Skip to main content

Chương 15: CÁC THƯ TÍN MỤC VỤ CỦA PHAO-LÔ

·7288 words·35 mins·
Author
Lily
Table of Contents

TÂN ƯỚC LƯỢC KHẢO

I. CÁC VẤN ĐỀ DẪN NHẬP
#

1.1. Chủ Đề
#

Thư thứ nhất và thứ hai gửi Ti-mô-thê cùng thư gửi Tít hợp thành các Thư Tín Mục Vụ, được gọi như vậy vì Phao-lô viết cho những mục sư trẻ tuổi (theo nghĩa đen là “người chăn bầy chiên”). Các thư này chứa đựng những chỉ dẫn liên quan đến trách nhiệm quản trị của Ti-mô-thê và Tít trong Hội Thánh, cùng với những lời cảnh báo chống lại tà giáo và các vấn đề cá nhân.

CÁC MỤC ĐÍCH PHỤ

Ngoài những chỉ dẫn về việc quản trị, Phao-lô còn kêu gọi Tít hãy đến với ông tại thành Ni-cô-bô-li (Nicopolis) trên bờ biển phía tây Hy Lạp. Và trong thư 2 Ti-mô-thê, khi hồi tưởng về chức vụ đã qua và chờ đợi sự hành quyết sắp đến, Phao-lô yêu cầu Ti-mô-thê hãy đến gặp ông tại thành Rô-ma trước mùa đông (1:17; 4:6-9, 21). Phao-lô e rằng nếu không thì ông sẽ chẳng còn cơ hội gặp lại Ti-mô-thê nữa, vì các chuyến hải trình thường bị đình trệ trong mùa đông và cuộc hành quyết Phao-lô có thể sẽ được thi hành trong thời gian đó.

1.2. Nghi Vấn về Tính Xác Thực
#

Các học giả thượng bình luận hiện đại nghi ngờ tính xác thực của những bức thư này hơn bất kỳ thư tín nào khác được cho là của Phao-lô. Theo quan điểm phủ nhận quyền tác giả của Phao-lô, họ cho rằng một tác giả giả danh (pseudonymous) nào đó sống vào thế kỷ thứ hai đã sử dụng uy quyền từ danh nghĩa của Phao-lô để viết các Thư Tín Mục Vụ nhằm chống lại làn sóng Tri Huệ giáo đang trỗi dậy. Người ta cho rằng toàn bộ các Thư Tín Mục Vụ đều là mạo danh Phao-lô (nhưng nếu vậy, tại sao trong các bức thư này lại có những chi tiết rất riêng tư về Phao-lô mang âm hưởng xác thực?). Hoặc một giả thuyết phổ biến hơn cho rằng, một người ngưỡng mộ Phao-lô đã gom nhặt những đoạn văn rời rạc thực sự là của ông để biên soạn nên những bức thư này sau khi Phao-lô đã qua đời.

a. Giả Thuyết Phân Mảnh
#

Có sự bất đồng về việc phần nào trong các Thư Tín Mục Vụ có chứa những đoạn được cho là do Phao-lô viết. Hơn nữa, thật khó có khả năng khi chỉ có những đoạn văn rời rạc từ những bức thư của Phao-lô (nếu các đoạn đó quả thực thuộc về những bức thư khác nhau do chính Phao-lô viết) được bảo tồn (thay vì cả bức thư), vì hầu hết các đoạn trong ba Thư Tín Mục Vụ đều mang tính cá nhân và thiếu sức hấp dẫn về mặt thần học. Lại càng khó tin hơn khi chúng sau đó lại được ghép vào những bức thư mạo danh dài hơn một cách ngẫu nhiên. Và tại sao một tác giả mạo danh Phao-lô lại tập trung hầu hết các đoạn phân mảnh vào thư 2 Ti-mô-thê, thay vì phân bố đều khắp các Thư Tín Mục Vụ? Cũng vậy, tại sao người đó lại viết đến ba Thư Tín Mục Vụ? Nội dung của chúng không khác biệt đủ lớn để cho thấy lý do tại sao người đó lại phải viết ba thư thay vì chỉ một.

Đọc thêm: VÍ DỤ VỀ CÁC ĐOẠN VĂN ĐƯỢC CHO LÀ DO CHÍNH PHAO-LÔ VIẾT TRONG CÁC THƯ TÍN MỤC VỤ

  • “Cầu xin Chúa thương xót lấy nhà Ô-nê-si-phô-rơ, vì người nhiều phen yên ủi ta, chẳng hề lấy sự ta bị xiềng xích làm xấu hổ. Lại còn, khi người vừa đến thành Rô-ma, đã vội vã kiếm ta, và kiếm được. Xin chính mình Chúa cho người tìm thấy sự thương xót của Chúa trong ngày đó! Con lại biết hơn kẻ khác, người ở Ê-phê-sô đã hầu việc ta mọi đàng.” (2 Ti-mô-thê 1:16-18)

  • “Đến chừng ta sẽ sai A-tê-ma hoặc Ti-chi-cơ đến cùng con, thì hãy vội vã sang thành Ni-cô-bô-li nhập với ta; vì ta định qua mùa đông tại đó. Hãy lo liệu cho Xê-na, là thầy dạy luật, và A-bô-lô, đừng thiếu đồ chi hết, trong khi họ ra đi. Những người bổn đạo ta cũng phải học tập chuyên làm việc lành, đặng giùm giúp khi túng ngặt, hầu cho họ khỏi đưng đi mà không ra trái. Hết thảy những người ở cùng ta gởi lời thăm con. Chào thăm những kẻ yêu chúng ta bởi lòng tin đạo. Nguyền xin ân điển ở với anh em hết thảy!” (Tít 3:12-15)

  • Xem thêm 2 Ti-mô-thê 3:10-11; 4:1-2a, 5b-22.

b. Quyền Tác Giả của Phao-lô
#

Ủng hộ việc Phao-lô là tác giả của cả ba Thư Tín Mục Vụ là lời khẳng định trong câu đầu tiên của mỗi bức thư rằng chính ông là người viết chúng. Để phản bác lời khẳng định này, người ta lập luận rằng vào thời cổ đại và trong Hội Thánh đầu tiên, việc viết dưới danh nghĩa người khác là một thực hành văn chương được chấp nhận (“mạo danh vì lòng sùng kính”). Nhưng thư 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:2 và 3:17, Phao-lô đã cảnh báo về những thư từ giả mạo mang tên ông, và Hội Thánh đầu tiên đã khai trừ một trưởng lão khỏi chức vụ vì tội viết dưới danh nghĩa người khác, đồng thời chính họ đã phải cân nhắc kỹ lưỡng về vấn đề tác giả, như được chứng tỏ qua các cuộc tranh luận về tác giả của thư Hê-bơ-rơ và sự dè dặt trong việc đưa một sách không rõ tác giả vào quy điển Tân Ước.

