể dùng hành động tức thời này của Đức Chúa Trời để tự biện hộ trước các tín hữu Do Thái có tư tưởng cục bộ tại Giê-ru-sa-lem, là những người đã chỉ trích việc ông đến với dân ngoại. Phải mất rất nhiều thời gian sau đó các tín hữu này mới hiểu được những hệ quả sâu rộng rằng: luật pháp Môi-se đã được bãi bỏ hoàn toàn (dù nhiều quy tắc đạo đức trong đó đã được ban bố lại cho Cơ Đốc nhân), các nhà hội và đền thờ không còn là nơi thờ phượng bắt buộc nữa, và những người ngoại bang quy đạo không cần phải chịu phép cắt bì.

3.16. Sự Rao Giảng Tin Lành Cho Dân Ngoại Tại An-ti-ốt
#

Đọc Công-vụ 11:19-30.

Cùng với việc các môn đồ tiếp tục bị tan lạc khắp nơi cho đến tận thành An-ti-ốt thuộc xứ Sy-ri, là một nỗ lực hiệp nhất và đầy kết quả đã được thực hiện để rao truyền Tin Lành cho dân ngoại (tức “người Hy Lạp”). Như vậy, sự kiện dân ngoại quy đạo tại nhà Cọt-nây đã trở thành một chương trình truyền giáo quy mô lớn tại thành phố lớn thứ ba của Đế quốc La Mã. Thành phố này sắp sửa trở thành căn cứ cho công cuộc truyền giáo rộng khắp cho dân ngoại trên toàn đế quốc. Sự nhấn mạnh của Lu-ca về tính bao hàm ngày càng gia tăng, và ông cho thấy cách Sau-lơ được kết nối với Hội Thánh tại An-ti-ốt và Ba-na-ba như thế nào để trở thành bạn đồng hành (so sánh Công-vụ 9:27: “Nhưng Ba-na-ba đã tiếp lấy người [Sau-lơ/Phao-lô], dẫn đến cùng các sứ đồ”).

Đọc thêm: Người Hy Lạp (Greek) hay “Hellenists”?

Trong Công-vụ 11:20, một số bản văn cổ nhất ghi là “Hellenists” (tức những người Do Thái theo văn hóa Hy Lạp), thay vì “người Hy Lạp” (tức dân ngoại). Nhưng “Hellenists” (Hellenistic Jews) sẽ không tạo ra sự tương phản cần thiết với “người Do Thái” (Jews) trong văn cảnh này (so sánh 14:1; 16:1; 17:4-5; 18:4; 19:10, 17; 20:21; 21:27-28). Vì vậy, chữ “Hellenists” trong 11:20 có vẻ là do ảnh hưởng từ 6:1 và 9:29 lên người sao chép. Trong 6:1, “Hellenists” (Hellenistic Jews) tương phản với những người Do Thái theo văn hóa Do Thái (Hebraistic Jews), nhưng sự tương phản này không có trong 11:20, vì 11:19 dùng chữ “người Do Thái” (Jews) thay vì “người Hê-bơ-rơ” (Hebrews).

3.17. Danh Xưng “Cơ Đốc Nhân”
#

Sự quan tâm của Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem đối với đời sống thuộc linh của các tín hữu dân ngoại tại An-ti-ốt, cũng như sự quan tâm của Hội Thánh tại An-ti-ốt đối với đời sống kinh tế của các tín hữu Do Thái tại Giê-ru-sa-lem và xứ Giu-đê, đã minh họa cho lợi ích xã hội của Cơ Đốc giáo: đó là hàn gắn những sự chia rẽ.

Lời mô tả về Ba-na-ba là “người lành, đầy dẫy Đức Thánh Linh và đức tin” đã đưa ông lên như một tấm gương về các đức tính cá nhân đặc trưng của một Cơ Đốc nhân. Vì vậy, Lu-ca có thể đưa ra ghi chú lịch sử rằng các môn đồ được gọi là “Cơ Đốc nhân” đầu tiên tại An-ti-ốt mà không chút ngần ngại - ngược lại, ông còn viết với niềm tự hào - dù ban đầu danh xưng này có thể mang hàm ý nhạo báng (giống như biệt danh “những kẻ cuồng Jesus” ngày nay mà những kẻ chống đối dùng để nhạo báng).

3.18. Hê-rốt Ạc-ríp-ba I
#

Đọc Công-vụ 12:1-25.

Vua Hê-rốt xuất hiện trong phân đoạn này là Hê-rốt Ạc-ríp-ba I (Herod Agrippa I), cháu nội của Hê-rốt Đại đế. Với chiêu bài là người bảo vệ Do Thái giáo, vua đã cho giết Gia-cơ, là sứ đồ và anh của sứ đồ Giăng, đồng thời tống giam Phi-e-rơ. Lu-ca mô tả những hành động này là sự ngược đãi và nhằm lôi kéo sự ủng hộ về chính trị của nhà vua.

Sự phán xét của Đức Chúa Trời được thấy qua sự tương phản giữa việc thiên sứ của Chúa giải cứu Phi-e-rơ khỏi ngục tù và cũng chính thiên sứ đó đã đánh Hê-rốt bằng một căn bệnh chết người. Mô tả của Lu-ca về căn bệnh này khiến người ta liên tưởng đến bệnh ung thư đường ruột. Cái chết của vua Hê-rốt này xảy ra vào khoảng năm 44, do đó toàn bộ phần tường thuật này đại diện cho một bước lùi về niên đại so với chuyến đi để cứu trợ nạn đói (Công-vụ 11:27-30; khoảng năm 47).

Vì sứ đồ Gia-cơ đã tử đạo, nên nhân vật Gia-cơ mà Phi-e-rơ muốn báo tin cho (Công-vụ 12:17) chắc hẳn là Gia-cơ - em trai của Chúa Jesus.

“Khoác trên mình bộ lễ phục dệt hoàn toàn bằng bạc, khiến chất liệu của nó thật sự kỳ diệu, ông [Hê-rốt Ạc-ríp-ba I] bước vào nhà hát lúc rạng đông. Tại đó, lớp bạc được soi rọi bởi những tia nắng đầu tiên của mặt trời, tỏa sáng một cách kỳ diệu, và sự lấp lánh của nó gây ra sự sợ hãi cùng sự kính sợ cho những ai chăm chú nhìn vào. Ngay lập tức, những kẻ nịnh hót cất tiếng… tôn xưng ông như một vị thần… Nhà vua đã không quở trách họ, cũng không từ chối lời nịnh hót phạm thượng đó… Ngay tức khắc… ông cảm thấy một cơn đau nhói nơi tim. Ông cũng bị một cơn đau bụng dữ dội giày vò… Ông bị khuất phục bởi cơn đau ngày càng trầm trọng hơn… Sau năm ngày liên tiếp kiệt sức vì cơn đau ở bụng, ông đã lìa đời.” (Josephus, Jewish Antiquities 19.8.2 §§344-50).

3.19. Hành Trình Truyền Giáo Thứ Nhất của Sau-lơ
#

Đọc thêm: NHỮNG CHUYẾN HÀNH TRÌNH CỦA PHAO-LÔ

Đọc Công-vụ 13:1-14:28 và theo dõi hành trình của Sau-lơ trên bản đồ.

Bây giờ, Lu-ca bắt đầu thuật lại những nỗ lực truyền giáo rộng lớn hơn của Sau-lơ. Là một tác giả đầy kỹ năng, Lu-ca đã chuẩn bị tâm thế cho độc giả bằng cách mô tả sự lan rộng của Tin Lành qua (1) sự rao giảng của Ê-tiên cho những người Do Thái theo văn hóa Hy Lạp (Hellenistic Jews) tại Giê-ru-sa-lem; (2) sự tan lạc của các Cơ Đốc nhân do bị bắt bớ dẫn đến việc mở rộng sự làm chứng về Chúa; (3) việc Phi-líp rao giảng Tin Lành tại Sa-ma-ri và sự quy đạo của hoạn quan Ê-thi-ô-bi; (4) việc Sau-lơ giảng đạo tại Đa-mách và cho những người Do Thái theo văn hóa Hy Lạp ở Giê-ru-sa-lem; (5) việc Phi-e-rơ đi đến Ly-đa, Giốp-bê và Sê-sa-rê, là nơi ông đã giúp cả gia đình người ngoại bang tin nhận Chúa; và (6) sự phát triển của Cơ Đốc giáo đến An-ti-ốt thuộc xứ Sy-ri, là nơi có rất nhiều người ngoại bang đã trở thành Cơ Đốc nhân.

Hơn nữa, Ba-na-ba và Sau-lơ đã xuất hiện trong vai trò là cộng sự của nhau; Ba-na-ba đã giới thiệu Sau-lơ với Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem, cả hai đã cùng phục vụ tại Hội Thánh An-ti-ốt và cùng đi với nhau để mang tiền cứu trợ nạn đói từ đó đến cho Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem. Cuối cùng, sự thất bại của Hê-rốt Ạc-ríp-ba I trong việc ngăn chặn làn sóng Cơ Đốc giáo đang dâng cao đã trở thành một đòn bẩy tương phản cho những thành công trong công cuộc truyền giáo rộng khắp của Sau-lơ.

a. An-ti-ốt xứ Sy-ri và Đảo Chíp-rơ
#

Lu-ca cho thấy việc sai phái Ba-na-ba và Sau-lơ vừa đến từ Hội Thánh tại An-ti-ốt, vừa đến từ Đức Thánh Linh, là Đấng đã cảm thúc Hội Thánh sai họ đi. Việc đặt tay không phải là một nghi thức gia nhập hay phong chức vào mục vụ Cơ Đốc (vì Ba-na-ba và Sau-lơ đã rao giảng từ lâu), nhưng cho thấy Hội Thánh đang hiệp ý ủng hộ sứ mạng đặc biệt này của Ba-na-ba và Sau-lơ. Việc họ chọn đến đảo Chíp-rơ đầu tiên là điều tự nhiên, vì đó chính là quê hương của Ba-na-ba.

b. Ba-Giê-su và Sê-giút Phau-lút
#

Phao-lô đã chủ động đối phó khi một thuật sĩ người Do Thái tên là Ba-Giê-su, còn gọi là Ê-ly-ma, cố gắng ngăn cản quan trấn thủ La Mã Sê-giút Phau-lút tin nhận Chúa (chắc chắn vì tay thuật sĩ này nhận thấy nếu Sê-giút Phau-lút quy đạo thì ông sẽ không còn mua các dịch vụ ma thuật của hắn nữa). Việc mô tả Sê-giút Phau-lút là người “khôn ngoan” tương phản hoàn toàn với tên thuật sĩ “đầy dẫy mọi gian trá và hung ác” và là “kẻ thù của mọi điều công chính.” Sự tương phản này minh chứng cho các độc giả mang tư tưởng Hy Lạp của Lu-ca rằng: tin nhận Tin Lành là một hành động khôn ngoan, còn khước từ là sự ngu muội.

