Skip to main content

Chương 13: CÁC THƯ TÍN LỚN CỦA PHAO-LÔ

·17506 words·83 mins·
Author
Lily
Table of Contents

TÂN ƯỚC LƯỢC KHẢO

I. THƯ 1 CÔ-RINH-TÔ: NHỮNG NAN ĐỀ TRONG HỘI THÁNH
#

1.1. Các Vấn Đề Dẫn Nhập
#

a. Mục Đích
#

Bức thư thứ nhất của Phao-lô gửi cho tín hữu Cô-rinh-tô cho thấy rằng những tình trạng đáng buồn xảy ra trong Hội Thánh không chỉ xảy ra trong các Hội Thánh thời hậu sứ đồ. Những niềm tin và thực hành lệch lạc với đủ loại và mức độ thô tục đáng kinh ngạc đã lan tràn trong Hội Thánh Cô-rinh-tô. Chính để giải quyết những nan đề đó mà Phao-lô đã viết bức thư này.

b. Mục Vụ của Phao-lô tại Cô-rinh-tô
#

Theo Công-vụ 18:1-18a, khi mới đến Cô-rinh-tô, Phao-lô đã làm nghề may trại với A-qui-la và Bê-rít-sin. Vào các ngày Sa-bát, ông giảng đạo trong nhà hội. Sau khi Si-la và Ti-mô-thê trở lại cùng ông, ông đã viết thư 1 và 2 Tê-sa-lô-ni-ca; dời nơi giảng dạy sang nhà của Ti-ti-u Giút-tu (Titius Justus); dẫn dắt Cơ-rít-bu (Crispus), là người đứng đầu nhà hội, tin Chúa; được quan trấn thủ La Mã Ga-li-ôn bác bỏ những lời buộc tội của người Do Thái chống lại ông; và đã phục vụ tổng cộng một năm rưỡi tại thành phố này.

c. Một Bức Thư Trước Đó Đã Bị Thất Lạc
#

Lời khẳng định trong 1 Cô-rinh-tô 5:9, “Trong thư tôi viết cho anh em, có dặn đừng kết bạn với kẻ gian dâm,” ngụ ý rằng Phao-lô đã viết một bức thư trước đó cho Hội Thánh tại Cô-rinh-tô, nhưng bức thư đó hiện nay đã không còn. Các tín hữu Cô-rinh-tô đã hiểu lầm bức thư đó với ý nghĩa rằng họ phải từ bỏ mối liên hệ với tất cả những người gian dâm. Giờ đây, Phao-lô giải thích rằng ý của ông là chỉ từ bỏ mối liên hệ với những người xưng mình là Cơ Đốc nhân nhưng lại sống trong tội lỗi cách trắng trợn.

Đọc thêm: NHỮNG NAN ĐỀ DAI DẴNG TẠI CÔ-RINH-TÔ

“Mọi thứ càng thay đổi, thì chúng lại càng y như cũ”:

Khoảng năm mươi năm sau khi Phao-lô viết về các nan đề trong Hội Thánh tại Cô-rinh-tô, một giám mục của Hội Thánh tại Rô-ma đã viết cho Hội Thánh tại Cô-rinh-tô về một nan đề nghiêm trọng hơn:

“Hỡi anh em yêu dấu, đó là một tin tức đáng xấu hổ, cực kỳ hổ thẹn và không xứng đáng với sự huấn luyện của anh em trong Đấng Christ, rằng vì một hoặc hai người mà Hội Thánh Cô-rinh-tô, vốn kiên định và lâu đời, lại đang bất trung với các trưởng lão” (1 Clement 47:6).

d. Thời Gian và Địa Điểm Viết Thư
#

Như vậy, thư Cô-rinh-tô thứ nhất thực sự là bức thư thứ hai mà Phao-lô viết cho Hội Thánh tại Cô-rinh-tô. Ông viết thư này từ thành Ê-phê-sô trong suốt hành trình truyền giáo thứ ba của mình. Thời gian ông ở đó sắp kết thúc, vì ông đã lên kế hoạch rời đi (1 Cô-rinh-tô 16:5-8).

Một số người đã dịch câu 16:10 là “khi Ti-mô-thê đến,” và suy luận rằng Ti-mô-thê sẽ mang bức thư này đến Cô-rinh-tô. Nhưng Công-vụ 19:22 cho biết rằng Phao-lô “sai hai người giúp việc mình là Ti-mô-thê và Ê-rát (Erastus), sang xứ Ma-xê-đoan, còn ông thì ở lại tỉnh A-si [nơi có thành Ê-phê-sô] một ít lâu nữa.” Lời khẳng định này cho thấy rằng Ti-mô-thê đã đi đến Ma-xê-đoan vào thời điểm Phao-lô viết thư 1 Cô-rinh-tô, và ủng hộ một cách dịch tốt hơn cho 1 Cô-rinh-tô 16:10: “nếu Ti-mô-thê đến [từ Ma-xê-đoan đến với anh em tại Cô-rinh-tô].” Nếu Ti-mô-thê là người đang mang bức thư, Phao-lô khó có thể viết chữ “nếu.” Phao-lô đã cố gắng thuyết phục A-bô-lô, là một nhân vật quan trọng, đến thăm Cô-rinh-tô và có lẽ đã định gửi thư đi cùng với ông ấy. Nhưng A-bô-lô đã từ chối (1 Cô-rinh-tô 16:12); vì vậy, người mang bức thư này đến cho Hội Thánh tại Cô-rinh-tô vẫn chưa được biết rõ.

e. Hoàn Cảnh Viết Thư
#

Có hai sự kiện đã thúc đẩy việc viết thư 1 Cô-rinh-tô: (1) những báo cáo bằng miệng từ người nhà của bà Cơ-lô-ê (Chloe) liên quan đến sự tranh cạnh trong Hội Thánh Cô-rinh-tô (1 Cô-rinh-tô 1:11); (2) sự xuất hiện của một phái đoàn từ Hội Thánh Cô-rinh-tô - gồm Sê-pha-na (Stephanas), Phốt-tu-na (Fortunatus) và A-chai-cơ (Achaicus) - mang theo một bức thư hỏi ý kiến Phao-lô về nhiều vấn đề khác nhau, mà ông lần lượt đề cập với cụm từ mở đầu: “Bây giờ, về những vấn đề…,” hoặc đơn giản là: “Bây giờ…” Ít nhất thì cách hiểu này dường như bắt nguồn từ 16:17 (“họ đã bù lại sự vắng mặt của anh chị em”) và 7:1 (“Còn về những vấn đề anh em đã viết trong thư”). Nếu không, thì Sê-pha-na, Phốt-tu-na và A-chai-cơ đến thăm Phao-lô chỉ đơn thuần làm vơi đi sự khao khát gặp mặt trực tiếp tất cả tín hữu Cô-rinh-tô của ông, còn bức thư từ Hội Thánh Cô-rinh gửi đến ông để hỏi ý kiến là nhờ những người khác vận chuyển.

Cơ-lô-ê là một cái tên nữ giới. Những thành viên trong gia đình bà có lẽ là các nô lệ. Vẫn chưa chắc chắn rằng liệu họ đến từ Cô-rinh-tô để thăm Phao-lô tại Ê-phê-sô, hay họ từ Ê-phê-sô đến thăm Cô-rinh-tô rồi trở về báo cáo lại cho Phao-lô.

Đọc thêm: CÁC CÂU HỎI CỦA HỘI THÁNH CÔ-RINH-TÔ ĐƯỢC PHAO-LÔ LẦN LƯỢT GIẢI QUYẾT QUA CỤM TỪ DẪN NHẬPBây giờ

  • “Bây giờ, luận đến các điều hỏi trong thơ anh em” (7:1)
  • “Bây giờ, về những kẻ đồng thân” (7:25)
  • “Bây giờ, luận đến của cúng các thần tượng” (8:1)
  • “Bây giờ, tôi khen anh em” (11:2)
  • “Bây giờ, về các ân tứ thiêng liêng” (12:1)
  • “Bây giờ, hỡi anh em, tôi nhắc lại cho anh em Tin lành mà tôi đã rao giảng” (15:1)
  • “Bây giờ, về việc góp tiền cho thánh đồ” (16:1)

f. Bối Cảnh Đô Thị
#

Thành phố Cô-rinh-tô nằm trên một eo đất hẹp giữa Biển Aegean và Biển Adriatic. Hành trình vòng quanh mũi phía nam Hy Lạp rất nguy hiểm. Do đó, nhiều tàu thuyền đã được khiêng hoặc kéo trên những con lăn để băng qua eo đất rồi mới hạ thủy trở lại. Vì nhiều lý do, một số nỗ lực đào kênh đã bị bỏ dở. Là một điểm giao thoa của thương mại và du lịch, Cô-rinh-tô khá đa dạng về văn hóa. Các đại hội thể thao từng được tổ chức tại đó được xếp hạng chỉ sau Thế vận hội (Olympics). Nhà hát ngoài trời có sức chứa hai mươi ngàn người; nhà hát có mái che chứa được ba ngàn người. Các đền thờ, miếu thờ và bàn thờ nằm rải rác khắp thành phố. Nạn mại dâm phát triển mạnh. Phía nam của khu chợ là dãy các quán rượu được trang bị các bể chứa nước ngầm để làm mát đồ uống. Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy nhiều bình đựng rượu trong những kho rượu này; một số bình có khắc chữ như: “Sức khỏe,” “An toàn,” “Tình yêu,” và tên của các vị thần. Thật tự nhiên khi một Hội Thánh được đặt giữa một môi trường ngoại giáo cực đoan như vậy lại tràn ngập những nan đề. Thư 1 Cô-rinh-tô giải quyết hầu hết các nan đề đó.

“Cô-rinh-tô được gọi là ‘giàu có’ nhờ vào thương mại của nó, vì nó tọa lạc trên eo đất và làm chủ hai hải cảng, một cái dẫn thẳng đến tỉnh Asia và cái kia dẫn đến Ý; nó giúp cho việc trao đổi hàng hóa từ cả hai vùng đất xa xôi đó trở nên dễ dàng … Đại hội Thể thao Isthmian, được tổ chức tại đây, thường xuyên thu hút đám đông dân chúng… Và đền thờ Nữ thần Aphrodite giàu có đến mức sở hữu hơn một ngàn nô lệ đền thờ, tức là các kỹ nữ [một con số có lẽ đã được phóng đại liên quan đến thành phố Cô-rinh-tô ở thời kỳ trước đó] … Các thuyền trưởng tiêu xài tiền bạc một cách hoang phí, và từ đó có câu ngạn ngữ: ‘Không phải ai cũng có thể đi đến Cô-rinh-tô’ [với ngụ ý: ‘Nếu bạn có cơ hội, đừng bỏ lỡ nó’]. Hơn nữa, có ghi chép rằng một kỹ nữ nọ đã nói…, ‘Thế mà… trong thời gian ngắn ngủi này, tôi đã hạ gục được ba cột buồm …’”

(Strabo, Geography 8.6.20).

1.2. Bố Cục Thư 1 Cô-rinh-tô
#

Click vào link để xem Bố cục thư 1 Cô-rinh-tô

1.3. Đọc 1 Cô-rinh-tô với Sự Giải Thích
#

a. Sự Chia Rẽ
#

Đọc 1 Cô-rinh-tô 1:1-4:21.

Chủ nghĩa bè phái tại Cô-rinh-tô bắt nguồn từ sự sùng bái cá nhân. Những người ngưỡng mộ Phao-lô trung thành với ông vì ông đã thành lập Hội thánh tại Cô-rinh-tô, nhưng chính ông cũng không đứng về phía những người hâm mộ mình. Những người ngưỡng mộ A-bô-lô (Apollos) dường như bị mê hoặc bởi học thức và tài hùng biện của ông. Những người theo Sê-pha (tức Phi-e-rơ) có thể là một bộ phận người Do Thái trong Hội Thánh hoặc những người theo chủ nghĩa truyền thống, vốn dựa trên thẩm quyền của vị sứ đồ hàng đầu. Những người ngưỡng mộ Đấng Christ đôi khi được xem là những người muốn tránh các cuộc tranh cãi và do đó rút lui với thái độ tự cho mình là thuộc linh cao hơn. Tuy nhiên, có khả năng hơn là câu, “tôi thuộc về Đấng Christ” đại diện cho lập trường của chính Phao-lô nhằm lên án những kẻ chỉ ngưỡng mộ các nhà lãnh đạo loài người (xem 1 Cô-rinh-tô 3:21-23). Sự khác biệt về giáo lý dường như không phải là nguyên nhân của các phe phái sùng bái cá nhân này. Ít nhất thì các bè phái vẫn đang nhóm lại với nhau, vì Phao-lô chỉ gửi một bức thư duy nhất cho tất cả bọn họ.

Khi viết rằng ông vui mừng vì đã không làm Báp-têm cho quá nhiều tín hữu Cô-rinh-tô, Phao-lô không phủ nhận giá trị của phép Báp-têm (ông thừa nhận đã Báp-têm cho một số người) nhưng đang mạnh mẽ phủ nhận việc ông hay bất kỳ nhà truyền giáo Cơ Đốc nào khác nên làm Báp-têm cho những người quy đạo để thu hút một nhóm tín đồ riêng cho mình. Ngược lại, nhiệm vụ đúng đắn của các nhà truyền giáo Cơ Đốc khó có thể được lòng đám đông, vì việc rao giảng về một Đấng Cứu Thế đã chết như một tội nhân, nghĩa là chết bởi bị đóng đinh trên thập tự giá, xúc phạm đến lòng kiêu hãnh của con người và sự khôn ngoan thế gian. Hệ quả là, hầu hết các tín đồ đều đến từ các tầng lớp thấp trong xã hội. Nhưng những gì họ thiếu hụt về xuất thân và thành tựu thì Đấng Christ đã bù đắp dư dật: Ngài là sự khôn ngoan, sự công chính, sự thánh hóa, và sự cứu chuộc của họ, mà nguồn của tất cả những điều đó chính là Đức Chúa Trời.

Phao-lô nhắc lại rằng khi ông đến Cô-rinh-tô từ A-thên, là nơi mà các triết gia khôn ngoan theo kiểu thế gian đã khước từ ông, ông đã rao giảng về thập tự giá của Đấng Christ trong sự yếu đuối và run rẩy, chứ không phải bằng các phương pháp hùng biện của các triết gia ngụy biện. Nói cách khác, ông không rao giảng rằng sự cứu rỗi đến thông qua việc nắm bắt sự khôn ngoan, được hiểu theo quan điểm tôn giáo và triết học, và chỉ giới hạn cho giới tinh hoa thuộc linh. Tuy nhiên, ông khẳng định mình dạy về sự khôn ngoan chân chính, là loại khôn ngoan đến từ Đức Thánh Linh - Đấng duy nhất biết được tâm trí của Đức Chúa Trời.

