Skip to main content

Chương 16: HÊ-BƠ-RƠ - CHÚA GIÊ-XU LÀ THẦY TẾ LỄ

·6420 words·31 mins·
Author
Lily

TÂN ƯỚC LƯỢC KHẢO

I. CÁC VẤN ĐỀ DẪN NHẬP
#

1.1. Chủ Đề
#

Tác giả thư Hê-bơ-rơ miêu tả Chúa Jesus Christ một cách đặc biệt như một thầy tế lễ - Đấng đã dâng chính bản thân Ngài làm sinh tế chuộc tội hoàn toàn trọn vẹn, và hiện đang phục vụ trong nơi thánh trên trời. Mục đích của sự miêu tả này, vốn nhấn mạnh sự trỗi hơn của Đấng Christ trên mọi phương diện và mọi nhân vật anh hùng trong tôn giáo Cựu Ước - là để đảm bảo rằng những người nhận thư sẽ không bội đạo mà từ bỏ Cơ Đốc giáo quay trở lại Do Thái giáo.

1.2. Tác Giả
#

Truyền thống Hội Thánh thời ban đầu thể hiện sự không chắc chắn về tác giả của bức thư vô danh này. Tuy nhiên, từ rất sớm, thư Hê-bơ-rơ đã được biết đến và sử dụng trong thư 1 Clement (khoảng năm 95); và cho đến tận ngày nay, những phỏng đoán về tác giả của bức thư vẫn còn tồn tại.

PHAO-LÔ

Ở khu vực phía đông của Đế quốc La Mã, Phao-lô thường được coi là tác giả của thư Hê-bơ-rơ. Thần học của thư này quả thật có điểm tương đồng với thần học của ông khi chúng ta so sánh sự tiền hữu và vai trò sáng tạo của Đấng Christ trong Hê-bơ-rơ 1:1-4 với Cô-lô-se 1:15-17, sự tự hạ mình của Đấng Christ trong Hê-bơ-rơ 2:14-17 với Phi-líp 2:5-8, giao ước mới trong Hê-bơ-rơ 8:6 với 2 Cô-rinh-tô 3:4-11, và sự ban phát các ân tứ bởi Đức Thánh Linh trong Hê-bơ-rơ 2:4 với 1 Cô-rinh-tô 12:11.

Tuy nhiên, bộ phận Hội thánh ở phía tây lại nghi ngờ tác giả thư Hê-bơ-rơ là Phao-lô, và lúc đầu thậm chí còn loại thư này ra khỏi kinh điển vì lý do tác giả không rõ ràng. Sự thật này cho thấy Hội Thánh thời ban đầu không dễ dàng chấp nhận các tác phẩm vào kinh điển nếu không trước hết xem xét các chứng cứ xác định tác giả là ai, độ tin cậy, và sự tinh tuyền về giáo lý.

Hội Thánh ở phía tây có lý do chính đáng để nghi ngờ quyền tác giả của Phao-lô. Không một bức thư nào được công nhận là của Phao-lô lại để vô danh như thư Hê-bơ-rơ. Văn phong tiếng Hy Lạp trau chuốt của thư Hê-bơ-rơ khác biệt hoàn toàn với văn phong thô ráp của Phao-lô, sự khác biệt này lớn hơn mức có thể được giải thích hợp lý bằng việc thay đổi người chép thư. Hơn nữa, Phao-lô thường xuyên viện dẫn đến thẩm quyền sứ đồ của chính mình, nhưng tác giả thư Hê-bơ-rơ lại viện dẫn đến thẩm quyền của những người khác, là những người đã tận mắt chứng kiến mục vụ của Chúa Jesus (Hê-bơ-rơ 2:3; nhưng so sánh với Công-vụ 13:31).

