THỜI GIAN BỊ GIAM CẦM CỦA PHAO-LÔ
Ê-phê-sô, Phi-líp, Cô-lô-se, và Phi-lê-môn tạo thành các Thư Tín Trong Tù (Prison/Captivity Letters), được gọi như vậy vì Phao-lô đang ở trong tù (tức là bị giam cầm) khi ông viết những thư này.
Chúng ta biết ít nhất có hai lần Phao-lô bị giam cầm, một lần tại Sê-sa-rê (Caesarea) dưới thời của các quan tổng đốc Phê-lít và Phê-tu (Công-vụ 23:23-26:32), một lần khác tại Rô-ma trong khi Phao-lô chờ đợi cuộc xét xử trước Sê-sa (Công-vụ 28:30-31). Dựa trên một vài truyền thống của Hội Thánh thời ban đầu, một số học giả suy đoán còn có một lần bị giam cầm khác tại Ê-phê-sô trong suốt thời gian Phao-lô phục vụ lâu dài tại đó. Phao-lô có đề cập đến việc bị cầm tù “nhiều lần” trong 2 Cô-rinh-tô 11:23, nhưng những lần này có lẽ ám chỉ những lần phải qua đêm trong nhà tù, như tại Phi-líp (Công-vụ 16:19-40).
Quan điểm truyền thống cho rằng tất cả các Thư Tín Trong Tù đều được Phao-lô viết trong lần ông bị giam cầm tại Rô-ma, nhưng ít nhất chúng ta cũng phải lưu ý đến khả năng tại Ê-phê-sô và Sê-sa-rê khi xem xét từng thư này.
I. THƯ PHI-LÊ-MÔN: LỜI THỈNH CẦU CHO MỘT NÔ LỆ BỎ TRỐN#
1.1. Các Vấn Đề Dẫn Nhập#
a. Người Nhận#
Trong thư gửi cho Phi-lê-môn, Phao-lô thỉnh cầu một chủ nô lệ là Cơ Đốc nhân, tên là Phi-lê-môn, hãy tiếp đón cách tử tế, thậm chí có thể trả tự do cho một nô lệ đã bỏ trốn vừa mới tin Chúa của mình là Ô-nê-sim, nay đang trở về. Là một cư dân của Cô-lô-se, Phi-lê-môn đã trở thành Cơ Đốc nhân thông qua Phao-lô ("còn anh mắc nợ tôi về chính mình anh," câu 19). Sự quy đạo này có lẽ đã diễn ra tại thành phố Ê-phê-sô gần đó, trong suốt thời gian Phao-lô phục vụ tại Ê-phê-sô.
Một Hội Thánh nhóm lại trong nhà của Phi-lê-môn (câu 2). Các tín hữu đầu tiên không có nhà thờ riêng nên đã nhóm họp tại các tư gia. Nếu số lượng tín hữu phát triển quá lớn khiến một ngôi nhà không thể chứa hết, họ sẽ sử dụng vài ngôi nhà (vì thế có cụm từ “các Hội Thánh tại nhà”).
b. Ô-nê-sim: Nô lệ hay Người Tự Do?#
Gần đây có ý kiến cho rằng Ô-nê-sim không phải là nô lệ, lại càng không phải là nô lệ bỏ trốn, mà là một người tự do - thậm chí có thể là anh em ruột của Phi-lê-môn - đã tìm đến Phao-lô để nhờ ông, với tư cách là bạn và người bảo trợ của Phi-lê-môn, giải quyết một tranh chấp tài chính giữa mình (Ô-nê-sim) và Phi-lê-môn. Nhưng thật khó có khả năng cụm từ “như một nô lệ” trong câu 16 có nghĩa là “như thể là nô lệ”; và trong cùng câu đó, “một người anh em trong Chúa” dễ được hiểu với ý nghĩa thông dụng là “một người anh em thông qua mối quan hệ chung với Chúa,” giống như cách Phao-lô gọi Ti-mô-thê là “anh em chúng ta” (câu 1), hơn là “một người anh em ruột thịt cũng đồng thời là một Cơ Đốc nhân.” Hơn nữa, theo luật La Mã, một nô lệ có thể tìm kiếm sự giúp đỡ từ bạn của chủ mình để tái lập mối quan hệ tốt đẹp với chủ.
1.2. Bố Cục Thư Phi-lê-môn#
Click vào link để xem Bố cục thư Phi-lê-môn
1.3. Đọc Thư Phi-lê-môn với Sự Giải Thích#
a. Bối Cảnh#
Ô-nê-sim đã lấy trộm một ít tiền của chủ mình rồi bỏ trốn đến Rô-ma, có lẽ để tìm kiếm sự giúp đỡ của Phao-lô cũng như để chạy trốn (xem các phần thảo luận tiếp theo về nơi xuất xứ của thư Cô-lô-se và Ê-phê-sô, vốn được viết và gửi đi cùng lúc với thư Phi-lê-môn). Vị sứ đồ đã dẫn đưa Ô-nê-sim quy đạo và thuyết phục anh rằng giờ đây với tư cách là một Cơ Đốc nhân, anh nên trở về với chủ mình và sống đúng với ý nghĩa cái tên của mình, vì “Ô-nê-sim” có nghĩa là “có ích” (câu 10-12). Do đó, với sự khéo léo mực thước và sự lịch thiệp Cơ Đốc, Phao-lô viết thư để thuyết phục Phi-lê-môn không chỉ nhận lại Ô-nê-sim mà không trừng phạt hay xử tử (một cách đối xử phổ biến đối với những nô lệ bỏ trốn), mà còn phải tiếp đón Ô-nê-sim “như một anh em yêu dấu … trong Chúa” (câu 16).
b. Triển Vọng#
Phao-lô muốn giữ Ô-nê-sim lại làm người giúp việc cho mình (câu 13). Có ý kiến cho rằng lời khẳng định đầy tin tưởng “anh sẽ làm quá sự tôi nói đây” (câu 21) ám chỉ theo nghĩa rộng rằng Phi-lê-môn nên trả tự do cho Ô-nê-sim; nhưng có lẽ Phao-lô chỉ đang gợi ý rằng Phi-lê-môn hãy cho phép Ô-nê-sim tham gia vào công tác truyền giáo. Phao-lô hứa sẽ bồi hoàn cho Phi-lê-môn khoản thiệt hại tài chính do sự trộm cắp của Ô-nê-sim gây ra. Mặt khác, việc đề cập ngay sau đó về món nợ thuộc linh lớn hơn mà Phi-lê-môn đang nợ Phao-lô mời gọi Phi-lê-môn hãy xóa bỏ món nợ tài chính mà Phao-lô vừa mới đứng ra gánh vác (câu 18-20).
II. THƯ CÔ-LÔ-SE: ĐẤNG CHRIST LÀ ĐẦU CỦA HỘI THÁNH#
2.1. Các Vấn Đề Dẫn Nhập#
a. Chủ Đề#
Trong thư gửi cho các tín hữu Cô-lô-se, Phao-lô nêu bật thân vị thần linh cùng công việc sáng tạo và cứu chuộc của Đấng Christ nhằm chống lại sự hạ thấp giá trị của Đấng Christ bởi một loại tà giáo đặc thù đang đe dọa Hội Thánh tại Cô-lô-se. Sau đó, Phao-lô rút ra những ứng dụng thực tiễn của thần học cao về Đấng Christ này (high Christology) cho đời sống và cách cư xử hàng ngày của Cơ Đốc nhân.
b. Nguồn Gốc từ Ê-phê-sô?#
Lời tựa cổ xưa theo Marcion cho thư Cô-lô-se cho biết rằng Phao-lô viết bức thư này từ Ê-phê-sô. Tuy nhiên, truyền thống này đáng ngờ, vì nó cũng nói rằng Phao-lô viết thư Phi-lê-môn từ Rô-ma. Thế nhưng, thư Cô-lô-se và thư Phi-lê-môn có mối liên kết không thể tách rời; vì cả hai thư đều đề cập đến Ti-mô-thê, A-ri-tạc (Aristarchus), Mác, Ê-pháp-ra (Epaphras), Lu-ca, Đê-ma (Demas), A-chíp (Archippus), và Ô-nê-sim. Sự trùng lặp của nhiều cái tên như vậy chỉ ra rằng Phao-lô viết và gửi cả hai thư cùng một lúc và từ cùng một nơi.
Hơn nữa, nếu Phao-lô viết thư Cô-lô-se và thư Phi-lê-môn khi đang bị giam tại Ê-phê-sô, thì tính ra nô lệ Ô-nê-sim đã lấy trộm tiền của chủ, rồi bỏ trốn chỉ 100 dặm về phía tây đến Ê-phê-sô. Khoảng cách ngắn này dường như không hợp lý, vì Ô-nê-sim biết mình có thể dễ dàng bị bắt trở lại khi ở quá gần nhà chủ như vậy. Nhiều khả năng là anh ta đã chạy trốn thật xa đến thành phố Rô-ma lớn hơn, nhằm ẩn mình trong đám đông ở đó. Bên cạnh đó, Lu-ca đang ở với Phao-lô khi Phao-lô viết thư Cô-lô-se (Cô-lô-se 4:14); nhưng phần mô tả về mục vụ của Phao-lô tại Ê-phê-sô không nằm trong những đoạn “chúng tôi” của sách Công-vụ. Vì vậy, bất chấp sự ủng hộ phần nào từ truyền thống Marcion, chúng ta nên bác bỏ giả thuyết nơi Phao-lô viết thư Cô-lô-se là thành phố Ê-phê-sô, trong một lần ông bị giam tại đó.