Từ thời điểm này trở đi, Lu-ca luôn nhắc đến tên Phao-lô trước Ba-na-ba. Những ngoại lệ duy nhất xuất hiện ở Công-vụ 14:12 và 15:2. Trong Công-vụ 14:12, việc nhắc tên Ba-na-ba trước Phao-lô phụ thuộc vào thứ bậc của các thần Hy Lạp là Dớt (Zeus) và Hẹt-mê (Hermes), là hai vị thần mà họ bị dân chúng nhận dạng nhầm. Công-vụ 15:12, trong bối cảnh tại Giê-ru-sa-lem, Lu-ca nhắc tên Ba-na-ba trước Phao-lô vì trong tâm trí các Cơ Đốc nhân tại đó, Ba-na-ba có thâm niên hơn Phao-lô.

Lu-ca lần đầu chuyển từ tên “Sau-lơ” sang “Phao-lô” ở Công-vụ 13:9 và giữ nguyên tên “Phao-lô” trong suốt phần còn lại của sách Công-vụ các Sứ-đồ. Sứ mạng truyền giáo cho dân ngoại khiến cái tên Hy Lạp-La Mã này trở nên phù hợp hơn so với tên tiếng Hê-bơ-rơ là “Sau-lơ.”

c. Bẹt-giê; Giăng Mác
#

Tại Bẹt-giê thuộc xứ Bam-phi-ly, Giăng Mác, là em họ của Ba-na-ba, và là người phụ tá cho cả Phao-lô và Ba-na-ba, sau này là tác giả của một sách Phúc Âm, đã quay trở về. Lu-ca không cho biết lý do tại sao, có nhiều giả thuyết đưa ra từ việc nhớ nhà cho đến sự sợ hãi. Dù lý do là gì, Phao-lô xem đó là điều không thể chấp nhận được, còn Ba-na-ba ít nhất cũng coi đó là lỗi có thể châm chước (Công-vụ 15:36-41).

Giờ đây, Phao-lô áp dụng một chiến lược kép:

  1. Rao giảng tại các thành phố, từ đó Tin Lành sẽ vang dội đến các làng mạc và vùng nông thôn lân cận.
  2. Luôn rao giảng trước hết tại các nhà hội Do Thái địa phương, nếu có.

Các lá thư của Phao-lô sau này sẽ bày tỏ mối quan tâm sâu sắc đối với đồng bào Do Thái của ông, và niềm tin chắc rằng với tư cách là dân tộc được chọn của Đức Chúa Trời, họ nên được nghe Tin Lành trước tiên. Hơn nữa, nhà hội mang đến một cơ hội giảng dạy sẵn có, vì theo tục lệ, vì các nhà hội thường mời những vị khách có khả năng như Phao-lô lên chia sẻ. Thêm vào đó, thính giả tại nhà hội bao gồm một số lượng lớn những người ngoại đã chính thức gia nhập Do Thái giáo và những người kính sợ Đức Chúa Trời, cùng với người Do Thái. Thực tế, Phao-lô thường gặt hái thành công lớn nhất giữa vòng những người ngoại bang này, vì sự quan tâm của họ đối với Do Thái giáo đã chuẩn bị tâm trí họ sẵn sàng đón nhận sứ điệp của ông. Kết quả là, những người Do Thái không tin bắt đầu coi Phao-lô như kẻ săn trộm, lôi kéo dân ngoại từ Do Thái giáo sang Cơ Đốc giáo bằng cách đưa ra cho họ sự cứu rỗi với những điều kiện dễ dàng hơn là việc tuân giữ luật pháp Môi-se.

d. An-ti-ốt xứ Bi-si-đi
#

Thành An-ti-ốt này nhỏ hơn và ít quan trọng hơn thành An-ti-ốt tại Sy-ri, nó nằm gần xứ Bi-si-đi nhưng không hoàn toàn thuộc về xứ đó; vì vậy nên gọi là An-ti-ốt của Bi-si-đi chứ không phải An-ti-ốt trong Bi-si-đi.

Bài giảng của Phao-lô trong nhà hội tại An-ti-ốt xứ Bi-si-đi đã điểm lại lịch sử của dân Y-sơ-ra-ên để công bố rằng lời hứa về Đấng Mê-si đã được ứng nghiệm trong Chúa Jesus Christ. Bài giảng cũng nhấn mạnh đến sự xưng công chính khỏi tội lỗi - điều mà luật pháp Môi-se không thể ban cho - một sự xưng công chính dành cho bất cứ ai tin nhận Chúa Jesus. Đây sẽ trở thành một chủ đề quen thuộc trong các lá thư của Phao-lô.

Ông cũng nhấn mạnh đến sự vô tội của Chúa Jesus và lời chứng của những người tận mắt chứng kiến sự hiện ra của Ngài sau khi Ngài phục sinh. Khi người Do Thái đến nhà hội vào ngày Sa-bát kế tiếp, họ thấy đám đông dân ngoại đã ngồi đầy các ghế và háo hức chờ đợi một bài giảng khác từ Phao-lô. Vì lòng ghen tị, người Do Thái đã xúi giục sự bắt bớ; Phao-lô và Ba-na-ba phải rời đi sau một thời gian ngắn phục vụ giữa vòng dân ngoại. Từ đó, một khuôn mẫu phát triển:

  • Rao giảng trong nhà hội
  • Thành công đặc biệt giữa những người ngoại đã chính thức gia nhập Do Thái giáo và những người ngoại kính sợ Đức Chúa Trời
  • Sự thù nghịch của người Do Thái
  • Rút lui khỏi nhà hội
  • Tiếp tục phục vụ thành công giữa vòng dân ngoại
  • Bị bắt bớ
  • Lánh sang nơi khác

“Dầu vậy, đã biết rằng người ta được xưng công bình, chẳng phải bởi các việc luật pháp đâu, bèn là cậy đức tin trong Đức Chúa Jêsus Christ” (Ga-la-ti 2:16)

Lu-ca làm nổi bật tính phổ quát của Tin Lành bằng cách đặc biệt chú ý đến số lượng lớn dân ngoại quy đạo, việc Phao-lô và Ba-na-ba chuyển hướng từ những người Do Thái không tin sang dân ngoại, và niềm vui mừng của dân ngoại vì một cánh cửa đức tin đã mở ra cho họ.

Đọc thêm: CÁC VÍ DỤ VỀ SỰ QUAN TÂM CỦA PHAO-LÔ ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DO THÁI CỦA ÔNG

  • “Vì tôi không hổ thẹn về Tin Lành, vì đó là quyền năng của Đức Chúa Trời để cứu mọi người tin, trước là người Do Thái, sau là người Hy Lạp” (Rô-ma 1:16).

  • “Tôi có nỗi buồn lớn và lòng đau đớn không ngừng. Bởi tôi ước gì chính tôi có thể bị nguyền rủa và bị chính Đấng Christ phân rẽ vì anh em tôi, là bà con tôi theo phần xác, … tức là người Y-sơ-ra-ên” (Rô-ma 9:2-4).

e. Một Vấn Đề Pháp Lý
#

Lu-ca quy trách nhiệm cho việc bắt bớ là do lòng ghen tị của những người Do Thái không tin. Ngay cả khi có một số người ngoại cùng tham gia vào cuộc bắt bớ, thì chính những người Do Thái ghen tị đã xúi giục họ làm như vậy.

Sự bắt bớ lúc này vẫn chưa đến từ chính quyền La Mã, vì chính sách của họ là ban quyền tự do cho các tôn giáo truyền thống, nhưng cấm các tôn giáo mới vì lo ngại gây rối loạn xã hội và dẫn đến những khó khăn trong việc cai trị. Chỉ về sau này, khi người La Mã bắt đầu xem Cơ Đốc giáo là một tôn giáo tách biệt với Do Thái giáo và gây xáo trộn xã hội, họ mới bắt đầu bắt bớ các Cơ Đốc nhân.

Trong khi đó, Lu-ca nhấn mạnh mối liên hệ giữa Cơ Đốc giáo và Do Thái giáo, khắc họa các Cơ Đốc nhân là những nạn nhân, chứ không phải thủ phạm, đồng thời khơi dậy lòng ngưỡng mộ đối với sự can trường của Phao-lô và Ba-na-ba khi họ kiên trì rao truyền Tin Lành cho dân ngoại, bất chấp việc những người Do Thái thù nghịch bách hại họ gần đến mức chết.

f. Lít-trơ
#

Có một truyền thuyết kể rằng trong vùng này, một cặp vợ chồng già tên là Baucis và Philemon (không có liên hệ gì với ông Phi-lê-môn xuất hiện sau này trong Tân Ước) đã vô tình bày tỏ lòng hiếu khách đối với thần Dớt (Zeus) và thần Hẹt-mê (Hermes) khi các thần này cải trang đi vi hành. Truyền thuyết này có lẽ đã dẫn đến việc dân thành Lít-trơ lầm tưởng Ba-na-ba và Phao-lô chính là hai vị thần đó. Hành động từ chối sự thờ lạy đã cho thấy lòng tin kính chân thật của Phao-lô và Ba-na-ba.

Trên chuyến hành trình trở về từ Đẹt-bơ đi qua Lít-trơ, Y-cô-ni và An-ti-ốt xứ Bi-si-đi, họ tránh rao giảng công khai (vì họ vừa mới bị đuổi ra khỏi những thành phố đó); thay vào đó, họ tập trung vào việc làm vững lòng các tín hữu, cũng như tổ chức các Hội Thánh bằng cách bổ nhiệm các trưởng lão để quản trị. Bằng cách này, và cũng là một mối liên hệ khác mà Lu-ca thiết lập giữa Cơ Đốc giáo và Do Thái giáo, các Hội Thánh trông giống như các nhà hội, vì mỗi nhà hội đều có một hội đồng trưởng lão phụ trách. Tuy nhiên, Phao-lô và Ba-na-ba đã rao giảng công khai trên đường trở về khi đi ngang qua Bẹt-giê; vì trong lần trước khi đến thành phố này, họ đã đi qua nó rất nhanh chóng.

“Tại vùng đồi núi Phrygia …. Thần Jupiter đã đến đây trong hình hài của một người phàm, và đi cùng với cha mình là cháu trai của Atlas cũng đến … Họ đã đến gõ cửa hàng ngàn ngôi nhà để tìm nơi nghỉ chân. Hàng ngàn cánh cửa đã đóng lại trước mặt họ. Duy chỉ có một ngôi nhà tiếp đón họ, một căn nhà thật khiêm tốn, lợp bằng rơm và lau sậy từ đầm lầy. Đôi vợ chồng già Baucis và Philemon hiếu khách, bằng tuổi nhau, đang sống trong túp lều đó …. Và thế là khi các vị thần đến ngôi nhà nhỏ bé của cụ và cúi xuống bước qua cánh cửa thấp, ông lão đặt một cái ghế dài mời họ ngồi nghỉ chân [tiếp theo là câu chuyện về lòng hiếu khách hơn nữa và một kết thúc bất ngờ]” (Ovid, Metamorphoses 8.620-724).

