Skip to main content

Chương 12: CÁC THƯ TÍN SỚM NHẤT CỦA PHAO-LÔ

·10275 words·49 mins·
Author
Lily
Table of Contents

TÂN ƯỚC LƯỢC KHẢO

I. CÁC THƯ TÍN CỦA PHAO-LÔ VÀ VIỆC VIẾT THƯ TRONG THẾ GIỚI HY LẠP - LA MÃ
#

1.1. Độ Dài, Nội Dung, Đối Tượng
#

Trong thế giới Hy Lạp - La Mã, thư từ riêng tư có độ dài trung bình gần 90 từ. Thư từ mang tính văn chương, chẳng hạn như những thư được viết bởi nhà hùng biện và chính trị gia người La Mã Cicero hay triết gia Seneca, có độ dài trung bình khoảng 200 từ. Vì một tờ giấy cói thông thường có kích thước khoảng 9,5 x 11,5 inch (xấp xỉ kích thước khổ giấy sổ tay hiện nay) và có thể chứa được từ 150 đến 250 từ, tùy thuộc vào cỡ chữ, nên hầu hết các bức thư thời cổ đại không chiếm quá một trang giấy cói. Tuy nhiên, độ dài trung bình của các thư tín của Phao-lô lên tới khoảng 1.300 từ, dao động từ 335 từ trong thư Phi-lê-môn đến 7.114 từ trong thư Rô-ma; nghĩa là dài gấp nhiều lần so với một bức thư trung bình thời cổ đại.

Do đó, xét ở một góc độ, Phao-lô đã sáng tạo ra một hình thức văn chương mới - không chỉ ở việc kéo dài độ dài của một bức thư, mà còn ở tính chất thần học của nội dung và thường là ở tính cộng đồng của đối tượng nhận thư - nó giống như “thư tín” (epistle) văn chương cổ đại chứa đựng một bài luận về chính trị, triết học, hoặc các chủ đề tương tự. Tuy nhiên, xét từ một góc độ khác, các thư tín của Pha-lô vẫn được coi là những bức thư thực thụ vì chúng có địa chỉ người nhận chân thực và cụ thể; trong khi đó, các thư tín văn chương cổ đại thường được viết cho một lượng độc giả rộng rãi dù đối tượng nhận thư được giả định là hạn hẹp (hãy so sánh với các “Thư gửi Biên Tập Viên” thời nay, vốn dành cho độc giả nói chung hơn là dành riêng cho một biên tập viên cụ thể).

1.2. Người Chép Thư (Amanuensis)
#

Đối với những văn bản dài như các thư tín của Phao-lô, các tờ giấy cói đơn lẻ được nối mép với nhau và cuộn lại thành một cuộn sách. Vì bề mặt thô ráp của giấy cói khiến việc viết lách trở nên mệt mỏi, các tác giả thường đọc cho một người ghi chép chuyên nghiệp chép lại, gọi là amanuensis (số nhiều: -es), người này sẽ sử dụng chữ viết tắt (tốc ký) khi ghi chép nhanh.

Sự thô ráp trong văn phong của Phao-lô, có thể được thấy qua nhiều câu không trọn vẹn hoặc bị đứt gãy, cho thấy rằng đôi khi ông đọc quá nhanh đến nỗi không chú ý kỹ đến cấu trúc câu cẩn thận, và những người chép thư cho ông đã gặp khó khăn trong việc theo kịp. Những sự đứt gãy đột ngột trong mạch ý cũng cho thấy việc tạm dừng việc đọc - chép, có lẽ là qua đêm, hoặc trong những khoảng thời gian ngắn hoặc dài hơn. Đôi khi các tác giả chỉ để lại những chỉ dẫn bằng lời nói, một bản thảo thô, hoặc các ghi chú cho người chép thư của họ làm theo. Trong những trường hợp như vậy, chính những người chép thư là người gọt giũa cách dùng từ chính xác, một yếu tố có thể giải thích cho một số khác biệt về văn phong giữa các bức thư của cùng một tác giả. Cuối cùng, tác giả sẽ hiệu đính lại bức thư.

Chúng ta biết chắc chắn rằng Phao-lô có sử dụng người chép thư, vì thực tế là một trong số họ đã tự giới thiệu tên mình. Ngoài ra, việc Phao-lô thường xuyên tuyên bố rằng chính tay ông viết lời chào cuối cùng cũng ngụ ý rằng phần trước đó đã được viết với sự trợ giúp của những người chép thư (1 Cô-rinh-tô 16:21; Ga-la-ti 6:11; Cô-lô-se 4:18; 2 Tê-sa-lô-ni-ca 3:17; so sánh Phi-lê-môn 19).

Đọc thêm: MỘT VÍ DỤ VỀ NGỮ PHÁP ĐỨT GÃY TRONG THƯ CỦA PHAO-LÔ

“Nhưng về những người có vẻ là quan trọng - họ đã là người thế nào đi nữa, thì chẳng quan hệ gì đến tôi; Đức Chúa Trời chẳng xem mặt ai - thì những người có vẻ [quan trọng] ấy chẳng thêm gì cho tôi cả”

(một bản dịch khá sát nghĩa Ga-la-ti 2:6, một chỗ mà sự thô ráp về ngữ pháp đôi khi được làm mượt mà trong các bản dịch Anh ngữ/tiếng Việt).

Đọc thêm: MỘT VÍ DỤ VỀ MẠCH Ý ĐỨT GÃY TRONG THƯ CỦA PHAO-LÔ

“Việc phục vụ của chức vụ này không những cung ứng đầy đủ nhu cầu của các thánh đồ, mà còn dư dật qua nhiều lời tạ ơn dâng lên Đức Chúa Trời. … vì cớ ân điển dư dật của Đức Chúa Trời trên anh em. Tạ ơn Đức Chúa Trời vì sự ban cho không xiết kể của Ngài! Nhưng bởi sự nhu mì và khoan dung của Đấng Christ… tôi nài xin anh em rằng khi tôi đến, tôi không phải dùng sự bạo dạn mà tôi định dùng đối với một vài người xem chúng tôi như đang ăn ở theo xác thịt. … Và chúng tôi sẵn sàng trừng phạt mọi sự không vâng phục, một khi sự vâng phục của anh em đã trọn vẹn. Anh em chỉ nhìn xem mọi việc bề ngoài

(trích 2 Cô-rinh-tô 9:12-10:7; hãy lưu ý sự chuyển đổi đột ngột từ lời tạ ơn sang lời cảnh báo)

Đọc thêm: MỘT VÍ DỤ VỀ SỰ XUẤT HIỆN THOÁNG QUA CỦA MỘT NGƯỜI CHÉP THƯ TRONG THƯ CỦA PHAO-LÔ

“Tôi là Tẹt-tiu, người viết thư này, chào anh em trong Chúa” (Rô-ma 16:22).

Đọc thêm: MỘT VÍ DỤ VỀ LỜI CUỐI THƯ ĐƯỢC VIẾT BỞI CHÍNH TAY PHAO-LÔ

“Lời chào thăm này chính tay tôi, Phao-lô, viết” (1 Cô-rinh-tô 16:21).

1.3. Hình Thức
#

Các bức thư thời cổ đại thường mở đầu bằng một lời chào thăm, bao gồm tên của người gửi và người nhận, kèm theo những lời chúc sức khỏe và thành công, cũng như sự bảo đảm về lời cầu nguyện của người gửi thư. Kế đến là phần nội dung chính của bức thư, và cuối cùng là lời từ biệt, đôi khi có kèm theo chữ ký. Nhiều khi, lời từ biệt còn bao gồm lời chào của những người khác ngoài tác giả và những lời chúc tốt đẹp thêm vào.

Vì lo ngại rằng các bức thư đang hoặc có thể bị giả mạo dưới danh nghĩa mình, Phao-lô đã áp dụng thói quen tự tay viết những dòng từ biệt cũng như chữ ký để bảo chứng cho tính xác thực. Thông thường, các bức thư không ghi ngày tháng. Vì không có dịch vụ bưu chính công cộng, nên các bức thư thường phải được gửi gắm cho những người lữ hành vận chuyển.

Đọc thêm: BẢN DỊCH MỘT BỨC THƯ HY LẠP CỔ ĐẠI

“Aurelius Dius gửi đến Aurelius Horion, là người cha yêu quý nhất của con, lời chào thăm chân thành. Mỗi ngày con đều cầu nguyện cho cha trước mặt các thần linh ở nơi này. Vì vậy, thưa cha, đừng lo lắng về việc học của con. Con đang học hành chăm chỉ, nhưng cũng có nghỉ ngơi. Mọi việc sẽ tốt đẹp cho con thôi. Con gửi lời chào đến mẹ Tamiea, chị/em gái Tnepherous và chị/em gái Philous của con. Con cũng gửi lời chào đến anh/em trai Patermouthis của con. … Gaia gửi lời chào đến tất cả mọi người. … Con cầu nguyện cho sức khỏe của cha.”