Đọc thêm: SỰ TƯƠNG ĐỒNG GIỮA THƯ CÔ-LÔ-SE VÀ THƯ PHI-LÊ-MÔN
| Cô-lô-se | Phi-lê-môn |
|---|---|
| “Phao-lô … cùng Ti-mô-thê là anh em” (1:1). | “Phao-lô… và Ti-mô-thê, anh em chúng ta” (1). |
| “Kẻ cùng đi với người là Ô-nê-sim, anh em trung tín và rất yêu của chúng tôi, tức là người đồng xứ với anh em vậy.” (4:9). | “tôi vì con tôi đã sanh trong vòng xiềng xích, tức là Ô-nê-sim, mà nài xin anh” (10). |
| “A-ri-tạc, là bạn đồng tù với tôi, gởi lời thăm anh em; Mác cũng vậy… Ê-pháp-ra… gửi lời chào… Lu-ca là thầy thuốc rất yêu dấu, chào anh em, Đê-ma cũng vậy” (4:10-14). | “Ê-pháp-ra, là bạn đồng tù trong Đức Chúa Jêsus Christ với tôi, có lời thăm anh, Mác, A-ri-tạc, Đê-ma và Lu-ca, cùng là bạn cùng làm việc với tôi cũng vậy” (23-24). |
| “Hãy nói với A-chíp …” (4:17). | “… A-chíp, là bạn cùng đánh trận” (2). |
c. Nguồn gốc từ Sê-sa-rê?#
Thậm chí còn ít có khả năng hơn nữa khi cho rằng thư Cô-lô-se được viết từ lần Phao-lô bị giam cầm tại Sê-sa-rê. Sê-sa-rê nhỏ hơn Rô-ma rất nhiều, và do đó, đây là một điểm đến ít khả thi hơn đối với một nô lệ bỏ trốn, đang tìm cách tránh bị phát hiện. Ô-nê-sim cũng khó có thể tiếp xúc được với Phao-lô tại Sê-sa-rê, vì chỉ bạn bè của Phao-lô mới được phép gặp ông ở đó (Công-vụ 24:23). Ngoài ra, kỳ vọng của Phao-lô rằng ông sẽ sớm được phóng thích (ông yêu cầu Phi-lê-môn chuẩn bị chỗ trọ cho mình, Phi-lê-môn 22) không phù hợp với lần bị giam cầm tại Sê-sa-rê - nơi Phao-lô nhận ra rằng hy vọng duy nhất của ông nằm ở việc phải kháng cáo lên Sê-sa.
d. Nguồn gốc từ Rô-ma#
Có vài cân nhắc ủng hộ nơi Phao-lô viết thư Cô-lô-se là trong lần ông bị giam cầm tại Rô-ma:
- Rất có khả năng là để che giấu danh tính, Ô-nê-sim đã trốn đến Rô-ma, là thành phố đông dân nhất đế quốc.
- Sự hiện diện của Lu-ca với Phao-lô khi viết thư Cô-lô-se phù hợp với việc Lu-ca đi cùng Phao-lô đến Rô-ma trong sách Công-vụ.
- Sự khác biệt về trọng tâm giáo lý giữa thư Cô-lô-se - nơi Phao-lô không bận tâm đến việc tranh luận về vấn đề Do Thái hóa (Judaizing controversy) - và các thư Ga-la-ti, Rô-ma, Cô-rinh-tô - nơi ông nhấn mạnh cách mạnh mẽ sự tự do khỏi luật pháp Môi-se, cho thấy rằng ông viết thư Cô-lô-se trong một giai đoạn muộn hơn, chẳng hạn như trong lần bị giam cầm tại Rô-ma, khi cuộc tranh luận về vấn đề Do Thái hóa không còn chi phối tư tưởng của ông (mặc dù sự công kích những người theo chủ nghĩa Do Thái hóa [Judaizers] trong thư Phi-líp chương 3, có lẽ được viết muộn hơn, đã làm yếu đi lập luận thứ ba này).
e. Hoàn Cảnh Viết Thư#
Thành phố Cô-lô-se nằm trong thung lũng sông Lycus, thuộc một vùng miền núi cách Ê-phê-sô khoảng 100 dặm về phía đông. Các thành phố lân cận là Lao-đi-xê (Laodicea) và Hi-ê-ra-bô-li (Hierapolis) đã làm lu mờ tầm quan trọng của Cô-lô-se. Cách viết mang tính gián tiếp khi Phao-lô cho biết rằng ông đã “nghe” về đức tin của độc giả (Cô-lô-se 1:4) và việc ông xếp họ vào số những người “chưa từng thấy mặt [ông] về phần xác” (2:1) hàm ý rằng ông không phải là người thành lập Hội Thánh tại Cô-lô-se cũng như chưa từng đến thăm nơi đó.
Vì người Cô-lô-se đã học biết về ân điển của Đức Chúa Trời từ Ê-pháp-ra (Epaphras) (1:6-7), nên chắc hẳn Ê-pháp-ra là người đã thành lập Hội Thánh này. Tuy nhiên, ông ấy lại đang ở với Phao-lô tại thời điểm Phao-lô viết thư Cô-lô-se (4:12-13). Chúng ta có thể phỏng đoán rằng Ê-pháp-ra đã trở thành Cơ Đốc nhân thông qua mục vụ của Phao-lô tại Ê-phê-sô, sau đó ông rao giảng Tin Lành cho vùng lân cận gồm Cô-lô-se, Lao-đi-xê và Hi-ê-ra-bô-li, và hiện đang đến thăm Phao-lô ở trong tù để xin lời khuyên về một tà giáo nguy hiểm đang đe dọa Hội Thánh Cô-lô-se. Có vẻ như A-chíp (Archippus) đã được giao trọng trách trông nom Hội Thánh (4:17). Theo giả thuyết này, chúng ta có thể hiểu tại sao Phao-lô lại đảm nhận thẩm quyền trên Hội Thánh Cô-lô-se dù ông chưa từng đến đó: vì ông là “ông tổ” của Hội Thánh thông qua người mà ông đã hướng dẫn quy đạo là Ê-pháp-ra, nên người ta đã tìm kiếm sự hướng dẫn và phán quyết của ông.
Đọc thêm: CÁC BẠN ĐỒNG LAO VỚI PHAO-LÔ
“Đạo Tin lành đó ở giữa anh em cũng như ở trong cả thế gian; lại kết quả và tấn bộ cũng như trong anh em, từ ngày mà anh em đã nghe rao truyền ơn Đức Chúa Trời và đã học cho thật biết ơn đó, y như Ê-pháp-ra là bạn đồng sự thiết nghĩa với chúng tôi đã dạy anh em; người giúp đỡ chúng tôi như một kẻ giúp việc trung thành của Đấng Christ, và đã tỏ ra cho chúng tôi biết lòng yêu thương mà anh em cảm chịu bởi Đức Thánh Linh” (Cô-lô-se 1:5-8).
“Ê-pháp-ra, người hàng xứ với anh em … có lời chào anh em … Vì tôi làm chứng cho người rằng, người làm việc rất là khó nhọc vì anh em, lại vì người Lao-đi-xê và người Hi-ê-ra-bô-li nữa.” (Cô-lô-se 4:12-13).
“Rốt lại, hãy nói với A-chíp rằng: Hãy cẩn thận về chức vụ mà ngươi đã nhân danh Chúa nhận lãnh, để làm cho thật trọn vẹn” (Cô-lô-se 4:17).
f. Một Hội Thánh Dân Ngoại#
Các Cơ Đốc nhân tại Cô-lô-se phần lớn là người dân ngoại. Phao-lô nói về tình trạng “không chịu cắt bì” nơi “xác thịt” của họ (Cô-lô-se 2:13). Trong 1:27, các cụm từ “ở giữa dân ngoại” và “trong anh em” dường như là đồng nghĩa. Và việc mô tả người Cô-lô-se là “ngày trước vốn xa cách Đức Chúa Trời, và là thù nghịch cùng Ngài bởi ý tưởng” (1:21) phù hợp với cách dùng từ tương tự trong Ê-phê-sô 2:11-13, nơi Phao-lô đề cập rõ ràng đến những người “theo xác thịt là người ngoại.”