3.20. Cuộc Tranh Luận về Vấn Đề Do Thái Hóa (Judaizing Controversy)
#

Đọc Công-vụ 15:1-35.

Báo cáo của Phao-lô và Ba-na-ba cho Hội Thánh nhà tại An-ti-ốt xứ Sy-ri nhấn mạnh đến sự thành công trong việc rao giảng Tin Lành cho dân ngoại; chính điều này đã dẫn đến một cuộc tranh luận về địa vị của các tín hữu dân ngoại. Một số tín hữu Do Thái từ xứ Giu-đê đến An-ti-ốt và dạy rằng các tín hữu dân ngoại phải chịu phép cắt bì theo luật pháp Môi-se, bằng không họ không thể được cứu rỗi. Nói cách khác, những người này muốn các tín hữu dân ngoại phải gia nhập Hội Thánh theo cùng những điều kiện khắt khe như khi những người ngoại gia nhập Do Thái giáo. Những tín hữu Do Thái và những người ngoại theo họ giữ lấy giáo huấn này, được gọi là nhóm Do Thái hóa (Judaizers). Sự bất đồng giữa Phao-lô, Ba-na-ba với nhóm Do Thái hóa đã khiến Hội Thánh tại An-ti-ốt phải trình vấn đề này lên Hội Thánh mẹ tại Giê-ru-sa-lem.

Về mặt lịch sử, hệ quả của vấn đề này cực kỳ hệ trọng: Nếu thiết lập quy định về phép cắt bì, thì dân ngoại - vốn xem nghi thức này là làm tổn hại đến vẻ đẹp lý tưởng của thân thể con người theo quan niệm Hy Lạp, đặc biệt là nam giới - sẽ cải đạo sang Cơ Đốc giáo ngày càng ít đi, đến nỗi nó trở thành một giáo phái nhỏ của Do Thái; hoặc dân ngoại sẽ tự phát triển một hình thức Cơ Đốc giáo riêng, tách biệt khỏi nguồn gốc Do Thái, từ đó không còn khả năng kháng cự trước các ảnh hưởng của ngoại giáo và dần suy đồi theo lối đó.

Về mặt thần học, vấn đề này cũng có tầm quan trọng gần như là tối thượng: Nếu thiết lập quy định về phép cắt bì, thì toàn bộ luật pháp Môi-se sẽ trở thành một phương cách để con người tự thiết lập sự công chính cho riêng mình, thay vì hoàn toàn tin cậy nơi một mình Chúa Jesus để nhận lãnh sự công chính của Đức Chúa Trời.

3.21. Hội Nghị Giê-ru-sa-lem
#

Lu-ca phác họa một bức tranh về sự hòa giải Cơ Đốc - một gia đình gồm các anh chị em cùng đức tin đang cùng nhau tháo gỡ những bất đồng vì lợi ích của các tín hữu dân ngoại. Báo cáo của Phao-lô và Ba-na-ba về việc dân ngoại quy đạo đã “đem lại niềm vui lớn cho hết thảy anh chị em” tại Phê-ni-xi và Sa-ma-ri. Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem, bao gồm các sứ đồ và các trưởng lão, đã “tiếp đón” Phao-lô và Ba-na-ba.

Chính Phi-e-rơ, một nhân vật không kém phần quan trọng, đã lưu ý rằng Đức Chúa Trời không hề đối đãi các tín hữu dân ngoại chưa chịu cắt bì khác biệt với những người Do Thái tin Chúa đã chịu cắt bì. Ông thậm chí còn khẳng định rằng người Do Thái cũng được cứu bởi ân điển qua đức tin, chứ không phải bởi ách nặng nề của luật pháp Môi-se.

Toàn thể đám đông các tín hữu Do Thái đều giữ thinh lặng trong sự tôn trọng để lắng nghe Ba-na-ba và Phao-lô thuật lại công việc của Đức Chúa Trời giữa vòng dân ngoại. Gia-cơ, là em trai của Chúa Jesus, đã ủng hộ quyền tự do khỏi luật pháp của các tín hữu dân ngoại bằng cách trích dẫn A-mốt 9:11-12 và Ê-sai 45:21. Sắc lệnh của Hội nghị Giê-ru-sa-lem căn dặn các Cơ Đốc nhân dân ngoại rằng, để tránh tạo ra rào cản trong việc thông công với các tín hữu Do Thái, họ nên:

  • Không ăn thịt đã cúng tế thần tượng trước khi đem bán.
  • Không kết hôn với người thân cận huyết thống (điều mà dân ngoại thường làm nhưng người Do Thái thì không, so sánh Lê-vi ký 18:6-18; I Cô-rinh-tô 5:1 về ý nghĩa loạn luân của từ “tà dâm”).
  • Không ăn thịt thú vật bị siết cổ đến chết.
  • Không ăn thịt còn chứa máu động vật.

Tuy nhiên, những hạn chế này không nhằm gây gánh nặng cho các tín hữu dân ngoại, mà chúng yêu cầu sự cân nhắc lẫn nhau từ phía các tín hữu dân ngoại. Lu-ca đã cố gắng nhấn mạnh rằng các sứ đồ, các trưởng lão và toàn thể Hội Thánh đã nhất trí ban hành một sắc lệnh thuận lợi cho các tín hữu dân ngoại, kèm theo lời khen ngợi dành cho Ba-na-ba và Phao-lô. Sắc lệnh này còn được củng cố bằng lời chứng trực tiếp của hai người trong vòng họ là Giu-đa (còn gọi là Ba-sa-ba) và Si-la, để không ai có thể nghĩ rằng Phao-lô và Ba-na-ba đã giả mạo sắc lệnh vì lợi ích riêng, đồng thời khẳng định đây là ý muốn của Đức Thánh Linh. Niềm vui và sự khích lệ lan tỏa khắp nơi. Cộng đồng lý tưởng vẫn được giữ vững.

“Nhưng Phao-lô nói với họ: … ‘chúng tôi là công dân La Mã ….’ Khi họ nghe rằng họ [Phao-lô và Si-la] là công dân La Mã …” (Công-vụ 16:37-38).

3.22. Hành Trình Truyền Giáo Thứ Hai của Phao-lô
#

Đọc Công-vụ 15:36-18:22 và theo dõi hành trình của Phao-lô trên bản đồ.

a. Ti-mô-thê
#

Sau một thời gian, hành trình truyền giáo thứ hai của Phao-lô bắt đầu. Đáng tiếc thay, một cuộc tranh luận về Giăng Mác đã làm rạn nứt mối quan hệ cộng sự giữa Phao-lô và Ba-na-ba. Tuy nhiên, Lu-ca đã khéo léo trình bày sự việc theo hướng tốt nhất bằng cách ghi lại sự xác đáng trong lập trường của Phao-lô (vì Mác đã từng bỏ rơi Phao-lô và Ba-na-ba trước đó), việc Si-la thay thế Ba-na-ba (người sau này được biết đến cũng là công dân La Mã giống Phao-lô), việc Hội Thánh tại An-ti-ốt xứ Sy-ri giao phó Phao-lô cho ân điển của Chúa, và việc Ti-mô-thê thay thế Mác khi họ đến thành Lít-trơ.

Những lời chứng tốt về Ti-mô-thê tương phản với sự bỏ cuộc trước đây của Mác (tuy nhiên, hãy xem Cô-lô-se 4:10; 2 Ti-mô-thê 4:11; Phi-lê-môn 24 để thấy sự phục hồi trong mối thông công giữa Mác với Phao-lô và những lời nhận xét tốt đẹp của chính Phao-lô dành cho ông). Việc Phao-lô làm phép cắt bì cho Ti-mô-thê cho thấy mong muốn của ông là tránh gây vấp phạm cho những người Do Thái địa phương. Sau khi đã giành được sự tự do khỏi luật pháp cho các tín hữu dân ngoại, ông đã hợp thức hóa địa vị tôn giáo của Ti-mô-thê, là người sinh ra có nửa dòng máu Do Thái và nửa Hy Lạp, trở thành một người Do Thái, nhằm giúp Ti-mô-thê không bị coi là một người Do Thái bội đạo và nhờ đó không bị loại ra khỏi các nhà hội.

b. Người Ma-xê-đoan và Thành Phi-líp
#

“A-si” (Asia) ở đây chỉ về một tỉnh của La Mã nằm ở phía tây vùng Tiểu Á, chứ không phải toàn bộ bán đảo Tiểu Á, càng không phải lục địa Châu Á. Một số người cho rằng người Ma-xê-đoan trong khải tượng của Phao-lô chính là Lu-ca. Trái với nhận định này, Lu-ca dùng “chúng tôi” khi thuật lại việc rời khỏi Trô-ách để đi đến Ma-xê-đoan; trong khi đó, người Ma-xê-đoan lại đứng từ bên kia eo biển Dardanelles mà kêu rằng: “Hãy qua đây …”.

Phi-líp là thành phố thuộc khu vực hành chính đầu tiên trong số bốn khu vực của Ma-xê-đoan. Antony và Octavian (sau này được biết đến với cái tên Augustus) đã cho một số lượng lớn cựu binh La Mã định cư tại Phi-líp và biến nơi đây thành một thuộc địa của La Mã sau chiến thắng của họ vào năm 42 trước Công nguyên trước Brutus và Cassius, là những kẻ đã ám sát Julius Caesar. Octavian còn đưa thêm nhiều người đến định cư tại đây sau khi đánh bại Antony và Cleopatra tại Actium (năm 31 TCN). Những người Do Thái trong thành phố thường cầu nguyện bên bờ sông gần đó, dường như là vì số lượng của họ không đủ mức tối thiểu để thành lập một nhà hội. Trong phần tường thuật này, chỉ có những phụ nữ được nhắc đến.

c. Ly-đi và Viên Cai Tù ở Thành Phi-líp
#

Sự hiếu khách của bà Ly-đi sau khi nhận Báp-têm đã góp phần vào lý tưởng về một cộng đồng mà Lu-ca hằng nhấn mạnh. Một mặt, việc một quỷ Phi-tôn (linh bói khoa) kêu la đã mang lại một lời chứng siêu nhiên về Phao-lô, các bạn đồng hành, và sứ điệp của họ. Mặt khác, sự kiên nhẫn của Phao-lô khi chịu đựng sự quấy nhiễu này ngày qua ngày đã phơi bày sự bất công của việc bắt giữ, lột áo, đánh đòn và giam cầm ông cùng Si-la sau khi Phao-lô đuổi quỷ đó ra.