Địa chỉ ở mặt sau: “Xin trao thư cho Aurelius Horion từ Dius, là con trai của ông” (Giấy cói Oxyrhynchus 1296).

1.4. Lời Khuyên Bảo (Paranesis)
#

Phao-lô kết thúc một vài bức thư của mình bằng một phần chứa đựng các chỉ dẫn về đạo đức. Những chỉ dẫn như vậy xuất hiện rải rác trong các thư khác của ông và trong các thư của những tác giả khác thuộc Tân Ước. Các học giả đã ghi nhận những điểm tương đồng nổi bật với các quy tắc đạo đức của người Do Thái và phái Khắc kỷ trong cùng thời kỳ lịch sử đó. Tuy nhiên, các tác giả Tân Ước đặt nền tảng cho hành vi của Cơ Đốc nhân trên sự vận hành của đức tin nơi Chúa Jesus, thay vì đưa ra một hệ thống các giới luật cao siêu nhưng thiếu sức sống, không có khả năng tự thực hiện.

Sự tương đồng giữa các lời khuyên bảo trong các thư tín Tân Ước cho thấy rằng các tác giả đã kế thừa một kho tàng truyền thống chung về giáo huấn (khuyên răn, hướng dẫn) trong Hội Thánh, vốn ban đầu được thiết kế để dạy giáo lý cho những người mới tin đạo chuẩn bị nhận Báp-têm. Mặt khác, có thể Phao-lô có thể chỉ đơn giản là tự xây dựng bộ chỉ dẫn đạo đức của riêng mình cho những tín hữu mới quy đạo và đã ảnh hưởng đến các tác giả viết sau này, chẳng hạn như Phi-e-rơ, là người đã biết đến các thư tín của Phao-lô.

Một yếu tố nữa cần được đề cập là việc vận dụng những lời dạy đạo đức của Chúa Jesus, được lưu truyền trong các truyền thống truyền miệng và văn bản, và thường được phản ánh qua cách diễn đạt cũng như các khái niệm trong các thư tín.

Đọc thêm: MỘT VÍ DỤ VỀ SỰ TƯƠNG ĐỒNG GIỮA CÁC THƯ TÍN TÂN ƯỚC VỀ NHỮNG CHỈ DẪN ĐẠO ĐỨC

Rô-ma 5:3-41 Phi-e-rơ 1:6-7Gia-cơ 1:2-3
“Nào những thế thôi, nhưng chúng ta cũng khoe mình trong hoạn nạn nữa, vì biết rằng hoạn nạn sanh sự nhịn nhục, sự nhịn nhục sanh sự rèn tập, sự rèn tập sanh sự trông cậy.”“Anh em vui mừng về điều đó, dầu hiện nay anh em vì sự thử thách trăm bề buộc phải buồn bã ít lâu; hầu cho sự thử thách đức tin anh em quí hơn vàng hay hư nát, dầu đã bị thử lửa, sanh ra ngợi khen, tôn trọng, vinh hiển cho anh em khi Đức Chúa Jêsus Christ hiện ra.”“Hỡi anh em, hãy coi sự thử thách trăm bề thoạt đến cho anh em như là điều vui mừng trọn vẹn, 3 vì biết rằng sự thử thách đức tin anh em sanh ra sự nhịn nhục.”

Đọc thêm: PHI-E-RƠ BIẾT CÁC BỨC THƯ CỦA PHAO-LÔ

“… cũng như Phao-lô, anh rất yêu dấu của chúng ta, … mà viết thư cho anh em vậy. Ấy là điều người đã viết trong mọi bức thơ … ở trong có mấy khúc khó hiểu” (2 Phi-e-rơ 3:15-16).

Đọc thêm: MỘT VÍ DỤ VỀ SỰ TƯƠNG ĐỒNG TRONG NHỮNG LỜI DẠY ĐẠO ĐỨC CỦA CHÚA JESUS VÀ CÁC THƯ TÂN ƯỚC

Ma-thi-ơ 5:37Gia-cơ 5:12
“Song ngươi phải nói rằng: Phải, phải; không, không. Còn điều người ta nói thêm đó, bởi nơi quỉ dữ mà ra.”“… nhưng phải thì nói phải, không thì nói không, hầu cho khỏi bị xét đoán.”

Đọc thêm: MỘT VÍ DỤ ĐỂ SO SÁNH VỚI NHỮNG CHỈ DẪN CỦA PHAO-LÔ DÀNH CHO CÁC TẦNG LỚP XÃ HỘI KHÁC NHAU

“Vì cha mẹ thuộc về tầng lớp cấp trên trong các cặp được đề cập ở trên, là tầng lớp bao gồm những bậc trưởng thượng, những người cai trị, những ân nhân và những người chủ; trong khi con cái giữ vị trí thấp hơn cùng với những người trẻ tuổi, những thần dân, những người nhận ơn và những tôi tớ. Và còn có nhiều chỉ dẫn khác được đưa ra: cho người trẻ về sự lễ phép đối với người già; cho người già về việc chăm sóc người trẻ; cho các thần dân về việc vâng phục người cai trị mình; cho các nhà cai trị về việc thúc đẩy phúc lợi cho thần dân; cho những người nhận ơn về việc đền đáp bằng lòng biết ơn…; cho tôi tớ về việc bày tỏ lòng trung thành trìu mến đối với chủ mình; cho các chủ về việc bày tỏ sự nhu mì và tử tế để qua đó sự bất bình đẳng được bình đẳng hóa”

(Philo, The Decalogue 166-67)

1.5. Thứ Tự
#

Trong Kinh Thánh Tân Ước hiện nay của chúng ta, thứ tự các thư tín của Phao-lô gửi cho các Hội Thánh được sắp xếp dựa trên độ dài, bắt đầu bằng bức thư dài nhất (Rô-ma) và kết thúc bằng bức thư ngắn nhất (2 Tê-sa-lô-ni-ca). Nguyên tắc sắp xếp tương tự cũng được áp dụng cho các thư ông viết gửi cho các cá nhân (1 và 2 Ti-mô-thê, Tít, và Phi-lê-môn). Chúng ta sẽ xem xét các thư tín này theo thứ tự thời gian mà chúng được viết ra, trong chừng mực thứ tự đó có thể được xác định với một mức độ chắc chắn nào đó.

II. GA-LA-TI: CHỐNG LẠI NHỮNG KẺ THEO CHỦ NGHĨA DO THÁI HÓA (JUDAIZERS)
#

2.1. Các Vấn Đề Dẫn Nhập
#

a. Cuộc Tranh Luận về Vấn Đề Do Thái Hóa (Judaizing Controversy)
#

Dù một số học giả cho rằng những người chống đối Phao-lô ở Ga-la-ti là những người theo chủ nghĩa hỗn tạp nửa ngoại giáo nửa Do Thái, có lẽ thuộc một nhánh Tri Huệ giáo (Gnostic), nhưng vẫn có khả năng cao hơn nhiều rằng bức thư gửi tín hữu Ga-la-ti có liên quan đến cuộc tranh luận về vấn đề Do Thái hóa (Judaizing controversy), mà vì nó Hội nghị tại Giê-ru-sa-lem đã nhóm họp (Công-vụ 15). Cũng như với hội nghị đó, đối với thư Ga-la-ti, không thể xem nhẹ tầm quan trọng mang tính bước ngoặt lịch sử của những vấn đề thần học đang bị đe dọa. Nhiều tín hữu đầu tiên, vốn là người Do Thái, vẫn tiếp tục duy trì phần lớn lối sống Do Thái của mình, bao gồm việc đi đến nhà hội và đền thờ, dâng các tế lễ, tuân giữ các nghi lễ của Môi-se và các điều kiêng kỵ về ăn uống, cũng như giữ khoảng cách xã hội với người ngoại bang. Việc những người ngoại quy đạo đã buộc Hội Thánh phải đối mặt với một vài câu hỏi quan trọng:

  • Có nên đòi hỏi các tín hữu Cơ Đốc dân ngoại phải chịu cắt bì và thực hành lối sống Do Thái, như các đòi hỏi đối với những người ngoại muốn theo Do Thái giáo không?
  • Đối với những tín hữu người ngoại không muốn trở thành người Do Thái hoàn toàn, liệu Hội Thánh có nên cấp cho họ địa vị công dân hạng hai, giống như những người ngoại “kính sợ Đức Chúa Trời” trong Do Thái giáo không?
  • Quan trọng nhất, điều gì làm nên một Cơ Đốc nhân - chỉ duy nhất đức tin nơi Đấng Christ, hay là đức tin nơi Đấng Christ cộng với việc tuân giữ các nguyên tắc và thực hành của Do Thái giáo?