g. Tà Giáo Cô-lô-se#
Thư gửi cho các tín hữu Cô-lô-se tập trung vào cái gọi là tà giáo Cô-lô-se. Chúng ta có thể suy luận ra một số đặc điểm của sự dạy dỗ sai lạc này từ những sự nhấn mạnh đối lập mà Phao-lô đưa ra. Trên thực tế, ông có thể đã mượn những thuật ngữ ưa thích của các giáo sư giả, chẳng hạn như sự hiểu biết và sự sung mãn, rồi dùng chúng để chống lại tà giáo bằng cách lấp đầy những thuật ngữ này bằng những nội dung chính thống. Tà giáo này:
- Làm giảm giá trị thân vị của Đấng Christ, do đó Phao-lô nhấn mạnh sự tối cao của Đấng Christ (1:15-19)
- Chú trọng triết lý loài người, tức là những suy đoán của con người tách rời khỏi sự mặc khải thiêng liêng (2:8)
- Chứa đựng các yếu tố của Do Thái giáo, chẳng hạn như phép cắt bì (2:11; 3:11), truyền thống của giới rabbi (2:8), các quy định về thực phẩm, cùng việc giữ ngày Sa-bát và các ngày lễ (2:16)
- Bao gồm sự thờ phượng các thiên sứ như những đấng trung gian giữ cho Đức Chúa Trời Tối Cao (là Thần Linh thuần khiết) không bị ô uế bởi sự tiếp xúc với vũ trụ vật chất (một đặc điểm của ngoại giáo, vì mặc dù người Do Thái chính thống đã xây dựng một hệ thống phân cấp các thiên sứ, họ không thờ phượng các thiên sứ cũng như không xem bản chất vật chất của vũ trụ là xấu xa [2:18])
- Phô trương một vẻ độc quyền về sự huyền bí và ưu việt, do đó Phao-lô chống lại bằng cách nhấn mạnh tính bao gồm tất cả và tính công khai của Tin Lành (1:20, 23, 28; 3:11)
Như vậy, tà giáo Cô-lô-se là sự pha trộn giữa chủ nghĩa luật pháp Do Thái, sự suy đoán triết học Hy Lạp, và chủ nghĩa huyền bí phương Đông. Có lẽ vị trí của Cô-lô-se nằm trên một tuyến đường thương mại quan trọng nối liền Đông và Tây đã góp phần vào tính chất hỗn tạp của giáo lý sai lạc này. Hầu hết các đặc điểm của nó sẽ xuất hiện đầy đủ trong Tri Huệ giáo (Gnosticism) sau này và trong các tôn giáo huyền bí của Hy Lạp và phương Đông. Tuy nhiên, sự hiện diện của các đặc điểm Do Thái giáo cho thấy đây là một hình thái Do Thái giáo mang tính dung hợp (syncretistic Judaism), thiếu đi mô-típ về Đấng Cứu Chuộc của Tri Huệ giáo chống Do Thái giáo ở giai đoạn muộn hơn.
2.2. Bố Cục Thư Cô-lô-se#
Click vào link để xem Bố cục thư Cô-lô-se
2.3. Đọc Thư Cô-lô-se với Sự Giải Thích#
a. Giáo Lý, Đặc Biệt là Thần Học về Đấng Christ (Christology)#
Như đã thấy trong bố cục, thư Cô-lô-se được chia thành hai phần chính: giáo lý (chương 1-2) và khuyên bảo (chương 3-4). Phao-lô đặt trọng tâm giáo lý vào thần học về Đấng Christ (Christology). Bức thư mở đầu bằng lời chào thăm, tạ ơn và cầu nguyện. Sau đó bắt đầu phần thảo luận lớn về Đấng Christ.
Những lời ca ngợi của Phao-lô về Đấng Christ đề cập đến:
- Vương quốc của Ngài (1:13)
- Công việc cứu chuộc của Ngài (1:14)
- Ngài là sự thể hiện bên ngoài ("hình ảnh") của Đức Chúa Trời trong thân xác con người (1:15)
- Quyền tối cao của Ngài trên mọi thọ tạo với tư cách là Chủ và là Đấng kế tự (vì con trai đầu lòng nhận được phần thừa kế nhiều hơn các con trai khác, “Đấng sanh ra đầu hết thảy mọi vật dựng nên” [1:15] không nhất thiết hàm ý rằng Chúa Jesus là tạo vật đầu tiên được dựng nên)
- Ngài là Đấng Tạo Hóa (1:16)
- Sự tiền hữu (preexistence) và sự gắn kết vũ trụ của Ngài (1:17)
- Ngài là Đầu của sự sáng tạo mới, tức là Hội thánh (1:18)
- Quyền tối thượng của Ngài trong việc sống lại từ cõi chết để không bao giờ chết nữa (1:18)
Một số học giả coi Cô-lô-se 1:15-20 là một trích đoạn từ một bài thánh ca sơ khai nào đó. “Sự đầy dẫy của Đức Chúa Trời” ngự trong Đấng Christ chính là toàn bộ bản tính thần linh. Khi Phao-lô viết rằng những sự chịu khổ của chính ông làm cho đầy đủ “phần còn lại trong sự thương khó của Đấng Christ” (1:24), điều đó không hàm ý rằng Đấng Christ đã chịu khổ quá ít cung cấp một sự chuộc tội trọn vẹn cho nhân loại. Phao-lô muốn nói rằng những sự đau đớn chịu đựng trong khi rao giảng Tin Lành cũng là cần thiết để mọi người được cứu, và Đấng Christ tiếp tục chịu khổ cùng với những nhân chứng bị bách hại của Ngài vì sự hiệp nhất, hoặc sự liên đới, của họ với Ngài (hãy so sánh lời Chúa Jesus phán với Phao-lô khi ông còn đang bắt bớ Hội Thánh: “Hỡi Sau-lơ, Sau-lơ, sao ngươi bắt bớ Ta?” Công-vụ 9:4). Thuật ngữ “sự mầu nhiệm” ("sự mầu nhiệm này, tức là Đấng Christ ở trong anh em," 1:27) chỉ lẽ thật thần học bị che khuất đối với những kẻ chẳng tin nhưng được bày tỏ cho các tín đồ.
Trong phần luận chiến chống lại tà giáo Cô-lô-se (2:8-23), Phao-lô cáo buộc rằng sự dạy dỗ sai lạc này làm lu mờ sự tối cao (preeminence) của Đấng Christ; rằng các lễ nghi của nó, được vay mượn từ Do Thái giáo, chỉ là hình bóng cho các thực tại thuộc linh trong Đấng Christ; và rằng chủ nghĩa khổ tu (asceticism) cùng việc thờ lạy thiên sứ của nó nuôi dưỡng lòng kiêu ngạo và làm giảm đi sự vinh hiển của Đấng Christ.
b. Lời Khuyên Bảo#
Sự hiệp nhất của các tín đồ với Đấng Christ trong sự chết, sự sống lại và sự thăng thiên của Ngài tạo nên nền tảng cho các lời khuyên bảo thực tiễn. Các tín đồ phải chấp nhận quan điểm của Đức Chúa Trời bằng cách xem chính mình như đã chết trong Đấng Christ đối với tội lỗi và đang sống trong Ngài cho sự công chính.
“Người Sy-the [Scythian]” (3:11) bị coi là những kẻ man rợ đặc biệt thô lỗ. Vì muối ngăn chặn sự hư nát, nên lời nói “nêm thêm muối” (4:6) có lẽ có nghĩa là lời nói không bại hoại hay tục tĩu.
III. THƯ Ê-PHÊ-SÔ: HỘI THÁNH LÀ THÂN THỂ CỦA ĐẤNG CHRIST#
3.1. Các Vấn Đề Dẫn Nhập#
a. Chủ đề#
Không giống như hầu hết các bức thư của Phao-lô, thư Ê-phê-sô dường như không được viết để đáp lại một hoàn cảnh hay cuộc tranh luận cụ thể nào. Nó mang một đặc tính gần như là suy ngẫm. Trong chủ đề chung với thư Cô-lô-se - Đấng Christ là đầu của Hội Thánh là thân thể của Ngài - thư Ê-phê-sô nhấn mạnh vào Hội Thánh là thân thể của Đấng Christ, trong khi thư Cô-lô-se nhấn mạnh vào quyền làm đầu của Đấng Christ. Thư Cô-lô-se cảnh báo chống lại một giáo lý sai lạc làm giảm giá trị Đấng Christ; thư Ê-phê-sô bày tỏ lời ngợi khen về sự hiệp nhất và các phước hạnh mà mọi tín đồ đều được chia sẻ trong Đấng Christ.
b. Ti-chi-cơ (Tychicus)#
Phao-lô hẳn đã viết thư Ê-phê-sô và Cô-lô-se vào xấp xỉ cùng một khoảng thời gian, bởi vì nội dung trong hai bức thư này có vẻ liên quan với nhau và bởi vì một số câu về Ti-chi-cơ xuất hiện với hình thức gần như giống hệt nhau trong cả hai thư. Việc cho biết rằng Ti-chi-cơ sẽ nói trực tiếp để bổ sung các chi tiết khác về hoàn cảnh của Phao-lô hàm ý rằng Ti-chi-cơ sẽ vận chuyển cả hai bức thư cùng một lúc tới các điểm đến của chúng. Việc Phao-lô tự nhận mình là “kẻ tù của Chúa” chỉ ra rằng ông đang bị giam cầm vào thời điểm viết thư và nhận biết mục đích của Chúa trong sự giam cầm đó.