“Nhưng thưa các ngài, thực tế là, rất có thể vị thần [‘ở Delphi’] thực sự khôn ngoan và qua lời sấm của mình muốn nói rằng: ‘Sự khôn ngoan của loài người có ít giá trị hoặc chẳng có giá trị gì’” (Socrates theo Plato, Apology 23A).

Vì chủ nghĩa bè phái ở Cô-rinh-tô, Phao-lô cáo buộc các Cơ Đốc nhân tại đó là xác thịt (carnality/fleshliness) theo nghĩa là tội lỗi. Ông nói rằng việc khoe khoang về các nhà lãnh đạo loài người là sai lầm, bởi vì họ cũng chỉ là con người. Hơn nữa, họ là những người cùng làm việc với nhau, chứ không phải đối thủ của nhau. Phần này khép lại bằng một lời khuyên về sự hiệp nhất. Ngụ ý rằng, các Cơ Đốc nhân có thể đạt được sự hiệp nhất nếu họ muốn và nỗ lực vì điều đó.

Đọc thêm: CÁC Ý NGHĨA KHÁC NHAU CỦA TỪ “XÁC THỊT” TRONG TÂN ƯỚC

  • Các mô mềm của thân thể, khác với xương
  • Toàn bộ cơ thể
  • Một cá nhân
  • Nhân loại nói chung
  • Nguồn gốc tổ tiên
  • Bề ngoài
  • Các tình trạng thể chất
  • Ham muốn tình dục (hợp pháp trong khuôn khổ)
  • Ham muốn tội lỗi (bất hợp pháp về bản chất)

b. Sự Vô Luân
#

Đọc I Cô-rinh-tô 5:1-7:40.

Phao-lô nêu ra trường hợp của một người đàn ông sống bất chính với vợ của cha mình. Có lẽ bà ấy là mẹ kế, vì Phao-lô không xác định bà là mẹ ruột của người đó. Và dường như bà ấy là một người không tin Chúa, do đó nằm ngoài thẩm quyền của Hội Thánh, vì Phao-lô không đưa ra bất kỳ hình phạt nào cho bà. Ông khiển trách các tín hữu Cô-rinh-tô vì sự kiêu ngạo của họ khi dung túng cho tội lỗi trắng trợn như vậy trong cộng đồng của họ, và ông truyền lệnh kỷ luật bằng hình thức khai trừ người đàn ông phạm tội khỏi sự thông công của Hội Thánh, nghĩa là tẩy chay về mặt xã hội và loại trừ khỏi Tiệc Thánh.

Vấn đề các Cơ Đốc nhân kiện cáo nhau ra tòa có thể có mối liên hệ nào đó với trường hợp vô luân này, vì cuộc thảo luận về vấn đề này diễn ra ngay giữa lời quở trách của Phao-lô liên quan đến sự vô luân. Ông cảnh báo rằng sự tự do về mặt lễ nghi không có nghĩa là tự do về mặt đạo đức, và nhấn mạnh rằng thân thể, với tư cách là đền thờ của Đức Thánh Linh, là thánh.

“Việc quan hệ tình dục với mẹ kế … bị coi là một tội ác tột độ và đáng ghê tởm” (Josephus, Jewish Antiquities 3.12.1 §274).

c. Sự Độc Thân
#

Phao-lô viết rằng sự tự nguyện sống độc thân là tốt, nhưng vì ham muốn tình dục, Đức Chúa Trời đã ban cho loài người hôn nhân để tránh những sự kết hợp bất hợp pháp. Do đó, trong hôn nhân, vợ chồng nên hiến dâng thân thể mình cho nhau. Phao-lô ước rằng mọi người đều có thể thoát khỏi những trách nhiệm hôn nhân như ông, vì một người độc thân có thể dành toàn bộ năng lượng cho việc rao giảng Tin Lành. Dù vậy, Phao-lô thừa nhận rằng trong phương diện này, ý muốn của Đức Chúa Trời đối với mỗi Cơ Đốc nhân là khác nhau.

d. Hôn Nhân và Ly Dị
#

Về vấn đề ly dị, Phao-lô không tỏ ra quá khoan dung. Vấn nạn ly dị đã tràn lan đến mức báo động trong một số tầng lớp của xã hội Hy Lạp - La Mã. Phao-lô lặp lại sự dạy dỗ của Chúa Jesus chống lại việc ly dị đối với các cặp vợ chồng Cơ Đốc, và tối đa là chỉ cho phép họ phân rẽ với khả năng hòa hiệp lại.

Tuy nhiên, những lời của Chúa Jesus không bao quát trường hợp những người chồng hoặc người vợ đã tin Chúa sau khi kết hôn nhưng người phối ngẫu của họ thì chưa. Do đó, Phao-lô khuyên người phối ngẫu là Cơ Đốc nhân nên ở lại với người phối ngẫu không tin Chúa, nếu có thể, ít nhất một phần vì người phối ngẫu chưa tin Chúa và bất kỳ đứa con nào trong gia đình cũng được thánh hóa nhờ sự hiện diện gần gũi của một nhân chứng Cơ Đốc trong gia đình. Nhưng nếu người phối ngẫu chưa tin Chúa khăng khăng đòi phá vỡ cuộc hôn nhân, thì Cơ Đốc nhân đó “không bị ràng buộc.” Việc cụm từ này (1) chỉ có nghĩa là Cơ Đốc nhân đó không có nghĩa vụ phải tìm cách hòa hiệp lại với người phối ngẫu chưa tin, hay (2) cũng có nghĩa là Cơ Đốc nhân đó được tự do tái hôn trong vòng cộng đồng Cơ Đốc (cái gọi là “đặc ân của Phao-lô”) vẫn còn là điều gây tranh luận.

Việc Phao-lô cho biết rằng những chỉ dẫn này là của riêng ông chứ không phải của Chúa không có nghĩa là chúng thiếu thẩm quyền, mà chỉ có nghĩa là Chúa Jesus đã không nói gì về những trường hợp này, và do đó, Phao-lô phải đưa ra sự dạy dỗ của riêng mình với tư cách là một người “đáng tin cậy” và có Thánh Linh của Đức Chúa Trời.

Phần cuối của chương 7, đặc biệt là các câu 36-38, đặt ra những vấn đề khó về giải kinh. Có phải Phao-lô đang ám chỉ đến những cuộc hôn nhân thuộc linh, không bao giờ có sự gần gũi về mặt thể xác? Hay đề cập đến các cặp đôi đã đính hôn? Những người yêu nhau nhưng chưa đính hôn? Hay đến một người cha Cơ Đốc, con gái của ông và người cầu hôn cô ấy? Tuy nhiên, các bài học chính thì rõ ràng. Một mặt, hôn nhân không bị lên án dựa trên chủ nghĩa khổ hạnh (asceticism). Mặt khác, hôn nhân không nên được giao kết chỉ vì áp lực xã hội. Các Cơ Đốc nhân độc thân thường có thể sống một đời sống trọn vẹn, phong phú, và kết quả hơn những Cơ Đốc nhân đã kết hôn. Xuyên suốt đoạn này, Phao-lô nhấn mạnh tính chất quan trọng của thời kỳ mà các Cơ Đốc nhân đang sống. Ông có lẽ đang nghĩ đến khả năng Chúa Jesus tái lâm - một khả năng cần tạo ra ý thức khẩn trương cho công việc và sự làm chứng của Cơ Đốc nhân.

“Con không được kết hôn hoặc nuôi dạy con cái, vì giống nòi chúng ta yếu đuối, còn hôn nhân và con cái là gánh nặng thêm cho sự yếu đuối của con người bằng những rắc rối.”

(Diogenes, Thư 47 [gửi Zeno]).

Đọc thêm: THÂN THỂ LÀ ĐỀN THỜ

Hãy so sánh đoạnn sau với khẳng định của Phao-lô rằng thân thể của Cơ Đốc nhân là đền thờ của Đức Thánh Linh:

“Ngươi là một mảnh vỡ của Thượng Đế; ngươi có một phần của Ngài ở trong ngươi …. Chính trong ngươi, ngươi mang lấy Ngài và không nhận biết rằng ngươi đang làm ô uế Ngài bằng những ý nghĩ ô uế và những hành động dơ bẩn”

(Epictetus,  Discourses 2.8.11, 13).

Nhưng hãy lưu ý rằng đối với Epictetus, một con người mang lấy thần tính như là một phần của thần tính đó, trong khi đối với Phao-lô, một Cơ Đốc nhân mang lấy thần tính với tư cách là một tạo vật được cứu chuộc, biệt lập với thần tính.

e. Thức Ăn Cúng Thần Tượng
#

Đọc 1 Cô-rinh-tô 8:1–11:1.

Điều quan trọng là phải hiểu bối cảnh cuộc thảo luận của Phao-lô liên quan đến thức ăn gắn liền với việc thờ thần tượng. Trong thế giới cổ đại, các đền thờ ngoại giáo là nguồn cung cấp thịt chính cho nhu cầu tiêu thụ của con người. Vì vậy, hầu hết thịt trong các cửa hàng thịt đều đến từ những con vật đã được cúng tế cho thần tượng. Các vị thần nhận một phần tượng trưng - thường không phải là phần thịt ngon nhất - được đốt trên bàn thờ. Sau khi các thầy tế lễ và nữ tư tế lấy phần của họ, rồi người dâng tế lễ cùng gia đình họ tiêu thụ thêm các phần khác, số thịt còn lại sẽ được đem bán cho công chúng. Người Do Thái mua thịt trong các cửa hàng của người Do Thái, là nơi họ có thể chắc chắn rằng thịt đó không đến từ một con vật đã bị cúng tế cho các thần ngoại giáo. Liệu các Cơ Đốc nhân có nên khắt khe như người Do Thái không?

f. Sự Tự Do Cơ Đốc và Luật Yêu Thương
#

Phao-lô ủng hộ sự tự do trong việc ăn uống nhưng cảnh báo độc giả của ông đừng để việc thực thi sự tự do đó gây ra tổn hại thuộc linh cho những người có lương tâm chưa được thông hiểu. Nói cách khác, những Cơ Đốc nhân hiểu rằng thần tượng không có sự tồn tại thực sự như thần linh thì có thể ăn thịt đã dâng cho thần tượng mà không làm tổn hại đến lương tâm mình. Nhưng nếu những người lầm tưởng rằng thần tượng có sự tồn tại thực sự như thần linh tình cờ chứng kiến, thì những Cơ Đốc nhân có sự hiểu biết tốt hơn nên kiêng ăn loại thịt như vậy, kẻo họ làm tổn hại đời sống Cơ Đốc của những tín hữu mới tin Chúa chưa được thông hiểu, và kẻo họ làm hoen ố lời chứng của mình đối với những người ngoại giáo thờ thần tượng chưa được thông hiểu.

g. Những Vấn Đề Trung Lập (Adiaphora)
#

Sự cân bằng giữa sự tự do và “luật yêu thương” chỉ áp dụng cho các nghi lễ và các vấn đề khác trung lập về mặt đạo đức, được gọi là adiaphora (ἀδιάφορα - thuật ngữ Hy Lạp có nghĩa là “những điều trung lập”). Vì vậy, Phao-lô cảnh báo rằng mặc dù ông cho phép việc ăn thịt đã cúng thần tượng một cách khôn ngoan, nhưng ông tuyệt đối không cho phép các tín hữu tham dự các bữa tiệc thờ thần tượng gắn liền với sự thờ phượng ngoại giáo. Sẽ là một sự mâu thuẫn trắng trợn nếu một Cơ Đốc nhân vừa dự Tiệc Thánh của Chúa, lại vừa dự những bữa tiệc được thiết kế bởi ma quỷ để thúc đẩy sự thờ phượng các thần giả mạo. Phao-lô lưu ý rằng vào thời Cựu Ước, khi dân Y-sơ-ra-ên tham gia vào các bữa tiệc ngoại giáo như vậy, họ cũng sa vào các hình thức thờ phượng ngoại giáo dẫn đến những hành vi vô luân.

Đọc thêm: SỰ THỜ PHƯỢNG CÁC THẦN GIẢ MẠO

“Dân Y-sơ-ra-ên ở tại Si-tim, khởi thông dâm cùng những con gái Mô-áp. Con gái mời dân sự ăn sinh lễ cúng các thần mình; dân sự ăn và quì lạy trước các thần chúng nó.” (Dân-số Ký 25:1-2).

“Chaeremon mời ông đến dùng bữa tối tại bàn của thần Sarapis [một vị thần] trong Serapaeum [đền thờ của vị thần] vào ngày mai, ngày 15, lúc 9 giờ” (Giấy Papyrus Oxyrhynchus 110).

h. Việc Trùm Đầu
#

Đọc 1 Cô-rinh-tô 11:2-16.

Theo truyền thống, những chỉ dẫn của Phao-lô về việc trùm đầu của phụ nữ được hiểu là việc đội khăn che đầu (mặc dù không phải loại khăn che cả mặt lẫn đầu). Tuy nhiên, Phao-lô chưa bao giờ sử dụng từ Hy Lạp cụ thể để chỉ khăn trùm đầu; thay vào đó, ông viết rằng mái tóc dài của người phụ nữ được ban cho bà để làm vật che phủ đầu. Dù trong trường hợp nào, mối quan tâm của ông là duy trì một sự phân biệt rõ ràng giữa nữ giới và nam giới thông qua mái tóc dài và tóc ngắn.

i. Tiệc Thánh và Bữa Tiệc Yêu Thương
#

Đọc 1 Cô-rinh-tô 11:17-34.

Phao-lô tuyên bố rằng chủ nghĩa bè phái giữa các tín hữu Cô-rinh-tô đã biến các buổi lễ Tiệc Thánh của họ, vốn lẽ ra phải là những thì giờ thông công Cơ Đốc, trở thành một sự nhạo báng. Các tín hữu Cô-rinh-tô đang cử hành Tiệc Thánh kết hợp với một bữa tiệc yêu thương - một kiểu liên hoan trong Hội Thánh phần nào tương tự như bữa ăn Lễ Vượt Qua, là thời điểm mà Chúa Jesus đã thiết lập Tiệc Thánh.