BA-NA-BA

Một số người đề xuất Ba-na-ba là tác giả, vì ông xuất thân từ dòng dõi Lê-vi (Công-vụ 4:36) phù hợp với sự quan tâm đến các chức năng tế lễ thấy rõ xuyên suốt thư Hê-bơ-rơ và mối liên hệ của ông với Phao-lô sẽ giải thích những điểm tương đồng với thần học của Phao-lô. Nhưng là một cư dân của Giê-ru-sa-lem (Công-vụ 4:36-37), Ba-na-ba có lẽ đã nghe và thấy Chúa Jesus, trong khi tác giả thư Hê-bơ-rơ tự xếp mình vào số những người phải dựa vào lời chứng của những người tận mắt chứng kiến (Hê-bơ-rơ 2:3).

LU-CA

Là một người bạn đồng hành khác của Phao-lô, Lu-ca cũng là một ứng cử viên cho quyền tác giả của thư Hê-bơ-rơ vì những điểm tương đồng giữa văn phong Hy Lạp trau chuốt của thư Hê-bơ-rơ với văn phong của sách Lu-ca và Công-vụ. Nhưng sách Lu-ca và Công-vụ có quan điểm hướng về Dân Ngoại, còn thư Hê-bơ-rơ thì rất Do Thái.

A-BÔ-LÔ

Martin Luther đề xuất A-bô-lô, là người quen biết Phao-lô (1 Cô-rinh-tô 16:12) và được Bê-rít-sin và A-qui-la dạy dỗ (Công-vụ 18:26), có thể giải thích cho những điểm tương đồng trong thư Hê-bơ-rơ với thần học của Phao-lô. Sự uyên bác hay tài hùng biện của A-bô-lô (Công-vụ 18:24, 27-28) có thể đã tạo nên phong cách văn chương tinh tế của thư Hê-bơ-rơ. Bên cạnh đó, xuất thân của A-bô-lô từ thành Alexandria phù hợp với việc thư Hê-bơ-rơ thường xuyên và hầu như chỉ sử dụng bản Bảy Mươi (Septuagint) khi trích dẫn Cựu Ước, vì bản Bảy Mươi được thực hiện tại Alexandria, Ai Cập. Một số học giả cũng chỉ ra sự tương đồng giữa cách giải kinh theo phương pháp hình bóng (allegorical interpretation) về Cựu Ước của triết gia Do Thái Philo - một người cùng thời với A-bô-lô và cũng là người gốc Alexandria - với cách xử lý Cựu Ước trong sách Hê-bơ-rơ. Tuy nhiên, sách Hê-bơ-rơ nhìn nhận Cựu Ước theo lịch sử điển hình luận (typology history) hơn là hình bóng (allegory), và việc thiếu đi truyền thống sớm từ Hội Thánh ủng hộ việc A-bô-lô là tác giả thư Hê-bơ-rơ vẫn để lại nhiều nghi vấn.

SIN-VANH (Silvanus)

Việc giả định rằng người bạn đồng hành của Phao-lô là Sin-vanh (Si-la) đã viết bức thư này cũng sẽ giải thích được những điểm tương đồng với thần học của Phao-lô. Tuy nhiên, ngoài điều đó ra, không có nhiều bằng chứng để khẳng định hay bác bỏ giả định tác giả là Sin-vanh.

PHI-LÍP

Điều tương tự cũng đúng đối với giả thuyết cho rằng Phi-líp đã viết thư Hê-bơ-rơ.

BÊ-RÍT-SIN

Adolf von Harnack đề xuất Bê-rít-sin vì mối liên hệ mật thiết của bà với Phao-lô và việc bà từng dạy A-bô-lô. Harnack lập luận một cách khéo léo rằng bà đã để bức thư ở dạng vô danh vì việc một phụ nữ đứng tên tác giả là điều không được chấp nhận về mặt văn hóa thời bấy giờ.

CLEMENT

Những điểm tương đồng giữa thư Hê-bơ-rơ và 1 Clement khiến Clement ở thành Rô-ma trở thành một ứng cử viên tiềm năng. Tuy nhiên, giữa hai bức thư cũng có nhiều khác biệt về quan điểm, và có lẽ Clement đã mượn ý từ thư Hê-bơ-rơ.