Mặc dù thư Ê-phê-sô có thể được gửi đến vùng phụ cận quanh Ê-phê-sô hơn là chính thành Ê-phê-sô (xem phần thảo luận bên dưới), nhưng khó có khả năng Phao-lô viết thư này trong một lần ông bị giam cầm tại Ê-phê-sô. Về lần bị giam tại Sê-sa-rê, việc ông đề cập đến việc giảng dạy cách “dạn dĩ” như một “sứ giả ở trong vòng xiềng xích” hàm ý rằng ông vẫn đang rao giảng Tin Lành bất chấp việc bị giam cầm (Ê-phê-sô 6:20); thế nhưng tại Sê-sa-rê chỉ có bạn bè của ông mới có thể đến thăm ông (Công-vụ 24:22-23). Tuy nhiên, tại Rô-ma, ông đã giảng dạy cho một dòng người liên tục đến thăm ông tại nhà tù nơi ông ở trọ (Công-vụ 28:30-31). Do đó, giống như các bức thư có liên quan mật thiết là Cô-lô-se và Phi-lê-môn, thư Ê-phê-sô dường như đã được viết trong kỳ Phao-lô bị giam ở Rô-ma.
| Ê-phê-sô 6:21-22 | Cô-lô-se 4:7-9 |
|---|---|
| “Vả, muốn cho anh em cũng biết những sự thuộc về tôi và việc tôi làm, thì có Ti-chi-cơ, anh em rất yêu dấu của chúng ta, là tôi tớ trung thành của Chúa, sẽ báo tin mọi sự cho anh em. Tôi đã sai người đi, có ý cho anh em biết tình cảnh chúng tôi là thể nào, để yên ủi lòng anh em.” | “Ti-chi-cơ là anh em rất yêu của chúng tôi, một người tôi tớ trung thành của Chúa và bạn cùng làm việc với tôi, sẽ báo tin cho anh em về các việc của tôi. Tôi có ý sai người đến cùng anh em, hầu cho anh em biết tình cảnh chúng tôi là thể nào, đặng người yên ủi lòng anh em. Kẻ cùng đi với người là Ô-nê-sim, anh em trung tín và rất yêu của chúng tôi, tức là người đồng xứ với anh em vậy. Hai người đó sẽ nói cho biết hết mọi điều xảy ra ở đây.” |
c. Điểm Đến Không Phải Là Ê-phê-sô#
Cụm từ “ở thành Ê-phê-sô”, vốn chỉ địa điểm của những người nhận thư (Ê-phê-sô 1:1), không có trong các bản sao chép cổ xưa nhất. Như vậy, Phao-lô đã lược bỏ hoàn toàn vị trí địa lý của những người nhận thư. Hơn nữa, cách nói gián tiếp khi ông đề cập đến việc mình đã “nghe” về đức tin của họ (1:15) và việc họ đã “nghe” về chức vụ của ông (3:2), kết hợp với việc thiếu vắng các thuật ngữ trìu mến mà ông thường dùng, đã loại trừ Ê-phê-sô khỏi vị trí là điểm đến của bức thư; vì Phao-lô đã lao khổ tại đó hơn hai năm và biết rõ các Cơ Đốc nhân tại Ê-phê-sô một cách thân thiết, cũng như họ biết rõ ông (Công-vụ 19:1-20:1, 10-38).
LAO-ĐI-XÊ?
Một số truyền thống ban đầu xác định Hội thánh tại Lao-đi-xê là người nhận thư này. Học giả người Đức Adolf von Harnack cho rằng những người sao chép bản văn thời kỳ đầu đã xóa bỏ cái tên Lao-đi-xê vì sự quở trách đối với Hội Thánh Lao-đi-xê trong Khải-huyền 3:14-22, và sau đó những người sao chép sau này đã thay thế bằng tên Ê-phê-sô vì mối liên hệ mật thiết của Phao-lô với Hội Thánh tại thành phố đó.
Quả thực, Phao-lô có nhắc đến một bức thư ông gửi cho Hội Thánh Lao-đi-xê (Cô-lô-se 4:16); nhưng vì không có bản sao chép nào đề cập đến Lao-đi-xê trong Ê-phê-sô 1:1, nên việc biến “Ê-phê-sô” thành “Lao-đi-xê” trong truyền thống ban đầu có lẽ đại diện cho một nỗ lực nhằm xác định bức thư gửi cho Lao-đi-xê được đề cập trong thư Cô-lô-se.
MỘT BỨC THƯ LƯU HÀNH
Khả năng cao hơn, “Ê-phê-sô” là một bức thư chung được gửi đến nhiều Hội Thánh khác nhau trong vùng lân cận Ê-phê-sô. Theo quan điểm này, việc Phao-lô đề cập đến bức thư gửi cho Lao-đi-xê trong Cô-lô-se 4:16 có thể ám chỉ đến bức thư “Ê-phê-sô” này, nhưng không hàm ý rằng bức thư “Ê-phê-sô” này chỉ được gửi riêng cho Hội Thánh Lao-đi-xê. Thay vào đó, trong quá trình lưu hành đến các Hội Thánh trong khắp vùng, bức thư đã đến Lao-đi-xê và sắp được chuyển đến Cô-lô-se gần đó. Việc bức thư được viết để lưu hành qua nhiều nơi giải thích lý do tại sao không có tên của một thành phố cụ thể trong phần địa chỉ. Trong trường hợp một bản duy nhất của bức thư được lưu hành bắt đầu từ Ê-phê-sô và sau đó quay trở lại Ê-phê-sô, thì tên của thành phố Ê-phê-sô có thể dễ dàng được gắn liền với bức thư, như thực tế đã xảy ra.
“Anh em đọc thơ nầy rồi, hãy đưa cho Hội thánh Lao-đi-xê đọc với, anh em cũng phải đọc thơ ở Lao-đi-xê gởi đến nữa.” (Cô-lô-se 4:16)
e. Cấu Trúc#
Giống như thư Cô-lô-se, thư Ê-phê-sô được chia thành hai phần. Ê-phê-sô 1-3 chứa đựng giáo lý và thảo luận về các đặc ân thuộc linh của Hội Thánh. Ê-phê-sô 4-6 chứa đựng lời khuyên bảo và thảo luận về các trách nhiệm thuộc linh của Cơ Đốc nhân.
3.2. Bố Cục Thư Ê-phê-sô#
Click vào link để xem Bố cục thư Ê-phê-sô
3.3. Đọc Thư Ê-phê-sô với Sự Giải Thích#
a. Các Phước Lành Trên Trời#
Sau lời chào thăm (Ê-phê-sô 1:1-2), Phao-lô bắt đầu một lời tôn vinh Đức Chúa Trời vì các phước lành thuộc linh trong Đấng Christ “ở các nơi trên trời” (1:3-14). Nghĩa là, sự hiệp nhất của tín hữu với Đấng Christ không chỉ bao gồm sự dự phần vào sự chết, sự chôn, và sự sống lại của Ngài dưới đất, mà còn dự phần vào sự tôn cao của Ngài trên trời. Lời tôn vinh vạch ra vai trò của cả Ba Ngôi Đức Chúa Trời trong sự cứu rỗi:
- Đức Chúa Cha đã chọn các tín đồ (giáo lý về sự chọn lựa, 1:4).
- Đức Chúa Con đã cứu chuộc họ (1:7).
- Đức Thánh Linh đã “đóng ấn” họ; nghĩa là, sự ban cho Đức Thánh Linh là vật làm tin, hay sự bảo chứng của Đức Chúa Trời rằng Ngài sẽ hoàn tất sự cứu rỗi của họ khi Đấng Christ tái lâm (1:13-14).
Tiếp theo lời tôn vinh là lời cảm tạ và cầu nguyện rằng các tín đồ có thể hiểu biết và đánh giá cao sự vĩ đại của ân điển và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời (1:15-23).
b. Ân Điển Thiêng Liêng#
Để giúp độc giả nhận biết và đánh giá cao sự vĩ đại của ân điển Đức Chúa Trời, Phao-lô đối chiếu tình trạng họ bị tội lỗi thống trị trước khi quy đạo với sự tự do khỏi ách nô lệ đó sau khi quy đạo. Ông cũng nhấn mạnh rằng sự cứu rỗi hoàn toàn không bởi công lao của con người; nó đến bởi ân điển của Đức Chúa Trời, qua đức tin, và không dựa trên những việc lành có tính cách lập công. Hành động của Đức Chúa Trời có tạo ra những việc lành, nhưng chúng là kết quả chứ không phải là phương tiện của sự cứu rỗi. Ân điển của Ngài bày tỏ chính nó một cách đặc biệt trong việc cứu chuộc dân ngoại khỏi ngoại giáo và trong sự hiệp nhất của họ với người Do Thái trong Hội Thánh. Bức tường ngăn cách đầy thù nghịch giữa hai nhóm người, được biểu tượng hóa bằng bức tường trong các sân đền thờ mà dân ngoại không được phép vượt qua, không tồn tại trong Hội Thánh. Một cách giải thích khác, bức tường ngăn cách đại diện cho rào cản cũ giữa Đức Chúa Trời và loài người, nay đã bị Đấng Christ phá đổ.
Tuy nhiên, dù kế hoạch cứu rỗi có vĩ đại đến đâu, Phao-lô và độc giả của ông vẫn phải đối mặt với thực tế khó khăn của sự bách hại hiện tại. Ông viết rằng sự nhận biết của ông về ân điển của Đức Chúa Trời và đặc ân của ông trong việc rao giảng Tin Lành giúp ông không nản lòng. Sự nhận biết tương tự từ phía độc giả cũng sẽ giúp họ không nản chí. Vì vậy, phần này kết thúc bằng một lời tôn vinh Đức Chúa Trời khác và lời cầu nguyện rằng độc giả có thể được vững vàng thông qua sự gia tăng sự hiểu biết thuộc linh.