Một số tín hữu Cô-rinh-tô đến nơi nhóm lại từ sớm, ăn bữa ăn của mình và dự Tiệc Thánh trước khi những người khác, là những người có thời giờ làm việc dài hơn, kịp đến. Một số người thậm chí còn say sưa. Có lẽ họ có một quan điểm quá nặng tính bí tích về Tiệc Thánh đến nỗi họ nghĩ rằng càng ăn nhiều bánh và uống nhiều chén, thì càng nhận được nhiều ân điển thiêng liêng. Dù trong trường hợp nào, Phao-lô truyền lệnh phải chấm dứt các bữa tiệc yêu thương, chờ đợi những người đến sau rồi mới cùng dự Tiệc Thánh, phải tự xét mình, và có lòng tôn kính.

Việc Phao-lô thuật lại sự thiết lập Tiệc Thánh bắt nguồn từ truyền thống đã được hình thành và lưu giữ trong Hội Thánh từ rất sớm, trước khi các sách Phúc Âm Cộng Quan được biên soạn (presynoptic tradition), xuất phát từ chính hành động của Đức Chúa Jesus. Câu “Tôi có nhận…” (1 Cô-rinh-tô 11:23) là thuật ngữ chuyên môn chỉ sự tiếp nhận một truyền thống đã được lưu truyền lại.

j. Việc Nói Tiếng Lạ
#

Charismata (“các ân tứ”) và glossolalia (“việc nói tiếng lạ”) tạo thành chủ đề của các chương 12-14.

Nhiều người cho rằng việc nói tiếng lạ được Phao-lô thảo luận ở đây bao gồm việc nói trong trạng thái ngây ngất, có lẽ là bằng ngôn ngữ của thiên đàng hoặc của thiên sứ, chứ không phải bằng các ngôn ngữ của loài người. Thật vậy, ông có khẳng định rằng nếu không có ân tứ thông dịch thì ngay cả người nói tiếng lạ cũng không biết mình đang nói gì. Nhưng “sự thông dịch” thường có nghĩa là sự phiên dịch. Do đó, dường như trong cách sử dụng của Phao-lô, việc nói tiếng lạ bao gồm việc nói một kỳ diệu các ngôn ngữ của loài người mà người nói chưa từng học qua. Vậy nên, đôi khi các tiếng lạ đó không thể hiểu được, không phải vì chúng là những ngôn ngữ phi ngôn ngữ được nói trong trạng thái ngây ngất, mà vì trong một số trường hợp, cả người nói lẫn những người có mặt trong số thính giả đều không sở hữu ân tứ phiên dịch mầu nhiệm tương đương.

k. Tình Yêu Thương và Các Ân Tứ Thuộc Linh
#

Đọc 1 Cô-rinh-tô 12:1–14:40.

Vì quá coi trọng ân tứ nói tiếng lạ, các tín hữu Cô-rinh-tô đã lạm dụng ân tứ này. Phao-lô hạ thấp giá trị của nó và nhấn mạnh rằng việc sử dụng nó phải có trật tự và có giới hạn.

Thay vì ân tứ nói tiếng lạ, ông đề cao các ân tứ cao trọng hơn, đặc biệt là ơn nói tiên tri, vốn truyền đạt sự mặc khải trực tiếp từ Đức Chúa Trời, điều đặc biệt cần thiết (dẫu không hẳn là duy nhất) trong Hội Thánh đầu tiên để thay cho Kinh Thánh Tân Ước chưa có. Trên hết, Phao-lô ca ngợi đạo đức Cơ Đốc trong bài thơ văn xuôi nổi tiếng về tình yêu thương trong chương mười ba. Không có sự thực hành đúng đắn nào đối với các ân tứ thuộc linh mà tách rời khỏi tình yêu thương; cũng không có tình yêu thương nào trong Hội Thánh mà tách rời khỏi sự thực hành các ân tứ thuộc linh.

Các Ân Tứ Thuộc Linh Trong Các Thư Tín Của Phao-lô

I Cô-rinh-tô 12:8-10I Cô-rinh-tô 12:28-30Rô-ma 12:6-8Ê-phê-sô 4:11
lời khôn ngoansứ đồnói tiên trisứ đồ
lời thông biếttiên triphục vụtiên tri
đức tingiáo sưdạy dỗngười truyền giáo
chữa bệnhlàm phép lạkhuyên bảomục sư-giáo sư
làm phép lạchữa bệnhbố thí
nói tiên trigiúp đỡlãnh đạo
phân biệt các thầnquản trịtỏ lòng thương xót
nói các thứ tiếng lạnói các thứ tiếng lạ
thông dịch tiếng lạthông dịch

Quan niệm của Phao-lô về Hội Thánh là thân thể của Đấng Christ nổi bật rõ nét trong chương 12 và nhấn mạnh sự tôn trọng đối với sự đa dạng của các ân tứ thuộc linh.

Lệnh cấm phụ nữ nói chuyện trong Hội Thánh (1 Cô-tinh-tô 14:34-35) khó có thể mang tính tuyệt đối, vì Phao-lô vừa mới đưa ra những chỉ dẫn trong chương 11 về việc trùm đầu của phụ nữ để họ có thể cầu nguyện và nói tiên tri trong sự thờ phượng chung. Câu “nếu họ muốn học hỏi điều gì, hãy hỏi chồng mình ở nhà” gợi ý rằng ông đang cấm việc phụ nữ làm gián đoạn các buổi nhóm của Hội Thánh bằng những câu hỏi bộc trực và - nếu phụ nữ ngồi tách biệt với nam giới, giống như trong các nhà hội - có lẽ câu này cũng hàm ý cấm cả những cuộc trò chuyện gây rối trật tự giữa những phụ nữ với nhau.

“Không chỉ cánh tay của người phụ nữ đức hạnh, mà cả lời nói của nàng nữa, cũng không nên phô bày cho công chúng” (Plutarch, Moralia, “Lời Khuyên Cho Cô Dâu và Chú Rể” 31).

Đọc thêm: CÁC BỘ PHẬN CỦA THÂN THỂ CẦN PHỐI HỢP VỚI NHAU

Hãy so sánh với hình ảnh thân thể mà Phao-lô dùng để tượng trưng cho Hội Thánh:

“Vào thời mà các chi thể của con người không đồng thuận với nhau như bây giờ, nhưng mỗi chi thể đều có ý kiến ​​riêng và tiếng nói riêng, thì các chi thể khác cho rằng thật bất công khi chúng phải lo lắng, vất vả và lao nhọc lo liệu mọi thứ cho bụng, trong khi bụng thì cứ ở yên giữa chúng mà chẳng làm gì ngoài việc hưởng thụ những điều tốt lành mà chúng ban cho. Vì vậy, chúng đã âm mưu với nhau để tay không đưa thức ăn lên miệng, miệng cũng không tiếp nhận bất cứ thứ gì được đưa vào, và răng cũng không nghiền nát những gì mình nhận được. Trong khi chúng tìm cách làm cho bụng phải phục tùng bằng tinh thần giận dữ đó, thì các chi thể và toàn thân thể đều bị suy yếu cùng cực. Vì vậy, rõ ràng là ngay cả bụng cũng không nhàn rỗi, và nó được nuôi dưỡng để nuôi dưỡng các chi thể khác bằng cách cung cấp cho tất cả các chi thể máu, là những gì chúng ta cần để sống và phát triển, khi máu được chia đều trong các tĩnh mạch và được làm giàu bằng thức ăn đã tiêu hóa.”

(Livy 2.32.9-12).

l. Sự Sống Lại
#

Đọc 1 Cô-rinh-tô 15:1-58.

Giờ đây, Phao-lô đề cập đến chủ đề sự sống lại của thân thể, là một khái niệm xa lạ đối với tư tưởng của người Hy Lạp. Một số người A-thên, với thái độ hoàn toàn hoài nghi hoặc ít nhất hy vọng vào sự bất tử của linh hồn, đã nhạo báng Phao-lô khi ông nói về sự sống lại của thân thể (xem Công-vụ 17:32). Sự hoài nghi này cũng có thể đang khiến một số Cơ Đốc nhân tại Cô-rinh-tô nghi ngờ và phủ nhận sự sống lại của thân thể trong tương lai. Nhưng họ không phủ nhận sự sống lại của Đấng Christ trong quá khứ - điều thường thấy ở những người hoài nghi. Vì vậy, họ có thể đang phủ nhận một sự sống lại trong tương lai dưới quan điểm rằng sự sống lại của Đấng Christ là sự sống lại duy nhất. Sau đó, Phao-lô lập luận từ nền tảng chung là niềm tin vào sự sống lại trong quá khứ của Đấng Christ để dẫn đến niềm tin đang bị tranh cãi về sự sống lại trong tương lai của những người khác: Đấng Christ là trái đầu mùa của sự sống lại, là giai đoạn ban đầu, chứ không phải là toàn bộ mùa gặt.

Chương vĩ đại về sự sống lại mở đầu bằng một bản tóm tắt về Tin Lành và một danh sách những người mà Đấng Christ Phục Sinh đã hiện ra, một danh sách mà Phao-lô sẽ không dám đưa ra với sự tự tin liều lĩnh như vậy trừ khi các nhân chứng thực sự còn sống. Câu “chính tôi đã nhận lãnh” cho thấy rằng ông đang trích dẫn một lời tuyên xưng từ truyền thống Cơ Đốc thậm chí còn cổ xưa hơn cả thời điểm ông viết thư và thời điểm ông rao giảng lần đầu tại Cô-rinh-tô. Ông tiếp tục với sự mô tả về thân thể phục sinh và một sự so sánh giữa sự chết trong A-đamsự sống trong Đấng Christ. Một số rabbi dạy rằng thân thể phục sinh sẽ giống hệt với thân thể hiện tại, thậm chí đến mức sống lại trong tình trạng mặc đầy đủ quần áo. Phao-lô nói, không phải vậy; thân thể phục sinh sẽ có sự tiếp nối với thân thể hiện tại nhưng phù hợp với các điều kiện của sự sống đời đời. Chương này lên đến đỉnh điểm trong một cao trào ngợi khen chiến thắng.

Đọc thêm: MỘT DÒNG CHỮ KHẮC (thường thấy trên các ngôi mộ thời Hy Lạp - La Mã)

“Tôi không tồn tại. Tôi đã tồn tại. Tôi không tồn tại. Tôi không quan tâm.”

m. Báp-têm Cho Người Chết
#

Có nhiều cách giải thích khác nhau đã được đưa ra cho 1 Cô-rinh-tô 15:29 nói về phép Báp-têm cho người chết.

  • Có lẽ Phao-lô đang hỏi tại sao một số người lại chịu Báp-têm thay cho những người đã chết trong khi vẫn giữ quan điểm cho rằng những người đã chết đó không bao giờ sống lại.

  • Mặt khác, phân đoạn này ngay lập tức cho biết tiếp rằng ông và những người khác “bị nguy hiểm hằng giờ” đến mức ông “chết hằng ngày” (so sánh 2 Cô-rinh-tô 4:8-14). Ở đây, ông phác họa chính mình như một tấm gương của những người đang chịu Báp-têm cho chính mình với tư cách là những người đã nằm trong nanh vuốt của sự chết. Nếu không có sự sống lại sắp đến, thì điều đó có ích gì?

Một “thân thể thiêng liêng” (1 Cô-rinh-tô 15:44) không phải là một thân thể phi vật chất, mà là một thân thể được làm cho sống bởi Thánh Linh của Đấng Christ. Vì vậy, chúng ta nên viết hoa tính từ “Thiêng Liêng”, vì “A-đam sau hết [tức Đấng Christ] là Thần ban sự sống” (15:45).

Việc “thịt và máu” không thể hưởng vương quốc Đức Chúa Trời (1 Cô-rinh-tô 15:50) cũng không phủ nhận tính vật chất của thân thể phục sinh; điều này chỉ phủ nhận tính hay hư nát, tính hay chết của chúng: “Vả, thể hay hư nát nầy phải mặc lấy sự không hay hư nát, và thể hay chết nầy phải mặc lấy sự không hay chết.” (15:53).

Việc chiến đấu với “các loài thú dữ” (1 Cô-rinh-tô 15:32) có lẽ mang nghĩa bóng.

“Nữ hoàng Cleopatra [không phải Cleopatra trước đó liên minh với Mark Antony] đã hỏi R. Meir [khoảng năm 150], rằng: ‘Ta biết rằng người chết sẽ sống lại…. Nhưng khi họ sống lại, họ sẽ sống lại trong trạng thái trần truồng hay trong y phục?’

Ông đáp: ‘… Nếu một hạt lúa mì, khi được chôn xuống trần truồng, mà khi mọc lên lại được mặc nhiều lớp áo, thì những người công chính, vốn được chôn trong y phục của họ, lại càng hơn thế nữa [sẽ sống lại trong nhiều lớp áo]’”

(Talmud Babylon, Sanhedrin 90b).

Đọc thêm: NGƯỜI THUỘC VỀ ĐẤT VÀ NGƯỜI THUỘC VỀ TRỜI

Hãy đối chiếu cũng như so sánh đoạn sau đây với sự phân biệt của Phao-lô giữa A-đam thứ nhất và A-đam cuối cùng:

“Có hai loại người; một là người thuộc về trời, còn người kia là người thuộc về đất. Người thuộc về trời, được tạo dựng theo ảnh tượng của Đức Chúa Trời, hoàn toàn không có phần hay chung phần gì với bản thể hay hư nát và thuộc về trần gian; nhưng người thuộc về đất được nặn nên từ vật chất rải rác đây đó, thứ mà Môi-se gọi là ‘bụi đất’”

(Philo, Allegorical Interpretation of Genesis 1.31).

n. Việc Dâng Hiến và Những Vấn Đề Khác
#

Đọc 1 Cô-rinh-tô 16:1-24.

Chương kết của Phao-lô chứa đựng nhiều lời khuyên bảo khác nhau, chẳng hạn như việc để dành tiền cho sự dâng hiến mà ông sẽ quyên góp khi đến nơi và mang đến Giê-ru-sa-lem cùng với những người đồng hành được ủy nhiệm.

Xuất hiện trong 1 Cô-rinh-tô 16:22 là một cụm từ tiếng A-ram quan trọng, “Ma-ra-na-tha,” có nghĩa là “Lạy Chúa [của chúng tôi], xin hãy đến!” (so sánh Khải-huyền 22:20). Điều này cho thấy rằng việc gọi Chúa Jesus là Chúa đã có từ thời kỳ đầu trong vòng những người nói tiếng A-ram, do đó, không thể gán cho Cơ Đốc giáo nói tiếng Hy Lạp sau này. Điều này đi ngược lại với tuyên bố của một số học giả hiện đại rằng quan điểm coi Chúa Jesus là một nhân vật thần thánh là một sự phát triển khá muộn màng, không bắt nguồn từ Chúa Jesus hay từ Hội Thánh sơ khai nhất.