Hơn nữa, thật khó có khả năng một người ngưỡng mộ Phao-lô vào thời kỳ muộn hơn lại gọi ông là “kẻ đứng đầu trong những kẻ có tội” (1 Ti-mô-thê 1:15 - BTT 1925). Các Thư Tín Mục Vụ gần gũi hơn nhiều về văn phong và nội dung với các thư tín khác trong Tân Ước của Phao-lô so với sự khác biệt giữa các sách ngoài quy điển (rõ ràng là mạo danh) với những tác phẩm thực sự của những nhân vật mà chúng mạo danh. Bên cạnh việc các Thư Tín Mục Vụ tự xác nhận trong câu đầu tiên rằng Phao-lô là người viết chúng, và mối quan tâm của Hội Thánh đầu tiên về vấn đề tác giả, là một truyền thống rất mạnh và sớm xác nhận quyền tác giả của Phao-lô đối với các Thư Tín Mục Vụ, mà chỉ có thư Rô-ma và 1 Cô-rinh-tô có sự chứng thực vững chắc hơn.

“Tại A-si, vị trưởng lão đã biên soạn tác phẩm đó [Công-vụ Phao-lô và Thecla], như thể ông đang làm tăng thêm danh tiếng của Phao-lô từ sự hiểu biết riêng của mình [bằng cách viết ‘dưới danh nghĩa Phao-lô’], sau khi bị kết tội và thú nhận rằng mình đã làm điều đó vì lòng yêu mến Phao-lô, đã bị cách chức” (Tertullian, On Baptism 17).

c. Từ Vựng và Văn Phong
#

Sự nghi ngờ về quyền tác giả của Phao-lô chủ yếu xuất phát từ những khác biệt về từ vựng và phong cách ngữ pháp khi so sánh các Thư Tín Mục Vụ với những bức thư khác của Phao-lô. Các phép so sánh này bao gồm các bảng thống kê, đôi khi được lập ra với sự hỗ trợ của máy tính.

Tuy nhiên, sự phản đối mang vẻ khoa học này đối với quyền tác giả của Phao-lô đã không xem xét đầy đủ những khác biệt về từ vựng và văn phong có thể bắt nguồn từ sự khác nhau về chủ đề, người nhận thư, cũng như những thay đổi trong văn phong của một người vì hoàn cảnh, tuổi tác, kinh nghiệm, và đơn giản là sự trôi qua của thời gian.

Có lẽ điều quan trọng hơn cả là khả năng những khác biệt về văn phong bắt nguồn từ những người chép thư khác nhau, và việc Phao-lô cho phép người chép thư cho mình có nhiều tự do hơn trong việc dùng từ để diễn đạt chính xác tư tưởng của ông trong một số thời điểm so với những lúc khác. Việc viện dẫn đến những người chép thư đôi khi bị xem nhẹ là quá dễ dãi và không thể kiểm chứng về mặt khoa học. Nhưng điều này lại thực tế về mặt lịch sử; vì chúng ta biết chắc chắn rằng Phao-lô có sử dụng người chép thư và các tác giả cổ đại thường cho những người chép thư cho họ có những mức độ tự do khác nhau, đến nỗi có ý kiến cho rằng Phao-lô đã cho Lu-ca hoặc một người nào đó như Lu-ca được quyền tự do để soạn thảo các bức thư theo những định hướng nhất định dưới danh nghĩa của Phao-lô. Tất nhiên, Phao-lô sẽ là người phê duyệt các nội dung đó.

Hơn nữa, trong các thư tín thường được công nhận là của Phao-lô, hoặc trong các đoạn văn dài của ông, đôi khi thể hiện cùng những loại khác biệt mà người ta dùng như bằng chứng để bác bỏ quyền tác giả của Phao-lô đối với các Thư Tín Mục Vụ. Ví dụ, động từ “tra xét” (tiếng Hy Lạp: anakrinein) xuất hiện mười lần trong thư 1 Cô-rinh-tô và không ở đâu khác trong các thư tín của Phao-lô, nhưng quyền tác giả của Phao-lô đối với 1 Cô-rinh-tô là điều không thể nghi ngờ. Tương tự như vậy đối với động từ “nhóm lại” (tiếng Hy Lạp: synerchesthai), xuất hiện bảy lần trong thư 1 Cô-rinh-tô nhưng không xuất hiện ở đâu khác trong các thư của Phao-lô. Và hầu hết các từ chỉ xuất hiện trong các Thư Tín Mục Vụ (không xuất hiện trong các thư tín khác của Phao-lô) cũng đều xuất hiện trong Bản Bảy Mươi (Septuagint) và trong văn chương Hy Lạp ngoài Kinh Thánh của thế kỷ thứ nhất, cho thấy rằng những từ này chắc hẳn thuộc về vốn từ vựng của Phao-lô và của những người ghi chép cho ông.

d. Sự Loại Bỏ của Marcion
#

Những người nghi ngờ quyền tác giả của Phao-lô cũng lập luận rằng Marcion (người theo tà giáo Tri Huệ giáo) đã loại các Thư Tín Mục Vụ ra khỏi quy điển Tân Ước của ông ta vì Phao-lô không phải là người viết chúng.