Đọc thêm: SỰ CHỌN VÀ KHÔNG ĐƯỢC CHỌN
Phao-lô viết về sự chọn lựa của Đức Chúa Trời cho sự cứu rỗi bất chấp việc làm của con người, trong khi đoạn văn sau đây nói về việc không được chọn bởi Đức Chúa Trời cho sự cứu rỗi vì cớ công việc của con người: “Vì Đức Chúa Trời đã không chọn họ [‘những kẻ lìa bỏ Con Đường và lánh xa luật lệ’] từ quá khứ đời đời. Ngài đã biết các việc làm của họ trước khi họ được dựng nên và gớm ghiếc dòng dõi của họ”
(Damascus Document 2:7-8).
c. Hiệp Nhất và Đa Dạng#
Các lời khuyên bảo thực hành bắt đầu bằng một lời thỉnh cầu cho sự hiệp nhất bên ngoài xuất phát từ sự hiệp nhất thuộc linh vốn đã có của Hội Thánh. Tuy nhiên, sự hiệp nhất này bao gồm sự đa dạng về chức năng để làm cho thân thể, tức là Hội Thánh, được tăng trưởng. Mỗi tín đồ đều có một chức năng phục vụ. Những lãnh đạo trong Hội Thánh phải trang bị cho các tín đồ khác để họ thực hiện các chức năng khác nhau của mình.
d. Nếp Sống Thánh Khiết#
Tiếp theo là các chỉ dẫn khác nhau về sự thánh khiết:
- Hãy nói lời chân thật;
- Hãy nổi giận một cách công chính khi cần thiết, nhưng đừng phạm tội vì không kiểm soát được cơn giận của mình;
- Đừng trộm cắp;
- Tránh lời nói tục tĩu và những lời bông đùa dung tục.
Phần này kết thúc bằng một bài thơ ba câu có nhịp điệu, có thể trích từ một bài thánh ca được dùng trong nghi thức Báp-têm của Hội Thánh thời ban đầu, được hát vào lúc người nhận Báp-têm bước lên khỏi mặt nước:
“Ngươi đương ngủ, hãy thức, Hãy vùng dậy từ trong đám người chết, Thì Đấng Christ sẽ chiếu sáng ngươi.”
e. Sự Đầy Dẫy Thánh Linh#
Lời khuyên của Phao-lô về việc được đầy dẫy Đức Thánh Linh cho thấy sự đầy dẫy như vậy sẽ tự biểu hiện qua việc tránh xa sự say sưa (trái ngược với những cuộc truy hoan say xỉn của các giáo phái Hy Lạp) và qua việc ca hát vui vẻ, làm chứng, cũng như sự phục tùng lẫn nhau. Đặc biệt, những người vợ nên phục tùng chồng mình giống như Hội Thánh phục tùng Đấng Christ là đầu của Hội Thánh.
Chồng phải yêu vợ mình như Đấng Christ đã yêu Hội Thánh là thân thể Ngài. Con cái phải vâng phục cha mẹ. Các người làm cha phải cư xử khôn ngoan với con cái mình. Tôi tớ phải vâng lời chủ mình. Và chủ phải tử tế với tôi tớ mình.
Phao-lô kết hợp các hình ảnh ẩn dụ về đầu và thân thể với hình ảnh Hội Thánh là nàng dâu và là vợ của Đấng Christ - Đấng là chàng rể và là chồng. Giống như chồng và vợ trở nên một về phần xác (“một thịt”) trong mối quan hệ hôn nhân, Đấng Christ và Hội Thánh cũng là một trong Đức Thánh Linh. Các học giả đã đề xuất nhiều nguồn gốc khác nhau cho hình ảnh ẩn dụ của Phao-lô về Hội Thánh là thân thể của Đấng Christ:
- Quan điểm của phái Khắc Kỷ cho rằng vũ trụ là một thân thể với nhiều bộ phận khác nhau
- Ý tưởng của các rabbi rằng con người là các chi thể của thân thể A-đam theo nghĩa đen
- Sự hiệp nhất mang tính biểu tượng hay bí tích của tín đồ với thân thể Đấng Christ khi họ ăn bánh trong Tiệc Thánh
- Một khái niệm của người Hê-bơ-rơ về nhân vị tập thể (corporate personality)
- Giáo lý của chính Phao-lô về sự hiệp nhất giữa tín đồ và Đấng Christ
f. Khí Giới Của Đức Chúa Trời#
Trước khi tạm biệt, Phao-lô kêu gọi độc giả hãy mặc lấy mọi khí giới thuộc linh do Đức Chúa Trời ban cho và chiến đấu chống lại các thế lực của Sa-tan đang thống trị thế gian. Có lẽ hình ảnh người lính mà Phao-lô bị xiềng cùng trong khi ông đang đọc người chép thư Ê-phê-sô tại nhà tù tại gia của mình đã gợi lên hình ảnh “mọi khí giới của Đức Chúa Trời.”
Từ “thuẫn” chỉ loại khiên lớn có thể che phủ toàn thân, chứ không phải loại khiên tròn nhỏ mà lính Hy Lạp hay dùng. “Tên lửa” chỉ những mũi tên và mũi lao được nhúng trong nhựa đường hay vật liệu dễ cháy khác, sẽ được châm lửa, rồi phóng hoặc bắn về phía kẻ thù.
“Và người ta không thể tìm thấy một mối tương giao nào khác cần thiết hơn hoặc dễ chịu hơn mối tương giao giữa chồng và vợ. Vì có người đàn ông nào tận tụy với bạn đời của mình như một người vợ nồng nhiệt đối với người nam mà nàng đã kết hôn? Có người anh em nào đối với anh em mình như vậy không? Có người con nào đối với cha mẹ mình như vậy không? Có ai khi vắng mặt lại được mong nhớ như người vợ mong nhớ chồng mình và người chồng mong nhớ vợ mình? Sự hiện diện của ai có thể làm vơi bớt nỗi buồn, gia tăng niềm vui, hay giải quyết tai họa tốt hơn? Mọi sự được xem là chia sẻ cho ai - cả thân thể, linh hồn, và của cải - ngoại trừ chồng và vợ? Cũng vì những lý do này, mọi người đều coi tình yêu vợ chồng là đáng tôn trọng nhất trong tất cả các loại tình yêu”
(Musonius Rufus, “Hôn nhân có phải là một trở ngại cho việc theo đuổi triết học không?” 2-11).
IV. THƯ PHI-LÍP: MỘT LỜI CẢM ƠN THÂN TÌNH#
4.1. Các Vấn Đề Dẫn Nhập#
a. Chủ đề và Bối cảnh#
Hội Thánh tại Phi-líp dường như là Hội Thánh được Phao-lô yêu quý nhất. Ông đã nhận được sự giúp đỡ thường xuyên từ Hội Thánh này (Phi-líp 4:15-20; 2 Cô-rinh-tô 11:7-9). Vì vậy, thư gửi các tín hữu Phi-líp là bức thư mang tính cá nhân nhất trong số các thư ông viết cho một Hội Thánh. Thực tế, đây là lời cảm ơn về món quà tài chính gần đây nhất của họ (Phi-líp 4:10, 14), là món quà được gửi qua Ép-ba-phô-đích (Epaphroditus) (2:25).
b. Ép-ba-phô-đích#
Trong chuyến đi hoặc sau khi đến nơi với món quà, Ép-ba-phô-đích đã bị bệnh nặng suýt chết (Phi-líp 2:27). Ở quê nhà, các tín hữu Phi-líp đã nghe tin ông bị bệnh, và có tin báo cho Ép-ba-phô-đích rằng họ đang lo lắng cho ông. Phao-lô nhận thấy Ép-ba-phô-đích muốn trở về Phi-líp và do đó gửi ông về cùng với bức thư (2:25-30).
c. Mục đích#
Việc Ép-ba-phô-đích trở về không chỉ giúp Phao-lô viết lời cảm ơn về sự giúp đỡ tài chính của các tín hữu tại Phi-líp. Nó cũng tạo cơ hội cho ông đối phó với khuynh hướng chia rẽ trong Hội Thánh của họ (Phi-líp 2:2; 4:2), cảnh báo chống lại những người theo Do Thái hóa (Judaizers) (chương 3), và chuẩn bị cho Hội Thánh đón tiếp các chuyến viếng thăm sắp tới của Ti-mô-thê và, nếu Chúa cho phép, của chính Phao-lô (2:19-24).
“Ép-ba-phô-đích” là dạng đầy đủ của cái tên “Ê-pháp-ra” (Epaphras) xuất hiện trong thư Cô-lô-se. Nhưng chúng ta không có đủ bằng chứng để xác định Ê-pháp-ra - người thành lập Hội Thánh Cô-lô-se, với Ép-ba-phô-đích - người đưa tin của Hội Thánh Phi-líp.
d. Nguồn gốc từ Sê-sa-rê?#
Phao-lô đang ở trong tù vào thời điểm viết thư ("trong vòng xiềng xích tôi," Phi-líp 1:7, 13). Nhưng ông đang đề cập đến lần bị giam cầm nào của mình? Có lẽ không phải lần ở Sê-sa-rê, vì ở đó ông không thể rao giảng tự do như được hàm ý trong 1:12-13 (so sánh Công-vụ 24:23). Ngoài ra, ông hẳn phải biết rằng việc được phóng thích ở Sê-sa-rê đồng nghĩa với việc gần như ngay lập tức bị những người Do Thái trong vùng hành hình bằng bạo lực. Hy vọng an toàn duy nhất của ông sẽ nằm ở việc kháng cáo lên Sê-sa và do đó được giải đến Rô-ma dưới sự bảo vệ của binh lính. Thế nhưng, trong Phi-líp 1:25; 2:24, niềm hy vọng được phóng thích (Phi-lê-môn 22) đã biến thành sự tin chắc rằng việc trả tự do sẽ “sớm” xảy ra.
e. Nguồn gốc từ Ê-phê-sô?#
Một khả năng tốt hơn được đưa ra là thư Phi-líp được viết trong lần Phao-lô bị cầm tù tại Ê-phê-sô. Phao-lô viết rằng ông hy vọng sẽ sai Ti-mô-thê đến Phi-líp (Phi-líp 2:19, 23); và Lu-ca viết rằng Phao-lô đã sai Ti-mô-thê và Ê-rát (Erastus) đến Phi-líp từ Ê-phê-sô (Công-vụ 19:22). (Nhưng nếu hai đoạn này thực sự song song, tại sao Phao-lô không đề cập đến Ê-rát trong Phi-líp 2:19-24?) Cuộc tranh luận chống lại những người theo Do Thái hóa (Judaizers) trong chương 3 có vẻ giống với các cuộc tranh luận trước đó của Phao-lô vào khoảng thời gian ông ở Ê-phê-sô. (Tuy nhiên, vẫn có khả năng một mối đe dọa mang tính Do Thái hóa muộn hơn đã làm sống lại các cuộc tranh luận trước đó của ông).