II. THƯ 2 CÔ-RINH-TÔ: QUAN NIỆM CỦA PHAO-LÔ VỀ CHỨC VỤ CỦA ÔNG
#

2.1. Các Vấn Đề Dẫn Nhập
#

a. Giọng Điệu
#

Hơn bất kỳ bức thư nào khác của Phao-lô, thư 2 Cô-rinh-tô cho phép chúng ta có cái nhìn thấu vào những cảm xúc nội tâm của ông về chính bản thân mình, về chức vụ sứ đồ, và về mối quan hệ của ông đối với các Hội Thánh mà ông đã thành lập và nuôi dưỡng. Vì vậy, bức thư này mang âm hưởng tự truyện, mặc dù không phải về cấu trúc hay nội dung.

b. Chuyến Viếng Thăm Đau Buồn
#

Sau khi viết thư 1 Cô-rinh-tô từ Ê-phê-sô, Phao-lô nhận thấy cần phải thực hiện một chuyến thăm Hội Thánh Cô-rinh-tô và trở về, thế nhưng chuyến đi này đã trở thành một “chuyến thăm đau đớn” (“painful visit”) - đau đớn vì mối quan hệ căng thẳng giữa ông và các tín hữu Cô-rinh-tô vào thời điểm đó. Lu-ca không ghi lại chuyến viếng thăm này trong sách Công-vụ. Tuy nhiên, điều này có thể được suy ra từ 2 Cô-rinh-tô 12:14; 13:1-2, là những chỗ Phao-lô mô tả chuyến viếng thăm sắp tới của ông là lần “thứ ba”. Ngoài chuyến viếng thăm đau buồn được suy luận này, ông mới chỉ đến Cô-rinh-tô một lần trước đó. Câu trong 2 Cô-rinh-tô 2:1, “chính tôi đã quyết định không trở lại cùng anh em để làm cho anh em buồn rầu,” ngụ ý một chuyến viếng thăm đau buồn trong quá khứ mà khó có thể đồng nhất với lần đầu tiên ông đến để đem tin mừng về sự cứu rỗi qua Chúa Jesus Christ.

c. “Bức Thư Đau Buồn” Bị Thất Lạc
#

Dù lý do cho chuyến viếng thăm ngắn ngủi và đau đớn của Phao-lô là gì, ông đã không thành công trong việc đưa Hội Thánh vào khuôn khổ. Vì vậy, khi trở về Ê-phê-sô, ông đã viết một “bức thư đau buồn” (“Sorrowful Letter”) gửi đến Cô-rinh-tô mà hiện nay đã thất lạc; ban đầu ông đã hối hận vì đã gửi bức thư này (2 Cô-rinh-tô 2:4; 7:8).

Mặc dù có nhiều nỗ lực để xác định, những mô tả của ông về bức thư đau buồn này không khớp với thư 1 Cô-rinh-tô, vì thư 1 Cô-rinh-tô thể hiện sự quở trách đáng kể từ phía Phao-lô, nhưng hầu như không có sự đau buồn. Vì vậy, bức thư đau buồn đã bị thất lạc này là bức thư thứ hai của ông gửi cho các tín hữu Cô-rinh-tô.

Thư này truyền lệnh cho Hội Thánh phải kỷ luật một cá nhân ngang ngược, là người đã cầm đầu phe chống đối Phao-lô (2 Cô-rinh-tô 2:5-10). Tít đã mang bức thư đến Cô-rinh-tô. Trong khi đó, vì biết rằng Tít sẽ quay về qua ngả Ma-xê-đoan và Trô-ách, nóng lòng muốn nghe từ Tít về phản ứng của người Cô-rinh-tô, Phao-lô đã rời Ê-phê-sô và chờ đợi tại Trô-ách. Khi Tít không đến sớm như dự kiến, Phao-lô đã đi tiếp đến Ma-xê-đoan; tại đây, cuối cùng Tít đã gặp ông và báo tin mừng rằng đa số tín hữu trong Hội Thánh đã ăn năn về sự nổi loạn của họ đối với Phao-lô và đã kỷ luật người cầm đầu sự chống đối ông (2 Cô-rinh-tô 2:12-13; 7:4-16).

d. Hoàn Cảnh Viết Thư
#

Như vậy, Phao-lô đã viết thư 2 Cô-rinh-tô từ Ma-xê-đoan trong hành trình truyền giáo thứ ba của mình nhằm: (1) bày tỏ sự nhẹ nhõm và vui mừng trước phản hồi tích cực của đại đa số tín hữu Cô-rinh-tô (chương 1-7); (2) nhấn mạnh về sự quyên góp mà ông muốn thu nhận từ Hội Thánh để giúp đỡ các Cơ Đốc nhân tại Giê-ru-sa-lem (chương 8-9); và (3) bảo vệ thẩm quyền sứ đồ của mình trước một nhóm thiểu số vẫn còn ngoan cố (chương 10-13).

Đọc thêm: TÓM TẮT MỐI QUAN HỆ CỦA PHAO-LÔ ĐỐI VỚI HỘI THÁNH CÔ-RINH-TÔ

  • Phao-lô truyền giảng Tin Lành tại Cô-rinh-tô trong chuyến hành trình truyền giáo thứ hai của ông.
  • Phao-lô viết một bức thư mà hiện đã thất lạc, trong đó ông truyền lệnh cho Hội Thánh Cô-rinh-tô phải phân rẽ khỏi những người xưng mình là Cơ Đốc nhân nhưng lại sống nếp sống vô đạo đức.
  • Phao-lô viết thư 1 Cô-rinh-tô từ Ê-phê-sô trong hành trình truyền giáo thứ ba để giải quyết nhiều vấn đề khác nhau trong Hội Thánh.
  • Phao-lô thực hiện một chuyến viếng thăm nhanh chóng và “đầy đau đớn” từ Ê-phê-sô đến Cô-rinh-tô rồi trở về để chấn chỉnh các vấn đề tại Cô-rinh-tô, nhưng ông đã không đạt được mục đích của mình.
  • Phao-lô gửi một bức thư thất lạc khác, gọi là “bức thư đau buồn”, trong đó ông truyền lệnh cho các tín hữu Cô-rinh-tô phải kỷ luật người cầm đầu phe chống đối ông trong Hội Thánh.
  • Phao-lô rời Ê-phê-sô và nóng lòng chờ đợi Tít, đầu tiên là tại Trô-ách và sau đó là ở Ma-xê-đoan.
  • Tít cuối cùng đã đến với tin tốt rằng Hội Thánh đã kỷ luật người chống đối Phao-lô và đa số các tín hữu Cô-rinh-tô đã phục tùng thẩm quyền của Phao-lô.
  • Phao-lô viết thư 2 Cô-rinh-tô từ Ma-xê-đoan (vẫn trong hành trình truyền giáo thứ ba) để đáp lại tin tức tích cực của Tít.

e. Tính Toàn Vẹn Của Thư 2 Cô-rinh-tô
#

Có lập luận cho rằng các chương từ 10 đến 13 của thư 2 Cô-rinh-tô ít nhất là một phần của “bức thư đau buồn” đã bị thất lạc, vì Phao-lô đã thay đổi giọng điệu từ vui mừng trong các chương 1-9 sang sự tự vệ trong các chương 10-13. Tuy nhiên, sự phân biệt này không hoàn toàn đúng, vì sự tự vệ cũng xuất hiện rải rác trong các chương 1-9 (xem 2 Cô-rinh-tô 1:17–2:4, 17; 4:2–5; 5:12–13). Sự khác biệt về trọng tâm có thể là do Phao-lô chủ yếu hướng tới đại số các tín hữu đã ăn năn trong các chương 1-9, và chủ yếu hướng tới nhóm thiểu số vẫn còn cứng lòng trong các chương 10-13. Hoặc cũng có thể những tin tức mới về sự chống đối tái diễn đã buộc ông phải thay đổi giọng điệu từ chương thứ mười trở đi.

Một số cân nhắc chống lại giả thuyết cho rằng thư 2 Cô-rinh-tô ban đầu là hai bức thư riêng biệt:

  1. Nếu các chương 10-13 được viết trước đó như là một phần của bức thư đau buồn, thì đáng lý các chương 10-13 phải đứng trước chương 1-9.
  2. Mặc dù có giọng điệu cứng rắn, nhưng các chương 10-13 không cho thấy sự đau buồn.
  3. Các chương 10-13 không chứa đựng điều gì về hành vi xúc phạm của người cầm đầu phe chống đối Phao-lô, trong khi đó lại là chủ đề chính của bức thư đau buồn theo 2 Cô-rinh-tô 2:5.
  4. 2 Cô-rinh-tô 12:18 đề cập đến một chuyến viếng thăm trước đó của Tít, là chuyến đi hẳn để vận chuyển bức thư đau buồn; thế nhưng theo giả thuyết cho rằng thư 2 Cô-rinh-tô ban đầu là hai bức thư riêng biệt, thì 2 Cô-rinh-tô 12:18 lại thuộc về bức thư đau buồn! (Điều này tạo nên một sự mâu thuẫn về logic khi một bức thư không thể tự nhắc về chính nó như một sự kiện đã hoàn tất từ trước.)

2.2. Bố Cục Thư 2 Cô-rinh-tô
#

Click vào link để xem Bố cục thư 2 Cô-rinh-tô

2.3. Đọc Thư 2 Cô-rinh-tô với Sự Giải Thích
#

a. Ôn Lại Mối Quan Hệ Quá Khứ Và Hiện Tại
#

Đọc 2 Cô-rinh-tô 1:1-3:3.

Bức thư mở đầu bằng lời chào thăm và tạ ơn về sự an ủi từ nơi Đức Chúa Trời trong những cơn bắt bớ và gian khổ. Kế đó, Phao-lô bắt đầu mô tả chức vụ của mình là thánh và chân thành, đồng thời tự biện hộ trước cáo buộc về sự do dự - khi ông không thực hiện một chuyến viếng thăm như chính ông đã cảnh báo trước đó - bằng cách khẳng định rằng lời nói của ông cũng mang tính quả quyết như những lời hứa của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ, và giải thích rằng ông trì hoãn chuyến viếng thăm là để dành thời gian cho người Cô-rinh-tô ăn năn. Sự ăn năn của họ sẽ giúp cho cuộc hội ngộ diễn ra trong hoàn cảnh vui vẻ hơn.

Vui mừng vì Hội Thánh Cô-rinh-tô đã kỷ luật người cầm đầu phe chống đối mình, Phao-lô khuyên nên phục hồi người đó vào lại sự thông công của Hội Thánh. Điều này được đặc biệt thể hiện qua việc cho phép người đó dự Tiệc Thánh trở lại.

Phần này khép lại bằng một hình ảnh ví Đấng Christ như một vị tướng thắng trận tiến vào thành Rô-ma trong đoàn diễu hành khải hoàn, và một hình ảnh ẩn dụ khác trong đó các tín hữu Cô-rinh-tô, với tư cách là những người được Phao-lô dẫn dắt tin Chúa, chính là một bức thư giới thiệu cho Phao-lô do chính Đấng Christ viết nên.

b. Chức Vụ Của Tin Lành
#

Đọc 2 Cô-rinh-tô 3:4-7:16.

Giờ đây, Phao-lô mô tả sự ưu việt của Tin Lành mà ông rao giảng so với luật pháp Môi-se. Sự phai nhạt vinh quang của Đức Chúa Trời trên mặt Môi-se khi ông từ trên núi Si-nai xuống đại diện cho tính tạm thời của giao ước Môi-se. Các Cơ Đốc nhân hiện nay được tự do khỏi luật pháp và sự định tội của nó. Nhưng giống như Môi-se đã phản chiếu vinh quang đang phai nhạt dần của giao ước cũ, các Cơ Đốc nhân cũng nên phản chiếu vinh quang vĩnh cửu, lớn lao hơn và ngày càng gia tăng của giao ước mới. Thật kỳ diệu biết bao khi Đức Chúa Trời lại giao phó việc rao giảng Tin Lành vinh hiển này của giao ước mới cho những con người phàm trần yếu đuối, nghèo hèn! Phao-lô viết rằng, dù chúng ta cảm thấy sự bất toàn của mình, nhưng chúng ta không nản lòng. Hy vọng về sự sống lại khiến chúng ta xem nhẹ những nguy hiểm về thể xác hiện tại trong khi rao giảng Tin Lành. Với ý thức về đặc ân và trách nhiệm lớn lao của một người phục vụ giao ước mới, Phao-lô khẳng định sự tận tâmchính trực của mình dù hoàn cảnh phục vụ có bất lợi hay thuận lợi đến đâu..

c. Sự Biệt Riêng
#

Trong phần lạc ý ở 2 Cô-rinh-tô 6:11-7:1, Phao-lô mô tả nếp sống biệt riêng ra khỏi những người không tin là một sự mở rộng chứ không phải bó buộc. Một số người cho rằng đoạn lạc ý này từng là một phần của bức thư đầu tiên đã bị thất lạc của ông gửi đến Cô-rinh-tô, được nhắc đến trong 1 Cô-rinh-tô 5:9: “Trong thơ tôi viết cho anh em, có dặn đừng làm bạn với kẻ gian dâm.” Tuy nhiên, thật khó để giải thích tại sao một đoạn trích từ bức thư đó lại được chèn vào đây; và không có bằng chứng từ các bản sao chép cổ để chỉ ra rằng 6:11-7:1 vốn không thuộc về thư 2 Cô-rinh-tô - một thực tế cũng chống lại giả thuyết cho rằng 6:11-7:1 đã được thêm vào từ một nguồn không phải của Phao-lô.

“Chó sói có điểm gì chung với chiên con chăng? Kẻ có tội với người tin kính cũng không thể có điểm chung nào hơn thế.” (Sirach 13:17).

d. Việc Dâng Hiến
#

Đọc 2 Cô-rinh-tô 8:1–9:15.

Khi kêu gọi sự dâng hiến rời rộng cho Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem, Phao-lô đã trình bày lòng rộng rãi của các tín hữu Ma-xê-đoan như một gương mẫu xứng đáng để các tín hữu Cô-rinh-tô noi theo. Cao trọng hơn thế nữa chính là sự tự bỏ mình của Đấng Christ. Phao-lô lập luận rằng, có lúc chính các tín hữu Cô-rinh-tô cũng sẽ cần đến sự giúp đỡ. Hơn nữa, họ đã nhiệt thành tiếp nhận ý tưởng về việc dâng hiến này khi Phao-lô đề cập lần đầu cách đây một thời gian. Vì vậy, ông viết rằng đừng để lời ông khoe với các tín hữu Ma-xê-đoan về lòng nhiệt thành của các tín hữu Cô-rinh-tô trở nên vô căn cứ.

f. Lời Biện Hộ (Apologia)
#

Đọc 2 Cô-rinh-tô 10:1–13:13.