Tương tự, hành động của những kẻ tố cáo cũng phơi bày sự bất công khi họ hành động vì động cơ tiền bạc, lợi dụng tâm lý thù ghét người Do Thái và vu cáo rằng Phao-lô cùng Si-la đang cổ súy những tập tục chống lại La Mã; trong khi thực tế, Phao-lô và Si-la là những công dân La Mã đang bị tước đoạt quyền lợi hợp pháp. Việc Phao-lô và Si-la khước từ cơ hội trốn thoát đã chứng tỏ họ là những công dân tốt, cũng như việc họ dùng lời cầu nguyện và thánh ca để gây ảnh hưởng khiến các tù nhân khác không bỏ trốn.

Sự tử tế và lòng hiếu khách của người cai tù vừa mới tin Chúa và nhận Báp-têm - người đã suýt tự sát vì biết mình sẽ phải chịu án tử nếu để tù nhân đào thoát - đã làm sống lại lý tưởng cộng đồng. Việc cả nhà ông cùng nhận Báp-têm cũng minh chứng cho điều đó. Cuối cùng, lời khẩn cầu đầy sợ hãi của các quan tòa thành phố đã minh oan cho Phao-lô và Si-la.

Vì phân đoạn “chúng ta” kết thúc sau tường thuật tại Phi-líp và chỉ xuất hiện lại khi Phao-lô quay về thành phố này sau đó, nên có lẽ Lu-ca đã ở lại Phi-líp trong vai trò là mục sư và nhà truyền giáo.

d. Tê-sa-lô-ni-ca, Bê-rê và A-thên
#

Sự ghen tị của những người Do Thái không tin Chúa tại Tê-sa-lô-ni-ca, việc họ lôi kéo bọn du côn ngoài chợ, lập nên một đám đông hung hãn và tấn công nhà của Gia-sôn (người tiếp đón Phao-lô trong nhà mình), tất cả đã phơi bày sự gian trá trong lời cáo buộc rằng Phao-lô và Si-la dạy sự phản loạn chống lại Sê-sa (Caesar). Ngược lại, sức hấp dẫn của Tin Lành đối với những người có tư tưởng cao thượng được thể hiện qua số lượng lớn những người kính sợ Đức Chúa Trời tại Tê-sa-lô-ni-ca đã tin nhận Chúa, vị trí lãnh đạo của không ít phụ nữ đã tin Chúa tại đây, sự cao quý và sốt sắng của người Do Thái tại Bê-rê khi tra cứu Cựu Ước để xác chứng sứ điệp của Phao-lô và Si-la, cũng như số lượng lớn người ngoại bang tại Bê-rê có địa vị xã hội cao đã quy đạo.

Điều tương tự cũng được thấy tại thành A-thên qua sự quy đạo của Đề-ni (Dionysius) - một thành viên hội đồng A-rê-ô-ba (tức hội đồng thành phố), và một phụ nữ có địa vị tên là Đa-ma-ri (Damaris).

Việc ghi lại sự công kích của Phao-lô đối với sự thờ lạy thần tượng tại A-thên thu hút những người ngoại bang trong số các độc giả của Lu-ca, là những người đã thấu suốt sự hư không của thần tượng. Những người A-thên nghe Phao-lô giảng thì lầm tưởng ông đang dạy về Chúa Jesus và “sự sống lại” như hai vị thần xa lạ. Họ có thể đã nhầm lẫn từ “Jesus” với một từ Hy Lạp có âm đọc tương tự nghĩa là “chữa lành”, và do đó hiểu sai rằng Phao-lô đang nhắc đến các vị thần liên quan đến sự chữa lành và phục sinh.

e. Đồi A-rê-ô-ba (Đồi Mars)
#

Phao-lô hoặc phải trình bày sự dạy dỗ của mình tại đồi A-rê-ô-ba (đồi Mars) trước Areopagus (tức hội đồng thành phố, nơi cấp phép cho các giáo sư), hoặc ông rao giảng cho một nhóm thính giả chung đã rút lui lên đồi A-rê-ô-ba để tránh sự ồn ào của phố chợ.

Cách ông khắc họa Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa và Đấng Bảo Tồn vạn vật, là đối tượng mà nhân loại đang tìm kiếm, và việc cả nhân loại đều có cùng một nguồn gốc từ Ngài, đã đánh trúng vào tư tưởng phổ quát của nền văn hóa Hy Lạp có trong độc giả của Lu-ca lẫn thính giả của Phao-lô. Để nhấn mạnh điều này, Phao-lô đã trích dẫn hai nhà thơ Hy Lạp là Epimenides và Aratus, là những người được ông gọi là “một vài thi nhân của quý vị”.

Dù bị phần lớn người dân A-thên nhạo báng, cả Phao-lô và Lu-ca đều không nhượng bộ về điểm mấu chốt của sứ điệp: sự sống lại của thân thể Chúa Jesus. Niềm hy vọng lớn nhất của người Hy Lạp nằm ở sự bất tử của linh hồn, nhưng hầu hết họ vẫn hoài nghi ngay cả về điều đó. Chúng ta có thể nghi ngờ liệu họ có muốn tin vào sự sống lại của thể xác hay không, bởi vì đối với họ, thể xác là gánh nặng cho linh hồn. Tuy nhiên, Phao-lô và Lu-ca đại diện cho quan điểm nhân học theo Kinh Thánh, theo đó Đức Chúa Trời đã tạo nên thể xác cũng như linh hồn, vì vậy chúng thuộc về nhau, từ đó dẫn đến sự thánh khiết của thể xác và sự sống lại của nó.

Đọc thêm: VỀ THẦN ZEUS

“Mọi con đường và tất cả các chợ của nhân loại đều đầy dẫy thần Zeus. Biển cả và bến cảng cũng đầy dẫy ngài, và ở đâu chúng ta cũng đều cần đến Zeus. Vì chúng ta cũng là dòng dõi của ngài” (Aratus ở xứ Soli tại Cilicia, Phaenomena 2-5).

So sánh với Cleanthes, Mảnh 537, “Thánh ca dâng Zeus”:

“Sự khởi đầu của thế giới là từ ngài, và ngài dùng luật pháp trị vì muôn vật. Mọi xác thịt đều có thể thưa chuyện với ngài, vì chúng tôi là dòng dõi của ngài. Vì vậy, tôi sẽ dâng bài thánh ca lên ngài và ca tụng quyền năng của ngài.” (Văn bản của Epimenides đã không còn tồn tại ngoại trừ phần trích dẫn của Phao-lô về nó)

Đọc thêm: QUAN ĐIỂM CỦA NGƯỜI HY LẠP VỀ THÂN THỂ

“Vì thân thể khiến chúng ta không ngừng bận rộn bởi nhu cầu duy trì sự sống; và hơn nữa, nếu bệnh tật ập đến, chúng sẽ cản trở việc chúng ta tìm kiếm chân lý. Thân thể lấp đầy chúng ta bằng những đam mê, ham muốn, nỗi sợ hãi, cùng đủ loại ảo tưởng và sự ngu muội … Thân thể không ngừng phá rối việc học hỏi của chúng ta … đến mức nó ngăn cản chúng ta nhìn thấy chân lý; và thực tế chúng ta nhận thấy rằng, nếu muốn hiểu biết bất cứ điều gì một cách tuyệt đối, chúng ta phải được tự do khỏi thân thể … Khi chúng ta qua đời, chúng ta mới có khả năng sở hữu sự khôn ngoan mà mình hằng mong ước và khao khát, chứ không phải khi chúng ta còn sống … Vì khi đó linh hồn sẽ đứng độc lập, tách rời khỏi thân thể” (Socrates theo ghi chép của Plato, Phaedo 66).

f. Cô-rinh-tô, A-qui-la và Bê-rê-sin, Ga-li-ôn
#

Trước đây, thành Cô-rinh-tô nổi tiếng về sự đồi trụy: “sống như một người Cô-rinh-tô” đồng nghĩa với việc ăn ở bất khiết, và “cô gái Cô-rinh-tô” có nghĩa giống như “gái điếm”. Khi mới đến Cô-rinh-tô, dường như bị thiếu hụt tài chính, Phao-lô đã cùng may trại với những người Do Thái cùng đức tin là A-qui-la và vợ ông là Bê-rê-sin (Priscilla). Vì Lu-ca không kể về sự quy đạo của họ, có thể họ đã là Cơ Đốc nhân từ trước.

Vào khoảng năm 49 hoặc 50, hoàng đế Claudius đã trục xuất họ và những người Do Thái khác khỏi Rô-ma, vì những cuộc bạo động trong khu phố Do Thái liên quan đến “Chrestus”, có lẽ là những xung đột nội bộ của người Do Thái về việc rao giảng “Christus” (tiếng La-tinh của từ “Đấng Christ”) nhưng bị viết sai thành “Chrestus” (một cái tên phổ biến của nô lệ vì nó bắt nguồn từ chữ Hy Lạp chrēstos nghĩa là “hữu dụng”). (Sử gia Suetonius dường như nghĩ rằng chính Chrestus đã xúi giục bạo động, nhưng vì viết sau đó 70 năm, ông có lẽ đã nhầm lẫn việc rao giảng về Đấng Christ với việc rao giảng hoặc kích động quần chúng bởi Đấng Christ).

“Vì người Do Thái không ngừng gây rối dưới sự xúi giục của Chrestus, ông [Claudius] đã trục xuất họ khỏi La Mã” (Suetonius, Lives of the Caesars, phần “Claudius” 25.4).

Sự nhấn mạnh của Lu-ca tập trung vào:

  • Sự nghiêm túc trong nỗ lực của Phao-lô nhằm giúp người Do Thái tại Cô-rinh-tô quy đạo.
  • Sự phạm thượng của những người từ chối tin nhận Chúa.
  • Việc Phao-lô chuyển hướng sang rao giảng dân ngoại.
  • Sự quy đạo của người trưởng nhà hội, tên là Cơ-rít-bu (Crispus), cùng cả nhà ông, dẫn đến rất nhiều người khác cũng tin Chúa.
  • Thời gian lưu trú dài ngày của Phao-lô tại đây.
  • Việc quan trấn thủ La Mã (Roman proconsul), tên là Ga-li-ôn (Gallio), bác bỏ những lời cáo buộc chống lại Phao-lô với lý do đây là những tranh chấp nội bộ của người Do Thái chứ không phải tội ác chống lại luật pháp La Mã.
  • Thái độ của Ga-li-ôn thờ ơ với những cáo buộc của người Do Thái đến nỗi ông không ngăn chặn việc một người trưởng nhà hội mới, tên là Sốt-then (Sosthenes) bị đánh đòn ngay trước tòa án (một cái bục ngoài trời hiện vẫn còn dấu tích tại Cô-rinh-tô).