Xem lại phần thảo luận về Công vụ 15.

b. Chủ Đề và Đối Tượng
#

Thư Ga-la-ti nhấn mạnh vào sự tự do trong Đấng Christ khỏi bất kỳ giáo lý cứu rỗi nào đòi hỏi nỗ lực của con người cộng thêm vào ân điển của Đức Chúa Trời, và nhấn mạnh vào sự hiệp một của tất cả các tín hữu trong Chúa Jesus Christ. Phao-lô viết bức thư này cho các tín hữu sống trong khu vực được gọi là Ga-la-ti, nhưng việc ông sử dụng thuật ngữ Ga-la-ti (Galatia) đã gây ra một cuộc tranh luận ảnh hưởng đến cách chúng ta xác định niên đại của bức thư. Phù hợp với ý nghĩa ban đầu của nó, thuật ngữ này có thể chỉ đề cập riêng biệt đến vùng lãnh thổ phía bắc của các thành phố An-ti-ốt xứ Bi-si-đi, Y-cô-ni và Lít-tra. Hoặc nó cũng có thể bao gồm cả những thành phố đó, vì người La Mã đã sáp nhập các quận phía nam vào khi họ lập Ga-la-ti thành một tỉnh.

VÙNG GA-LA-TI PHÍA BẮC

Theo giả thuyết Ga-la-ti phía Bắc, Phao-lô gửi thư này cho các tín hữu ở Bắc Ga-la-ti, nơi mà ông đã không đến thăm cho tới hành trình truyền giáo thứ hai trên đường từ An-ti-ốt xứ Bi-si-đi đến Trô-ách. Theo quan điểm này, bức thư không thể được viết cho đến một thời điểm nào đó sau giai đoạn khởi đầu của hành trình thứ hai, và do đó là sau Hội nghị Giê-ru-sa-lem trong Công-vụ chương 15 (vốn diễn ra trước hành trình thứ hai). Khi đó, chuyến thăm Giê-ru-sa-lem mà Phao-lô mô tả trong Ga-la-ti chương 2 có lẽ liên quan đến Hội nghị Giê-ru-sa-lem vừa mới được tổ chức. Có lẽ những lập luận mạnh mẽ nhất cho giả thuyết Ga-la-ti phía Bắc, với niên đại muộn, là việc thuật ngữ Ga-la-ti ban đầu chỉ giới hạn ở vùng lãnh thổ phía bắc, và sự tương đồng trong những lời tuyên bố của Phao-lô về sự xưng công chính bởi đức tin với những gì ông viết trong thư Rô-ma, là bức thư mà chắc chắn ông đã viết vào một thời điểm muộn hơn (xem chương 13).

Ngược lại với giả thuyết Ga-la-ti phía Bắc, Lu-ca không có chỗ nào cho thấy rằng Phao-lô đã truyền giáo ở miền Bắc Ga-la-ti. Thậm chí có nghi ngờ rằng việc Phao-lô đã đến thăm vùng lãnh thổ đó trong hành trình thứ hai, vì cụm từ “vùng Phi-ri-gi và Ga-la-ti” trong Công-vụ 16:6 ngụ ý chỉ vùng lãnh thổ phía nam một cách tự nhiên hơn. Việc đi băng qua miền Bắc Ga-la-ti sẽ đòi hỏi một lộ trình vòng vèo không khả thi về phía đông bắc. Và trong các thư tín khác của mình, Phao-lô luôn sử dụng các thuật ngữ địa lý theo ý nghĩa hành chính của đế quốc La Mã, điều này cho phép chúng ta hiểu là đối tượng nhận bức thư Ga-la-ti này là các tín hữu ở Nam Ga-la-ti.

Đọc thêm: MỘT VÍ DỤ VỀ SỰ TƯƠNG ĐỒNG GIỮA THƯ GA-LA-TI VÀ RÔ-MA

“Dầu vậy, đã biết rằng người ta được xưng công bình, chẳng phải bởi các việc luật pháp đâu, bèn là cậy đức tin trong Đức Chúa Jêsus Christ” (Ga-la-ti 2:16).

“… vì chúng ta kể rằng người ta được xưng công bình bởi đức tin, chớ không bởi việc làm theo luật pháp” (Rô-ma 3:28).

VÙNG GA-LA-TI PHÍA NAM

Theo hình thức phổ biến của giả thuyết Nam Ga-la-ti, Phao-lô gửi bức thư đầu tiên của mình cho các Hội Thánh ở miền Nam Ga-la-ti ngay sau hành trình truyền giáo thứ nhất nhưng trước Hội nghị Giê-ru-sa-lem. Khi đó, chuyến thăm Giê-ru-sa-lem được mô tả trong Ga-la-ti chương 2 không liên quan gì đến Hội nghị Giê-ru-sa-lem, mà thay vào đó là chỉ về chuyến viếng thăm để cứu trợ nạn đói được nhắc đến trong Công-vụ 11:27-30.

Một lập luận ủng hộ đối tượng nhận thư là các tín hữu ở miền Nam Ga-la-ti và niên đại sớm là nếu Phao-lô viết bức thư sau Hội nghị Giê-ru-sa-lem, có lẽ ông đã tận dụng sắc lệnh của hội nghị đó ủng hộ sự tự do của tín hữu dân ngoại khỏi luật pháp Môi-se, là chủ đề chính đang được thảo luận trong thư Ga-la-ti. Nhưng ông không hề đề cập đến sắc lệnh đó trong thư. Sự bỏ sót khó hiểu này ngụ ý rằng bức thư đã được viết trước khi hội nghị nhóm họp, và do đó vào thời điểm mà Phao-lô mới chỉ đi thăm miền Nam Ga-la-ti.

Cũng khó có khả năng Phi-e-rơ lại dao động, như ông đã làm trong Ga-la-ti 2:11-14, sau Hội nghị Giê-ru-sa-lem, là nơi ông đã mạnh mẽ ủng hộ lập trường tự do khỏi luật pháp Môi-se. Vào thời điểm Phao-lô đi qua miền Bắc Ga-la-ti (nếu ông thực sự có đi qua đó trong hành trình thứ hai), thì Phi-e-rơ đã tuyên bố rằng ngay cả người Do Thái cũng không thể giữ nổi luật pháp ("một cái ách mà tổ phụ chúng ta hoặc chính chúng ta cũng chưa từng mang nổi,” Công-vụ 15:10).

Dầu vậy, vẫn có khả năng rằng đối tượng nhận thư là các tín hữu ở Nam Ga-la-ti và một niên đại muộn (chẳng hạn như ngay trước thư Rô-ma), mặc cho việc Phao-lô không nhắc đến sắc lệnh của Hội nghị Giê-ru-sa-lem. Một quan điểm hỗn hợp như vậy vừa tôn trọng lộ trình di chuyển khả thi nhất của Phao-lô lẫn sự tương đồng giữa thư Ga-la-ti và thư Rô-ma. Tuy nhiên, sự tương đồng đó có thể là do hai thư đề cập đến những vấn đề giống nhau mà không đòi hỏi phải có sự gần gũi về mặt thời gian tại thời điểm chúng được viết.

“Bởi trước lúc mấy kẻ của Gia-cơ sai đi chưa đến, thì người [Phi-e-rơ] ăn chung với người ngoại; vừa khi họ đã đến thì người lui đứng riêng ra, bởi sợ những kẻ chịu phép cắt bì” (Ga-la-ti 2:12).

Giả Thuyết Ga-la-ti Phía BắcGiả Thuyết Ga-la-ti Phía Nam
Hành trình truyền giáo thứ nhất của Phao-lôHành trình truyền giáo thứ nhất của Phao-lô
Hội nghị Giê-ru-sa-lemViết thư Ga-la-ti
Hành trình truyền giáo thứ hai của Phao-lôHội đồng Giê-ru-sa-lem
Viết thư Ga-la-tiHành trình truyền giáo thứ hai của Phao-lô

2.2. Bố Cục Thư Ga-la-ti
#

Click vào link để xem Bố cục thư Ga-la-ti

2.3. Đọc Thư Ga-la-ti với Sự Giải Thích
#

a. Lời Mở Đầu
#

Đọc Ga-la-ti 1:1-10.

Bức thư mở đầu bằng một lời chào thăm, trong đó Phao-lô nhấn mạnh chức vụ sứ đồ của mình, vì ông muốn xác lập thẩm quyền đối với những kẻ theo chủ nghĩa Do Thái hóa (Judaizers). Thay vì lời tạ ơn thông thường, Phao-lô lập tức và nóng nảy giới thiệu lý do ông viết thư. Ông bàng hoàng vì các tín hữu Ga-la-ti đang bỏ sang một tin lành khác, thực chất không phải là tin lành (“tin tốt”) chút nào.