Tuy nhiên, Marcion có xu hướng loại bỏ những sách của Tân Ước được các tín hữu chính thống chấp nhận. Ví dụ, ông ta đã loại bỏ sách Ma-thi-ơ, Mác, Giăng và cắt bỏ nhiều phần của sách Lu-ca. Lời tuyên bố rằng “luật pháp là tốt lành” (1 Ti-mô-thê 1:8) hẳn đã xúc phạm đến sự bác bỏ cực đoan của Marcion đối với Cựu Ước, và lời ám chỉ khinh miệt đối với “tri thức [tiếng Hy Lạp: gnōsis] ngụy xưng” (1 Ti-mô-thê 6:20) cũng hẳn đã xúc phạm ông ta, vì Marcion gọi hệ thống giáo lý riêng của mình là gnōsis. Từ góc độ của ông ta, đây là những lý do đủ để loại bỏ các Thư Tín Mục Vụ mà không hàm ý rằng chúng là tác phẩm giả danh Phao-lô.

e. Tri Huệ Giáo
#

Một số người cũng quả quyết rằng các Thư Tín Mục Vụ tấn công một loại Tri Huệ giáo vốn chỉ xuất hiện sau thời của Phao-lô. Quả thực, chủ nghĩa khổ tu (asceticism) bị chỉ trích trong 1 Ti-mô-thê 4:3 (“cấm cưới gả và bắt kiêng những thức ăn”) nghe có vẻ giống như một nhánh của Tri Huệ giáo về sau. Tuy nhiên, yếu tố Do Thái giáo nổi bật trong giáo lý sai lạc - “những kẻ chịu cắt bì,” “truyện huyễn của người Giu-đa,” “sự cãi lẫy về luật pháp” (Tít 1:10, 14; 3:9) - đã chứng minh rằng các Thư Tín Mục Vụ không nhất thiết đả kích Tri Huê giáo thời kỳ sau; vì Tri Huệ giáo sau này, mặc dù có vay mượn huyền thoại vũ trụ học từ Do Thái giáo, nhưng lại chống đối các đặc điểm khác của Do Thái giáo.

Các Thư Tín Mục Vụ đúng hơn là tấn công vào loại tà giáo hỗn tạp vốn đã bị bác bỏ trước đó trong thư Cô-lô-se, và hiện nay được biết đến là có nguồn gốc từ Do Thái giáo dung hợp (syncretistic Judaism) có từ thời tiền Cơ Đốc giáo. Vì vậy, việc xác định niên đại sớm cho các Thư Tín Mục Vụ là hợp lý hơn; và một niên đại sớm ủng hộ quyền tác giả của Phao-lô, vì một tác giả mạo danh vì lòng sùng kính Phao-lô khó có thể thành công trong việc sử dụng danh tínhcủa Phao-lô trong một thời điểm quá gần với thời đại của ông.

f. Cơ Cấu Hội Thánh
#

Người ta cho rằng các Thư Tín Mục Vụ phản ánh một cơ cấu tổ chức Hội Thánh phát triển cao hơn so với thời kỳ Phao-lô còn sống. Nhưng các thư này chỉ đề cập đến các trưởng lão (hoặc giám mục), chấp sự, và các bà góa - tất cả những chức vụ và nhóm người này đều đã xuất hiện trước đó trong thời kỳ Tân Ước như những thành phần riêng biệt trong Hội Thánh (ví dụ, xem Công-vụ 6:1; 9:39, 41; 1 Cô-rinh-tô 7:8; Phi-líp 1:1). Hơn nữa, các Cuộn Biển Chết thời tiền Cơ Đốc giáo mô tả một chức sắc trong cộng đồng Qumran có sự tương đồng đáng kể với các giám mục (theo nghĩa đen là “người coi sóc, người quản lý”) xuất hiện trong các Thư Tín Mục Vụ.

Những chỉ dẫn cho Ti-mô-thê và Tít về việc bổ nhiệm trưởng lão (1 Ti-mô-thê 5:22; Tít 1:5) không phải nhằm mục đích thiết lập một hệ thống quản trị Hội Thánh phức tạp, có phân cấp, mà là để thành lập các Hội Thánh mới trong bối cảnh truyền giáo, giống như Phao-lô và Ba-na-ba đã bổ nhiệm trưởng lão cho các Hội Thánh mới thành lập tại miền Nam Ga-la-ti từ rất sớm (Công-vụ 14:23).

“Và đây là quy định cho người coi sóc trại. Người ấy sẽ dạy dỗ nhiều người về các công việc của Đức Chúa Trời và khiến họ suy ngẫm về những việc quyền năng kỳ diệu của Ngài. … Và người ấy sẽ thương xót họ như cha thương xót con mình, và sẽ đem tất cả những kẻ lầm lạc trở về, như người chăn làm với bầy chiên của mình” (Damascus Document 13:7-9).

g. Tính Chính Thống
#

Tương tự, có lập luận cho rằng việc các Thư Tín Mục Vụ nhấn mạnh vào tính chính thống của giáo lý ngụ ý về một giai đoạn phát triển thần học hậu Phao-lô - khi mà giáo lý Cơ Đốc được xem là đã hoàn chỉnh và do đó cần được bảo vệ khỏi sự băng hoại hơn là mở rộng phạm vi.

Tuy nhiên, việc bảo vệ tính chính thống của truyền thống Cơ Đốc đã là đặc điểm của các thư tín của Phao-lô ngay từ những thư đầu tiên. Toàn bộ thư Ga-la-ti và chương mười lăm của thư 1 Cô-rinh-tô là những ví dụ điển hình cho điều này.

h. Dữ Liệu Mâu Thuẫn
#

Sau cùng, một số người duy trì quan điểm rằng các Thư Tín Mục Vụ đưa ra những dữ kiện lịch sử và địa lý không hòa hợp với hành trình của Phao-lô được ghi lại trong sách Công-vụ và các bức thư khác. Đây được cho là những sai sót làm lộ tẩy một tác giả mạo danh sùng kính Phao-lô. Các dữ kiện mâu thuẫn đó là:

  • Phao-lô đã để Ti-mô-thê ở lại Ê-phê-sô khi ông tiếp tục đi đến xứ Ma-xê-đoan (1 Ti-mô-thê 1:3 mâu thuẫn Công-vụ 20:4-6);
  • Đê-ma đã lìa bỏ Phao-lô (2 Ti-mô-thê 4:10 - thế nhưng Đê-ma vẫn còn ở với Phao-lô trong Phi-lê-môn 24);
  • Phao-lô đã để Tít ở lại đảo Cơ-rết (Crete) (Tít 1:5) rồi đi đến Ni-cô-bô-li (Nicopolis) (Tít 3:12) trong khi Tít đi đến xứ Đa-ma-ti (2 Ti-mô-thê 4:10 - trong khi đó trong sách Công-vụ, không có ghi chép cho thấy Phao-lô đến thăm đảo Cơ-rết lẫn Ni-cô-bô-li).

i. Hai Lần Bị Giam tại Rô-ma
#

Để trả lời cho lập luận trên, người ta đưa ra giả thuyết rằng Phao-lô đã được trắng án và được trả tự do sau lần bị giam đầu tiên tại Rô-ma; rằng ông đã có một khoảng thời gian tự do, mà những dữ kiện hành trình trong các Thư Tín Mục Vụ hoàn toàn phù hợp với giai đoạn này; và sau đó ông một lần nữa lại bị bắt giam và bị kết án tử hình như một người tuận đạo vì đức tin Cơ Đốc. Do đó, các dữ kiện lịch sử và địa lý của các Thư Tín Mục Vụ đề cập đến những sự kiện diễn ra sau khi sách Công-vụ kết thúc. Chính các Thư Tín Mục Vụ là bằng chứng ủng hộ giả thuyết này, nhưng sự hỗ trợ độc lập còn đến từ sự kỳ vọng được trả tự do của Phao-lô trong Phi-líp 1:19, 25; 2:24 (rất có thể được viết trong lần đầu Phao-lô bị giam tại Rô-ma), trái ngược với việc Phao-lô không còn đề cập đến bất kỳ khả năng nào về việc được thả trong thư 2 Ti-mô-thê 4:6-8 (được viết trong lần thứ hai Phao-lô bị giam tại Rô-ma, theo giả thuyết).

j. Thứ Tự Viết
#

Chúng ta có thể kết luận rằng Phao-lô đã viết thư 1 Ti-mô-thê và Tít trong khoảng thời gian giữa hai lần bị giam tại Rô-ma, và viết thư 2 Ti-mô-thê trong lần bị giam thứ hai, ngay trước khi chịu tử đạo. Liệu Phao-lô có bao giờ đến được Tây Ban Nha, như đã dự định trong Rô-ma 15:24, 28, vẫn còn là điều chưa rõ. Thư 1 Clement 5:7 viết rằng Phao-lô đã “đi đến tận cùng phương Tây,” một câu nói có thể được hiểu là ám chỉ đến thành Rô-ma hoặc Tây Ban Nha ở cực tây của lưu vực Địa Trung Hải.

II. THƯ THỨ NHẤT GỬI TI-MÔ-THÊ
#

2.1. Bố Cục Thư Thứ Nhất gửi Ti-mô-thê
#

Click vào link để xem Bố cục thư 1 Ti-mô-thê

2.2. Đọc Thư Thứ Nhất gửi Ti-mô-thê với Sự Giải Thích
#

Thư thứ nhất gửi Ti-mô-thê bắt đầu bằng lời chào thăm và chuyển sang cảnh báo về những giáo sư giả, là những kẻ sử dụng luật pháp cách sai lạc. Sau đó Phao-lô hồi tưởng lại kinh nghiệm của chính mình về sự quy đạosự kêu gọi làm sứ đồ, đồng thời khuyên Ti-mô-thê hãy kiên trì giữ vững đức tin Cơ Đốc chính thống.

a. Hy-mê-nê (Hymenaeus) và A-léc-xan-đơ (Alexander)
#

Đọc 1 Ti-mô-thê 1:1-20.

Ti-mô-thê phải cảnh giác với hai giáo sư giả mà Phao-lô đã khai trừ khỏi Hội Thánh để phó họ vào thế gian, là nơi mà ông gọi là lãnh thổ của Sa-tan (“là kẻ ta đã phó cho quỉ Sa-tan rồi, hầu cho họ học biết đừng phạm thượng nữa,” 1:20).

Cụm từ “ấy là lời chắc chắn” là một công thức dùng để mở đầu và đúc kết những lời tuyên xưng đức tin, khẩu hiệu, và thánh ca của Hội Thánh thời ban đầu.

b. Sự Cầu Nguyện và Tiết Độ
#

Đọc 1 Ti-mô-thê 2:1-3:16.

Chương 2 bắt đầu với lời khuyên nài về sự cầu nguyện nơi công cộng cho mọi người, đặc biệt là cho các bậc cầm quyền. Kế đến là những chỉ dẫn cho phụ nữ Cơ Đốc rằng họ nên ăn mặc có chừng mực thay vì xa hoa, và trong Hội thánh, họ không được chiếm giữ các vị trí giảng dạy có thẩm quyền trên nam giới. Người ta vẫn tranh luận liệu Phao-lô muốn điều cấm này có giá trị áp dụng phổ quát, như cách hiểu truyền thống, hay chỉ có tính địa phương vì ảnh hưởng của các giáo sư giả đối với phụ nữ Cơ Đốc ở Ê-phê-sô (so sánh Ti-mô-thê 1:3-7).

Lời tuyên bố: “Dầu vậy, nếu đàn bà … bền đỗ trong đức tin … thì sẽ nhân đẻ con mà được cứu rỗi” (2:15), có lẽ có nghĩa là người phụ nữ Cơ Đốc thực hiện sự cứu rỗi của mình bằng cách sinh và nuôi dạy con cái trong sự tin kính (so sánh 1:5; Phi-líp 2:12-13). Các cách giải thích khác như sau:

  • Dù chịu đau đớn khi sinh con - một hậu quả kéo dài của sự rủa sả nguyên thủy đối với tội lỗi loài người, Sáng-thế ký 3:16) - người phụ nữ Cơ Đốc vẫn được cứu khỏi sự phán xét của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi. Nói cách khác, sự tiếp tục đau đớn khi sinh con không mâu thuẫn với sự cứu rỗi của những người mẹ Cơ Đốc. Theo quan điểm này, từ “nhờ” có nghĩa là “trải qua” hơn là “bằng phương tiện” sinh con.