Ngoài những người Do Thái cáo buộc Phao-lô, liệu có ai khác đã lợi dụng thái độ khinh miệt của Ga-li-ôn đối với người Do Thái để đánh đập Sốt-then không? Hay vì lý do nào đó mà chính những kẻ tố cáo ấy lại đánh đập chủ nhà hội của mình? Lu-ca không để lại manh mối nào. Vì vậy, chúng ta thấy có một sự tương phản giữa việc lãnh đạo phe đối lập chống Phao-lô bị đánh đòn và sự ứng nghiệm lời hứa của Đức Chúa Trời về việc bảo vệ Phao-lô tại Cô-rinh-tô. Theo I Cô-rinh-tô 1:1, Sốt-then đã trở thành người chủ nhà hội thứ hai liên tiếp cải đạo sang Cơ Đốc giáo.

Một bản văn khắc bằng tiếng La-tinh tìm thấy tại Delphi, Hy Lạp, cho biết nhiệm kỳ làm quan trấn thủ của Ga-li-ôn kéo dài từ khoảng năm 51 đến năm 53. Tầm quan trọng trong quyết định cho phép rao giảng Tin Lành của Ga-li-ôn nằm ở phạm vi quyền hạn rộng lớn (bao trùm toàn bộ tỉnh A-chai [Achaia], tức Hy Lạp) và việc nó tạo ra một tiền lệ để các tỉnh khác trong Đế quốc La Mã noi theo.

Việc Phao-lô cạo đầu tại Sen-cơ-rê (Cenchrea), là một thị trấn cảng phục vụ thành Cô-rinh-tô, làm nổi bật sự tin kính của ông, vì hành động này đánh dấu việc hoàn tất một lời khấn nguyện tôn giáo (tuy nhiên trong trường hợp này không phải là lời khấn nguyện Na-xi-rê, vì lời khấn nguyện đó không thể thực hiện hay hoàn tất bên ngoài đất Y-sơ-ra-ên; so sánh Dân-số ký 6:1-21).

3.23. Hành Trình Truyền Giáo Thứ Ba của Phao-lô
#

Đọc Công-vụ 18:23-19:41 và theo dõi hành trình của Phao-lô trong bản đồ bên dưới.

Hành trình truyền giáo thứ ba của Phao-lô lại bắt đầu từ An-ti-ốt xứ Sy-ri. Giống như trong hành trình thứ hai, trước hết ông đi thăm lại vùng Ga-la-ti (Galatia) và Phi-ri-gi (Phrygia), tức là các Hội thánh tại Đẹt-bơ (Derbe), Lít-trơ (Lystra), Y-cô-ni (Iconium) và An-ti-ốt xứ Bi-si-đi (Pisidian Antioch). Sau đó, ông đi đến Ê-phê-sô (Ephesus), nơi trong chuyến thăm ngắn trước đó ông đã để Bê-rê-sin cùng A-qui-la lại đó trong hành trình thứ hai.

a. A-bô-lô và Các Môn Đồ của Giăng Báp-tít tại Ê-phê-sô
#

Bằng cách nhấn mạnh vào học vấn (hay sự hùng biện và trình độ văn hóa) của A-bô-lô cùng việc ông sử dụng Cựu Ước một cách hùng hồn để bác bỏ những người Do Thái không tin Chúa giữa công chúng, Lu-ca tiếp tục khắc họa Cơ Đốc giáo như là sự ứng nghiệm Do Thái giáo.

Câu chuyện về A-bô-lô cũng là bước đệm cho việc Phao-lô tìm thấy tại Ê-phê-sô một vài môn đồ chỉ biết đến phép Báp-têm ăn năn của Giăng Báp-tít; dường như đã được A-bô-lô truyền lại cho họ trước khi ông được Bê-rê-sin và A-qui-la chỉ dẫn cặn kẽ hơn (tên của Bê-rê-sin được nhắc đến trước trong bối cảnh tại Ê-phê-sô này, có lẽ vì bà đảm nhận vai trò hướng dẫn chính [đối lập với Công-vụ 18:2]).

Vì những môn đồ này chỉ mới nhận Báp-têm ăn năn, mặc dù Chúa Jesus và sau đó là Đức Thánh Linh đã đến, nên Phao-lô làm phép Báp-têm cho họ nhân danh Chúa Jesus và họ nhận lãnh Đức Thánh Linh, minh chứng qua việc họ nói các thứ tiếng và nói tiên tri. (Nếu họ đã nhận phép Báp-têm ăn năn trước khi Chúa Jesus và Đức Thánh Linh đến, thì theo hàm ý, họ sẽ không cần phải chịu phép Báp-têm lại nhân danh Đức Chúa Jesus). Đáng chú ý, mỗi lần Đức Thánh Linh được ban xuống một cách lạ lùng trong sách Công-vụ đều liên quan đến việc một nhóm người khác nhau gia nhập vào Hội Thánh:

  • Các tín hữu Do Thái đầu tiên (chương 2)
  • Người Sa-ma-ri (chương 8)
  • Dân ngoại (chương 10)
  • Những người theo phép Báp-têm của Giăng (chương 19)

Bằng chứng đặc biệt về sự chấp thuận của Đức Chúa Trời này càng góp phần làm nổi bật sự nhấn mạnh của Lu-ca về tính phổ quát của Tin Lành.

b. Đê-mê-triu Và A-léc-xan-đơ
#

Trong phần tường thuật tiếp theo về mục vụ của Phao-lô tại Ê-phê-sô, Lu-ca nhấn mạnh đến (1) sự dạn dĩ và sức thuyết phục của ông (cả hai điều này đều được ngưỡng mộ trong văn hóa Hy Lạp cổ điển lẫn văn hóa Hy Lạp hóa đương thời); (2) thời gian chức vụ kéo dài (hai năm) và tầm ảnh hưởng lan rộng (vang dội khắp tỉnh A-si); (3) sự đồng hành của những phép lạ phi thường (để đối kháng với ảnh hưởng của Ê-phê-sô vốn là trung tâm của các thực hành ma thuật và phát hành các công thức bùa chú); (4) lời chứng của một tà linh về Chúa Jesus và Phao-lô (gây nên sự kính sợ và dẫn đến nhiều người quy đạo); và (5) tình trạng bất ổn xã hội khởi nguồn không phải từ bất kỳ hành động của Phao-lô hay các bạn đồng hành truyền giáo, mà từ những lo ngại vì lợi ích riêng của Đê-mê-triu (Demetrius) cùng các thợ thủ công, và từ sự xuất hiện của một người Do Thái không tin Chúa tên là A-léc-xan-đơ (Alexander). Điều này tương phản hoàn toàn với tình bạn và những lời khuyên hữu ích mà một số quan chức cao cấp, gọi là các quan nghị viên xứ A-si (Asiarchs), đã dành cho Phao-lô (Công-vụ 19:31), cũng như việc viên thư ký thành phố đã minh oan cho Phao-lô và các bạn đồng hành truyền giáo của ông rằng họ không phải là kẻ cướp đền thờ hay kẻ phạm thượng đến nữ thần A-tê-mi (Artemis), đồng thời còn quở trách Đê-mê-triu cùng phe nhóm của hắn (19:35-41).

c. Việc Đốt Sách Phù Phép
#

Theo một truyền thống thời ban đầu, Phao-lô đã sử dụng trường học của Ti-ra-nu (Tyrannus) từ 11 giờ sáng cho đến 4 giờ chiều. Có lẽ Phao-lô dành buổi sáng để may trại, và buổi chiều để giảng dạy cho những người quan tâm đến Tin Lành đủ để sẵn sàng từ bỏ giấc nghỉ trưa của mình.

Thầy trừ tà người Do Thái tên là Sê-va (Sceva) thực chất chỉ tự xưng là thầy tế lễ thượng phẩm. Người Do Thái được đánh giá cao trong việc trừ tà vì người ta tin rằng chỉ họ mới có thể phát âm đúng danh xưng quyền năng là Đức Giê-hô-va (Yahweh), và việc đuổi quỷ thành công được cho là đòi hỏi phải phát âm chính xác các bài chú thích hợp. Bảy con trai của Sê-va, là những người học việc trong nghề trừ tà, đã cố gắng sử dụng danh “Jesus” nhưng nhận lại kết quả thảm hại, bởi việc đuổi quỷ của Cơ Đốc nhân không phụ thuộc vào việc tụng niệm các danh xưng ma thuật.

Khi các tín hữu tại Ê-phê-sô đem đốt các sách công thức ma thuật của mình, họ cũng công khai những bí thuật đó để làm cho chúng vô dụng đối với những người ngoại giáo chứng kiến, là những người tin rằng sự bí mật và cách phát âm chuẩn xác là điều kiện tiên quyết để thành công.

d. Cuộc Bạo Loạn Liên Quan Đến Nữ Thần Ạc-tê-mít
#

Người dân thành Ê-phê-sô đã đồng nhất một nữ thần địa phương với nữ thần đồng trinh bảo trợ việc săn bắn của Hy Lạp là Ạc-tê-mít (Artemis) (tên La Mã là Đi-anh, Diana). Hình tượng của bà trong đền thờ Ê-phê-sô dường như là một khối thiên thạch mà người dân ở đây cho rằng giống hình một người phụ nữ có nhiều bầu vú. Bản thân ngôi đền này, là một trong bảy kỳ quan của thế giới cổ đại, có diện tích mặt sàn gần 10.000 feet vuông (khoảng 930 m²).

Khi đám đông nổi loạn tràn kín nhà hát vòng tròn - nơi có sức chứa khoảng 25.000 người -những người Do Thái không tin Chúa lo sợ rằng họ sẽ bị vạ lây, vì bị đánh đồng với các Cơ Đốc nhân, bởi người Do Thái cũng rao giảng chống lại sự thờ lạy hình tượng. Vì vậy, họ đưa A-léc-xan-đơ ra để nói với đám đông rằng người Do Thái không liên can gì đến các Cơ Đốc nhân, nhưng tiếng nói của ông không thể át nổi sự ồn ào, náo loạn tại đó.

Đọc thêm: ĐỀN THỜ NỮ THẦN ARTEMIS

“Tôi đã tận mắt chiêm ngưỡng tường thành Ba-by-lôn sừng sững, nơi có đường chạy cho xe chiến mã; đã thấy tượng thần Zeus bên dòng sông Alpheus; thấy vườn treo, tượng thần Mặt Trời khổng lồ; thấy công trình vĩ đại của các kim tự tháp cao vút và lăng mộ rộng lớn của Mausolus. Thế nhưng, khi nhìn thấy ngôi đền của Artemis vươn tận mây xanh, những kỳ quan kia bỗng mất đi vẻ rực rỡ; và tôi đã thốt lên rằng: ‘Này, ngoại trừ đỉnh Olympus [ngọn núi được tin là nơi các thần ngụ trị], Mặt Trời chưa bao giờ nhìn thấy thứ gì hùng vĩ đến thế’” (Antipater, Greek Anthology 9.58).