Hơn nữa, các bia khắc cho thấy rằng từng có một phân đội của Vệ Binh Hoàng Gia (Praetorian Guard) đóng quân tại Ê-phê-sô, và Phao-lô có đề cập đến Vệ Binh Hoàng Gia trong Phi-líp 1:13. Tương tự, “người nhà của Sê-sa” (4:22) có thể ám chỉ các công chức hoàng gia tại Ê-phê-sô. Theo sách Công vụ, Lu-ca đã đi cùng Phao-lô đến Rô-ma nhưng không cùng ông đến Ê-phê-sô. Phao-lô không nhắc đến Lu-ca trong thư Phi-líp như ông đã làm trong thư Cô-lô-se 4:14 và Phi-lê-môn 24. Do đó, việc không đề cập này gợi ý rằng Phao-lô viết thư Phi-líp từ một lần bị cầm tù tại Ê-phê-sô. (Nhưng nếu ông viết thư Phi-líp vào gần cuối thời gian bị cầm tù tại Rô-ma, vốn kéo dài ít nhất hai năm, thì Lu-ca có thể đã rời Phao-lô vào lúc đó, nên lập luận từ sự im lặng này không mang tính quyết định).
Một lập luận khác ủng hộ thời gian bị giam tại Ê-phê-sô là nếu Phao-lô viết thư Phi-líp từ Rô-ma vào một thời điểm muộn hơn, ông khó có thể nói rằng độc giả của mình đã “không có dịp tiện” để hỗ trợ tài chính cho ông trong một thời gian (4:10). Đã có quá nhiều thời gian trôi qua tính đến thời điểm ông bị giam tại Rô-ma nên họ đáng lẽ đã có dư dả dịp tiện; nhưng nếu đó là lần sớm hơn khi ông bị giam ở Ê-phê-sô, thì một tuyên bố như vậy là hợp lý. (Mặt khác, chúng ta không biết rõ toàn bộ hoàn cảnh tài chính của Phao-lô và các tín hữu Phi-líp. Để tránh bị buộc tội biển thủ, Phao-lô có thể đã từ chối các món quà cá nhân trong suốt thời kỳ ông đang quyên góp tiền cho Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem. Sự từ chối như vậy có thể là lý do khiến các tín hữu Phi-líp bị “không có dịp tiện”).
Điều thường được coi là lập luận mạnh mẽ nhất ủng hộ lần bị giam tại Ê-phê-sô thay vì Rô-ma là thư Phi-líp giả định có quá nhiều chuyến đi giữa Rô-ma và Phi-líp (hai thành phố này cách nhau khoảng một tháng đi đường), trong khi khoảng cách ngắn giữa Ê-phê-sô và Phi-líp khiến việc có nhiều chuyến đi-về trong một thời gian ngắn trở nên khả thi hơn. Các chuyến đi được giả định trong thư Phi-líp như sau:
- Lần mang tin tức từ Rô-ma đến Phi-líp rằng Phao-lô đã bị cầm tù tại Rô-ma
- Lần Ê-pháp-rô-đích mang quà từ Phi-líp đến Rô-ma
- Lần đưa tin tức trở lại Phi-líp rằng Ê-pháp-rô-đích đã lâm bệnh
- Lần mang báo cáo trở lại rằng các tín hữu Phi-líp đang lo lắng cho Ê-pháp-rô-đích
Tuy nhiên, trên thực tế, lập luận ủng hộ nơi Phao-lô viết thư Phi-líp là Ê-phê-sô thay vì Rô-ma lại thiếu cơ sở vững chắc. Thời gian cho các chuyến đi giữa Rô-ma và Phi-líp sẽ chỉ cần tổng cộng từ bốn đến sáu tháng. Việc cho phép có thêm những khoảng thời gian nghỉ giữa các chuyến đi vẫn giữ cho toàn bộ lượng thời gian cần thiết nằm gọn trong hai năm mà chúng ta biết Phao-lô đã trải qua tại Rô-ma (Công-vụ 28:30). Và gần như chắc chắn ông đã ở đó hơn hai năm; vì thậm chí đến cuối khoảng thời gian hai năm đó, phiên tòa xét xử ông vẫn chưa bắt đầu, nhưng việc chuyển từ ngôi nhà thuê của ông (Công-vụ 28:16, 23, 30) sang doanh trại của Vệ Binh Hoàng Gia trên đồi Palatine (Phi-líp 1:13) và sự tin chắc của ông về việc sớm được trả tự do và sau đó sẽ đến thăm Phi-líp (1:19-26; 2:23-24) sẽ ủng hộ rằng phiên tòa của ông cuối cùng cũng đang diễn ra và gần kết thúc, do đó ông đang viết thư sau thời hạn hai năm được đề cập trong sách Công-vụ.
Hơn nữa, các tín hữu Phi-líp có thể đã biết Phao-lô sẽ đến Rô-ma như một tù nhân từ trước khi ông đặt chân đến đó, vì vậy Ê-pháp-rô-đích có thể đã khởi hành đi Rô-ma từ trước. Hoặc, do vụ đắm tàu khiến Phao-lô bị trì hoãn tại Man-tơ (Malta), Ê-pháp-rô-đích thậm chí có thể đã đến Rô-ma trước Phao-lô. Các Cơ Đốc nhân tại Rô-ma đã biết trước về việc Phao-lô sẽ đến, vì họ đã đi ra ngoài thành phố để đón Phao-lô và tháp tùng ông trong phần đường còn lại (Công-vụ 28:15-16). Có phải Ê-pháp-rô-đích đã thông báo cho họ không? Vậy thì, chỉ có chuyến đi thứ hai, thứ ba, và thứ tư là nhất thiết phải được giả định; và yếu tố thời gian hoàn toàn không cản trở quan điểm cho rằng Phao-lô viết thư cho các tín hữu Phi-líp từ Rô-ma.
Một điểm cho thấy Phao-lô khó có thể viết thư Phi-líp trong lần bị giam tại Ê-phê-sô là việc Phao-lô không hề đề cập đến khoản quyên góp cho Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem, mặc dù điều đó luôn ở trong tâm trí ông trong suốt hành trình truyền giáo thứ ba của mình, là thời gian mà ông đang phục vụ tại Ê-phê-sô; và việc ông viết về các vấn đề tiền bạc trong thư Phi-líp gần như chắc chắn sẽ dẫn đến việc nhắc đến khoản quyên góp đó nếu ông viết thư từ Ê-phê-sô trong giai đoạn ấy. Ngoài ra, việc Phao-lô bị giam tại Ê-phê-sô phần lớn chỉ là phỏng đoán và hoàn toàn không được nhắc đến trong sách Công-vụ, mặc dù Lu-ca đã viết chi tiết rất cụ thể về mục vụ của Phao-lô tại Ê-phê-sô (Công-vụ 19).
f. Nguồn gốc từ Rô-ma#
Ủng hộ cho nơi Phao-lô viết thư Phi-líp là Rô-ma, thuật ngữ “Vệ Binh Hoàng Gia” (Praetorian Guard, nghĩa đen, “cả chốn công đường”/ “quân đoàn bảo vệ hoàng cung”, Phi-líp 1:13) và “người nhà của Sê-sa” (4:22) có khả năng cao nhất là chỉ về Rô-ma. Theo 1:19-27, mạng sống của Phao-lô đang bị đe dọa trong phiên tòa (ví dụ: “dầu tôi sống hay chết”). Do đó, phiên tòa phải diễn ra trước mặt Sê-sa tại Rô-ma, bởi vì nếu ở bất kỳ địa điểm nào khác, Phao-lô luôn có thể thực thi quyền kháng cáo của mình lên Sê-sa. Truyền thống sơ khai của Lời tựa Marcion cũng ấn định bức thư này tại Rô-ma. Vì tất cả những lý do này và sự thiếu vững chắc của các lập luận phản đối, quan điểm truyền thống cho rằng Phao-lô viết thư Phi-líp từ Rô-ma vẫn là quan điểm tốt nhất.