  • Những người phụ nữ tin kính được cứu qua sự sinh hạ tối cao, tức là sự giáng sinh của Đấng Christ.

  • Phao-lô không hứa hẹn về sự cứu rỗi đời đời, nhưng là sự giải cứu khỏi những nguy hiểm về thân thể trong lúc sinh đẻ.

Đọc thêm: LỜI NẦY LÀ CHẮC CHẮN

  • “Đức Chúa Jêsus Christ đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội, ấy là lời chắc chắn, đáng đem lòng tin nhận trọn vẹn mà nhận lấy” (1 Ti-mô-thê 1:15).
  • Lời nầy là chắc chắn: Nếu có kẻ mong được làm giám mục, ấy là ưa muốn một việc tốt lành” (1 Ti-mô-thê 3:1).

  • Lời nầy là chắc chắn và đáng đem lòng tin nhận trọn vẹn… ấy vì chúng ta để lòng trông cậy trong Đức Chúa Trời hằng sống, Ngài là Cứu Chúa của mọi người, mà nhất là của tín đồ” (1 Ti-mô-thê 4:9-10).

  • Lời nầy là chắc chắn: Nếu chúng ta chết với Ngài [‘Chúa Jesus Christ’], thì cũng sẽ sống với Ngài; nếu chúng ta chịu thử thách, thì sẽ cùng Ngài đồng trị. Nếu chúng ta chối Ngài, thì Ngài cũng sẽ chối chúng ta; nếu chúng ta không thành tín, song Ngài vẫn thành tín, vì Ngài không thể tự chối mình được” (2 Ti-mô-thê 2:11-13).

  • “Nhưng khi lòng nhân từ của Đức Chúa Trời, Cứu Chúa chúng ta, và tình thương yêu của Ngài đối với mọi người đã hiện ra, thì Ngài cứu chúng ta, không phải tại việc công bình chúng ta đã làm, nhưng cứ theo lòng thương xót Ngài, bởi sự rửa về sự hễ dựng lại và sự đổi mới của Đức Thánh Linh, là Đấng Ngài đã rải trên chúng ta cách dư dật bởi Đức Chúa Jêsus Christ, Cứu Chúa chúng ta; hầu cho chúng ta nhờ ơn Ngài được xưng công bình, trở nên kẻ kế tự của sự sống đời đời trong sự trông cậy: Lời nầy là chắc chắn” (Tít 3:4-8a).

c. Giám Mục và Chấp Sự
#

Giờ đây, Phao-lô liệt kê những phẩm chất cho chức giám mục và chấp sự. Giám mục (tiếng Hy Lạp: episkopos, từ đó có từ “Episcopal” - Thể Chế Giám Mục) chỉ về chức vụ được đảm nhận bởi một trưởng lão (presbyteros, từ đó có từ “Presbyterian” - Thể Chế Trưởng Lão). Vì vậy, dù giám mục và trưởng lão bắt nguồn từ hai từ Hy Lạp khác nhau, chúng phần lớn là đồng nghĩa. Chấp sự có nghĩa là “đầy tớ, người giúp đỡ” và chỉ về những người phụ tá cho các giám mục, lo liệu những vấn đề thế tục trong đời sống Hội Thánh, đặc biệt là việc phân phát của cải từ thiện.

Việc liệt kê phẩm chất cho phụ nữ trong 1 Ti-mô-thê 3:11 có thể ngụ ý về một hàng ngũ nữ chấp sự, hoặc có thể đề cập đến vợ của các nam chấp sự, là những người được kỳ vọng sẽ giúp đỡ công việc từ thiện của chồng mình.

Kết thúc phân đoạn này là một đoạn trích từ một bài thánh ca hoặc tín điều của Hội Thánh thời ban tiên, tóm lược hành trình của Đấng Christ từ lúc nhập thể đến khi thăng thiên (“Đấng đã được tỏ ra trong xác thịt,… được cất lên trong sự vinh hiển,” 3:16).

Đọc thêm: CÁC HÌNH THỨC ĐIỀU HÀNH HỘI THÁNH

  • Hệ phái Giám Lý (Episcopal): Hội Thánh trao nhiều thẩm quyền cho một giám mục phụ trách nhiều Hội Thánh địa phương.
  • Hệ phái Trưởng Lão (Presbyterian): Hội Thánh trao nhiều thẩm quyền cho một hội đồng trưởng lão trong mỗi Hội Thánh địa phương.

Đọc thêm: MỘT BÀI THÁNH CA HOẶC TÍN ĐIỀU CỦA HỘI THÁNH THỜI BAN ĐẦU

Lưu ý trong 1 Ti-mô-thê 3:16 các cặp động từ bổ túc cho nhau và các cặp cụm giới từ cũng bổ túc cho nhau tương ứng:

  • Điều được nói về “Đấng” cho thấy rõ ràng đây là chỉ về Đấng Christ.
  • Được tỏ ra trong xác thịt chỉ về sự nhập thể của Ngài.
  • Được Đức Thánh Linh xưng là công bình chỉ về việc Đức Thánh Linh làm cho Chúa Jesus sống lại từ cõi chết.
  • Được thiên sứ trông thấy chỉ về sự hiện ra của Chúa Jesus Phục Sinh với thế giới thiên sứ (so sánh sự hiện diện của thiên sứ tại ngôi mộ trống của Chúa Jesus).
  • Được rao giảng và tin cậy chỉ về công cuộc truyền giáo toàn cầu và kết quả là những sự quy đạo.
  • Được cất lên trong sự vinh hiển chỉ về sự thăng thiên của Chúa Jesus, và cùng với lời dẫn ban đầu về sự nhập thể, nó tạo thành khung sườn cho các chi tiết diễn ra ở giữa.

d. Sự Phải Lẽ
#

Đọc 1 Ti-mô-thê 4:1-6:21.