Đền thờ Artemis nằm trên một bệ dài hơn 400 feet (khoảng 120 mét) và rộng gần 240 feet (gần 73 mét). Bản thân công trình dài 360 feet (khoảng 110 mét) và rộng 180 feet (khoảng 55 mét) (tức là lớn hơn đáng kể so với một sân bóng đá) và có hơn 100 cột trụ cao hơn 55 feet (hơn 17 mét) (tương đương tòa nhà sáu tầng, chưa kể phần mái nhọn đặt trên các cột).

e. Hành Trình Tiếp Theo Và Lời Chia Tay Tại Ê-phê-sô
#

Đọc Công-vụ 20:1-21:16 và theo dõi hành trình của Phao-lô trên bản đồ.

Sau hai năm ba tháng tại Ê-phê-sô, Phao-lô đi đến xứ Ma-xê-đoan và A-chai. Như chính ông đã viết trong Rô-ma 15:25-27; 1 Cô-rinh-tô 16:1-5; và 2 Cô-rinh-tô 8-9 (xem thêm Công-vụ 24:17), ông thực hiện việc quyên góp cho Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem trên đường đi. Dự định của ông là sẽ đến Rô-ma sau khi chuyển số tiền quyên góp này tới Giê-ru-sa-lem. Ông chắc chắn sẽ đến Rô-ma, nhưng trong hoàn cảnh khác với những gì đang hình dung lúc này; vì ông sẽ đến đó trong xiềng xích của một tù nhân.

Trong lúc đó, kế hoạch của Phao-lô là đi chuyến tàu chở người Do Thái hành hương từ Hy Lạp đến Palestine để kịp lễ Vượt Qua sắp tới. Tuy nhiên, những người Do Thái không tin Chúa đã lập mưu ám hại ông trong chuyến đi; vì thế ông thay đổi kế hoạch và quay ngược lại qua ngả Ma-xê-đoan. Sau đó, trên đường dọc theo bờ biển phía tây vùng Tiểu Á, ông đã từ biệt với các trưởng lão Hội Thánh Ê-phê-sô, là những người đã đến gặp ông tại Mi-lê (Miletus). Khi hành trình tiến dần về Giê-ru-sa-lem, ông liên tục nhận được những lời cảnh báo rằng mình sẽ bị bắt và bức hại ở đó; nhưng ông vẫn tiếp tục tiến bước.

f. Đến Giê-ru-sa-lem
#

Phần này được viết giống như một cuốn ký sự hành trình hơn cả những phần trước. Trong hầu hết các đoạn, Lu-ca đều tự đưa mình vào - do đó xuất hiện cách dùng từ “chúng tôi”, “của chúng tôi” và “chúng ta”. Ông đang tận dụng sự phổ biến của thể loại ký sự hành trình trong thế giới Hy Lạp - La Mã thời bấy giờ. Sự nhấn mạnh của ông về tính cộng đồng lần nữa hiện rõ qua mô tả về bữa ăn tại Trô-ách, cuộc trò chuyện kéo dài trong bữa ăn của Phao-lô, sự kiện Ơ-tích (Eutychus) được sống lại, cảnh chia tay đầy xúc động với các trưởng lão Ê-phê-sô tại Mi-lê, và sự quan tâm của các Cơ Đốc nhân đối với sự an nguy của Phao-lô tại Ty-rơ và Sê-sa-rê. Tất cả những điều này tương phản hoàn toàn với âm mưu hèn hạ đã khiến Phao-lô phải thay đổi kế hoạch hành trình.

Để minh chứng Phao-lô không phải là kẻ lừa đảo như nhiều giáo sư giảng dạy lưu động khác trong thế giới Hy Lạp - La Mã, Lu-ca đã nêu bật sự khiêm nhường, nước mắt, sự chịu đựng thử thách, sự từ chối nịnh bợ, sự siêng năng trong việc giảng dạy riêng tư cũng như công khai, trong việc dùng chính đôi tay lao động để nuôi mình và các cộng sự, sự quan tâm đến đời sống đạo của các tín hữu sau khi ông rời đi, và sẵn sàng liều mình tiến về Giê-ru-sa-lem.

Việc ghi chú rằng Phi-líp có bốn con người gái đồng trinh có ơn nói tiên tri thu hút sự say mê của văn hóa Hy Lạp đối với các nữ tiên tri đồng trinh.

“Cũng như Xenophon tin rằng một cô dâu nên thấy càng ít và nghe càng ít càng tốt trước khi về nhà chồng, thì cô gái này cũng vậy, non nớt và hầu như không biết gì về mọi thứ, một linh hồn đồng trinh trong sạch, trở thành người cộng sự của thần… tiếng nói và ngôn ngữ của nữ tư tế tiên tri” (Plutarch, Moralia, “The Oracles at Delphi” 405C-D).

3.34. Phao-lô Bị Bắt tại Giê-ru-sa-lem
#

Đọc Công-vụ 21:17-23:35.

Theo những tin đồn, Phao-lô bị cho là đã dạy các tín hữu Do Thái sống rải rác ở bên ngoài xứ Palestine rằng họ không cần giữ luật pháp Cựu Ước. Khi Phao-lô đến Giê-ru-sa-lem, có bốn Cơ Đốc nhân Do Thái đã mắc sự ô uế theo nghi lễ trong thời gian thực hiện lời khấn Na-xi-rê tạm thời và đang trải qua bảy ngày thanh sạch. Luật pháp quy định những người này phải cạo đầu vào ngày thứ bảy và dâng lễ vật vào ngày thứ tám trước khi có thể tiếp tục lời khấn nguyện (Dân-số Ký 6:9-12). Vì tuần lễ thanh sạch của họ sắp kết thúc, các trưởng lão của Hội Thánh đề nghị Phao-lô cùng tham gia các nghi thức thanh tẩy với những người này và chi trả chi phí các của tế lễ cho họ để chứng tỏ rằng ông không hề dạy chống lại luật pháp Môi-se. Phao-lô hợp tác, nhưng một số người Do Thái từ vùng Tiểu Á trước đó đã thấy ông đi cùng một người ngoại bang tên là Trô-phim (Trophimus), là người Ê-phê-sô, trong thành phố Giê-ru-sa-lem. Họ lầm tưởng Phao-lô đã đưa người này vào hành lang bên trong của đền thờ, là nơi chỉ dành riêng cho người Do Thái. Dân ngoại bị cấm bước vào khu vực này, người vi phạm phải chịu hình phạt tử hình, ngay cả nếu người đó là công dân La Mã.

Sự hô hoán của những người Do Thái đã gây ra một cuộc bạo loạn, và binh lính của quản cơ La Mã Cơ-lốt Ly-sia (Claudius Lysias) đã giải cứu Phao-lô. Đồn An-tô-ni-a (Antonia), là nơi Phao-lô được đưa vào, nằm ở phía tây bắc khu vực đền thờ. Lính La Mã đồn trú tại đây, và có hai nhịp cầu thang nối liền đồn với sân ngoài của đền thờ. Ba năm trước sự kiện này, một người Do Thái từ Ai Cập đến đã xuất hiện tại Giê-ru-sa-lem và tự xưng mình là tiên tri. Hắn dẫn một đám đông lên núi Ô-liu và bảo họ chờ đợi tường thành Giê-ru-sa-lem sụp đổ theo lệnh hắn. Sau đó, họ sẽ tiến vào thành và lật đổ đồn lính La Mã. Quan tổng đốc Phê-lít (Felix) đã phái quân đến, giết chết nhiều người Do Thái và bắt giam những người khác, nhưng tên người Do Thái Ai Cập đó đã trốn thoát. Ban đầu, Cơ-lốt Ly-sia tưởng Phao-lô chính là kẻ mạo danh đó, tức là người mà dân Do Thái hiện đang muốn trả thù vì đã lừa gạt họ.

“Vào thời gian này, có một người từ Ai Cập đến Giê-ru-sa-lem, tự xưng mình là một tiên tri và khuyên bảo dân chúng hãy cùng hắn đi ra ngọn núi gọi là núi Ô-liu, nằm đối diện và cách thành phố khoảng năm đoạn đường. Vì hắn khẳng định rằng… theo lệnh của hắn, các tường thành Giê-ru-sa-lem sẽ sụp đổ, và qua đó hắn hứa sẽ mở đường cho họ tiến vào thành. Khi Phê-lít nghe biết chuyện này, ông đã lệnh cho quân lính cầm vũ khí. Xuất phát từ Giê-ru-sa-lem với một lực lượng kỵ binh và bộ binh hùng hậu, ông đã tấn công tên người Ai Cập cùng những kẻ đi theo hắn, giết chết bốn trăm người và bắt làm tù binh hai trăm người khác. Riêng tên người Ai Cập đã trốn thoát khỏi trận chiến và biệt tích” (Josephus, Jewish Antiquities 20.8.6 §169-72).

Lu-ca tiếp tục khắc họa Cơ Đốc giáo như một cộng đồng lý tưởng qua (1) sự vui mừng của các tín hữu Do Thái tại Giê-ru-sa-lem khi đón tiếp Phao-lô và các bạn đồng hành truyền giáo của ông; qua việc Gia-cơ và các trưởng lão tôn vinh Đức Chúa Trời vì sự cứu rỗi lan rộng giữa vòng dân ngoại; và qua việc Phao-lô chấp thuận lời yêu cầu tham gia cũng như chi trả chi phí cho các nghi lễ thanh tẩy của một số Cơ Đốc nhân Do Thái.

Cuộc bạo loạn trong đền thờ và âm mưu giết Phao-lô cho thấy chính những người Do Thái không tin Chúa Jesus, chứ không phải các tín hữu, mới là nguyên nhân gây ra bất ổn xã hội. Việc Phao-lô được giải cứu bởi một đại đội (khoảng một nghìn quân) đã tạo nên một cái nhìn thiện cảm đối với người La Mã.

a. Lời Biện Hộ của Phao-lô
#

Trong phần tự biện trước đám đông người Do Thái, Phao-lô nhấn mạnh ông từng là một người Do Thái nhiệt thành thế nào, và A-na-nia (Ananias) - người tín hữu Cơ Đốc đã giúp đỡ ông tại Đa-mách - là một người Do Thái sùng đạo ra sao. Ông cũng nhấn mạnh khải tượng mầu nhiệm về Đấng Christ xảy đến với ông trên đường đi Đa-mách và một khải tượng khác khi ông đang cầu nguyện trong đền thờ.