4.2. Bố Cục Thư Phi-líp#
Click vào link để xem Bố cục thư Phi-líp
4.3. Đọc Thư Phi-líp với Sự Giải Thích#
a. Vui Mừng Trong Hoạn Nạn#
Đặc tính của thư Phi-líp là một bức thư cảm ơn nên có phần thân mật. Xuyên suốt bức thư, âm hưởng cảm xúc chủ đạo là sự vui mừng. Trong chương đầu tiên, sau lời chào thăm, tạ ơn và cầu nguyện theo lệ thường, Phao-lô mô tả chức vụ mà ông đang thực hiện bất chấp việc bị tù, thậm chí là nhờ vào sự cầm tù đó. Đội cận vệ hoàng gia và giới quan chức Rô-ma nói chung đang được nghe Tin Lành. Hơn nữa, sự dạn dĩ trong cách làm chứng của Phao-lô đã khích lệ các Cơ Đốc nhân khác, ngay cả những người không ưa ông. Tuy nhiên, những người này không phải là giáo sư giả, vì ông gọi họ là “anh em.”
b. Sự Tự Bỏ Mình (Kenosis)#
Chương này nổi tiếng với phân đoạn nói về sự tự bỏ mình (self-emptying), hay sự hạ mình, và sự tôn cao của Chúa Jesus (Phi-líp 2:6-11). Nhiều học giả cho rằng Phao-lô đang trích dẫn một bài thánh ca Cơ Đốc sơ khai. Dù có phải là thánh ca hay không, phân đoạn này chỉ là phụ trợ cho một lời khuyên bảo Hội Thánh về sự hiệp nhất thông qua sự khiêm nhường, và sự khiêm nhường của Chúa Jesus là gương mẫu vĩ đại. Thế giới Hy Lạp - La Mã cổ đại coi thường sự khiêm nhường; nhưng giáo huấn Cơ Đốc đã biến nó thành một đức hạnh.
Phân đoạn này đề cập đến sự hiện hữu của Đấng Christ trước khi Ngài nhập thể - tức là sự tiền hữu của Ngài - và việc Ngài tự bỏ mình. Động từ Hy Lạp “làm cho trống không” (kenoun), đã làm nảy sinh thuyết kenosis (thuyết tự bỏ mình) về sự nhập thể, xem sự nhập thể như một sự trút bỏ (với kenosis là danh từ cùng gốc với động từ đó). Nhưng Đấng Christ đã tự bỏ mình khỏi điều gì? Khỏi các thuộc tính siêu hình thần linh như sự toàn năng, toàn tri, và toàn tại (dù không phải là các thuộc tính đạo đức thần linh như yêu thương và công chính)? Nhưng theo các ghi chép trong các sách Phúc Âm về mục vụ của Chúa Jesus trên đất, Ngài thường xuyên bày tỏ các thuộc tính siêu hình này. Có phải Ngài từ bỏ việc thực thi độc lập các thuộc tính đó (so sánh Giăng 5:19)? Nhưng có bao giờ Ngài hành động độc lập với Đức Chúa Cha không? Hay đơn giản chỉ là từ bỏ vinh quang bên ngoài của thần tính Ngài? Nhưng chẳng phải từ “chính mình” đòi hỏi một điều gì đó thuộc về bên trong sao? Có lẽ sự tự bỏ mình không ám chỉ đến sự nhập thể, mà ám chỉ đến việc Chúa Jesus trút linh hồn trên thập tự giá. Nếu vậy, sẽ có một sự song hành đồng nghĩa với việc nhắc đến sự chết ở câu tiếp theo và một sự ám chỉ khả dĩ đến Ê-sai 53:12: “Người đã đổ [tức là làm trống] linh hồn mình [tương đương với ‘chính mình’ trong tiếng Hê-bơ-rơ] cho đến chết.”
“Cuối cùng, hỡi anh em” (Phi-líp 3:1) nghe rất giống phần kết thúc của một bức thư (nhưng vẫn còn hai chương nữa) và Phao-lô thay đổi giọng điệu đột ngột đến nỗi một số học giả cho rằng đó là một đoạn chèn dài, bắt đầu từ 3:2, từ một bức thư khác. Nhưng giả thuyết này thiếu bằng chứng từ các bản sao chép cổ. Tốt hơn chúng ta nên giả định rằng có một sự gián đoạn trong khi Phao-lô đọc cho người chép thư ghi lại, có lẽ do có tin tức mới từ Phi-líp về mối đe dọa từ các giáo sư giả tại đó. Phao-lô đã định kết thúc nhưng nay thấy cần thiết phải kéo dài bức thư bằng một lời cảnh báo chống lại những người theo chủ nghĩa Do Thái hóa (Judaizers).
Đọc thêm: CẤU TRÚC VÀ Ý NGHĨA CỦA PHI-LÍP 2:6-11
A – Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ,
B – chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ
C – và trở nên giống như loài người;
C’ – Ngài đã hiện ra như một người,
B’ – tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự
A’ – Cũng vì đó nên Đức Chúa Trời đã đem Ngài lên rất cao, và ban cho Ngài danh trên hết mọi danh, hầu cho nghe đến danh Đức Chúa Jesus, mọi đầu gối trên trời, dưới đất, bên dưới đất, thảy đều quì xuống, và mọi lưỡi thảy đều xưng Jesus Christ là Chúa, mà tôn vinh Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha.
- A và A’ lần lượt chỉ về sự hiện hữu của Đấng Christ trước khi giáng thế và sau khi rời khỏi thế gian.
- B và B’ ám chỉ một cách đồng nghĩa đến cái chết của Đấng Christ trên thập tự giá, một loại cái chết dành cho kẻ tôi tớ (tức nô lệ).
- C và C’ chỉ về sự nhập thể của Đấng Christ, là điều đã cho phép Ngài tự bỏ mình, tự hạ mình trong sự chết.
- Độ dài lớn hơn của phần A’ nhấn mạnh vào sự tôn cao của Đấng Christ.
- Danh của Chúa Jesus có lẽ không phải là cái tên “Jesus”, mà là danh hiệu Ngài có được, tức là “Chúa” .
Đọc thêm: ĐỜI SAU
Hãy so sánh và đối chiếu đoạn sau với ước muốn của Phao-lô: “muốn đi ở với Đấng Christ, là điều rất tốt hơn” (Phi-líp 1:23):
“Nhưng nếu thân thể ta bị úng nước trước, nó sẽ chìm vào số phận của nó. Tuy nhiên, linh hồn ta sẽ không chìm; trái lại, là một thực thể bất tử, nó sẽ bay cao lên thiên đàng. … Ta sẽ không là công dân giữa loài người, mà là giữa các vị thần. Ta sẽ không dựng tượng cho người khác; trái lại, người khác sẽ dựng tượng cho ta”
(Thư của Heraclitus gửi Amphidamas, số 5, dòng 15-21).
Đọc thêm: SỰ KHIÊM NHƯỜNG TRONG VĂN HÓA HY LẠP - LA MÃ CỔ ĐẠI
Epictetus mô tả một người “khiêm nhường” theo nghĩa là “hèn mọn”, được thể hiện qua các mô tả thêm như “hay chỉ trích, nóng nảy, hèn nhát, soi mói mọi thứ, đổ lỗi cho mọi người, không bao giờ yên tịnh, hư vinh” (Discourses 3.2.14).
c. Chống Lại Những Người Theo Chủ Nghĩa Do Thái Hóa (Judaizers)#
Chương 3 chứa một phân đoạn nổi tiếng khác: Phao-lô tự thuật lại nền tảng Do Thái của mình và cuộc cách mạng trong hệ giá trị của ông khi Đấng Christ trở thành mục đích của cuộc đời ông (Phi-líp 3:3-14). Tuy nhiên, một lần nữa, phân đoạn này chỉ là phụ trợ - lần này là cho một lời cảnh báo chống lại những người theo chủ nghĩa Do Thái hóa (Judaizers), là những kẻ thực hành điều mà Phao-lô dùng thuật ngữ châm biếm là “cắt da thịt” thay vì phép cắt bì (3:2). Phao-lô cũng gọi họ là “loài chó”, vốn bị xem là loài vật đáng khinh thời bấy giờ, chính là thuật ngữ mà người Do Thái thường dùng để gọi dân ngoại. Một danh xưng khác nữa là “kẻ làm công gian ác” - một đòn phản công đầy mỉa mai nhắm vào niềm tin của họ về sự cứu rỗi ít nhất là một phần nhờ vào việc làm lành. Ngược lại, phép cắt bì bao gồm đức tin bên trong nơi chỉ một mình Chúa Jesus Christ, không hề dựa vào công lao của mình pha trộn vào.
“… lấy lòng sợ sệt run rẩy làm nên sự cứu chuộc mình. Vì ấy chính Đức Chúa Trời cảm động lòng anh em vừa muốn vừa làm theo ý tốt Ngài.”
(Phi-líp 2:12b-13)
“Mọi sự đều được thấy trước, nhưng quyền tự do lựa chọn là được ban cho; và thế gian được xét đoán bằng sự nhân từ, tuy nhiên mọi sự đều tùy thuộc vào sự chiếm ưu thế của các việc làm.”