2.3.2. Luận Cứ Tự Thuật
#

Giờ đây, Phao-lô đưa ra một lập luận dựa trên kinh nghiệm cá nhân cho Tin Lành về ân điển của Đức Chúa Trời để đối lập với thông điệp phái Do Thái hóa vốn đòi hỏi phải tuân giữ luật pháp Môi-se mới được cứu rỗi.

Ông khẳng định rằng Tin Lành này đã đến với ông bởi sự mạc khải trực tiếp từ Chúa Jesus Christ. Ông lập luận rằng chắc chắn Tin Lành này không thể đến từ quá khứ của ông, vì trước khi nhận được sự kêu gọi thiêng liêng, ông đã sốt sắng hết lòng cho Do Thái giáo. Ông cũng không học Tin Lành này từ các sứ đồ tại Giê-ru-sa-lem, vì mãi đến ba năm sau khi quy đạo ông mới gặp họ. Và khi ông đến thăm Giê-ru-sa-lem, ông chỉ gặp Phi-e-rơ (người mà Phao-lô gọi bằng tên A-ram tương đương và nguyên gốc là Sê-pha) và Gia-cơ (em của Chúa Jesus), chỉ ở lại mười lăm ngày, và không làm quen với đại đa số các tín hữu tại xứ Giu-đê.

Vì Tin Lành của ân điển không thể đến từ quá khứ Do Thái giáo của ông hay từ những tiếp xúc với các Cơ Đốc nhân tại Giê-ru-sa-lem, nên nó phải đến từ Đức Chúa Trời. Khi ông đến thăm Giê-ru-sa-lem lần nữa sau mười bốn năm (tính từ lúc ông được kêu gọi hoặc từ chuyến thăm Giê-ru-sa-lem lần đầu tiên), các nhà lãnh đạo tại đó - Gia-cơ, Phi-e-rơ và Giăng - đã chính thức xác nhận tính đúng đắn của Tin Lành ân điển mà ông đang rao giảng cho người ngoại bang. Họ đã làm điều đó bằng cách trao tay hữu giao kết với ông. Hơn nữa, họ cũng không yêu cầu Tít, là người bạn đồng hành dân ngoại của ông, phải chịu phép cắt bì.

b. Phi-e-rơ tại An-ti-ốt Xứ Sy-ri
#

Đọc Ga-la-ti 1:11–2:21.

Khi đến An-ti-ốt xứ Sy-ri, ban đầu Phi-e-rơ ăn chung với các tín hữu người ngoại, nhưng sau đó ông đã nhượng bộ trước áp lực từ những kẻ theo chủ nghĩa Do Thái hóa (Judaizers). Phao-lô đã quở trách ông công khai. Dù có nhiều ý kiến trái chiều ngày nay, hàm ý ở đây dường như là Phi-e-rơ đã chấp nhận lời quở trách đó. Nếu không, Phao-lô khó có thể đưa sự kiện này ra như một lập luận ủng hộ mình. Việc ngay cả Phi-e-rơ cũng bị Phao-lô quở trách đã cho thấy thẩm quyền của Tin Lành ân điển mà Pha-lô rao giảng.

c. “Xưng Công Chính”
#

Lời tóm tắt của Phao-lô về sự khiển trách đối với Phi-e-rơ chứa đựng mầm mống cho lập luận thần học của ông sau đó. Tại đây, Phao-lô sử dụng thuật ngữ xưng công chính, một thuật ngữ xuất hiện nhiều lần, để chỉ việc Đức Chúa Trời coi những người tin nhận Đấng Christ là công chính, tức là ngay thẳng, dù họ là tội nhân.

Trong tiếng Hy Lạp cổ điển, thuật ngữ này mang nghĩa gần như ngược lại: đối xử công chính với mọi người, đặc biệt là thực thi công lý cho người công chính bằng cách trừng phạt kẻ ác. (Các từ tiếng Anh là just [công chính] và righteous [ngay thẳng] đều bắt nguồn từ cùng một tính từ Hy Lạp, cũng như justice [sự công chính] và righteousness [sự ngay thẳng] bắt nguồn từ cùng một danh từ Hy Lạp; và hơn nữa, faith [đức tin] và belief [niềm tin] cũng bắt nguồn từ cùng một danh từ Hy Lạp).

Việc Phao-lô sử dụng từ “xưng công chính” vang vọng cách dùng trong Cựu Ước, đặc biệt là trong sách Ê-sai, nơi Đức Chúa Trời can thiệp một cách đầy ân điển để thiết lập lại mối quan hệ đúng đắn giữa Ngài và con người. Tuy nhiên, sự can thiệp đầy ân điển của Đức Chúa Trời vẫn là công chính, vì Đấng Christ đã chịu hình phạt thay cho tội lỗi của người khác. Và như vậy, sẽ là không công chính nếu Đức Chúa Trời kết án một người tin nơi Đấng Christ.

PHỤ LỤC: “CÁC VIỆC LÀM THEO LUẬT PHÁP" (Works of Law) VÀ “ĐỨC TIN CỦA CHÚA JESUS CHRIST"

Dịch sát nghĩa hơn, Ga-la-ti 2:16a viết rằng: “nhưng biết rằng người ta không được xưng công chính bởi các việc làm của luật pháp, nhưng bởi đức tin của Chúa Jesus Christ.” Các tham chiếu ngữ cảnh đến phép cắt bì và lịch tôn giáo (2:3, 12; 4:10, 12-13; 5:2-6, 11; 6:12) làm nổi bật các quy định cụ thể trong luật pháp Môi-se vốn phân biệt người Do Thái với người ngoại bang và gây ra những vấn đề xã hội trong các Hội Thánh đa sắc tộc ở Ga-la-ti. Nhưng liệu “các việc luật pháp” có bị giới hạn trong những quy định đó không?

Không, vì trong suốt phần còn lại của chương 2 và toàn bộ chương 3, Phao-lô nói về luật pháp Môi-se một cách tổng quát; và ở những nơi khác, ông liệt kê lòng nhiệt thành thể hiện qua hành động bắt bớ Hội Thánh như một yếu tố của sự công chính theo luật pháp của chính ông trước khi cải đạo theo Cơ Đốc giáo - yếu tố này khó có thể coi là dấu hiệu để nhận dạng người Do Thái như phép cắt bì (so sánh Dân-số ký 24:6-18; Thi-thiên 106:28-31).

Do đó, “các công việc của luật pháp” có nghĩa là sự vâng phục luật pháp Môi-se không giới hạn, như một cách để thêm sự công chính của riêng mình vào sự công chính của Đức Chúa Trời để được cứu rỗi. Chẳng hạn, trong Do Thái giáo được đại diện bởi các Cuộn sách Biển Chết, sự xưng công chính được quy cho lòng tốt và lòng thương xót dư dật của Đức Chúa Trời:

“Chỉ bởi lòng tốt của Ngài mà một người được xưng công chính, và bởi lòng thương xót dư dật của Ngài…” (Thanksgivng Hymns [1QH] 5:22-23).

Nhưng, ngoài lòng tốt và sự thương xót của Đức Chúa Trời, người ta còn thêm vào các công việc làm của luật pháp:

“Nay chúng tôi viết cho anh em một số các công việc của luật pháp … Và vì lợi ích của chính anh em và của Y-sơ-ra-ên, điều đó sẽ được kể là sự công chính cho anh em khi anh em làm điều đúng đắn và tốt lành trước mặt Ngài [Đức Chúa Trời]” (Sectarian Manifesto [4QMMT] C, 26-32).

Phao-lô không chấp nhận bất kỳ sự thêm vào nào như vậy, dù là các việc làm của luật pháp mang tính nghi lễ hay luân lý, như trong câu trích dẫn Sáng-thế Ký 15:6 của ông liên quan đến Áp-ra-ham: “Ông tin Đức Chúa Trời [đối lập với việc làm ‘các công việc của luật pháp’ như một phần của sự xưng công chính; 3:2-5], và điều đó được kể là công chính cho ông” (Ga-la-ti 3:6).

Cụm từ “đức tin của Chúa Jesus Christ” trong Ga-la-ti 2:16a đặt ra một câu hỏi khác về cách giải thích (tương tự ở 2:16c; 3:22; Rô-ma 3:22, 26; Ê-phê-sô 3:12; Phi-líp 3:12). Gần đây, một số học giả giải thích cụm từ này là chỉ về đức tin, hoặc sự thành tín, mà chính Chúa Jesus Christ đã thực hiện, chứ không phải đức tin mà Ngài là đối tượng. Giới từ “của” có thể khiến nó nghe như thể Chúa Jesus Christ đã thực hiện đức tin hoặc sự thành tín, nhưng tiếng Hy Lạp nguyên gốc hoàn toàn trung lập về câu hỏi liệu Ngài là chủ thể hay đối tượng của đức tin.