Những người chống đối Phao-lô đã cáo buộc ông chỉ dám mạnh bạo khi vắng mặt, nhưng lại hèn nhát khi có mặt tại Hội Thánh. Vì thế, ông nhắc nhở người Cô-rinh-tô rằng sự nhu mì là một đức tính của Đấng Christ. Nhưng, giống như Đấng Christ, ông có thể trở nên mạnh bạo khi ở giữa họ nếu ông muốn - và sẽ làm vậy nếu cần thiết, dù là trong Chúa, chứ không phải cậy vào chính mình.

Trong những chương này, Phao-lô đưa ra những bằng chứng cho chức vụ sứ đồ của ông:

  • Sự chân thành của ông với tư cách là một người rao giảng (ông thậm chí không nhận tiền công từ các tín hữu Cô-rinh-tô)
  • Những đau khổ vô cùng lớn lao mà ông phải chịu đựng
  • Những sự mặc khải đặc biệt từ Đức Chúa Trời
  • Quyền năng làm phép lạ

Tuy nhiên, Phao-lô đã cẩn thận đề phòng sự kiêu ngạo khi khoe mình bằng cách nhiều lần nhấn mạnh rằng chính những kẻ cứng lòng đã buộc ông phải viết theo cách này, và cũng bằng cách đề cập đến sự yếu đuối của bản thân, đặc biệt là “cái giằm xóc trong xác thịt” (2 Cô-rinh-tô 12:7-10). Trong số những giả thuyết về cái giằm xóc trong xác thịt này, người ta cho rằng đó có thể là bệnh động kinh, bệnh về mắt, sốt rét, bệnh phong (leprosy), đau nửa đầu, trầm cảm, nói lắp, hoặc là các giáo sư giả.

Bức thư kết thúc với lời khẩn nài rằng đừng để chuyến viếng thăm sắp tới của Phao-lô trở thành dịp để ông phải quở trách người Cô-rinh-tô một lần nữa.

Đọc thêm: VỀ VIỆC TỰ KHEN MÌNH

Sự tự biện hộ của Phao-lô phù hợp đến mức nào với lời khuyên sau đây?

“Nhưng đối với những người buộc phải nói lời tự khen mình, họ sẽ trở nên dễ chấp nhận hơn nhờ một phương cách khác: không nhận lấy mọi công trạng về mình, nhưng trút bỏ vinh hiển đó, để một phần cho sự ngẫu nhiên và một phần cho Đức Chúa Trời”

(Plutarch, Moralia, “Về Việc Tự Khen Mình Không Gây Phản Cảm” 11).

III. MÓN QUÀ CỦA SỰ CÔNG CHÍNH QUA ĐỨC TIN TRONG ĐẤNG CHRIST
#

3.1. Các Vấn Đề Dẫn Nhập
#

a. Chủ Đề
#

Sự xưng công bình bởi ân điển của Đức Chúa Trời qua đức tin nơi Chúa Jesus Christ là chủ đề lớn trong thư Rô-ma của sứ đồ Phao-lô. Chính Chúa Jesus cũng đã hàm ý điều tương tự trong các ẩn dụ của Ngài về người con trai hoang đàng, người Pha-ri-si và người thâu thuế, những người làm công trong vườn nho, và bữa tiệc lớn. Ý nghĩa tương tự cũng nằm sau lời tuyên bố của Ngài: “Ta không đến để gọi người công bình, nhưng gọi kẻ có tội ăn năn” (Lu-ca 5:32), và qua cách Ngài đối xử với Xa-chê (Lu-ca 19:1-10). Vì vậy, Phao-lô không tự sáng tác ra giáo lý về sự tha thứ ban cho cách miễn phí; đúng hơn, ông đã triển khai giáo lý đó theo cách riêng biệt của mình. Giáo lý này được trình bày có hệ thống nhất trong bức thư ông gửi cho các Hội Thánh tại Rô-ma (xem Rô-ma 16:5, 14, 15 cho thấy sự hiện diện của nhiều hơn một Hội Thánh tại đó).

b. Sự Thành Lập Các Hội Thánh Tại Rô-ma
#

Vào khoảng cuối thế kỷ thứ nhất, Clement ở thành Rô-ma cho rằng Phao-lô và Phi-e-rơ đã tử đạo tại thành phố của ông. Vào thời Tertullian (đầu thế kỷ thứ ba), Hội Thánh nói chung đã chấp nhận truyền thống này. Tuy nhiên, các Hội Thánh tại Rô-ma có lẽ không được thành lập bởi một sứ đồ, chắc chắn không phải bởi Phao-lô và gần như chắc chắn không phải bởi Phi-e-rơ.

Như đã lưu ý trước đây, sử gia người La Mã là Suetonius đã viết rằng hoàng đế Claudius đã trục xuất người Do Thái khỏi thành Rô-ma vào năm 49 hoặc 50 vì những cuộc bạo loạn do một người tên là “Chrestus” xúi giục, có lẽ là do viết sai chính tả từ “Christus” (tiếng La-tinh chỉ Đấng Christ), kèm theo sự hiểu lầm rằng việc rao giảng về Đấng Christ là bởi chính Ngài rao giảng. Nếu đúng như vậy, Cơ Đốc giáo đã truyền đến Rô-ma từ trước đó. Nhưng Phi-e-rơ vẫn còn ở Giê-ru-sa-lem trong Hội nghị Giê-ru-sa-lem, vào khoảng năm 49. Hơn nữa, trong thư Rô-ma, Phao-lô không hề nhắc đến và cũng không gửi lời chào thăm nào đến sứ đồ Phi-e-rơ.

Vì vậy, có lẽ một số người Do Thái và người ngoại đã chính thức cải đạo sang Do Thái giáo (proselytes) từ Rô-ma đã đến Giê-ru-sa-lem dự lễ Ngũ Tuần, sau đó tin nhận Đấng Christ và mang Tin Lành trở lại Rô-ma ngay từ buổi bình minh của lịch sử Hội Thánh (Công-vụ 2:10).

Đọc thêm: SỰ TỬ ĐẠO CỦA PHI-E-RƠ VÀ PHAO-LÔ

“Phi-e-rơ, … sau khi đã đưa ra lời chứng của mình, đã đi đến nơi vinh hiển xứng đáng với người …. Và khi ông [‘Phao-lô’] đã đi đến tận cùng của phương Tây, ông đã đưa ra lời chứng của mình trước các bậc cầm quyền, và như thế đã lìa khỏi thế gian để được rước vào Nơi Thánh” (1 Clement 5:4, 7).

“Tại Rô-ma, Nê-rô [Nero] là người đầu tiên nhuốm máu đức tin đang trỗi dậy. Bấy giờ Phi-e-rơ được người khác thắt lưng, khi người bị đóng đinh trên thập tự giá. Rồi Phao-lô nhận sự tái sinh xứng đáng với tư cách công dân La Mã, khi tại Rô-ma, người hồi sinh trong sự tôn cao nhờ sự tử đạo” (Tertullian, Scorpiace 15).

c. Người Do Thái Hay Người Ngoại?
#

Một số học giả giữ quan điểm rằng các Hội Thánh tại Rô-ma có thành phần chủ yếu là các Cơ Đốc nhân người Do Thái. Để ủng hộ quan điểm này, họ trích dẫn sự nhấn mạnh của Phao-lô về dân tộc Do Thái trong các chương 9-11, việc ông dẫn chứng gương của Áp-ra-ham, các trích dẫn Cựu Ước, và những phân đoạn mà Phao-lô dường như đang tranh luận chống lại các quan điểm phản đối của người Do Thái (2:17-3:8; 3:21-31; 6:1-7:6; 14:1-15:3).

Tuy nhiên, theo các chương 9-11, Đức Chúa Trời đã tạm thời chuyển sự chú ý của Ngài từ dân tộc Do Thái sang các dân ngoại; vì vậy, những chương này có thể cho thấy rằng đối tượng ban đầu của bức thư chủ yếu bao gồm các Cơ Đốc nhân dân ngoại. Việc Phao-lô dẫn chứng về Áp-ra-ham và Cựu Ước có thể phản ánh nền tảng Do Thái của chính ông, chứ không phải nền tảng của độc giả - hoặc nếu là của họ, thì đó là kiến thức về Cựu Ước của những người ngoại đã chính thức gia nhập Do Thái giáo (Gentile proselytes) và những người ngoại kính sợ Đức Chúa Trời (God-fearers) có được thông qua việc tham dự các buổi nhóm tại nhà hội trước khi tin nhận Đấng Christ. Hơn nữa, Phao-lô dẫn chứng về Áp-ra-ham là để bao hàm cả những tín hữu dân ngoại bên cạnh những tín hữu Do Thái. Và việc trả lời những ý kiến phản bác điển hình của người Do Thái có thể bắt nguồn từ những cuộc tranh luận thường xuyên của Phao-lô với những người Do Thái không tin và với những người theo chủ nghĩa Do Thái giáo hóa (Judaizers, là những người cố gắng lôi kéo các Cơ Đốc nhân dân ngoại tuân thủ theo luật pháp Do Thái).

Một số phân đoạn chứng minh rằng thành phần dân ngoại chiếm ưu thế trong các Hội Thánh tại Rô-ma:

  • Phao-lô viết trong Rô-ma 1:5-6, “… mọi dân ngoại … trong các dân ấy anh em cũng đã được gọi bởi Đức Chúa Jêsus Christ
  • Trong 1:13, ông viết, “trong anh em cũng như trong các dân ngoại còn lại
  • Lời tuyên bố của ông, “Tôi nói cùng anh em là người ngoại” (11:13), mô tả đặc điểm của các Hội Thánh Rô-ma như một tổng thể, không phải là một nhóm thiểu số bên trong họ; vì trong 11:28-31, độc giả được cho là đã nhận được sự thương xót vì sự không tin của người Do Thái.
  • Trong 15:15-16, ông nói rằng ông viết thư cho họ trong mối liên hệ với chức vụ “cho dân ngoại” của ông.

d. Thời Gian và Địa Điểm Viết Thư
#

Phao-lô vừa hoàn tất việc quyên góp của dâng cho các Cơ Đốc nhân tại Giê-ru-sa-lem trong hành trình truyền giáo thứ ba của ông (Rô-ma 15:25-26). Ông viết thư này từ Cô-rinh-tô, vì Gai-út (Gaius), là người Cô-rinh-tô, đang tiếp đãi ông vào thời điểm đó (16:23; 1 Cô-rinh-tô 1:14). Việc đề cập đến Ê-rát (Erastus), là quan kho bạc của thành phố (16:23), càng củng cố giả thuyết Cô-rinh-tô là nơi Phao-lô viết thư Rô-ma, vì một văn bia được tìm thấy tại Cô-rinh-tô có niên đại từ thế kỷ thứ nhất có ghi: “Ê-rát, ủy viên công chánh (commissioner of public works), đã lát con đường này bằng chi phí riêng của mình.” Nói một cách chính xác, chức danh “ủy viên công chánh” đại diện cho một chức vụ thấp hơn so với “quản lý kho bạc thành phố,” nhưng việc suy luận rằng Ê-rát đã thăng tiến từ ủy viên lên quản lý, hoặc ông bị giáng chức từ quản lý xuống ủy viên, là điều tự nhiên. Cũng có khả năng hai chức danh này tương đương nhau. Một bằng chứng khác cho thấy Phao-lô viết thư Rô-ma từ Cô-rinh-tô nằm trong lời giới thiệu về Phê-bê (Phoebe), là tín hữu thuộc Hội Thánh tại Xen-cơ-rê (Cenchrea - nằm ngay cạnh thành phố Cô-rinh-tô. Lời giới thiệu này có lẽ cho biết bà sẽ là người chuyển bức thư từ Cô-rinh-tô đến Rô-ma (16:1-2).

e. Mục Đích
#

Phao-lô viết thư Rô-ma để chuẩn bị cho các tín hữu đang sống tại Rô-ma về chuyến thăm đầu tiên của ông đến thành phố của họ. Từ lâu ông đã có ý định đến thăm nhưng bị ngăn trở (Rô-ma 1:13; 15:22-24a). Ông muốn làm vững mạnh đức tin của các Cơ Đốc nhân tại Rô-ma (1:11, 15) và để kêu gọi sự hỗ trợ tài chính từ họ cho công tác truyền giáo dự kiến của ông đến Tây Ban Nha sau khi thăm Rô-ma (15:24, 28).

Phần lớn những gì ông viết dường như là những điều ông đang nung nấu để nói với các Cơ Đốc nhân người Do Thái tại Giê-ru-sa-lem khi ông đến đó cùng với của dâng mà ông đã quyên góp cho họ. Ông lo ngại rằng sự căng thẳng giữa các Cơ Đốc nhân người Do Thái và Cơ Đốc nhân người ngoại ở phương Đông có thể đã trầm trọng đến mức các Cơ Đốc nhân người Do Thái tại Giê-ru-sa-lem sẽ từ chối của dâng, vì nó phần lớn được quyên góp từ các Cơ Đốc nhân người ngoại ở Ma-xê-đoan và A-chai, và được đích thân ông - với tư cách là sứ đồ của dân ngoại -trao tận tay (15:30-31).

Ông cũng có sự hiểu biết đủ về các hội thánh tại Rô-ma để cảnh báo các Cơ Đốc nhân người ngoại đừng tự cao về sự vượt trội của mình so với các Cơ Đốc nhân người Do Thái (11:17-32) và đừng khinh dể họ vì việc giữ các quy tắc lễ nghi của họ (14:1-23). Việc hoàng đế Claudius trục xuất người Do Thái khỏi Rô-ma, bao gồm cả các Cơ Đốc nhân người Do Thái, hẳn đã để lại các Hội Thánh tại đó dưới sự dẫn dắt của các Cơ Đốc nhân người ngoại - những người này dường như đang cố gắng duy trì quyền kiểm soát ngay cả khi các Cơ Đốc nhân người Do Thái đang trở lại Rô-ma cùng với những người Do Thái khác sau cái chết của Claudius.