Những người Do Thái không tin đã lắng nghe cho đến khi Phao-lô nói rằng Đức Chúa Trời truyền cho ông đi rao giảng cho dân ngoại. Không thể chấp nhận quan điểm thân dân ngoại, họ đã gào thét đòi máu Phao-lô, y như cách họ từng đòi đóng đinh Chúa Jesus. Sự thành kiến này đối với dân ngoại càng làm cho Phao-lô và Tin Lành của ông trở nên cuốn hút hơn đối với độc giả là dân ngoại của Lu-ca.

b. Quyền Công Dân La Mã
#

Cuộc trò chuyện sau đó giữa Phao-lô và Cơ-lốt Ly-sia tiết lộ rằng Phao-lô là công dân La Mã từ khi mới sinh, trong khi Cơ-lốt Ly-sia đã phải mua quyền công dân này với “một số tiền rất lớn”, có thể là một khoản hối lộ. Quốc tịch công dân La Mã từ khi được sinh ra của Phao-lô có địa vị cao hơn. Tên của các công dân được đăng ký tại Rô-ma và tại nơi họ cư trú. Bản thân các công dân La Mã sở hữu các chứng nhận bằng sáp, gỗ, hoặc kim loại có khắc tên các nhân chứng và tên của chính họ. Hình phạt cho việc mạo nhận quốc tịch là tử hình. Nếu một công dân không mang theo chứng nhận hoặc bị nghi ngờ giả mạo, chính quyền có thể yêu cầu nhân chứng. Có lẽ vì lý do này mà Phao-lô, người đã đi xa khỏi Tạt-sơ (nơi có các nhân chứng cho ông), đã không viện dẫn quyền công dân La Mã của mình thường xuyên.

c. Sê-sa-rê
#

Để xác định nguyên nhân của cuộc bạo loạn, Cơ-lốt Ly-sia đã đưa Phao-lô ra trước Tòa Công Luận; nhưng buổi họp đã kết thúc trong sự hỗn loạn. Khi cháu trai của Phao-lô nghe được âm mưu phục kích để giết Phao-lô trong lúc ông bị áp giải đi từ nơi này sang nơi khác trong thành Giê-ru-sa-lem, anh đã báo tin cho Cơ-lốt Ly-sia. Viên quản cơ lập tức đưa Phao-lô đến Sê-sa-rê ngay trong đêm với một đơn vị binh lính lớn để bảo vệ.

Trong bức thư gửi cho Phê-lít (Felix), là quan tổng đốc tại Sê-sa-rê, Cơ-lốt Ly-sia tuyên bố rằng mình đã giải cứu Phao-lô ngay khi phát hiện ông là công dân La Mã. Thực tế, viên quản cơ này chỉ biết về quốc tịch La Mã của Phao-lô khi ông sắp bị tra tấn bằng roi vọt nhằm khai thác thông tin. Việc bị tra tấn bằng roi vọt có nghĩa là bị đánh bằng roi da (tiếng La-tinh là flagellum). Hình cụ này gồm những dây da gắn vào cán gỗ và được buộc thêm những mảnh xương hoặc kim loại sắc nhọn. Các nạn nhân thường chết vì cực hình này. Theo luật pháp, việc đánh đòn một công dân La Mã khi chưa bị kết án là bất hợp pháp.

Trong những biến cố này, có một số điểm sau góp phần vào mục đích biện hộ và quảng bá Cơ Đốc giáo của Lu-ca:

  • Lương tâm trong sạch của Phao-lô cho đến tận thời điểm hiện tại của ông trong đức tin Cơ đốc.
  • Việc Phao-lô bị thầy tế lễ thượng phẩm ngược đãi cách bất hợp pháp.
  • Lời xin lỗi đầy tôn trọng của Phao-lô vì đã vô tình quở trách thầy tế lễ thượng phẩm.
  • Sự chia rẽ giữa phái Pha-ri-si và phái Sa-đu-sê, điều này lý luận rằng vì chính những người Do Thái không tin Chúa Jesus còn bất đồng với nhau, nên việc họ không đồng tình với các Cơ Đốc nhân không loại Cơ Đốc nhân ra khỏi Do Thái giáo.
  • Sự ủng hộ dành cho Phao-lô từ một số thầy dạy luật thuộc phái Pha-ri-si.
  • Những người Do Thái không tin Chúa Jesus suýt dùng đến bạo lực thể xác.
  • Âm mưu ám sát Phao-lô, bao gồm cả nỗ lực lừa dối viên quản cơ La Mã.
  • Việc viên quản cơ nhận thấy Phao-lô vô tội, không phạm bất kỳ tội nào đáng chết, thậm chí là không đáng bị bỏ tù.

d. Trước mặt Phê-lít
#

Đọc Công-vụ 24:1-27.

Một người tên là Tẹt-tu-lu (Tertullus) đóng vai trò công tố viên cho Tòa Công Luận để đưa ra các lời cáo buộc chống lại Phao-lô tại Sê-sa-rê. Lời nịnh nọt của ông ta dành cho Phê-lít (Felix) và lời hứa sẽ trình bày ngắn gọn là những cách mở đầu bài diễn văn theo truyền thống thời bấy giờ. Các cáo buộc chống lại Phao-lô bao gồm việc ông gây rối trật tự an ninh và tìm cách làm ô uế đền thờ. Gây rối trật tự là một tội danh được định nghĩa rất mơ hồ mà các hoàng đế chuyên chế thường dùng như một vũ khí để khủng bố chính trị. Hầu như bất cứ điều gì cũng có thể bị xếp vào loại tội này.

Để tự biện hộ, Phao-lô trả lời rằng ông không hề kích động dân chúng ở bất cứ đâu. Thực tế, ông đến Giê-ru-sa-lem, không phải với tinh thần tranh chiến, nhưng để thờ phượng trong tình trạng thanh sạch về nghi lễ và mang theo đồ cứu trợ để giúp đỡ những người Do Thái cư ngụ tại Giê-ru-sa-lem. Ông đặc biệt lưu ý rằng những người Do Thái từ vùng A-si, vốn là những kẻ đã khơi mào cuộc bạo loạn trong đền thờ và ban đầu cáo buộc ông, đã không xuất hiện tại tòa để đối chất với ông.

Với tư cách là một Cơ Đốc nhân, ông không hề chống lại Do Thái giáo, nhưng hầu việc Đức Chúa Trời của các tổ phụ Do Thái và tin mọi điều đã chép trong Luật pháp và các Tiên tri (tức Cựu Ước). Trước mặt Tòa Công Luận tại Giê-ru-sa-lem, “tội” duy nhất của ông là công bố niềm tin vào sự sống lại, và ngay cả phe Pha-ri-si trong Tòa Công Luận cũng ủng hộ lập trường này của ông (dù tất nhiên họ không tin vào sự sống lại của Chúa Jesus như Phao-lô tin).

Trì hoãn việc đưa ra quyết định ngay lập tức về Phao-lô, Phê-lít tiếp tục giam giữ ông, nhưng lại cho phép ông trình bày một lần nữa trong buổi tiếp kiến riêng với Đơ-ru-si (Drusilla). Bà là một người vợ trẻ chưa đầy hai mươi tuổi. Khi còn nhỏ, bà đã đính hôn với một thái tử ở vùng Tiểu Á; nhưng cuộc hôn nhân không thành vì vị thái tử đó từ chối theo Do Thái giáo. Sau đó, bà kết hôn với vua của một tiểu quốc tại Sy-ri. Năm bà mười sáu tuổi, Phê-lít, với sự trợ giúp của một thuật sĩ từ Chíp-rơ, đã dụ dỗ bà rời bỏ chồng để trở thành người vợ thứ ba của ông ta. Vì lẽ đó, thật dễ hiểu khi Phao-lô luận về sự công chính, sự tiết độsự phán xét hầu đến, Phê-lít cảm thấy cuộc thảo luận này nhắm trực diện vào cá nhân mình một cách khó chịu, nên đã cho Phao-lô lui ra.

Sự sợ hãi của Phê-lít trước bài giảng của Phao-lô kết hợp với việc ông ta hy vọng nhận được hối lộ từ Phao-lô đã giải thích lý do tại sao ông ta giam giữ Phao-lô trong suốt hai năm. Khoảng thời gian dài này không liên quan gì đến bất kỳ sự nghi ngờ nào về tội trạng của Phao-lô. Nếu không, Phê-lít đã chẳng ban cho ông một số đặc quyền, chẳng hạn như cho phép bạn hữu của Phao-lô được chăm sóc các nhu cầu của ông. Tuy nhiên, hy vọng nhận tiền hối lộ không phải là yếu tố duy nhất ngăn cản Phê-lít trả tự do cho Phao-lô. Dù Lu-ca không nhắc đến, nhưng việc Phê-lít từng gây hấn với người Do Thái trong một số sự kiện trước đó, cùng với sự thay đổi bộ máy quản lý tại chính quyền trung ương ở Rô-ma, đã khiến vị thế chính trị của ông ta trở nên bấp bênh. Ngay cả khi rời bỏ chức vụ tổng đốc, ông ta cũng không dám mạo hiểm gây phật lòng người Do Thái thêm lần nữa, vì không muốn đối mặt với một lời khiếu nại chống lại mình tại Rô-ma.

e. Trước mặt Phê-tu
#

Đọc Công-vụ 25:1-12.

Một người tên là Phê-tu (Festus) kế nhiệm Phê-lít trong chức vụ tổng đốc và ngay lập tức đến thăm Giê-ru-sa-lem để làm quen với các lãnh đạo Do Thái, là những thành viên của Tòa Công Luận. Họ lặp lại các cáo buộc chống lại Phao-lô và yêu cầu Phê-tu đưa ông về Giê-ru-sa-lem để xét xử. Giống như trước đây, họ dự tính sẽ ám sát Phao-lô trên đường đi. Vì Phê-tu không định ở lại Giê-ru-sa-lem lâu, ông bảo họ hãy cử một phái đoàn những người tố cáo Phao-lô đến Sê-sa-rê.

Họ đã làm vậy, nhưng Lu-ca lưu ý rằng họ không thể chứng minh được những lời cáo buộc của mình, trong khi Phao-lô có thể khẳng định một cách chân thực rằng ông không làm điều gì chống lại luật pháp Do Thái, đền thờ, hay Sê-sa. Tuy nhiên, đối với Phê-tu, việc xét xử Phao-lô diễn ra tại Sê-sa-rê hay Giê-ru-sa-lem không quan trọng bằng việc giữ mối quan hệ thân thiện với Tòa Công Luận để giúp công việc cai trị của ông được thuận lợi; vì vậy ông đề nghị Phao-lô nên tổ chức cuộc xét xử tại Giê-ru-sa-lem.

Phao-lô có lẽ lo sợ sẽ bị ám sát dọc đường; hoặc có lẽ ông nghĩ rằng Tòa Công Luận có thể thuyết phục Phê-tu (là một người mới trong các sự vụ của Do Thái) rằng họ nên có thẩm quyền xét xử Phao-lô. Tòa Công Luận có thể đưa ra yêu cầu đó bằng cách lập luận rằng Phao-lô bị cho là đã phạm tội phạm thượng đến đền thờ, là loại tội trạng mà người La Mã thường giao quyền xét xử cho người Do Thái. Phao-lô có thể dễ dàng đoán được bản án nếu Phê-tu giao ông lại cho Tòa Công Luận để xét xử. Dù lý do của ông là gì, Phao-lô đã thực hiện quyền của một công dân La Mã là kháng cáo lên Sê-sa tại Rô-ma.

f. Trước Mặt Hê-rốt Ạc-ríp-ba II cùng với Phê-tu
#

Đọc Công-vụ 25:13-27.