Tuy nhiên, cả ở đây lẫn ở những chỗ khác, Phao-lô đều không nói rằng Chúa Jesus “tin” hoặc “thành tín”. Mặt khác, cả ở đây và những chỗ khác, Phao-lô nhiều lần đặt Chúa Jesus làm đối tượng cho niềm tin của con người (ví dụ, hãy xem phần giữa của chính câu này: “chính chúng ta cũng đã tin vào Đấng Christ Jesus,” dường như nhằm để loại bỏ ý tưởng Chúa Jesus Christ là người thực hiện đức tin hoặc sự thành tín [so sánh Mác 11:22, nơi cụm từ “Hãy có đức tin của Đức Chúa Trời” (dịch sát nghĩa) có nghĩa là có đức tin nơi Đức Chúa Trời, vì việc có đức tin hay sự thành tín của Ngài không mang ý nghĩa phù hợp trong văn cảnh]). Do đó, cách giải thích truyền thống rằng “đức tin của Chúa Jesus Christ” có nghĩa là “đức tin nơi Chúa Jesus Christ” vẫn đứng vững.

Một bản diễn giải có thể giúp hiểu Ga-la-ti 2:17-21: “Nếu chúng ta phải từ bỏ luật pháp Môi-se để được xưng công chính bởi đức tin nơi Đấng Christ, thì có phải Đấng Christ khuyến khích tội lỗi không? Không phải vậy; trái lại, nếu tôi quay lại với luật pháp đó, tôi ngụ ý rằng mình đã phạm tội khi từ bỏ nó. Nhưng tôi không phạm tội khi từ bỏ nó, vì Đấng Christ đã chết dưới sự phán xét của luật pháp đối với tội lỗi; và nếu con người có thể trở nên công chính qua việc giữ luật pháp, thì Ngài đã không cần phải chết. Là một tín hữu, tôi đã chết với Ngài theo nghĩa là Đức Chúa Trời tính cái chết của Đấng Christ cũng là cái chết của chính tôi. Luật pháp không có thẩm quyền trên một người đã chết, đặc biệt là người đã chết dưới hình phạt của nó. Vậy, vì đã chết với Đấng Christ, tôi không còn bị ràng buộc phải giữ luật pháp nữa. Nhưng Ngài đã sống lại và sống trong tôi, nên giờ đây tôi sống bởi đức tin nơi Ngài.”

Đọc thêm: SỰ XƯNG CÔNG CHÍNH MANG NGHĨA TRỪNG PHẠT TRONG TIẾNG HY LẠP CỔ ĐIỂN

“Ông là người nghiêm khắc trong việc thực thi công lý. … Vì khi nghe có kẻ đang hành hung, ông sẽ cho gọi kẻ đó đến và trừng phạt hắn [nghĩa đen là ‘xưng công chính cho hắn’] sao cho tương xứng với mỗi tội trạng” (Herodotus 1.100).

Đọc thêm: SỰ XƯNG CÔNG CHÍNH MANG NGHĨA ÂN XÁ TRONG Ê-SAI

“Hết thảy dòng dõi con cái Y-sơ-ra-ên sẽ được Chúa xưng công chính, và họ sẽ được Đức Chúa Trời làm cho vinh hiển” (Ê-sai 45:25 LXX).

2.4. Luận Cứ Thần Học
#

Đọc Ga-la-ti 3:1–5:12.

Giờ đây, Phao-lô triển khai lập luận thần học của mình. Lập luận này làm nổi bật ba cặp đối lập:

  • Luật pháp đối lập với Ân điểnLời hứa
  • Việc làm đối lập với Đức tin
  • Xác thịt đối lập với Thánh Linh

Dựa trên những sự đối lập này, Phao-lô lập luận rằng nếu chúng ta được xưng công chính bởi đức tin ngay từ đầu, thì chúng ta nên tiếp tục bước đi bằng đức tin thay vì bởi luật pháp. Áp-ra-ham đã được xưng công chính từ rất lâu trước khi luật pháp được ban cho; vì vậy, ngay cả trong Cựu Ước, sự công chính cũng đến bởi đức tin chứ không phải bởi luật pháp.

Luật pháp chỉ có thể rủa sả hoặc kết án, vì không một ai vâng giữ nó một cách trọn vẹn. Đấng Christ đã chết để giải cứu chúng ta khỏi luật pháp và sự rủa sả tất yếu của nó. Việc Đức Chúa Trời lập giao ước với Áp-ra-ham trước khi ban luật pháp qua Môi-se cho thấy rằng giao ước Áp-ra-ham là nền tảng hơn luật pháp. Do đó, luật pháp không hủy bỏ giao ước đó. Về phía Đức Chúa Trời, giao ước Áp-ra-ham bao gồm một lời hứa ban phước cho dòng dõi Áp-ra-ham; về phía con người, đó là việc chấp nhận lời hứa của Đức Chúa Trời bằng đức tin. Dòng dõi của Áp-ra-ham bao gồm Đấng Christ cùng tất cả những ai được hiệp nhất vào trong Ngài bằng cách noi theo gương đức tin của Áp-ra-ham.

Luật pháp Môi-se quả thực có một mục đích, nhưng chỉ là tạm thời. Luật pháp được ban cho nhằm dẫn dắt người ta đến với Đấng Christ, giống như những nô lệ làm gia sư thời cổ đại dẫn trẻ em đến trường. Luật pháp đã hoàn thành mục đích này bằng cách khiến con người nhận thức sâu sắc về sự bất lực của mình trong việc tự làm cho mình trở nên công chính. Vì vậy, ở dưới luật pháp cũng giống như làm trẻ vị thành niên hoặc nô lệ. Nhưng trong Đấng Christ, con người sống như những người trưởng thành tự do, được nhận vào gia đình của Đức Chúa Trời làm con nuôi và là người thừa kế với những đặc quyền và trách nhiệm của người đã khôn lớn. Câu hỏi đặt ra là tại sao các tín hữu lại muốn quay trở lại địa vị thấp kém hơn?

Phao-lô sau đó nhắc lại cách người Ga-la-ti đã tiếp nhận thông điệp của ông như thế nào khi họ mới quy đạo, và ông nài xin họ hãy tiếp nhận thông điệp hiện tại của ông giống như họ đã tiếp nhận thông điệp trước đây.

Ông củng cố thêm lập luận của mình theo phong cách của các ra-bi bằng cách giải nghĩa hình bóng một câu chuyện trong Cựu Ước. A-ga (Hagar), người nữ nô lệ, tượng trưng cho núi Si-nai, là nơi đại diện cho luật pháp Môi-se cùng trung tâm của nó tại Giê-ru-sa-lem, xứ Palestine. Ít-ma-ên (Ishmael), đứa con sinh ra bởi người nữ nô lệ, tượng trưng cho những người bị làm nô lệ cho luật pháp. Sa-ra tượng trưng cho Cơ Đốc giáo và thủ đô của nó là Giê-ru-sa-lem trên trời. Y-sác, đứa con của lời hứa và được sinh ra bởi người nữ tự do, tượng trưng cho tất cả những con cái thuộc linh của Áp-ra-ham, tức là những người noi theo gương đức tin của Áp-ra-ham và do đó được tự do trong Đấng Christ khỏi luật pháp.

2.5. Lời Cảnh Báo
#

Đọc Ga-la-ti 6:11-18.

Phần chính cuối cùng của bức thư cảnh báo chống lại chủ nghĩa phóng túng (libertinism), hay chủ nghĩa chống luật pháp (antinomianism), tức là thái độ cho rằng sự tự do khỏi luật pháp đồng nghĩa với việc buông thả trong tội lỗi. Phao-lô viết rằng không phải như vậy. Cơ Đốc nhân phải ăn ở theo Đức Thánh Linh thay vì theo xác thịt (những ham muốn tội lỗi). Hơn nữa, họ phải yêu thương giúp đỡ người khác, đặc biệt là các anh chị em cùng đức tin, và dâng hiến rời rộng cho những người phục vụ trong việc rao giảng Tin Lành.

Sự mâu thuẫn giữa Ga-la-ti 6:2, “Hãy mang lấy gánh nặng cho nhau,” và 6:5, “Vì ai sẽ gánh lấy riêng phần nấy,” chỉ là vẻ bề ngoài. Trong câu thứ nhất, Phao-lô muốn nói rằng Cơ Đốc nhân nên giúp đỡ lẫn nhau trong những khó khăn hiện tại; ở câu thứ hai, là tại sự phán xét trong tương lai, mỗi người sẽ phải khai trình trước Đức Chúa Trời về hành vi của riêng mình.