Sau một lời cảnh báo thêm về tà giáo, qua chương 5 là phần thảo luận về mối quan hệ đúng mực của Ti-mô-thê với các tín hữu thuộc các nhóm tuổi khác nhau trong Hội Thánh, tình trạng của các bà góa, và cách đối đãi với các trưởng lão. Là một người trẻ tuổi, Ti-mô-thê phải đối đãi với những người nam trẻ tuổi khác như anh em, với đàn ông lớn tuổi hơn như cha, với phụ nữ lớn tuổi hơn như mẹ, và với các quý cô như chị em.

e. Các Bà Góa
#

Các gia đình nên chu cấp cho các bà góa của mình. Nhưng những bà góa tin kính từ sáu mươi tuổi trở lên và không được gia đình hỗ trợ nên nhận được sự trợ giúp kinh tế từ Hội Thánh. Các bà góa trẻ tuổi hơn nên tái giá, kẻo họ sa vào cám dỗ mà tìm đến lối sống bất khiết như một phương tiện để mưu sinh.

f. Các Trưởng Lão
#

Không được tiếp nhận lời cáo kiện một trưởng lão nào nếu không có hai hoặc ba người làm chứng; nhưng kẻ nào có tội và bị kết án đúng mực thì phải quở trách trước mặt mọi người. Ti-mô-thê không được cấp bách đặt tay trên một người nào để lập làm trưởng lão, nghĩa là khi chưa thử thách tư cách của người đó trong một khoảng thời gian (trừ khi sự ám chỉ này nói về việc phục hồi các thành viên bị kỷ luật trong Hội thánh).

Các trưởng lão trung tín, đặc biệt là những người rao giảng và dạy dỗ, xứng đáng được hỗ trợ tài chính. Không được tiếp nhận lời cáo kiện một trưởng lão nào nếu không có hai hoặc ba người làm chứng, nhưng những ai bị kết tội rõ ràng thì phải bị quở trách công khai. Ti-mô-thê không được phong chức ("đặt tay") vội vàng cho một người làm trưởng lão, nghĩa là không được làm điều đó trước khi đã kiểm chứng phẩm hạnh của người đó qua một thời gian (trừ khi câu này đề cập đến việc phục hồi các thành viên bị kỷ luật trong Hội Thánh).

Bức thư kết thúc với những chỉ dẫn khác nhau về các nô lệ Cơ Đốc, những giáo sư giả, các Cơ Đốc nhân giàu có, và trách nhiệm thuộc linh của chính Ti-mô-thê.

“Nhà ngụy biện Bion nói: ‘Lòng tham tiền bạc là thủ phủ [nghĩa đen của từ “metropolis”] của mọi điều ác’” (Stobaeus, Anthologium 3, 417 = III 10, 37).

III. THƯ GỬI TÍT
#

3.1. Bố Cục Thư Gửi Tít
#

Click vào link để xem Bố cục thư Tít

3.2. Đọc Thư Gửi Tít với Sự Giải Thích
#

Đọc Tít 1:1-3:15.

ĐỊA ĐIỂM VÀ MỤC ĐÍCH

Phao-lô viết thư này từ thành Ni-cô-bô-li (Nicopolis), trên bờ biển phía tây Hy Lạp, gửi cho Tít, là người mà ông đã để lại trên đảo Cơ-rết (Crete) để tổ chức Hội Thánh tại đó. Cũng như trong thư 1 Ti-mô-thê, ông cảnh báo chống lại các giáo sư giả và đưa ra những chỉ dẫn cho nhiều nhóm tín hữu Cơ Đốc về cách cư xử phải lẽ. Cơ sở giáo lý cho những chỉ dẫn này là ân điển của Đức Chúa Trời, là điều mang đến sự cứu rỗi, dẫn đến đời sống tin kính và ban cho “sự trông cậy hạnh phước” về sự trở lại của Chúa Jesus (Tít 2:11-14). Cơ sở kinh nghiệm cho những chỉ dẫn này là sự tái sinh bởi Đức Thánh Linh (3:3-7).

IV. THƯ THỨ HAI GỬI TI-MÔ-THÊ
#

4.1. Bố Cục Thư Thứ Hai gửi Ti-mô-thê
#

Click vào link để xem Bố cục thư 2 Ti-mô-thê

4.2. Đọc Thư Thứ Hai gửi Ti-mô-thê với Sự Giải Thích
#

a. Hồi Ức và Những Lời Khuyên Bảo
#

Đọc 2 Ti-mô-thê 1:1-4:22.

Bức thư cuối cùng này của Phao-lô mở đầu bằng những hồi ức về sự kêu gọi của Đức Chúa Trời dành cho Ti-mô-thê và cho chính Phao-lô, xen kẽ với những lời khuyên bảo và một vài nét phác họa về những người đã lìa bỏ Phao-lô trong cảnh tù đày cũng như những người đã ở bên cạnh ông.

Những chỉ dẫn tiếp theo cho Ti-mô-thê đưa ra sự so sánh với công việc khó nhọc và kỷ luật tự giác cần có của người lính, vận động viên và nông dân. Để chống lại sự dạy dỗ của tà giáo, Phao-lô nhấn mạnh rằng “cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn [nghĩa là ‘Đức Chúa Trời hà hơi’], có ích” (2 Ti-mô-thê 3:16).

Lời phó thác cuối cùng về việc rao giảng Lời Đức Chúa Trời, một lời tuyên bố về việc sẵn sàng chịu chết, cùng những tin tức và yêu cầu cá nhân đã kết thúc bức thư từ biệt của Phao-lô.

b. Gian-nét (Jannes) và Giam-be (Jambres)
#

Theo Targum Jonathan về Xuất Ê-díp-tô Ký 7:11 và các tác phẩm Cơ Đốc sơ khai ngoài Tân Ước, Gian-nét và Giam-be (2 Ti-mô-thê 3:8) là hai trong số các thuật sĩ của Pha-ra-ôn đã chống lại Môi-se.

Những sách bằng giấy da mà Phao-lô nhờ Ti-mô-thê đem đến (4:13) ắt hẳn chứa nội dung quan trọng, vì giấy da rất đắt tiền. Có lẽ chúng là các giấy tờ pháp lý của Phao-lô (chẳng hạn như chứng nhận quyền công dân La Mã), các bản sao chép Kinh Thánh Cựu Ước, và những ghi chép về cuộc đời và sự dạy dỗ của Chúa Jesus.