Những lời cảnh báo của Phao-lô cho thấy nỗi lo sợ về một sự rạn nứt quy mô lớn giữa các Cơ Đốc nhân người Do Thái và Cơ Đốc nhân người ngoại tại Rô-ma cũng như ở phương Đông. Vì vậy, ông trình bày trong thư Rô-ma những gì ông sẽ trình bày tại Giê-ru-sa-lem. Đó là, Tin Lành về sự xưng công bình bởi đức tin cho cả người Do Thái lẫn dân ngoại như là nền tảng của sự hiệp nhất Cơ Đốc - nhưng không phải hiệp nhất vì lợi ích riêng của nó, mà là vì lợi ích của công cuộc truyền giáo xa hơn như kế hoạch ông dự định thực hiện tại Tây Ban Nha. Một sự rạn nứt tại Rô-ma sẽ làm hỏng cơ hội nhận được sự hỗ trợ cho công tác tại Tây Ban Nha của ông.

f. Lời Chào Cá Nhân
#

Vì Phao-lô chỉ biết một số tín hữu tại Rô-ma, là những người đã chuyển đến đó sau khi ông quen biết họ ở những nơi khác, nên thư Rô-ma mang tính trang trọng hơn bất kỳ bức thư nào khác của ông. Tuy nhiên, chương 16 chứa đựng nhiều lời chào thăm các cá nhân; và ông gửi những lời chào này cho họ dù bản thân ông chưa từng đến thăm Rô-ma.

Một số học giả từng cho rằng chương này ban đầu thuộc về một bức thư gửi đến Ê-phê-sô, là nơi Phao-lô chắc chắn có quen biết với nhiều người. Nhưng chương này không cấu thành một bức thư hoàn chỉnh (nó hầu như chỉ bao gồm toàn các lời chào thăm); và không có bằng chứng từ các bản sao chép nào cho thấy nó từng được lưu hành độc lập, dù là một bức thư hoàn chỉnh hay là một phần của một bức thư khác.

Một loạt các lời chào thăm dài tương tự chỉ xuất hiện lần nữa trong thư Cô-lô-se, là bức thư được gửi đến một thành phố khác mà Phao-lô cũng chưa từng đến thăm. Có lẽ để thiết lập mối quan hệ thân hữu với các Hội Thánh mà mình chưa từng viếng thăm, Phao-lô nhấn mạnh vào sự quen biết trước đó của ông với một số Cơ Đốc nhân đã chuyển đến các Hội Thánh như vậy; và để tránh sự thiên vị, ông lược bỏ các lời chào thăm các cá nhân trong các thư gửi cho những Hội Thánh do chính ông thành lập (thư Ê-phê-sô là một trường hợp đặc biệt về một bức thư mang tính chất lưu hành, được gửi cho nhiều Hội Thánh mà Phao-lô không thành lập cũng như chưa từng đến thăm).

g. Sự Nhầm Lẫn Về Văn Bản
#

Các bản sao chép cổ đại có sự khác biệt lớn về vị trí của lời tôn vinh (doxology) ở Rô-ma 16:25-27 trong các bản dịch Kinh Thánh tiếng Anh và về vị trí của lời chúc phước (benediction) trong 16:20. Sự nhầm lẫn này có thể bắt nguồn từ Marcion - một người theo Tri Huệ giáo (Gnostic), là người có khả năng đã lược bỏ các chương 15-16, vì chúng chứa đựng các tham chiếu đến Cựu Ước và Do Thái vốn đi ngược lại với lối tư duy bài Do Thái của ông ta. Sự nhầm lẫn này có thể trở nên phức tạp hơn bởi một hình thức rút gọn của bức thư bị thiếu chương 16, được xác nhận bởi bằng chứng từ văn bản cổ. Có thể vì chương 16 có chứa nhiều lời chào thăm các cá nhân, nên một số phiên bản đã lược bỏ nó để điều chỉnh bức thư phù hợp cho việc lưu hành rộng rãi trong khắp thế giới Cơ Đốc.

h. Sự Triển Khai Tư Tưởng Trong Thư Rô-ma
#

Mở Đầu

Trong phần mở đầu của bức thư này, Phao-lô chào thăm độc giả và đề cập đến hy vọng được đến thăm họ để ông có thể rao giảng Tin Lành tại Rô-ma cũng như ở những nơi khác (Rô-ma 1:1-15). Sau đó, ông trình bày chủ đề của mình trong 1:16-17: Tin Lành về sự giải cứu khỏi tội lỗi bằng cách ban sự công bình của Đức Chúa Trời cho mọi người tin nhận Chúa Jesus Christ.

Tình Cảnh: Tội Lỗi

Phần chính thứ nhất cho thấy sự cần thiết phải được sự xưng công bình vì tình trạng tội lỗi của con người (1:18–3:20). Nửa sau của chương 1 mô tả sự gian ác của thế giới dân ngoại; chương 2 mô tả sự tự cho mình là công chính và tội lỗi của thế giới người Do Thái; và nửa đầu của chương 3 tóm kết về tội lỗi của toàn thể nhân loại. Cần lưu ý rằng đối với Phao-lô, các tội lỗi (số nhiều) là triệu chứng của vấn đề cốt lõi là “tội lỗi” (số ít) như một thế lực thống trị trong đời sống của những người chưa tin nhận Chúa.

Giải Pháp: Sự Xưng Công Bình

Theo phần chính thứ hai (3:21-5:21), Đức Chúa Trời đã ban sự xưng công bình như một phương thuốc cho tình cảnh tội lỗi của nhân loại. Nửa sau của chương 3 trình bày cái chết hy sinh của Đấng Christ là cơ sở của sự xưng công bình, và đức tin là phương cách để nhận lãnh những ích lợi từ cái chết của Ngài. Chương 4 khắc họa Áp-ra-ham như một gương mẫu vĩ đại về đức tin, đối lập với giáo lý của giới rabbi về “kho công đức” của Áp-ra-ham lớn đến mức những người Do Thái khác có thể hưởng nhờ vào đó. Chương 5 liệt kê những phước lành phong phú của sự xưng công bình - bình an, vui mừng, hy vọng, sự ban cho Đức Thánh Linh và những phước hạnh khác - đồng thời so sánh vị trí của người không tin Chúa là trong A-đam (nơi tội lỗi và sự chết tể trị) với vị trí của người tin Chúa là trong Đấng Christ (nơi sự công bình và sự sống đời đời tể trị).

Đọc thêm: QUAN ĐIỂM CỦA NGƯỜI DO THÁI VỀ ÁP-RA-HAM

“Vì vậy, lạy Chúa, là Đức Chúa Trời của những người công bình, Ngài đã không định sự ăn năn cho người công bình, cho Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp, là những người đã không phạm tội cùng Ngài” (Prayer of Manasseh 8).

“Vì Áp-ra-ham đã trọn vẹn trong mọi việc làm của mình trước mặt Chúa và được đẹp lòng Ngài qua sự công bình trong suốt những ngày của đời mình” (Jubilees 23:10).

“Và chúng tôi thấy rằng Áp-ra-ham, là tổ phụ chúng tôi, đã thực hiện toàn bộ luật pháp trước khi nó được ban cho” (Mishnah, Qiddushin 4:14).

“Đức tin mà tổ phụ họ [dân Y-sơ-ra-ên] là Áp-ra-ham đã tin nơi ta [Đức Chúa Trời] đáng để ta rẽ biển cho họ”

(Mekilta về Xuất Ê-díp-tô Ký 14.15 [35b]; hãy lưu ý sự tương phản giữa quan điểm của các rabbi về đức tin như một công đức và quan điểm của Phao-lô về đức tin là điều đối lập với công đức).

Kết Quả: Sự Nên Thánh

Trong phần chính thứ ba, cuộc thảo luận tiến triển đến chủ đề về sự nên thánh, hay đời sống thánh khiết (chương 6-8). Có phải các tín hữu nên cứ phạm tội để Đức Chúa Trời có thể thi ân điển nhiều hơn và từ đó Ngài nhận được nhiều sự ngợi khen hơn không? Chắc chắn là không! Phép Báp-têm minh họa cho sự chết đối với tội lỗi và sự sống lại cho sự công bình (chương 6). Sự nên thánh này không bao gồm những nỗ lực tự thân để giữ luật pháp Cựu Ước (vốn chỉ đem lại cảm giác thất bại), hay ở bất kỳ khả năng nào của con người nhằm vượt qua sự kiểm soát ma quỷ của tội lỗi trên hành vi con người (chương 7). Thay vào đó, Thánh Linh của Đấng Christ ban năng lực chiến thắng. Do đó, chương 8 đạt đến cao trào trong một lời ngợi khen bùng nổ: “Ai sẽ phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương của Đấng Christ?” Phao-lô liệt kê mọi khả năng và phủ nhận tất cả chúng.

Một Vấn Đề: Sự Không Tin Của Y-sơ-ra-ên

Tuy nhiên, bất chấp các giao ước thiêng liêng và những đặc ân khác, Y-sơ-ra-ên dường như đang bị phân rẽ khỏi tình yêu thương của Đấng Christ. Vì vậy, cuộc thảo luận của Phao-lô chuyển sang vấn đề của dân Y-sơ-ra-ên trong phần chính thứ tư (các chương 9-11). Vì là người Do Thái, ông quan tâm sâu sắc đến số phận của đồng bào mình. Xuyên suốt bức thư, ông luôn khẳng định rằng Tin Lành không phải là một sự đổi mới xa lạ, mà là sự kế thừa từ Cựu Ước và là sự ứng nghiệm tất cả những gì Áp-ra-ham, Đa-vít, và các tiên tri đã đại diện. Nhưng nếu vậy, tại sao phần lớn người Do Thái lại thất bại trong việc chấp nhận sự thật của tuyên bố này? Phải chăng việc đa số người Do Thái từ chối Tin Lành ngụ ý một sai sót trong lập luận của Phao-lô?

Để trả lời, chương 9 nhấn mạnh vào giáo lý về sự lựa chọn (doctrine of election), tức quyền của Đức Chúa Trời trong việc chọn bất cứ ai Ngài muốn. Phao-lô lập luận rằng, việc Đức Chúa Trời tối cao thực thi ý muốn Ngài trên dân Y-sơ-ra-ên và dân ngoại là hoàn toàn chính đáng. Và việc Ngài chọn dân ngoại vào lúc này cũng là đặc quyền của Ngài, giống như việc Ngài đã chọn người Do Thái trước đây. Tuy nhiên, việc Ngài hiện đang tạm lìa bỏ Y-sơ-ra-ên không phải là sự tùy hứng, vì Y-sơ-ra-ên đáng bị như vậy do sự tự cho mình là công bình và từ chối tin vào những gì họ đã được nghe và hiểu trong Tin Lành (chương 10). Hơn nữa, việc Đức Chúa Trời lìa bỏ Y-sơ-ra-ên chỉ là tạm thời và một phần. Bằng cách tin nhận Đấng Christ, một người Do Thái có thể nhận được sự cứu rỗi dễ dàng như một người dân ngoại; và trong tương lai, Đức Chúa Trời sẽ phục hồi toàn bộ dân tộc này trong ân huệ của Ngài. Trong khi đó, dân ngoại được hưởng sự bình đẳng với người Do Thái (chương 11).

Bổn Phận: Những Quy Tắc Hướng Dẫn Hành Vi của Cơ Đốc Nhân

Phần chính thứ năm chứa đựng những lời khuyên thiết thực cho đời sống Cơ Đốc, bao gồm các mệnh lệnh về việc vâng phục các bậc cầm quyền và cho phép sự tự do trong các vấn đề lễ nghi (chương 12-14).

Kết Luận Phao-lô kết thúc bức thư bằng cách trình bày chi tiết các kế hoạch của mình và gửi những lời chào thăm dài đến các cá nhân (chương 15-16).

3.2. Bố Cục Thư Rô-ma
#

Click vào link để xem Bố cục thư Rô-ma

3.3. Đọc Thư Rô-ma với Sự Giải Thích
#

a. Sự Công Bình Bởi Đức Tin
#

Đọc Rô-ma 1:1-17.

Việc trích dẫn Ha-ba-cúc 2:4 (Rô-ma 1:17) làm nổi bật sự hậu thuẫn của Cựu Ước đối với Tin Lành của Phao-lô. “Người công bình” chỉ về một người được Đức Chúa Trời kể là công bình (dựa trên cơ sở Đấng Christ đã chết vì tội lỗi của người đó, như sẽ được làm rõ sau này). “Sẽ sống” chỉ về sự sống đời đời (chứ không phải nếp sống hằng ngày). “Bởi đức tin” chỉ về sự tin cậy nơi Chúa Jesus Christ (và do đó giới hạn “người công bình” chỉ những ai tin nơi Ngài).

b. Tội Lỗi Của Nhân Loại
#

Đọc Rô-ma 1:18-3:20.

Phao-lô khẳng định rằng chính thiên nhiên bày tỏ quyền năng và thần tính của Đức Chúa Trời, đến nỗi những người ngoại đạo không thể bào chữa cho tội lỗi của mình (Rô-ma 1:19-20). Phần còn lại của chương 1 mô tả bản chất suy đồi của tội lỗi. Ba lần xuyên suốt phân đoạn này, cụm từ “Đức Chúa Trời đã phó họ” vang lên như một hồi chuông báo tử (1:24, 26, 28).

Trong chương 2, Phao-lô mô tả những người Do Thái tự cho mình là công bình, là những người thích thú với việc chỉ ra tội lỗi của người ngoại đạo nhưng chính họ cũng tội lỗi không kém trong sự kiêu ngạo riêng của mình. Hơn thế nữa, ông lập luận rằng, người Do Thái chân chính không nằm ở huyết thống xác thịt hay phép cắt bì, mà nằm ở mối quan hệ thuộc linh đúng đắn với Đức Chúa Trời. Trên thực tế, những dân ngoại làm theo luật pháp của Đức Chúa Trời được viết trong lương tâm họ đã cho thấy họ có một mối quan hệ đúng đắn với Ngài - điều mà nhiều người Do Thái thiếu. Từ “Người Do Thái” (Jew) có nghĩa là “sự ngợi khen” (praise). Vì vậy, người Do Thái chân chính là người có đời sống đáng được ngợi khen theo tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời (2:17).