Vì vậy, giống như giáo phụ Origen thời Hội Thánh ban đầu, chúng ta có thể kết luận rằng chỉ có Đức Chúa Trời mới biết ai là tác giả của thư Hê-bơ-rơ.

“Nếu tôi được đưa ra ý kiến của mình, tôi sẽ nói rằng những ý tưởng là của vị sứ đồ [Phao-lô], nhưng cách hành văn và dùng từ ngữ là của một người nào đó đã ghi nhớ những lời dạy của vị sứ đồ và chép lại vào lúc rảnh rỗi những điều thầy mình đã nói. … Nhưng ai đã viết bức thư - thì, Đức Chúa Trời biết sự thật”

(Origen theo Eusebius, Church History 6.25.13).

Đọc thêm: MỘT VÍ DỤ VỀ VĂN PHONG CỦA THƯ HÊ-BƠ-RƠ SO VỚI VĂN PHONG CỦA PHAO-LÔ

Hê-bơ-rơ 1:3Rô-ma 8:34
“Ngài [Đấng Christ] bèn ngồi bên hữu Đấng tôn nghiêm ở trong nơi rất cao”“Đức Chúa Jêsus Christ … đang ngự bên hữu Đức Chúa Trời”

Hãy lưu ý sự hoa mỹ trong cách dùng từ ngữ của thư Hê-bơ-rơ so với sự đơn giản của Phao-lô (so sánh Thi-thiên 110:1).

1.3. Đối Tượng Nhận Thư
#

Mặc dù tiêu đề truyền thống là “Gửi cho người Hê-bơ-rơ,” một số người cho rằng sách Hê-bơ-rơ vốn dĩ được gửi cho các Cơ Đốc nhân gốc Ngoại bang. Để ủng hộ quan điểm này, họ viện dẫn phong cách tiếng Hy Lạp trau chuốt của bức thư và việc sử dụng rộng rãi bản Bảy Mươi (Septuagint), với rất ít lần khác biệt so với bản dịch Cựu Ước bằng tiếng Hy Lạp đó. Tuy nhiên, những hiện tượng này không nói lên điều gì về độc giả nguyên thủy; chúng chỉ cho thấy nền tảng của tác giả mà thôi. Việc thường xuyên trưng dẫn Cựu Ước, việc giả định độc giả đã có kiến thức về các nghi lễ Do Thái, lời cảnh báo đừng bội đạo để quay lại Do Thái giáo, và tiêu đề truyền thống từ sớm, tất cả đều chỉ ra rằng Cơ Đốc nhân gốc Do Thái mới là những người nhận thư ban đầu. Một số học giả còn đi xa hơn khi nhận diện họ là những thầy tế lễ Do Thái đã tin đạo tại Giê-ru-sa-lem (Công vụ các Sứ đồ 6:7) hoặc là những người tin đạo từ giáo phái tại Qumran, nơi sản sinh ra các Cuộn sách Biển Chết (nhưng hãy xem hai đoạn tiếp theo).

Bất chấp tiêu đề truyền thống là “Gửi cho người Hê-bơ-rơ”, một số người cho rằng thư Hê-bơ-rơ ban đầu được gửi cho các Cơ Đốc nhân Dân Ngoại. Để ủng hộ quan điểm này, người ta viện đến văn phong Hy Lạp trau chuốt của bức thư và việc sử dụng rộng rãi bản Bảy Mươi, với rất ít lần khác biệt so với bản dịch Cựu Ước bằng tiếng Hy Lạp đó. Nhưng những hiện tượng này không nói lên điều gì về độc giả nguyên thủy; chúng chỉ cho thấy xuất thân của tác giả. Việc thường xuyên viện dẫn Cựu Ước, việc giả định độc giả đã có kiến thức về các nghi lễ Do Thái, lời cảnh báo chớ bội đạo để quay lại Do Thái giáo, và tiêu đề truyền thống ban đầu, tất cả đều chỉ ra các Cơ Đốc nhân người Do Thái mới là những người nhận thư. Một số học giả còn đi xa hơn khi xác định các độc giả nguyên thủy này là những thầy tế lễ Do Thái đã quy đạo tại Giê-ru-sa-lem (Công-vụ 6:7) hoặc là những người cải đạo từ giáo phái tại Qumran, là nơi sản sinh ra các Cuộn Sách Biển Chết (nhưng xem hai lập luận bên dưới).