(Mishnah, Avot 3:16)
d. Tự Thuật Của Phao-lô#
Nền tảng Do Thái của Phao-lô là không thể chê trách được:
- Chịu phép cắt bì vào ngày thứ tám sau khi được sinh ra, đúng như luật pháp Môi-se quy định (Lê-vi Ký 12:3)
- Thuộc dòng dõi Y-sơ-ra-ên
- Có nguồn gốc thuộc chi phái Bên-gia-min, là chi phái đã sản sinh ra vị vua đầu tiên của Y-sơ-ra-ên là Sau-lơ (một tên khác của Phao-lô)
- Thực hành và di sản theo khuynh hướng Hê-bơ-rơ (Hebraist) hơn là Hy Lạp hóa (Hellenist) (xem chương 1)
- Là người Pha-ri-si
- Có lòng nhiệt thành đến mức bắt bớ Hội Thánh
- Tuân giữ luật pháp một cách nghiêm ngặt đến nỗi người khác không thể tìm thấy điều gì đáng chê trách
Nhưng việc Đấng Christ bước vào cuộc đời của Phao-lô đã khiến ông không chỉ gạt bỏ, mà còn từ bỏ tất cả những gì ông từng coi là tài sản quý giá của việc là một người Do Thái như vậy, xem chúng như những gánh nặng. Và ông tiếp tục làm như vậy, ngày càng coi chúng như “rác rưởi” (Phi-lip 3:8), để ông có thể kinh nghiệm sự hiệp nhất ngày càng tăng với Đấng Christ trong sự sống lại, sự thương khó, và sự chết của Ngài. Nhận thấy độc giả có thể hiểu lầm rằng ông tự xưng mình là trọn lành, Phao-lô phủ nhận điều đó và bày tỏ lòng nhiệt thành mà ông đang đeo đuổi mục đích thiên thượng, quên lửng sự đã qua (3:12-16). “Quên” không có nghĩa là xóa sạch khỏi trí nhớ (nếu điều đó có thể), mà là không còn xem trọng hay để cho những điều đó chi phối và có quyền lực trên đời sống hiện tại của mình nữa.
Cuộc thảo luận quay trở lại với những người theo chủ nghĩa Do Thái hóa (Judaizers), là những kẻ chống lại thập tự giá của Đấng Christ bằng cách đòi hỏi các việc làm của luật pháp, những kẻ lấy bụng mình làm chúa mình bằng cách khăng khăng tuân thủ các quy định về thực phẩm trong luật pháp, những kẻ lấy sự xấu hổ của mình làm vinh hiển bằng cách để lộ sự trần truồng cho nghi lễ cắt bì, và là những kẻ chỉ để tâm trí về những điều ở dưới đất bằng cách bận tâm với các hình thức và nghi lễ bên ngoài (Phi-líp 3:17-19). Một số học giả xem những người theo Tri Huệ giáo (Gnostics) chống luật pháp và theo đuổi chủ nghĩa toàn thiện mới là mục tiêu của những nhận xét này; nhưng việc Phao-lô viện dẫn đến chính nền tảng Do Thái của ông, cụ thể là người Pha-ri-si, ủng hộ việc xác định đó là những người theo chủ nghĩa Do Thái hóa. Chương 3 khép lại với việc nhắc đến “quyền công dân” hay “quốc tịch” ở trên trời của Cơ Đốc nhân - một cách nói hình tượng đặc biệt có ý nghĩa đối với người Phi-líp, vì chính thành phố của họ là một thuộc địa với dân cư chủ yếu là công dân La Mã đang sống xa quê hương thực sự của họ ở Ý.
e. Những Lời Khuyên#
Các lời khuyên bảo khác nhau trong chương 4 bao gồm một lời thỉnh cầu cho sự hiệp nhất giữa hai người phụ nữ trong Hội Thánh là Ê-vô-đi (Euodia) và Sin-ty-cơ (Syntyche), là những người trước đây đã giúp đỡ Phao-lô. Người nam được Phao-lô nhờ cậy để giúp họ hòa giải là một “người bạn đồng lao chân thành”, không rõ tên cụ thể, trừ khi đó chính là tên riêng của ông với một cách chơi chữ trên nghĩa của nó: “Syzygos [tiếng Hy Lạp nghĩa là ‘bạn đồng lao, đồng chí’], thật đúng như tên gọi” (Phi-líp 4:3). Dù sao đi nữa, Phao-lô yêu cầu ông hãy sống xứng đáng với cái tên hoặc sự mô tả đó bằng cách thúc đẩy sự hòa giải. Tiếp theo là các lời khuyên bảo về sự vui mừng, sự kiên nhẫn, sự tin cậy, sự cầu nguyện, sự tạ ơn, và tư tưởng cao thượng, đi kèm với những lời hứa về sự hiện diện cùng bình an của Đức Chúa Trời và sự trở lại của Chúa Jesus.
f. Lời Cảm Ơn và Kết Luận#
Sau đó, Phao-lô bày tỏ lời cảm ơn về món quà gần đây của các tín hữu Phi-líp gửi cho ông cũng như về những sự đóng góp của họ trước đó. Xuyên suốt phần này, ông giữ thái độ không vụ lợi đối với tiền bạc vì bản thân tiền bạc hay vì lợi ích cá nhân của mình, nhưng bày tỏ sự quan tâm và tin chắc vào phần thưởng dành cho các tín hữu Phi-líp, vì họ đã dâng hiến rộng rãi như vậy. Cuối cùng, các lời chào thăm và một lời chúc phước kết thúc bức thư.
TÓM LƯỢC#
Phao-lô viết các thư Ê-phê-sô, Phi-líp, Cô-lô-se và Phi-lê-môn trong khi đang ở tù - do đó có tên gọi là “Các Thư Tín Trong Tù”. Theo truyền thống và có khả năng nhất, ông đã viết những thư này trong lần bị giam tại Rô-ma; tuy nhiên, những lần ông bị giam tại Sê-sa-rê và có thể là tại Ê-phê-sô cũng đưa ra những khả năng khác.
Phao-lô viết cho Phi-lê-môn thay mặt cho Ô-nê-sim - nô lệ của Phi-lê-môn, là người đã lấy trộm đồ của chủ, bỏ trốn, rồi trở thành Cơ Đốc nhân thông qua Phao-lô, và nay đang trở về với Phi-lê-môn. Bức thư thúc giục Phi-lê-môn hãy tiếp nhận Ô-nê-sim với lòng tha thứ và chào đón anh vào Hội Thánh tại nhà của mình. Phao-lô cũng đứng ra gánh vác món nợ tài chính của Ô-nê-sim nhưng ngụ ý rằng Phi-lê-môn nên xóa nợ và cho phép Ô-nê-sim giúp việc Phao-lô, thậm chí có thể là trả tự do cho anh vì mục đích đó.
Ê-pháp-ra (Epaphras) đã thành lập Hội Thánh tại Cô-lô-se với thành phần chủ yếu là các tín hữu dân ngoại. Một tà giáo pha trộn giữa các yếu tố luật pháp, triết học, và huyền bí đang tiêm nhiễm vào Hội Thánh tại đó; vì vậy, Ê-pháp-ra đã để A-chíp (Archippus) lại trông nom và đi tìm sự giúp đỡ của Phao-lô để chống lại tà giáo này. Phương thuốc của Phao-lô là tôn cao Đấng Christ để đối kháng với chủ nghĩa nghi lễ, sự suy đoán của Hy Lạp, và chủ nghĩa khổ hạnh. Sau hai chương về giáo lý, bức thư khép lại với hai chương chỉ dẫn về đời sống Cơ Đốc.
Giống như thư Cô-lô-se, thư Ê-phê-sô được chia làm hai phần: giáo lý và khuyên bảo - chỉ khác là mỗi phần có ba chương thay vì hai. Trong khi thư Cô-lô-se làm nổi bật Đấng Christ là đầu của thân thể Ngài là Hội Thánh, thì thư Ê-phê-sô làm nổi bật Hội Thánh là thân thể mà Ngài là đầu. Với tư cách đó, Hội Thánh được hưởng các phước lành trên trời và sự hiệp nhất trong Đấng Christ giúp phá đổ sự thù nghịch cũ giữa người Do Thái và người ngoại bang. Và dù các thế lực ma quỷ của sự gian ác tấn công Hội Thánh, Hội Thánh vẫn có thể đứng vững trong quyền năng của Chúa. Một người tên là Ti-chi-cơ sẽ chuyển thư Ê-phê-sô cùng với thư Cô-lô-se và thư Phi-lê-môn; mặc dù bị gọi nhầm theo tên thành phố Ê-phê-sô, bức thư mang tên Ê-phê-sô này vốn được lưu hành đến các Hội Thánh trong vùng phụ cận.
Phao-lô viết thư Phi-líp vào khoảng cuối thời gian bị giam cầm và mong đợi sớm được trả tự do để thăm viếng Hội Thánh tại Phi-líp. Thông qua một trong các thành viên của họ là Ép-ba-phô-đích (Epaphroditus), họ đã gửi sự hỗ trợ tài chính cho Phao-lô; vì vậy, ông cảm ơn họ về điều đó trong bức thư này, là thư mà Ép-ba-phô-đích sẽ mang theo khi trở về. Phao-lô tận dụng cơ hội để đưa vào cả lời sửa trị về sự chia rẽ trong Hội Thánh và lời cảnh báo chống lại những người theo chủ nghĩa Do Thái hóa (Judaizers). Một âm hưởng vui mừng vang vọng suốt bức thư, và bức thư chứa đựng những phân đoạn nổi tiếng về sự tự bỏ mình (self-emptying) và tôn cao của Đấng Christ, cũng như về sự biến đổi của Phao-lô từ một kẻ bắt bớ Hội Thánh và tự cho mình là công chính thành một người theo đuổi sự kêu gọi cao trọng của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ.