Trong 3:1, Phao-lô dự đoán một lập luận phản đối của người Do Thái: Nếu người Do Thái không tốt hơn dân ngoại, tại sao Đức Chúa Trời lại chọn dân tộc Do Thái? Chẳng phải toàn bộ Cựu Ước đều ngụ ý rằng Đức Chúa Trời đặc biệt ưu ái người Do Thái sao? Thế mà ông, hỡi Phao-lô, lại đang nói rằng Đức Chúa Trời đối xử với người Do Thái và dân ngoại theo cùng một cách! Phao-lô sẵn sàng thừa nhận rằng người Do Thái thực sự có lợi thế là những người đứng gần nhất với sự mặc khải thiên thượng trong Kinh Thánh. Nhưng đặc ân cao hơn không có nghĩa là ít tội lỗi hơn. Bằng một chuỗi các câu trích dẫn Cựu Ước, Phao-lô kết thúc phần này bằng cách cáo buộc toàn thể nhân loại đều có tội trước mặt Đức Chúa Trời.

Đọc thêm: HẬU QUẢ CỦA SỰ THỜ HÌNH TƯỢNG

“Vậy mà chúng vẫn chưa thỏa với sự lầm lạc về tri thức Đức Chúa Trời …. Dù chúng giết con cái trong các nghi lễ gia nhập, hay tổ chức những nghi thức huyền bí, hay giữ những cuộc cuộc truy hoan điên cuồng với những phong tục kỳ lạ, chúng không còn giữ gìn đời sống hay hôn nhân của mình trong sạch nữa, nhưng hoặc phản bội giết hại lẫn nhau, hoặc làm phiền nhau bằng tội ngoại tình; mọi sự đều là một cơn bạo loạn đầy máu và giết chóc, trộm cắp và gian dối, bại hoại, bất trung, hỗn loạn, thề gian, phá rối điều lành, quên ơn, làm ô uế linh hồn, biến thái tính dục, rối loạn trong hôn nhân, ngoại tình và truỵ lạc.”

(Wisdom of Solomon 14:22-26)

Đọc thêm: MỘT SỰ LÊN ÁN CỦA NGƯỜI NGOẠI ĐẠO VỀ HÀNH VI ĐỒNG TÍNH

“Ban đầu … đời sống con người … tuân theo những quy luật do thiên nhiên đặt ra; và đàn ông, kết hợp với đàn bà … để trở thành cha của những đứa con. Nhưng dần dà năm tháng đã suy thoái từ phẩm giá cao quý ấy xuống vực sâu của chủ nghĩa khoái lạc…. Cùng một giới tính chung một giường. Dù họ thấy mình ôm ấp lẫn nhau, họ chẳng biết hổ thẹn về điều mình làm cũng như về điều người khác đã làm cho mình. Và gieo hạt giống mình trên những tảng đá cằn cỗi, như tục ngữ có câu, họ đã mua chút khoái lạc với giá phải trả là sự nhục nhã lớn lao”

(Pseudo-Lucian, Affairs of the Heart 20).

c. Sự Chuộc Tội Và Sự Nguôi Giận
#

Đọc Rô-ma 3:21-31.

Đoạn tiếp theo tạo nên cốt lõi của bức thư này. “Luật pháp và các tiên tri” đề cập đến Cựu Ước. Phao-lô nhấn mạnh rằng mặc dù sự công bình đến từ đức tin nơi Chúa Jesus Christ, chứ không phải qua việc giữ luật pháp, nhưng luật pháp và phần còn lại của Cựu Ước thực sự chứng thực cho sự công bình bởi đức tin. “Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời” mà con người thiếu (Rô-ma 3:23) chính là sự rực rỡ trong bản tính của Ngài.

Theo 3:25, cái chết hy sinh của Chúa Jesus đã chuộc tội (expiated) - nghĩa là đền tội cho con người - và do đó đã làm nguôi thịnh nộ (propitiated) của Đức Chúa Trời đối với họ vì tội lỗi của họ (so sánh 1:18; 2:5, 8). Thuật ngữ “sự chuộc tội/làm nguôi cơn giận” cũng có thể ám chỉ đến nắp thi ân (mercy seat), là một cái nắp bằng vàng đậy trên Hòm Giao Ước. Trên nắp này, thầy tế lễ thượng phẩm Do Thái rảy huyết sinh tế mỗi năm một lần để chuộc tội cho dân Y-sơ-ra-ên. Phao-lô chỉ ra rằng trong thời Cựu Ước, Đức Chúa Trời chỉ tha thứ tội lỗi trong sự hướng đến sự chết của Đấng Christ.

Khi ông tuyên bố rằng Đức Chúa Trời vừa là “Đấng công bình và là Đấng xưng công bình cho người có đức tin nơi Chúa Jesus,” ông không chỉ có ý nói rằng cơn giận của Đức Chúa Trời đã được thỏa đáp vì Chúa Jesus đã trả thay án phạt cho tội lỗi con người, mà còn có ý nói rằng tình yêu thương của Đức Chúa Trời đã được thỏa đáp vì cái chết của Chúa Jesus đã mở ra một con đường để tội nhân có thể được tha thứ. Sự công bình của Đức Chúa Trời đủ cứng rắn để đòi hỏi một án phạt nhằm duy trì công lý, nhưng cũng đủ mềm dẻo để cho phép Đức Chúa Trời công bình thực thi lòng thương xót trên những con người không công bình nhưng có đức tin.

d. Những Tấm Gương Đức Tin
#

Đọc Rô-ma 4:1-5:21.

Một lần nữa, Phao-lô dự đoán một lập luận phản bác từ người Do Thái: Nếu một người nhận được sự công bình chỉ đơn giản bằng cách đặt đức tin nơi Đấng Christ, thì việc làm người Do Thái hoặc giữ luật pháp với tư cách là người Do Thái chẳng còn lợi ích gì. Về cơ bản, Phao-lô đồng ý với kết luận này; nhưng ông lập luận rằng, chính Cựu Ước đã chỉ ra rằng sự công bình đến bởi đức tin chứ không phải bởi việc làm, như trong các gương mẫu của Áp-ra-ham và Đa-vít.

e. Những Phước Hạnh
#

Trong những câu đầu của chương 5, Phao-lô liệt kê các phước hạnh đi kèm với sự xưng công bình:

  • Được hòa thuận với Đức Chúa Trời qua Chúa Jesus Christ
  • Được vào trong vòng ân điển của Đức Chúa Trời
  • Vui mừng trong hy vọng về vinh hiển của Đức Chúa Trời (“hy vọng” có nghĩa là trông đợi với sự chắc chắn rằng Chúa Jesus sẽ trở lại và “vinh hiển của Đức Chúa Trời” ở đây chỉ sự vinh quang thiêng liêng mà các tín hữu sẽ bước vào khi Chúa Jesus tái lâm)
  • Vui mừng trong cơn bắt bớ hiện tại
  • Sự kiên trì
  • Phẩm chất đã qua thử nghiệm
  • Sự trông cậy (hy vọng - một lần nữa)
  • Kinh nghiệm bên trong về tình yêu thương của Đức Chúa Trời qua sự vận hành của Đức Thánh Linh

Các thuật ngữ “hòa giải” và “sự hòa giải” trong câu 10 và 11 chỉ sự chuyển đổi của tội nhân từ thù ghét Đức Chúa Trời sang yêu mến Ngài.

f. A-đam đối lập với Đấng Christ
#

Trong Rô-ma 5:12-14, Phao-lô lập luận rằng sự thống trị của sự chết trước khi Đức Chúa Trời ban luật pháp qua Môi-se đã chứng tỏ rằng toàn thể nhân loại đều bị ảnh hưởng bởi nguyên tội (original sin) của A-đam; vì trước thời Môi-se, chưa có luật pháp thành văn để vi phạm.

Một sự tương phản giữa “một người” và “nhiều người” được tiếp nối sau đó: Một người (A-đam) đã phạm tội trong vườn Ê-đen, dẫn đến kết quả là nhiều người (một cách nói của người Semite để chỉ “tất cả mọi người”) đã phạm tội và phải chết; một người (Chúa Jesus Christ) đã thực hiện một hành động công bình trên thập tự giá, dẫn đến kết quả là nhiều người (tất cả những ai tin nhận Chúa Jesus Christ) được kể là công bình và sẽ được sống đời đời.

“Hỡi A-đam, ngươi đã làm gì vậy? Vì dù chính ngươi là người phạm tội, nhưng sự sa ngã không chỉ thuộc về riêng ngươi, mà còn thuộc về chúng tôi là hậu tự của ngươi nữa” (2 Esdras 7:48 [118]).

g. Sự Hiệp Nhất Với Đấng Christ
#

Đọc Rô-ma 6:1-8:39.

Sự phản đối chính đối với con đường cứu rỗi dễ dàng này - tức sự xưng công bình chỉ bởi đức tin - cho rằng nó ngụ ý một lối lập luận rõ ràng là sai lầm với một kết luận lố bịch: càng phạm tội nhiều, Đức Chúa Trời càng ban ân điển và nhờ đó nhận được vinh hiển lớn hơn - do đó, hãy cứ phạm tội càng nhiều càng tốt vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời!

Sự phủ nhận đầy kinh hãi của Phao-lô đối với lối suy luận như vậy dựa trên giáo lý về sự hiệp nhất của tín hữu với Đấng Christ, được thể hiện qua phép Báp-têm Cơ Đốc. Trong phép Báp-têm, các tín hữu xưng nhận sự chết của họ đối với tội lỗi qua việc đồng nhất với Đấng Christ trong sự chết của Ngài, và cũng xưng nhận sự sống lại của họ cho sự công bình thông qua việc đồng nhất với Đấng Christ trong sự phục sinh của Ngài. Vì vậy, đối với Đức Chúa Trời, họ đã chết khi Đấng Christ chết và đã sống lại khi Đấng Christ sống lại. Những sự kiện này đặt các tín hữu dưới nghĩa vụ phải sống như những người đã chết đối với tội lỗi và đang sống cho sự công bình. Họ phải xây dựng nhận thức về bản thân mình theo cách mà Đức Chúa Trời nhìn nhận họ.

h. Sự Tự Do và Làm Nô Lệ
#

Trong phần cuối của chương 6, Phao-lô viết rằng sự tự do khỏi luật pháp không có nghĩa là tự do để phạm tội, bởi vì tự do và nô lệ là những thuật ngữ có tính tương đối. Một người chưa tin Chúa thì tự do khỏi những ràng buộc của sự thánh khiết Cơ Đốc nhưng lại làm nô lệ cho sự kiểm soát của tội lỗi. Mặt khác, một tín hữu thì tự do khỏi sự kiểm soát của tội lỗi nhưng lại làm nô lệ cho những ràng buộc của sự thánh khiết Cơ Đốc. Trong thực tế, sự phục tùng sự thánh khiết Cơ Đốc đem lại loại tự do chân thật nhất: tự do để không phạm tội, tự do để sống công bình.

“Dù thân thể bị nô lệ, nhưng tâm trí được tự do” (Sophocles, Fragments 940).

Đọc thêm: QUYỀN LỰC CỦA DỤC VỌNG VÀ KHOÁI LẠC

“Thật lớn lao và siêu việt thay một sự gian ác như thế chính là tư dục [cùng một từ trong tiếng Hy Lạp mà Phao-lô sử dụng, đôi khi được dịch là ‘ham muốn xác thịt’, mặc dù không phải lúc nào cũng chỉ giới hạn trong ham muốn tình dục] hay đúng hơn, có thể nói một cách xác thực rằng, nó là nguồn cơn của mọi điều ác! Vì những sự cướp bóc, trộm cắp, thoái thác nợ nần, vu khống và sỉ nhục, cũng như sự quyến rũ, ngoại tình, giết người và mọi hành động sai trái, dù là riêng tư hay công cộng, dù trong những việc thánh hay những việc phàm tục - còn nguồn nào khác [ngoài ‘tư dục’] mà từ đó chúng tuôn ra?”

(Philo, Special Laws 4.84).

“Nhưng có một cuộc chiến khác khủng khiếp hơn và một sự đấu tranh không hề nhẹ nhàng mà lớn hơn nhiều … và đầy rẫy hiểm nguy. Ý tôi muốn nói là cuộc chiến chống lại khoái lạc … Vì khoái lạc không dùng bạo lực công khai, nhưng lừa dối và bỏ bùa mê … Phải, khoái lạc là thứ không chỉ bày ra một mưu đồ duy nhất, mà là đủ mọi loại mưu đồ, và nhằm mục đích hủy hoại con người thông qua thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác và xúc giác - cả với thức ăn, đồ uống và dục vọng xác thịt - cám dỗ cả lúc thức lẫn lúc ngủ … vì không thể chung sống với khoái lạc, hoặc thậm chí dạo chơi với nó trong bất kỳ khoảng thời gian nào mà không bị nô lệ hoàn toàn … Vì khoái lạc, sau khi áp đảo và chiếm hữu các nạn nhân, sẽ giao họ cho những nỗi gian truân, những điều đáng ghét nhất và khó chịu đựng nhất”

(Dio Chrysostom 8.20-26, trích đoạn).

i. Mục Đích Của Luật Pháp
#

Trong chương 7, Phao-lô minh họa lập luận của mình bằng luật hôn nhân. Một người phối ngẫu được tự do kết hôn với người khác khi người phối ngẫu kia qua đời, vì cái chết đã phá vỡ sự ràng buộc hôn nhân. Tương tự như vậy, cái chết của Đấng Christ và sự hiệp nhất của các tín hữu với Ngài trong cái chết đó đã phá vỡ sự ràng buộc của họ đối với luật pháp Môi-se, và giải phóng họ để thuộc về Đấng Christ phục sinh và kết quả cho Đức Chúa Trời.

Vậy thì tại sao luật pháp lại được ban cho? Luật pháp được ban cho để thúc đẩy một sự phụ thuộc hoàn toàn vào Đấng Christ cho sự công bình, bằng cách gia tăng nhận thức của con người về tội lỗi và sự bất lực về đạo đức của chính mình. Phao-lô không phủ nhận việc Đức Chúa Trời đã định luật pháp Môi-se để hướng dẫn hành vi của các tín hữu thời Cựu Ước. Nhưng liên quan đến sự xưng công bình, ông phủ nhận việc Đức Chúa Trời ban luật pháp như một phương tiện để đạt được công đức trước mặt Ngài; thay vào đó, luật pháp là một phương tiện để dẫn dắt con người phó thác hoàn toàn vào duy chỉ ân điển của Ngài mà thôi.

j. Từ Thất Vọng Đến Chiến Thắng
#

Phần cuối của chương 7 mô tả một cách kinh điển sự tuyệt vọng của một người muốn làm điều thiện nhưng không thể làm được vì quyền lực ma quỷ của tội lỗi đã bị luật pháp làm cho trầm trọng thêm. Tuy nhiên, sự tuyệt vọng đó chuyển thành sự đắc thắng cho các tín hữu, bởi vì họ có Thánh Linh của Đấng Christ (chương 8).