Sau phần công kích kéo dài vào chủ nghĩa luật pháp của phái Do Thái hóa (Judaizers’ legalism), Phao-lô thêm vào nhiều quy tắc chi phối hành vi của Cơ Đốc nhân. Những điều này cho thấy chủ nghĩa luật pháp không đơn thuần nằm ở việc có các quy tắc. Các sách Tân Ước chứa đựng nhiều quy tắc về hành vi. Chủ nghĩa luật pháp đúng hơn là việc áp đặt những quy tắc sai, và đặc biệt là nhiều quy tắc hơn mức tình huống đòi hỏi, đến nỗi trong một mê cung của những chi tiết vụn vặt, người ta đánh mất khả năng phân biệt điều quan trọng hơn với điều ít quan trọng hơn, nguyên tắc với việc áp dụng nó. Chủ nghĩa luật pháp cũng bao gồm việc cố gắng tìm kiếm công trạng trong sự vâng phục của mình, đối lập với sự nhìn nhận rằng sự vâng phục chẳng qua chỉ là bổn phận của một người. Hậu quả là đánh mất đi chiều kích cá nhân của việc vui hưởng sự thông công với Đức Chúa Trời dựa trên nền tảng duy nhất là bởi ân điển của Ngài.

Phao-lô thêm vào phần kết luận bằng chính bút tích của mình. Những “chữ lớn” mà ông sử dụng có thể là để nhấn mạnh. Một cách giải thích khác là do thị lực kém hoặc thiếu kỹ năng trong việc viết lách nên ông phải viết chữ to. Phao-lô cáo buộc rằng động cơ của phái Do Thái hóa (Judaizers) là mong muốn tránh khỏi sự bắt bớ từ những người Do Thái không tin Chúa Jesus và tham vọng khoe khoang rằng họ có thể lôi kéo những người mới quy đạo khỏi ông. Ngược lại, ông hướng sự chú ý đến những nỗi khổ hình mà ông đã vui lòng chịu đựng vì thông điệp của mình, và kêu gọi người Ga-la-ti hãy tự phán đoán xem ai là người có động cơ thuần khiết hơn, ông hay phái Do Thái hóa (Judaizers).

III. 1 TÊ-SA-LÔ-NI-CA: LỜI CHÚC MỪNG VÀ AN ỦI
#

3.1. Các Vấn Đề Dẫn Nhập
#

a. Chủ Đề
#

Các bức thư của Phao-lô gửi cho Hội Thánh tại Tê-sa-lô-ni-ca được biết đến nhiều nhất là phần dạy dỗ về sự tái lâm của Chúa Jesus Christ và các sự kiện liên quan. Hai bức thư này, cùng với Bài giảng trên núi Ô-li-ve của Chúa Jesus và sách Khải-huyền của Giăng, tạo thành ba phần tiên tri chính yếu của Tân Ước. Trong thư 1 Tê-sa-lô-ni-ca, âm hưởng lai thế học này thuộc về chủ đề thứ hai trong hai chủ đề tổng quát sau đây:

  • Lời chúc mừng các tín hữu Tê-sa-lô-ni-ca về sự quy đạo và sự tấn tới của họ trong đức tin Cơ Đốc
  • Những lời khuyên bảo hướng tới sự tấn tới hơn nữa, với sự nhấn mạnh đặc biệt vào niềm an ủi đến từ sự tái lâm của Chúa Jesus và lòng trông đợi sự kiện này.

b. Bối Cảnh
#

Tê-sa-lô-ni-ca, thủ phủ của xứ Ma-xê-đoan, nằm trên đường Via Egnatia, là con đường huyết mạch nối liền La Mã với phương Đông. Thành phố có chính quyền riêng, được lãnh đạo bởi các quan thị chính (politarchs), và có một khu định cư của người Do Thái. Phao-lô đã truyền giáo tại thành phố này trong hành trình truyền giáo thứ hai của mình. Một số người Do Thái, cùng nhiều người Hy Lạp và những phụ nữ quyền quý đã tiếp nhận đức tin Cơ Đốc. Lời khẳng định của Phao-lô: “Anh em đã từ bỏ thần tượng mà trở lại cùng Đức Chúa Trời” (1 Tê-sa-lô-ni-ca 1:9), ngụ ý rằng đa số các tín hữu tại đó là người ngoại bang, vì người Do Thái thời kỳ đó không còn thờ thần tượng nữa. (Cuộc lưu đày sang A-si-ri và Ba-by-lôn đã giúp họ dứt bỏ điều đó). Những người Do Thái không tin Chúa Jesus tại Tê-sa-lô-ni-ca đã chống đối Tin Lành một cách dữ dội bằng cách tấn công nhà của Gia-sôn, là người đã tiếp đãi Pha-lô tại nhà mình, và sau đó họ còn đi đến Bê-rê để đuổi Phao-lô ra khỏi thành phố đó.

Theo Công-vụ 17:2, Phao-lô đã dành ba ngày Sa-bát để giảng dạy trong nhà hội tại Tê-sa-lô-ni-ca. Phần tường thuật của Lu-ca dường như ngụ ý rằng cuộc nổi loạn buộc Phao-lô phải rời đi đã xảy ra ngay sau mục vụ của ông trong nhà hội, và Công-vụ 17:10 cho biết các tín hữu đã đưa Phao-lô đi ngay sau cuộc nổi loạn đó. Dù vậy, một số học giả cho rằng có khoảng cách giữa thời gian Phao-lô giảng dạy trong nhà hội và cuộc nổi loạn, vì Phao-lô có đề cập đến việc ông tự làm việc để nuôi thân tại Tê-sa-lô-ni-ca (1 Tê-sa-lô-ni-ca 2:7-11) và đã nhận một hoặc hai món quà từ thành Phi-líp gửi đến trong thời gian ông lưu trú tại Tê-sa-lô-ni-ca (Phi-líp 4:16). Nhưng, ông có thể đã bắt đầu làm việc ngay khi vừa đến Tê-sa-lô-ni-ca và tiếp tục trong ba hoặc bốn tuần. Tương tự, hai lần của dâng có thể đã được gửi từ Phi-líp đến cho ông chỉ trong vòng một tháng.

Một lập luận khác ủng hộ cho việc Phao-lô lưu trú lâu hơn tại Tê-sa-lô-ni-ca là các thư 1 và 2 Tê-sa-lô-ni-ca giả định rằng có nhiều sự dạy dỗ về giáo lý hơn những gì Phao-lô có thể truyền đạt trong vòng một tháng hoặc xấp xỉ thời gian đó. Tuy nhiên, Phao-lô có lẽ đã dạy cho những người mới quy đạo bên ngoài nhà hội vào các ngày trong tuần; và Ti-mô-thê, là người đã ở lại Tê-sa-lô-ni-ca lâu hơn và sau khi rời đi đã quay trở lại đây lần nữa, chắc hẳn đã dạy dỗ họ nhiều hơn nữa. Do đó, chúng ta có lẽ nên giới hạn thời gian phục vụ của Phao-lô tại Tê-sa-lô-ni-ca trong khoảng một tháng.

c. Hoàn Cảnh Viết Thư
#

Ti-mô-thê đã gặp lại Phao-lô tại A-thên, rồi quay trở lại Tê-sa-lô-ni-ca, sau đó gặp lại Phao-lô tại Cô-rinh-tô. Báo cáo của Ti-mô-thê đã tạo cơ hội để Phao-lô viết 1 Tê-sa-lô-ni-ca (so sánh 3:1-2 với Công-vụ 18:5). Do đó, chúng ta có thể suy luận rằng Phao-lô đã viết 1 Tê-sa-lô-ni-ca từ Cô-rinh-tô trong chuyến hành trình truyền giáo thứ hai của mình, chỉ vài tuần sau khi ông truyền giảng cho các tín hữu tại Tê-sa-lô-ni-ca.

3.2. Bố Cục Thư 1 Tê-sa-lô-ni-ca
#

Click vào link để xem Bố cục thư 1 Tê-sa-lô-ni-ca

3.3. Đọc Thư 1 Tê-sa-lô-ni-ca với Sự Giải Thích
#

a. Lời Chúc Mừng
#

Đọc 1 Tê-sa-lô-ni-ca 1:1-3:13.

Phần chính thứ nhất của 1 Tê-sa-lô-ni-ca bao gồm lời chúc mừng các tín hữu Tê-sa-lô-ni-ca về sự quy đạo và sự tấn tới của họ trong đời sống Cơ Đốc. Sự trung thành của họ ngay cả giữa lúc bị bách hại đang trở thành tấm gương tốt cho các tín hữu khác tại Ma-xê-đoan và Hy Lạp (A-chai). Tin tức của Ti-mô-thê về họ rất tích cực.

Như thường lệ, Phao-lô kết hợp lời chào điển hình của người Hy Lạp đã được biến đổi dưới hình thức Cơ Đốc, tức là “ân điển”, với lời chào kiểu Semitic truyền thống, tức là “bình an”. Hình thức của từ “ân điển” mà những người Hy Lạp không theo Cơ Đốc giáo sử dụng mang ý nghĩa đơn giản là “xin chào”, nhưng Phao-lô đã thay đổi thuật ngữ này để nó mang hàm ý về ơn phước thiên thượng được ban cho những tội nhân không xứng đáng thông qua Chúa Jesus Christ. “Bình an” không chỉ có nghĩa là không có chiến tranh, mà nó còn mang ý nghĩa tích cực về sự thịnh vượngphước lành.