Hê-rốt Ạc-ríp-ba II (Herod Agrippa II) là chắt của Hê-rốt Đại Đế, là anh trai của Đơ-ru-si (vợ của cựu tổng đốc Phê-lít), và là vua của một địa hạt nhỏ gần Li-băng. Em gái của ông là Bê-nít (Bernice) cũng đang sống cùng ông tại Sê-sa-rê Phi-líp trong thời gian này. Nhân chuyến thăm chính thức của Ạc-ríp-ba để chào mừng Phê-tu nhận chức tổng đốc mới, Phê-tu quyết định tận dụng cơ hội này để nhờ Ạc-ríp-ba - một chuyên gia về các vấn đề Do Thái - nghe Phao-lô trình bày và giúp lập danh sách các cáo buộc chống lại ông; bởi Phê-tu nhận thấy Phao-lô không có tội gì đáng chết, mà chỉ có một vài bất đồng về thần học với những người Do Thái khác. Bản danh sách cáo buộc này sẽ được gửi kèm theo Phao-lô đến Rô-ma để hầu tòa trước mặt Sê-sa.

Để minh chứng cho tính xác thực của khải tượng trên đường đến Đa-mách, Phao-lô nhấn mạnh vào vai trò dẫn dắt của mình trong việc bắt bớ các Cơ Đốc nhân trước đây. Ông cũng khẳng định về nền tảng giáo dục nghiêm ngặt mà ông nhận được với tư cách là một người Pha-ri-si vốn tin vào sự sống lại. Giờ đây, ông lại bị cáo buộc một cách vô lý, chỉ vì rao giảng về sự ứng nghiệm trong Chúa Jesus Christ của chính giáo lý mà ông luôn tin theo khi còn là người Pha-ri-si. Và thật trớ trêu, những kẻ đang cáo buộc ông lại chính là những người Do Thái cũng tin vào sự sống lại (ngoại trừ phái Sa-đu-sê).

Phê-tu, với tư cách là chủ nhà, đã thô lỗ cắt ngang bài diễn thuyết của Phao-lô bằng lời buộc tội rằng ông đã phát điên vì học quá nhiều. Nhưng Phao-lô đã kháng cáo lên Ạc-ríp-ba, vị khách mời, bằng cách lưu ý rằng những sự việc về Chúa Jesus là điều công chúng đều biết, và bằng cách hỏi Ạc-ríp-ba rằng liệu ông có tin vào các lời tiên tri về Đấng Mê-si hay không.

Đọc Công-vụ 26:1-32.

Lời kháng cáo của Phao-lô làm Ạc-ríp-ba bối rối, vì ông khó có thể nói rằng mình đồng ý với Phao-lô ngay sau khi chủ nhà Phê-tu vừa cáo buộc Phao-lô là điên rồ. Ạc-ríp-ba cũng không thể nói rằng ông không tin các tiên tri mà không làm tổn hại đến danh tiếng của mình giữa vòng người Do Thái. Vì vậy, ông đã nói một cách hóm hỉnh rằng Phao-lô đang cố gắng thuyết phục ông trở thành một Cơ Đốc nhân. Mục đích của Lu-ca khi thuật lại sự việc này là để cho thấy rằng quan điểm từ chuyên gia Do Thái của Ạc-ríp-ba cũng thống nhất với quan điểm chính thức của người La Mã qua Phê-lít và Phê-tu: Phao-lô không phạm tội thực sự nào. Về phương diện này, Phao-lô đại diện cho toàn thể Cơ Đốc giáo.

3.35. Hành Trình Của Phao-lô Đến Rô-ma
#

a. Bão Tố và Chìm Tàu
#

Đọc Công-vụ 27:1-28:31 và theo dõi hành trình của Phao-lô từ Sê-sa-rê đến Rô-ma trên bản đồ.

Một lần nữa, Lu-ca mang đến cho các độc giả chịu ảnh hưởng bởi văn hóa Hy Lạp của mình một cuốn ký sự hành trình, mà lần này hầu như hoàn toàn là một hải trình. Dù đang là một tù nhân, Phao-lô vẫn nhận được sự đối đãi tốt, chứng minh sự chính xác trong các lời báo trước của mình, lèo lái để đem lại sự cứu mạng cho mọi người trên tàu, không hề hấn gì sau khi bị rắn cắn, và thực hiện những phép lạ chữa lành.

Việc kéo thuyền lên trong cơn bão trên biển chỉ việc kéo chiếc thuyền cứu hộ nhỏ lên tàu, vốn thường được kéo sau con tàu lớn khi thời tiết tốt. Các thủy thủ luồn dây cáp xuống dưới và vòng quanh thân tàu rồi siết chặt chúng lại để giữ cho các thanh gỗ không bị bung ra dưới sức ép của cột buồm. Việc hạ thiết bị xuống có nghĩa là thả neo trôi hoặc hạ các cánh buồm trên cùng (vốn chỉ dùng khi thời tiết thuận lợi), dù các cánh buồm chịu bão vẫn được giương lên. Tiếp theo, hàng hóa bị quăng xuống biển, và cuối cùng là tất cả các trang thiết bị dự phòng.

Trong suốt mười một ngày đêm ảm đạm, con tàu chắc chắn đã bị rò rỉ nước trầm trọng. Hy vọng duy nhất là hướng vào bờ, nhưng các thủy thủ không biết phải lái tàu theo hướng nào. Mây bão đã che lấp mặt trời và các vì sao, còn la bàn thì vẫn chưa được phát minh. Sự tuyệt vọng bao trùm mọi người trên tàu. Chứng say sóng khiến họ không thể ăn uống. Nhưng cuối cùng, ý định của Đức Chúa Trời dành cho Phao-lô đã dẫn đến sự an toàn cho tất cả mọi người. Sự hiếu khách của các Cơ Đốc nhân tại Bu-xô-lơ (Puteoli) và một nhóm anh em từ Rô-ma ra đón tiếp đã làm sống lại sự mô tả của Lu-ca về Hội Thánh như một cộng đồng lý tưởng.

b. Rô-ma
#

Đối với các lãnh đạo Do Thái tại Rô-ma, Phao-lô nhấn mạnh rằng ông có mặt tại đây thuần túy là để tự biện hộ. Ông không có ý định buộc tội dân tộc Do Thái hay các lãnh đạo của họ. Những người Do Thái ở Rô-ma phủ nhận việc biết về Phao-lô cũng như bất kỳ hiểu biết trực tiếp nào về Cơ Đốc giáo, mặc dù họ thừa nhận có nghe những báo cáo tiêu cực về đạo này. Tuy nhiên, tin tức về Phao-lô có lẽ đã đến tai người Do Thái ở Rô-ma từ trước; và chắc chắn họ đã từng tiếp xúc với các Cơ Đốc nhân tại đây, vì Hội Thánh tại Rô-ma đã được thành lập từ lâu và vững mạnh.

Chính Phao-lô đã viết một bức thư gửi cho Hội Thánh tại đây; và thậm chí từ trước đó, như chúng ta đã thấy, Hoàng đế Claudius đã trục xuất người Do Thái khỏi Rô-ma, có lẽ vì những bất ổn giữa vòng họ liên quan đến việc rao giảng về Đấng Christ. Do đó, có vẻ như những đại diện của người Do Thái không tin Chúa Jesus tại Rô-ma đang giả vờ như không biết. Sau đó, vào một ngày được sắp xếp trước, một số lượng lớn những người Do Thái này đã nghe Phao-lô giải bày về Tin Lành. Một số người tin, nhưng đa số thì không. Vì vậy, như thường lệ, Phao-lô chuyển sự chú ý của mình sang việc truyền giảng Tin Lành cho dân ngoại.

Sự trì hoãn ít nhất hai năm trong việc xét xử Phao-lô có thể do một hoặc nhiều yếu tố sau:

  1. Sự cần thiết phải có nguyên cáo từ Palestine đến;
  2. Bản danh sách ghi các cáo buộc chống lại Phao-lô của Phê-tu bị thất lạc trong vụ đắm tàu, dẫn đến nhu cầu phải gửi bản sao từ Sê-sa-rê đến;
  3. Lịch trình xét xử bận rộn của Hoàng đế Nero.

Trong thời gian chờ đợi, Phao-lô được hưởng sự tự do đáng kể đối với một tù nhân. Dù bị xiềng chung với một lính La Mã và bị giam trong ngôi nhà ông thuê, ông vẫn có thể tiếp khách và nhận được bất kỳ sự chăm sóc nào từ bạn bè. Lý do của sự nới lỏng này là vì ông là một công dân La Mã mà chưa có cáo buộc nào được chứng minh. Ông đã tận dụng sự tự do hạn chế này để rao giảng. Lu-ca muốn độc giả lưu ý rằng ngay cả tại Rô-ma - thủ đô của đế quốc - Tin Lành cũng không bị cấm đoán như một điều bất hợp pháp. Như vậy, ông đã ghi lại sự lan truyền của Tin Lành từ Giê-ru-sa-lem cho đến tận Rô-ma.

TÓM LƯỢC
#

Là phần tiếp nối của sách Phúc Âm Lu-ca, sách Công-vụ các Sứ-đồ theo dấu sự tiến triển của Tin Lành từ Giê-ru-sa-lem đến La Mã dưới quyền năng của Đức Thánh Linh. Chính Lu-ca đã dự phần vào nhiều sự kiện góp phần thúc đẩy sự tiến triển này. Việc ghi lại quá trình đó cho ông cơ hội để làm nổi bật những điểm thu hút độc giả mang tư tưởng Hy Lạp, chẳng hạn như: (1) Cơ Đốc giáo bắt nguồn từ tôn giáo cổ xưa là Do Thái giáo, (2) sự cởi mở của Cơ Đốc giáo đối với dân ngoại, (3) hành vi tôn giáo, đạo đức và chính trị gương mẫu của các Cơ Đốc nhân, cùng việc (4) các quan chức La Mã đã không tìm thấy bất kỳ sự thật nào trong những lời cáo buộc chống lại họ.

Phi-e-rơ và Phao-lô nổi bật trong tường thuật của Lu-ca. Đặc biệt, ba hành trình truyền giáo của Phao-lô và chuyến hải hành đến Rô-ma chiếm hơn một nửa số chương cuối của sách Công vụ. Các bài giảng và diễn văn xuất hiện rải rác khắp toàn bộ tường thuật. Sách Công vụ kết thúc với cảnh Phao-lô đang chờ đợi cuộc xét xử trước mặt Sê-sa tại Rô-ma, có lẽ vì tại thời điểm sách được viết, vẫn chưa có sự kiện nào khác xảy ra thêm.