Giống như trong thư Ga-la-ti, Phao-lô tương phản giữa xác thịt và Thánh Linh. Thánh Linh của Đấng Christ ban quyền năng cho các tín hữu để đắc thắng ham muốn tội lỗi, xác chứng cho họ về sự cứu rỗi, một ngày nào đó sẽ làm vinh hiển họ, và trong thời gian chờ đợi, Ngài cầu thay cho họ. Chương 8 đạt đến cao trào với một lời ngợi khen bùng nổ và sự tự tin. Đấng duy nhất có quyền buộc tội các tín hữu vì Ngài là thánh, lại chính là Đấng xưng công bình cho họ. Đức Chúa Trời sẽ không còn là công bình nếu Ngài định tội họ, bởi vì bây giờ họ ở trong Đấng Christ nhờ có Thánh Linh ngự trong Đấng Christ cũng ngự trong họ.

Đọc thêm: Tiến Trình Cứu Rỗi Theo Rô-ma 8:30

  • Được tiền định → Được kêu gọi → Được xưng công bình → Được vinh hiển

k. Sự Chọn Lựa, Từ Bỏ Và Phục Hồi của Y-sơ-ra-ên
#

Đọc Rô-ma 9:1-11:36.

Khi thảo luận về vấn đề của dân Y-sơ-ra-ên, Phao-lô khẳng định rằng Đức Chúa Trời có quyền chọn người này và bỏ người kia theo ý muốn của Ngài. Tội nhân không có quyền đòi hỏi gì nơi Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, Ngài không thực thi đặc quyền của mình một cách tùy tiện. Ngài đã quay sang các dân ngoại vì dân Y-sơ-ra-ên đã tìm kiếm sự công bình riêng của họ thay vì sự công bình của Ngài. Nhưng lời mời gọi cứu rỗi vẫn mở ra cho tất cả mọi người, cả người Do Thái lẫn dân ngoại. Các kết quả:

  • Một số người sót lại trong dân Do Thái tin nhận.
  • Dân ngoại có cơ hội tốt hơn so với trước đây.
  • Sự ghen tị vì dân ngoại được cứu rỗi trên diện rộng sẽ khiến người Do Thái ăn năn.
  • Toàn thể Y-sơ-ra-ên sẽ được cứu; nghĩa là, những người Do Thái còn sống vào thời điểm Đấng Christ trở lại sẽ chấp nhận Ngài là Đấng Mê-si, và kết quả là họ nhận được sự cứu rỗi.
  • Các tín hữu dân ngoại không nên tự cho mình công bình mà tôn mình cao hơn các tín hữu Do Thái, kẻo họ phải chịu sự phán xét mà những người Do Thái không tin đã phải chịu.

k. Sự Tận Hiến của Cơ Đốc Nhân
#

Đọc Rô-ma 12:1-15:13.

Những lời khuyên thực hành chiếm trọn phần chính tiếp theo của bức thư. Đối với Phao-lô, thần học luôn luôn ảnh hưởng đến hành vi; và để duy trì một tiêu chuẩn đạo đức Cơ Đốc cao trong các Hội Thánh, ông không bao giờ để độc giả phải tự đoán mò về ý nghĩa thực tiễn từ những lời dạy dỗ về giáo lý của mình. Sau lời kêu gọi các tín hữu hãy dâng chính mình cho Đức Chúa Trời như “của lễ sống [trái ngược với của lễ bị giết]”, Phao-lô khuyên giục độc giả đừng bắt chước hành vi bên ngoài của người thế gian, nhưng hãy sống đẹp lòng Đức Chúa Trời bằng một tâm trí bên trong được đổi mới (Rô-ma 12:1-2).

Sự tận hiến cá nhân dẫn đến các mục vụ trong cộng đồng như giảng luận, dạy dỗ, phục vụ, ban cho, và lãnh đạo - tất cả đều tùy theo các năng lực khác nhau mà Đức Chúa Trời đã ban cho các tín hữu, và tất cả phải được thực hiện cách khiêm nhường và hòa hợp (12:3-8). Tuy nhiên, sự hòa hợp trong một Hội Thánh phụ thuộc vào tình yêu thương lẫn nhau, bao gồm sự chân thành, ghét điều ác, giữ vững các tiêu chuẩn đúng đắn (điều lành), lòng trìu mến, sự tôn trọng, tính siêng năng, sự tận hiến cho Đức Chúa Trời, vui mừng trong hy vọng, kiên nhẫn, cầu nguyện, rộng rãi, và ân cần tiếp khách (12:9-13).

Tương tự, các tín hữu nên duy trì mối quan hệ tốt đẹp với những người chưa tin Chúa qua việc cầu nguyện cho ích lợi của họ, đồng cảm với niềm vui, cảm thông với nỗi buồn, và có thái độ tôn trọng cũng như vị tha đối với họ. Nếu những người chưa tin vẫn tiếp tục bắt bớ, chính Đức Chúa Trời sẽ phán xét họ và bênh vực những người thuộc về Ngài (12:14-21). Phao-lô cũng truyền lệnh phải vâng phục các bậc cầm quyền qua việc tuân thủ luật pháp và nộp thuế; nhưng những lời này của ông không nên hiểu là sự ủng hộ một cách mù quáng cho chế độ độc tài. Tiền đề được nêu ra là các nhà cầm quyền đang thực thi công lý bằng cách trừng phạt kẻ làm ác và khen thưởng người làm lành. Do đó, sự chống đối vì lý do chính trị thuần túy hoặc ích kỷ đáng bị khiển trách, nhưng không phải là sự kháng cự vì lý do đạo đức và tôn giáo (13:1-7). Đức Chúa Trời đòi hỏi tình yêu thương không chỉ dành cho các anh em cùng đức tin, mà còn cho nhân loại nói chung. Điều này bao gồm việc trả các món nợ và tránh xa sự ngoại tình, giết người, trộm cắp, và tham lam (13:8-10). Viễn cảnh về sự tái lâm của Chúa Jesus càng làm cho các mệnh lệnh này trở nên cấp bách hơn (13:11-14). Cuối cùng, giống như trong thư 1 Cô-rinh-tô, Phao-lô chỉ ra rằng các tín hữu phải cho phép nhau có sự tự do để khác biệt trong các vấn đề nghi lễ, miễn là không gây tổn hại cho những người yếu đuối, thiếu hiểu biết (14:1–15:3).

Đọc thêm: SỰ CAI TRỊ TỐT LÀNH

“Quyền cai trị đất nằm trong tay Chúa, và Ngài sẽ dấy lên một người lãnh đạo thích hợp cho thời điểm” (Sirach 10:4).

“Tôi sẽ không lấy ác trả ác cho bất cứ ai. Tôi sẽ chỉ theo đuổi việc làm điều lành cho con người. Vì sự phán xét mọi vật sống đều thuộc về Đức Chúa Trời, và Ngài sẽ trả cho mỗi người tùy theo việc họ làm … Tôi sẽ không giữ lòng giận dữ đối với những kẻ ăn năn tội lỗi, nhưng tôi sẽ không xót thương những kẻ lìa bỏ Đạo. Tôi sẽ không an ủi kẻ bị phạt cho đến khi đường lối của họ trở nên trọn vẹn”

(Community Rule [1QS] 10:17-18, 20-21).

l. Những Lời Kết Thúc
#

Đọc Rô-ma 15:14-16:27.

Trình bày các kế hoạch của mình chi tiết hơn so với chương 1, giờ đây Phao-lô cho biết hy vọng của ông là mang của dâng đến Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem và chuyến truyền giáo tại Tây Ban Nha sau khi đến thăm Rô-ma. Lời giới thiệu về Phê-bê trong Rô-ma 16:1-2 phản ánh thực hành của Cơ Đốc giáo thời bấy giờ, trong đó Hội Thánh địa phương giới thiệu một trong những thành viên của mình cho một Hội Thánh ở nơi mà thành viên đó đang chuyển đến hoặc tới thăm. Lời chào thăm gửi đến Prisca (tên gọi tắt của Bê-rít-sin) và A-qui-la trong 16:3 ngụ ý rằng họ đã trở lại Rô-ma. Từ các nguồn tư liệu thế tục, chúng ta cũng biết rằng sắc lệnh của hoàng đế Claudius trục xuất người Do Thái khỏi Rô-ma đã hết hiệu lực sau khi ông qua đời. Các lời chào thăm, lời cảnh báo chống lại các giáo sư giả, lời chúc phước, những lời chào thêm và lời tôn vinh Đức Chúa Trời đã hoàn tất bức thư.

TÓM LƯỢC
#

Thư 1 Cô-rinh-tô

Phao-lô viết thư 1 Cô-rinh-tô để giải quyết các vấn đề nảy sinh trong Hội Thánh tại Cô-rinh-tô. Vào thời điểm đó, ông đang ở Ê-phê-sô trong hành trình truyền giáo thứ ba. Một báo cáo bằng miệng đã đến tai ông về một số nan đề, và một bức thư hỏi ý kiến từ Hội Thánh Cô-rinh-tô đã báo cho ông biết về những nan đề khác. Các nan đề bao gồm: sự chia rẽ bè phái, sự vô đạo đức về tình dục, kiện tụng nhau, các vấn đề về hôn nhân và li dị, thức ăn cúng thần tượng, việc phụ nữ để đầu trần khi cầu nguyện và nói tiên tri trong các buổi nhóm lại, sự xúc phạm Tiệc Thánh, việc nói tiếng lạ thiếu kiểm soát, sự phủ nhận sự sống lại trong tương lai, và việc quyên góp tiền dâng hiến cho Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem.

Với thẩm quyền sứ đồ, Phao-lô truyền lệnh chấm dứt việc sùng bái cá nhân dẫn đến chia rẽ; kỷ luật một thành viên Hội Thánh có lối sống đặc biệt vô đạo đức; giải quyết các vụ kiện tụng giữa các Cơ Đốc nhân trong nội bộ Hội Thánh thay vì đưa ra tòa án bên ngoài; giữ gìn đạo đức tình dục; sự thỏa mãn tình dục trong hôn nhân; sống độc thân là một khả năng cho những người có ân tứ đó; không ly hôn và tái hôn đối với các cặp vợ chồng Cơ Đốc, mà nhiều nhất là sống phân ly và độc thân với ưu tiên hòa giải; duy trì hôn nhân với người chưa tin Chúa nếu họ bằng lòng; người góa bụa chỉ được kết hôn với người cùng đức tin; tự do ăn mọi thứ miễn là việc ăn đó không gây tổn hại thuộc linh cho những người có lương tâm kém hiểu biết về thần học; không tham dự các bữa tiệc ngoại giáo; phụ nữ phải trùm đầu khi cầu nguyện và nói tiên tri trong buổi nhóm; chấm dứt các bữa tiệc yêu thương; cử hành Tiệc Thánh trong sự hiệp nhất và với sự tự xét mình; kiểm soát chặt chẽ việc nói tiếng lạ; thực hành các ân tứ thuộc linh vì tình yêu thương cộng đồng thay vì sự thỏa mãn cá nhân; tin vào sự sống lại của thân thể trong tương lai theo khuôn mẫu sự phục sinh thân thể của Đấng Christ trong quá khứ; và việc định kỳ để dành của dâng trước khi Phao-lô đến để thu gom tiền dâng đem đến Giê-ru-sa-lem.

Thư 2 Cô-rinh-tô

Phao-lô viết thư 2 Cô-rinh-tô từ Ma-xê-đoan trong hành trình truyền giáo thứ ba. Bức thư thể hiện ba mục đích. Thứ nhất là khen ngợi đa số thành viên trong Hội Thánh Cô-rinh-tô vì họ đã kỷ luật một người chống đối Phao-lô, và truyền lệnh phục hồi người đó vì người ấy đã ăn năn. Thứ hai là thúc giục sự rộng rãi trong việc để dành tiền bạc mà Phao-lô sắp đến thu nhận cho Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem. Và mục đích thứ ba là bảo vệ chức vụ sứ đồ của ông trước một nhóm thiểu số trong Hội Thánh dường như vẫn còn chống đối ông. Xuyên suốt bức thư, đặc biệt là ở phần thứ nhất và thứ ba, mang đậm dấu ấn tự thuật về cuộc đời ông.

Thư Rô-ma

Tại Cô-rinh-tô trong hành trình truyền giáo thứ ba, Phao-lô viết thư Rô-ma gửi cho các Hội Thánh mà ông chưa hề thành lập hay đến thăm. Ông muốn chuẩn bị cho họ về chuyến thăm sắp tới và kêu gọi sự hỗ trợ tài chánh cho sứ mệnh kế tiếp tại Tây Ban Nha. Nhưng sự căng thẳng giữa các Cơ Đốc nhân người Do Thái và Cơ Đốc nhân dân ngoại đang đe dọa nỗ lực này và cả công cuộc truyền giáo rộng lớn hơn; vì vậy Phao-lô thảo luận chi tiết về sự không thiên vị của Đức Chúa Trời.

Đức Chúa Trời xưng công bình cho cả người Do Thái lẫn dân ngoại như nhau, nghĩa là, chỉ dựa trên cơ sở đức tin của họ nơi Đấng Christ là Đấng đã chuộc tội cho họ và qua đó làm nguôi cơn thịnh nộ công bình của Đức Chúa Trời đối với những tội lỗi đó. Cách thảo luận của Phao-lô giống như những gì ông dự định để nói tại Giê-ru-sa-lem, là nơi các Cơ Đốc nhân người Do Thái đang nuôi dưỡng sự nghi ngờ đối với ông và những người dân ngoại quy đạo, giống như các tín hữu dân ngoại tại Rô-ma, cũng đang có thái độ tương tự đối với các Cơ Đốc nhân Do Thái tại đó.

Sau phần mở đầu, Phao-lô xác lập tình trạng tội lỗi của cả nhân loại; đưa ra giải pháp duy nhất trong sự công bình của Đức Chúa Trời; chỉ ra kết quả là đời sống thánh khiết của các tín hữu được đầy dẫy Thánh Linh; phác họa sự từ bỏ tạm thời và sự phục hồi cuối cùng của Y-sơ-ra-ên như một ích lợi cho dân ngoại; trình bày chi tiết một loạt các điều răn dạy cho hành vi của Cơ Đốc nhân; và kết thúc với các kế hoạch của ông, lời giới thiệu về Phê-bê, các lời chào thăm, lời cảnh báo chống lại giáo sư giả, lời chúc phước, và lời tôn vinh Đức Chúa Trời.