Một bộ ba đức hạnh Cơ Đốc nổi tiếng xuất hiện trong 1 Tê-sa-lô-ni-ca 1:3 - đức tin, yêu thương,trông cậy. Đức tin sinh ra những việc làm tốt lành. Tình yêu thương dẫn đến lao động, tức là những hành động nhân từ và thương xót. Sự trông cậy, là một thuật ngữ lai thế học chỉ sự trông đợi chắc chắn vào ngày Chúa Jesus trở lại, tạo nên sự kiên định trong thử thách và bắt bớ.

Vào giữa phần chúc mừng này, Phao-lô nhắc nhở người Tê-sa-lô-ni-ca về mục vụ yêu thương và đầy hy sinh của ông giữa họ. Một số người cho rằng, ở đây, Phao-lô đang tự bào chữa để chống lại những lời vu khống nhằm hủy hoại tầm ảnh hưởng của ông. Nhưng có lẽ đúng hơn, ông nhấn mạnh rằng, xét vì ông đã nỗ lực hết mình trong công việc truyền giáo tại Tê-sa-lô-ni-ca, nên ông rất vui mừng khi thấy họ đã đáp lại Tin Lành một cách tích cực.

b. Các Lời Khuyên Bảo
#

Đọc 1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:1-5:28.

Phao-lô chuyển tiếp một cách khéo léo từ lời chúc mừng sang lời khuyên bảo bằng cách khích lệ các tín hữu Tê-sa-lô-ni-ca tiếp tục sự tấn tới của mình. Những mệnh lệnh về việc sống yên lặng và tiếp tục làm việc có thể là lời quở trách dành cho những người tin tưởng quá mấu vào việc Chúa Jesus sẽ trở lại ngay lập tức đến nỗi họ bỏ bê công việc của mình. Việc Phao-lô công khai ủng hộ việc lao động chân tay trái ngược với quan điểm phổ biến của tầng lớp thượng lưu Hy Lạp, là những người coi thường loại lao động đó.

Sự Cất Lên (Rapture) là thuật ngữ thường được dùng để chỉ việc các Cơ Đốc nhân được cất lên trong ngày Chúa Jesus tái lâm, như được mô tả trong 1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:16-17.

Sự Biến Hóa (Translation) chỉ về việc thân thể của các Cơ Đốc nhân còn sống trên đất được trở nên bất diệtvinh hiển khi Chúa Jesus trở lại. Vì còn đang sống tại thời điểm Chúa Jesus trở lại, nên thân thể hay chết của họ không cần phục sinh, nhưng cần được biến hóa.

Các tín hữu Tê-sa-lô-ni-ca đã đau buồn trước sự qua đời của những người cùng đức tin, dường như vì họ không nhận ra rằng những tín hữu này sẽ được sống lại khi Chúa Jesus trở lại. Phao-lô trấn an độc giả bằng cách giải thích rằng những Cơ Đốc nhân đã qua đời sẽ sống lại ngay trước khi Sự Cất Lên diễn ra, để họ có thể được đưa đi cùng với những Cơ Đốc nhân còn đang sống trên đất.

Sau đó, Phao-lô chuyển từ sự an ủi sang lời cảnh báo. Các Cơ Đốc nhân phải tỉnh thức chờ đợi Ngày của Chúa (“kỳ Chúa đến” [1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:15] và các sự kiện theo sau) để không bị bất ngờ. Không tỉnh thức đồng nghĩa với việc tự xếp mình vào hàng ngũ những kẻ gian ác, là những kẻ sẽ bị bắt gặp một cách bất ngờ. Mặt khác, sự sẵn sàng cho Ngày của Chúa không chỉ là sự nhận thức trong tâm trí, mà còn bao gồm một lối sống được đặc trưng bởi sự vâng phục các mệnh lệnh, chẳng hạn như những mệnh lệnh được nêu ra ở phần kết thúc của bức thư.

IV. THƯ 2 TÊ-SA-LÔ-NI-CA: SỰ ĐIỀU CHỈNH VỀ SỰ TÁI LÂM
#

4.1. Các Vấn Đề Dẫn Nhập
#

BỐI CẢNH VÀ CHỦ ĐỀ

Một số học giả đảo ngược thứ tự của thư 1 và 2 Tê-sa-lô-ni-ca; nhưng quan điểm đó thiếu bằng chứng từ các bản sao chép cổ và, cùng với những cân nhắc khác, 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:15 (“anh em đã được dạy dỗ qua thư của chúng tôi”) dường như giả định đã có thư 1 Tê-sa-lô-ni-ca trước đó. Vì vậy, Phao-lô viết thư 2 Tê-sa-lô-ni-ca từ Cô-rinh-tô trong hành trình truyền giáo thứ hai, không lâu sau khi viết thư 1 Tê-sa-lô-ni-ca.

Trong khoảng thời gian giữa hai bức thư, chủ nghĩa cuồng tín đã gia tăng trong Hội Thánh tại Tê-sa-lô-ni-ca. Sự cuồng tín này nảy sinh từ niềm tin rằng sự tái lâm của Chúa Jesus sắp xảy ra. Rõ ràng, niềm tin đó xuất phát từ ước muốn được giải thoát khỏi sự bắt bớ. (Ước muốn là nguồn gốc của suy nghĩ.) Vì vậy, Phao-lô viết bức thư thứ hai này cho người Tê-sa-lô-ni-ca để làm dịu đi sự cuồng tín, bằng cách điều chỉnh quan điểm lai thế học đã gây ra nó.

4.2. Bố Cục Thư 2 Tê-sa-lô-ni-ca
#

Click vào link để xem Bố cục thư 2 Tê-sa-lô-ni-ca

4.3. Đọc Thư 2 Tê-sa-lô-ni-ca với Sự Giải Thích
#

a. Sự Khích Lệ
#

Đọc 2 Tê-sa-lô-ni-ca 1:1-3:18.

Sau lời chào thăm ban đầu, một lần nữa Phao-lô tạ ơn Đức Chúa Trời về sự tấn tới của các tín hữu Tê-sa-lô-ni-ca trong đời sống Cơ Đốc và về sự kiên nhẫn chịu đựng bắt bớ của họ; nhưng lời khen ngợi này ngắn hơn nhiều so với trong thư 1 Tê-sa-lô-ni-ca. Chuyển nhanh sang chủ đề lai thế học, Phao-lô mô tả một cách sống động về sự tái lâm, là lúc những kẻ bắt bớ sẽ bị phán xét và những người bị bắt bớ sẽ được giải cứu khỏi những nỗi khổ hình của mình. Mục đích của ông là khích lệ người Tê-sa-lô-ni-ca tiếp tục kiên trì chịu đựng bằng cách hướng về sự đảo ngược cục diện khi Đấng Christ trở lại.

Sau đó, Phao-lô bắt đầu giải quyết sự hiểu lầm của họ về Sự Hiện Đến (Parousia) bằng cách cho biết rằng sự kiện đó không xảy ra ngay lập tức. Vì vậy, họ nên quay trở lại với công việc và nghề nghiệp của mình. Trông đợi sự trở lại của Đấng Christ không có nghĩa là ngừng các hoạt động sinh sống bình thường. Ngài có thể sẽ chưa trở lại trong một thời gian nữa.

b. Sự Điều Chỉnh
#

Lời cảnh báo của Phao-lô về việc đừng để bị lừa dối bởi lời tiên tri giả, hay bởi một báo cáo truyền miệng hoặc văn bản giả mạo danh nghĩa ông, cho thấy rằng những kẻ cầm đầu sự cuồng tín tại Tê-sa-lô-ni-ca đã tự xưng là có sự ủng hộ của ông.

Cụm từ “người tội ác” (2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:3) ám chỉ kẻ chống Đấng Christ (Antichrist) sắp đến. Nhân vật gian ác này sẽ đòi hỏi sự thờ phượng chính mình trong đền thờ của Đức Chúa Trời. Nghĩa là, hắn sẽ cố gắng ép buộc người ta thờ lạy hình tượng của hắn, là hình tượng mà hắn sẽ đặt trong đền thờ của người Do Thái tại Giê-ru-sa-lem (so sánh Mác 13:14; Ma-thi-ơ 24:15; Khải-huyền 13:1-18); hoặc, vì ở những nơi khác Phao-lô gọi các tín hữu là đền thờ của Đức Chúa Trời (1 Cô-rinh-tô 3:16-17; 6:19; 2 Cô-rinh-tô 6:16; Ê-phê-sô 2:21), nên kẻ chống Đấng Christ sẽ trỗi dậy như một kẻ bội đạo tự tôn mình làm thần ngay trong Hội Thánh.