“Gian-nét và Giam-be, các pháp sư Ai Cập, cũng làm như vậy bằng các thuật phù chú của chúng. Mỗi người quăng gậy mình xuống, và chúng hóa thành rắn, nhưng lập tức biến trở lại như ban đầu. Và cây gậy của A-rôn đã nuốt các cây gậy của chúng” (Targum Pseudo-Jonathan về Xuất Ê-díp-tô Ký 7:11).

c. Sư Tử
#

Có lẽ chúng ta nên hiểu việc Phao-lô được cứu “khỏi hàm sư tử” theo nghĩa bóng hơn là nghĩa đen, vì sư tử là một ẩn dụ phổ biến chỉ sự nguy hiểm tột cùng (2 Ti-mô-thê 4:17; so sánh Thi-thiên 22:21). Cụ thể hơn, sư tử đã được coi là biểu tượng cho hoàng đế Nê-rô (Nero), hoặc cho ma quỷ, như trong 1 Phi-e-rơ 5:8: “Kẻ thù nghịch anh em là ma quỉ, như sư tử rống, đi rình mò chung quanh anh em, tìm kiếm người nào nó có thể nuốt được.”

TÓM LƯỢC
#

Tác giả của các Thư Tín Mục Vụ, 1 và 2 Ti-mô-thê cùng Tít, bị tranh luận, chủ yếu do sự khác biệt so với các thư tín khác mà quyền tác giả của Phao-lô là điều không bị bàn cãi. Tuy nhiên, những khác biệt tương tự cùng tồn tại ngay trong chính những thư tín không bị tranh luận đó, cùng với hoàn cảnh thay đổi và việc Phao-lô sử dụng nhiều người chép thư khác nhau, đã ủng hộ truyền thống của Hội Thánh ban đầu về quyền tác giả của Phao-lô. Theo quan điểm này, Phao-lô đã có hai lần bị giam cầm tại Rô-ma, ông viết thư 1 Ti-mô-thê và Tít trong khoảng giữa hai lần đó, và viết thư 2 Ti-mô-thê trong lần bị giam thứ hai, ít lâu trước khi ông tử đạo.

Mục đích bao trùm của các Thư Tín Mục Vụ là để chỉ dẫn Ti-mô-thê và Tít trong việc quản trị đời sống Hội Thánh. Nhìn chung, các chỉ dẫn này đề cập đến sự chính thống (orthodoxy - niềm tin đúng đắn) và sự thực hành đúng đắn (orthopraxy) để chống lại tà thuyết (heterodoxy - niềm tin sai lạc) và sự thực hành sai lạc (heteropraxy); cùng với sự tổ chức Hội Thánh một cách phải lẽ; phẩm chất của giám mục/trưởng lão, chấp sự, nữ chấp sự hoặc vợ chấp sự, và các bà góa; vai trò của những người này và những người khác, cả nam lẫn nữ, trong Hội Thánh; và cách cư xử của Ti-mô-thê và Tít đối với các nhóm tín hữu khác nhau trong Hội Thánh. Những chi tiết cá nhân liên quan đến giai đoạn cuối cùng trong cuộc đời Phao-lô, cùng với những hồi ức về các giai đoạn trước đó, xuất hiện rải rác trong các Thư Tín Mục Vụ.

CHUYÊN KHẢO: TÓM LƯỢC THẦN HỌC CỦA PHAO-LÔ
#

a. Nguồn Gốc
#

Vì thần học của Phao-lô nằm rải rác trong nhiều bức thư được viết trong các hoàn cảnh truyền giáo khác nhau, nên chúng ta cần tóm lược tư tưởng của ông. Một số học giả trước đây tin rằng về nội dung và hình thức thần học, Phao-lô đã vay mượn rộng rãi từ các khái niệm Hy Lạp và các tôn giáo thần bí. Tuy nhiên, hiện nay có một sự đồng thuận chung rằng di sản ông nhận lãnh từ Cựu ƯớcDo Thái Giáo Thời Đền Thờ Thứ Hai vượt xa những gì ông vay mượn từ các nguồn Hy Lạp hay thần bí.

Chính những học giả trước đây đó cũng cho rằng Phao-lô là nhà cách tân vĩ đại, là người đã biến Chúa Jesus từ thực tế vốn có của Ngài - một tiên tri, một giáo sư, và một người tuận đạo - thành một Đấng Cứu Thế của cả vũ trụ với các thần tính. Nhưng những nghiên cứu kỹ lưỡng hơn đã cho thấy Phao-lô dựa trên các truyền thống Cơ Đốc có trước đó: các bài thánh ca, tín điều, lời tuyên xưng khi nhận Báp-têm, những chỉ dẫn giáo lý liên quan đến nếp sống Cơ Đốc, và các truyền khẩu cùng văn bản ghi chép về cuộc đời và sự dạy dỗ của Chúa Jesus có trước khi các sách Phúc Âm được viết ra. Việc nghiên cứu các sách Phúc Âm, Công-vụ, và các thư tín không phải của Phao-lô dẫn đến cùng một kết luận: Phao-lô phát triển một nền thần học Cơ Đốc đã có trước ông, bắt nguồn từ Chúa Jesus và phát xuất từ Cựu Ước.

b. Đức Chúa Trời và Sự Sáng Tạo
#

Từ Do Thái giáo và Cựu Ước, Phao-lô có niềm tin vào một Đức Chúa Trời chân thật duy nhất, là Đấng toàn năng, thánh khiết và hay làm ơn. Đức Chúa Trời này là một thân vị. Những ai biết Ngài qua Đấng Christ có thể gọi Ngài một cách trìu mến là Cha (A-ba). Tuy nhiên, có sự đa vị trong thân vị của Đức Chúa Trời duy nhất; vì vậy, Phao-lô đã viết theo các thuật ngữ về Ba Ngôi là Cha, Con và Đức Thánh Linh (mặc dù sự phát triển về mặt triết học của giáo lý Ba Ngôi chỉ xuất hiện sau khi các sách Tân Ước được viết xong). Đức Chúa Trời là Cha đã dựng nên vũ trụ và mọi loài trong đó thông qua và vì Con của Ngài. Vì vậy, trong mọi phương diện vật chất, vũ trụ này tự thân là tốt lành. Nhưng tội lỗi đã xâm nhập qua A-đam và nắm giữ con người chặt đến mức luật pháp tốt lành của Đức Chúa Trời lại kích thích sự vi phạm thay vì sự vâng lời. Theo sau tội lỗi là sự chết, cả về thể xác lẫn tâm linh. Là một phần của công trình sáng tạo vật chất, thân thể con người vốn là tốt lành; nhưng vì tội lỗi hành động thông qua thân thể, Phao-lô gọi sự thôi thúc tội lỗi đó là “xác thịt.”