a. Nơi Nhận Thư
#

Thoạt nhìn, có vẻ như các Cơ Đốc nhân người Do Thái sống tại Palestine là đối tượng độc giả hợp lý nhất. Nhưng theo Hê-bơ-rơ 2:3, chính họ đã không thấy cũng không nghe Chúa Jesus trong suốt thời gian Ngài thi hành mục vụ trên đất, như nhiều Cơ Đốc nhân tại Palestine chắc chắn đã kinh nghiệm; và theo 6:10, họ đã giúp đỡ vật chất cho các tín hữu khác, trong khi các tín hữu Palestine thì nghèo và phải nhận trợ giúp (Công-vụ 11:27-30; Rô-ma 15:26; 2 Cô-rinh-tô 8:1-9:15). Hơn nữa, sự hiểu biết của những người nhận thư về nghi lễ Do Thái dường như đến từ Cựu Ước trong bản Bảy Mươi hơn là từ việc trực tiếp tham dự các nghi lễ tại đền thờ ở Giê-ru-sa-lem; và câu nói, “các thánh đồ ở Y-ta-li gởi lời thăm anh em” (13:24), nghe như thể những người Ý đang ở xa quê hương gửi lời chào về quê nhà. Nếu vậy, thì thành Rô-ma có khả năng là điểm đến của bức thư. Ủng hộ cho kết luận này là bằng chứng cho thấy sự hiểu biết về thư Hê-bơ-rơ xuất hiện sớm nhất tại Rô-ma qua thư 1 Clement.

Mặt khác, có giả thuyết cho rằng A-bô-lô đã viết thư Hê-bơ-rơ vào khoảng năm 52–54 tại Ê-phê-sô và gửi cho Hội Thánh tại Cô-rinh-tô, đặc biệt là cho các tín hữu gốc Do Thái tại đó. Giả thuyết này đưa ra nhiều điểm tương đồng giữa thư Hê-bơ-rơ với các thư tín của Phao-lô gửi cho người Cô-rinh-tô, và xác định “các thánh đồ ở Y-ta-li” (13:24) chính là Bê-rít-sin và A-qui-la - những người vốn từ Rô-ma chuyển đến Cô-rinh-tô, nhưng sau đó đã đi cùng Phao-lô từ Cô-rinh-tô đến Ê-phê-sô. Tuy nhiên, vẫn còn một khó khăn là tác giả thư Hê-bơ-rơ không đề cập cụ thể đến tên Bê-rít-sin và A-qui-la mà lại dùng một cụm từ chung chung, nhất là khi ông vừa mới nhắc đến tên của Ti-mô-thê ngay trước đó.

b. Mục Đích
#

Dù những người nhận thư sống ở đâu, họ đều là những người mà tác giả biết rất rõ. Ông viết về lòng rộng rãi của họ (Hê-bơ-rơ 6:10), sự bắt bớ mà họ chịu (10:32-34; 12:4), sự non kém thuộc linh của họ (5:11–6:12), và niềm hy vọng của ông sẽ sớm trở lại thăm họ (13:19, 23). Có hai chi tiết bổ sung có thể mang ý nghĩa quan trọng:

  1. Những người nhận thư được khuyên giục không chỉ chào hỏi các lãnh đạo và tín hữu trong Hội Thánh của họ, mà còn cả “hết thảy các thánh đồ” (13:24);

  2. Họ bị khiển trách vì chểnh mảng sự nhóm lại (10:25).

Do đó, có khả năng họ là một nhóm Cơ Đốc nhân gốc Do Thái hoặc một Hội Thánh tại gia đã tách khỏi cộng đồng Cơ Đốc chính tại địa phương và đang đứng trước nguy cơ sa ngã trở lại Do Thái giáo để tránh bị bắt bớ. Mục đích chính của bức thư là để ngăn chặn sự bội đạo đó và phục hồi họ vào mối thông công Cơ Đốc của dòng chính. Sự sớm biến mất của một truyền thống cho biết rõ ràng về tác giả của bức thư có thể là do sự ly khai của những người nhận thư.