Ý kiến cho rằng khái niệm về kẻ chống Đấng Christ này bắt nguồn từ huyền thoại rằng Nê-rô thực chất chưa chết mà sẽ trở lại Rô-ma để báo thù là không hợp lý, vì (1) khái niệm này đã có từ trước thời Nê-rô; hoặc (2) nếu chấp nhận ý kiến này thì buộc phải định niên đại của thư 2 Tê-sa-lô-ni-ca vào thời điểm sau khi Phao-lô tử đạo và sau khi Nê-rô chết, tức là phủ nhận tính xác thực của bức thư – mà việc đó lại không có lý do chính đáng.

Cũng có ý kiến cho rằng Phao-lô đang liên tưởng đến sắc lệnh chưa được thực hiện của Hoàng đế Caligula vào năm 40 về việc dựng một bức tượng của chính ông ta để thờ phượng trong đền thờ tại Giê-ru-sa-lem. Có lẽ là vậy, nhưng lời tiên tri của Đa-ni-ên về sự gớm ghiếc làm hoang tàn (9:27; 11:31; 12:11), sự báng bổ đền thờ của Antiochus Epiphanes vào năm 168 TCN, và lời ám chỉ của Chúa Jesus về một sự gớm ghiếc gây ra sự hoang tàn vẫn còn ở tương lai (xem các tham chiếu ở trên) mới là bối cảnh chính cho những tuyên bố của Pha-lô.

Đọc thêm: MỘT HUYỀN THOẠI VỀ NÊ-RÔ

“Ông ta đã chết vào năm ba mươi hai tuổi. … Thế nhưng trong một thời gian dài, vẫn có một số người … đưa ra các sắc lệnh của ông ta như thể ông ta vẫn còn sống, và chẳng bao lâu nữa sẽ trở lại để gieo rắc sự hủy diệt cho kẻ thù của mình” (Suetonius, Lives of the Caesars, “Nero” 57).

“Vào khoảng thời gian này, xứ Achaia và tỉnh Asia bị kinh hãi bởi một tin đồn thất thiệt về sự xuất hiện của Nê-rô. Các báo cáo về cái chết của ông rất khác nhau, và vì thế nhiều người đã tưởng tượng và tin rằng ông ta vẫn còn sống” (Tacitus, Histories 2.8).

“Beliar sẽ ngự xuống … từ vòm trời của hắn trong hình dạng một con người, là một vua của sự gian ác, một kẻ giết mẹ mình. … Hắn sẽ nói rằng, ‘Ta là Chúa, và trước ta không có ai.’ Và mọi người trên thế giới sẽ tin hắn. Họ sẽ dâng tế lễ cho hắn và sẽ phục vụ hắn. … Và sau 1.332 ngày, Chúa sẽ đến với các thiên sứ của Ngài … và sẽ lôi Beliar, cùng các đạo quân của hắn, xuống Gehenna. Và Ngài sẽ ban sự yên nghỉ cho những người tin kính mà Ngài tìm thấy khi họ còn đang ở trong thân thể của thế gian này” (trích Martyrdom and Ascension of Isaiah).

c. Sự Kiềm Hãm – Đấng Kiềm Hãm
#

Phao-lô cảm thấy không cần thiết phải xác định điều gì hoặc ai đang ngăn trở kẻ chống Đấng Christ xuất hiện cho đến thời điểm thích hợp, vì người Tê-sa-lô-ni-ca đã biết điều này qua những bài giảng của ông. Theo hai giả thuyết có khả năng nhất, sự ngăn trở bao gồm: (1) thể chế chính quyền nhân loại, được cá nhân hóa qua các nhà cai trị như hoàng đế La Mã và các thuộc cấp của ông, được Đức Chúa Trời thiết lập để bảo vệ luật pháp và trật tự (vì kẻ chống Đấng Christ sẽ là kẻ “vô luật pháp”); hoặc (2) hoạt động của Đức Thánh Linh, đang kìm giữ kẻ chống Đấng Christ trực tiếp hoặc gián tiếp qua trung gian là Hội Thánh.

Một số người cho rằng Phao-lô đề cập đến việc rao giảng truyền giáo như là sự kiềm chế, và bản thân ông, với tư cách là nhà truyền giáo hàng đầu, là người kiềm chế sự xuất hiện của kẻ chống Đấng Christ. Nhưng thật khó để tin rằng ông đã dự đoán việc chính mình bị loại bỏ một cách đặc biệt như là điều kiện cho sự xuất hiện của kẻ chống Đấng Christ, bởi vì ở những chỗ khác, ông cũng mong đợi Sự Hiện Đến (Parousia) cũng như các tín hữu Cơ Đốc khác.

Cuối cùng, sự nhấn mạnh vào chữ viết tay của chính Phao-lô như một dấu hiệu về tính xác thực của bức thư này có thể ngụ ý rằng đã có một bức thư được giả mạo dưới danh nghĩa Phao-lô để cổ xúy cho sự cuồng tín tại Tê-sa-lô-ni-ca.

TÓM LƯỢC
#

Nhìn chung, các bức thư của Phao-lô là sự kết hợp giữa thư từ riêng tư và thư tín văn chương. Giống như các tác giả khác, ông đã sử dụng sự trợ giúp của những người chép thư (amanuenses). Phần lớn các bức thư của ông chứa đựng các nội dung thần học và khuyên bảo, đôi khi được trình bày nối tiếp nhau, đôi khi đan xen. Trong Kinh Thánh Tân Ước, các thư gửi cho Hội Thánh được xếp trước, sau đó là các thư gửi cho cá nhân; và trong mỗi nhóm, thứ tự được sắp xếp theo độ dài giảm dần.

Thư Ga-la-ti có lẽ được viết đầu tiên, sau hành trình truyền giáo thứ nhất của Phao-lô, trước Hội nghị Giê-ru-sa-lem và hành trình truyền giáo thứ hai, và được gửi cho các tín hữu ở miền Nam Ga-la-ti. Bức thư nhắm vào tà giáo Do Thái hóa (Judaizing heresy), là thuyết cho rằng sự cứu rỗi đòi hỏi phải tuân giữ luật pháp Môi-se, bắt đầu bằng phép cắt bì, cộng thêm vào đức tin nơi Đấng Christ. Cả về phương diện tự thuật lẫn thần học, Phao-lô lập luận cho sự xưng công chính chỉ bởi đức tin, từ đầu đến cuối, một sự xưng công chính có được bởi Đức Chúa Trời nhìn xem các tín hữu trong Đấng Christ là những người hiệp nhất với Đấng Christ đến mức khi Đấng Christ chết dưới sự rủa sả của luật pháp, họ cũng đã chết và được giải phóng khỏi luật pháp. Đồng thời, Phao-lô cảnh báo việc hiểu sai sự tự do khỏi luật pháp như một sự buông thả để phạm tội. Việc thực hành sự buông thả như vậy cho thấy người đó không có Đức Thánh Linh, mà nếu không có Ngài thì sự hiệp nhất với Đấng Christ, là điều làm cho sự xưng công chính bởi đức tin trở nên khả thi, không xảy ra.

Phao-lô viết thư 1 Tê-sa-lô-ni-ca từ Cô-rinh-tô trong hành trình truyền giáo thứ hai. Bức thư nhằm đáp lại tin tức của Ti-mô-thê về tình trạng của Hội Thánh tại Tê-sa-lô-ni-ca. Sự tấn tới tốt đẹp của những người mới quy đạo tại đó đã nhận được lời khen ngợi của Phao-lô, và nỗi đau buồn của họ trước sự qua đời của một số người trong vòng họ đã nhận được những lời an ủi từ ông. Sự an ủi đó bao gồm sự bảo đảm rằng các tín hữu đã qua đời sẽ được sống lại khi Chúa Jesus trở lại. Trong khi chờ đợi, Phao-lô nói rằng các tín hữu còn sống nên giữ thái độ tỉnh thức để không bị bất ngờ.

Phao-lô viết thư 2 Tê-sa-lô-ni-ca muộn hơn một chút so với thư 1 Tê-sa-lô-ni-ca trong thời gian ông lưu trú tại Cô-rinh-tô trong chuyến hành trình truyền giáo thứ hai. Giữa hai bức thư này, trong vòng các tín hữu Tê-sa-lô-ni-ca đã nảy sinh niềm tin vào sự tái lâm sắp xảy ra của Chúa Jesus để tiêu diệt những kẻ bắt bớ họ. Pha-lô nói rằng không nhanh như vậy đâu. Sự phản nghịch chống lại Đức Chúa Trời vào thời kỳ cuối cùng - một cuộc phản nghịch được dẫn dắt bởi “người tội ác” (thuật ngữ của Pha-lô chỉ về kẻ chống Đấng Christ) - phải xảy ra trước. Vì vậy, ông khuyên các tín hữu Tê-sa-lô-ni-ca hãy quay trở lại với đời sống Cơ Đốc bình thường.