c. Đấng Christ và Sự Cứu Chuộc
#

Chúa Jesus, là Con Đức Chúa Trời hằng hữu từ trước vô cùng, đã từ trời đến để giải cứu loài người khỏi tội lỗi và sự chết. Như vậy, chính Ngài đã trở nên một con người và chịu chết để làm thỏa mãn cả cơn giận của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi lẫn tình yêu thương của Đức Chúa Trời đối với tội nhân. Để chứng tỏ sự thỏa mãn này, Đức Chúa Trời đã khiến Chúa Jesus sống lại từ cõi chết và tôn cao Ngài làm Chúa ở trên trời. Giờ đây, “sự kêu gọi” của Đức Chúa Trời đến với những người mà Ngài đã chọn sẵn từ trước. Tuy nhiên, việc Ngài chọn một số người để được cứu rỗi không mâu thuẫn với lời mời gọi rộng mở dành cho tất cả mọi người. Người ta tiếp nhận lời mời gọi này bằng sự đau buồn chân thành về tội lỗi (tức sự ăn năn) và đức tin nơi Chúa Jesus Christ, bao gồm sự công nhận bằng lý trí về những gì Cơ Đốc giáo nói về danh tính của Ngài, sự tin cậy duy nhất vào sự chết và sự sống lại của Ngài để được tha tội (tức cất bỏ tội lỗi), và sự cam kết về mặt đạo đức đối với lối sống mà Ngài đòi hỏi. Những tín hữu ăn năn ngay lập tức được ở “trong Đấng Christ,” nhờ đó tội lỗi của họ được chuyển sang cho Đấng Christ, và họ trở thành những người thừa hưởng sự công bình cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Sự hiệp nhất với Đấng Christ thay thế cho sự hiệp nhất với A-đam. Bằng cách này, Đức Chúa Trời có thể đối đãi với các tín hữu như những người công bình bằng tình yêu thương (giáo lý về sự xưng công bình) trong khi vẫn giữ vững tiêu chuẩn công chính của chính Ngài. LaChúa, Chúa Jesus chuộc các tín đồ, nghĩa là giải phóng họ khỏi sự tôi mọi của tội lỗi bằng cách trả một giá, giống như Đức Giê-hô-va đã chuộc dân Y-sơ-ra-ên khỏi cảnh nô lệ tại Ê-díp-tô trong cuộc xuất hành. Nhờ đó, các tín đồ được hòa thuận lại với Đức Chúa Trời. Tất cả những sự kiện này xảy ra bởi ân điển thiên thượng, tức là ơn lành của Ngài dành cho những con người hư mất không xứng đáng, mà không bởi việc lành công đức nào của họ.

d. Đức Thánh Linh, Cơ Đốc Nhân, và Hội Thánh
#

Đức Chúa Trời ban Thánh Linh của Ngài cho các tín đồ như một sự bảo chứng về vinh hiển trong tương lai và đời đời, và như một sự trợ giúp cho lối sống Cơ Đốc của cá nhân và tập thể. Đức Thánh Linh ban cho họ năng lực để chiến thắng sự thôi thúc tội lỗi ("xác thịt"), để sống nhân đức, cầu nguyện, và phục vụ người khác. Thân thể, một thời bị xác thịt cai trị, nay trở thành đền thờ của Đức Thánh Linh và được định sẵn cho sự sống lại để hưởng sự sống đời đời. Nhưng cũng như thân thể của một cá nhân Cơ Đốc nhân là đền thờ của Đức Thánh Linh, thì toàn thể Hội Thánh cũng vậy. Quả thực, thân thể với nhiều chi thể khác nhau trở thành ẩn dụ vĩ đại của Phao-lô về Hội Thánh trong sự hiệp nhất hữu cơ, sự đa dạng về chức năng, và sự phục tùng Đấng Christ là đầu. Và các Hội Thánh (từ chữ Hy Lạp ekklēsia) không phải là những tòa nhà, mà là những hội chúng địa phương của những người thuộc về vương quốc Đức Chúa Trời. Những người này là những người được biệt riêng ("các thánh đồ"), là những anh chị em mà trong lòng họ được soi sáng những điều bí mật đã được tỏ ra ("sự mầu nhiệm") của Tin Lành. Qua phép Báp-têm, họ tuyên xưng sự hiệp nhất của mình với Đấng Christ trong sự chết, sự chôn, và sự sống lại của Ngài, và sự tiếp diễn của sự hiệp nhất đó qua Tiệc Thánh, là điều hướng tới bữa tiệc của Đấng Mê-si-a trong sự tái lâm cũng như nhìn lại sự chết của Đấng Christ.

e. Lai Thế Học
#

Các thế lực gian ác - Sa-tan, các tà linh, và những con người bị chúng cai trị - đang kiểm soát đời này. Nhưng sự thống trị của chúng sẽ không kéo dài mãi mãi; vì Ngày của Chúa đang đến. Bấy giờ Ngài sẽ nắm quyền kiểm soát. Khi kẻ vô luật pháp (antichrist) lãnh đạo một cuộc nổi loạn lớn chống nghịch Đức Chúa Trời, thì Đấng Christ là Chúa sẽ trở lại để phán xét kẻ ác, minh oan cho người tin kính, và phục hồi dân tộc Y-sơ-ra-ên. Cơ Đốc nhân phải tỉnh thức chờ đợi sự kiện này; đó là “sự trông cậy” vững vàng của họ. Sau Ngày của Chúa, thời đại sắp đến sẽ bắt đầu, là một chuỗi tiếp nối không ngừng của các thời đại gọi là sự đời đời, trong đó Đức Chúa Trời sẽ vui hưởng dân sự Ngài và họ sẽ vui hưởng Ngài - mãi mãi.