1.4. Niên Đại
#

Việc thư 1 Clement có trích dẫn thư Hê-bơ-rơ đòi hỏi niên đại của thư Hê-bơ-rơ phải có trước khoảng năm 95, là thời điểm 1 Clement được viết.

Đôi khi người ta lập luận thêm rằng thì hiện tại của các động từ trong thư Hê-bơ-rơ mô tả các nghi lễ dâng tế lễ ngụ ý một niên đại trước năm 70, là năm Titus phá hủy đền thờ và các của lễ không còn được dâng nữa. Nhưng các tác phẩm khác, gần như chắc chắn có niên đại sau năm 70, vẫn tiếp tục sử dụng thì hiện tại để nói về các nghi lễ Môi-se (1 Clement, Josephus, Justin Martyr, Talmud). Hơn nữa, thư Hê-bơ-rơ không mô tả nghi lễ của đền thờ, mà là nghi lễ của đền tạm thời trước Sa-lô-môn (một đền thánh bằng lều di động mà dân Y-sơ-ra-ên sử dụng trên đường từ núi Si-na-i đến xứ Ca-na-an). Do đó, thì hiện tại có thể chỉ biểu thị một phong cách văn chương sống động và không thể giải quyết dứt khoát câu hỏi về niên đại của thư Hê-bơ-rơ.

Tuy nhiên, điều thực sự ủng hộ một niên đại trước năm 70 là việc thư Hê-bơ-rơ không đề cập gì đến sự phá hủy đền thờ như một dấu hiệu từ Đức Chúa Trời cho thấy hệ thống tế lễ Cựu Ước đã lỗi thời. Tác giả có lẽ đã sử dụng lập luận lịch sử như vậy, nếu ông viết sau sự kiện đó.

1.5. Hình Thức Văn Chương
#

Giống như các thư tín khác, thư Hê-bơ-rơ kết thúc bằng những ám chỉ cá nhân; nhưng không giống các thư tín khác, nó không có lời chào thăm mở đầu. Phong cách hùng biện và những nhận xét như “thì giờ không cho phép tôi kể thêm” (Hê-bơ-rơ 11:32) dường như cho thấy đây là một bài giảng. Tuy nhiên, câu nói, “Tôi đã viết cho anh em cách vắn tắt” (13:22), buộc chúng ta phải thừa nhận rằng suy cho cùng, Hê-bơ-rơ là một bức thư, được viết theo văn phong giảng luận.

1.6. Sự Trổi Hơn của Đấng Christ
#

Để giữ cho độc giả của mình khỏi sa ngã mà quay lại Do Thái giáo, tác giả thư Hê-bơ-rơ nhấn mạnh sự trổi hơn của Đấng Christ trên hết mọi sự, đặc biệt là trên các đặc điểm của Do Thái giáo phát xuất từ Cựu Ước. Cụm từ “tốt hơn” (hoặc “trổi hơn”) thể hiện rõ chủ đề chủ đạo về sự vượt trội của Đấng Christ - một chủ đề được nhấn mạnh xuyên suốt bức thư qua những lời khuyên răn đừng bội đạo.

II. BỐ CỤC THƯ HÊ-BƠ-RƠ
#

I. Sự Trổi Hơn của Đấng Christ trên Các Tiên Tri trong Cựu Ước (1:1-3a)

II. Sự Trổi Hơn của Đấng Christ trên Các Thiên Sứ (1:3b-2:18) và Lời Cảnh Báo về Sự Bội Đạo (2:1-4)

III. Sự Trổi Hơn của Đấng Christ trên Môi-se (3:1-6) và Lời Cảnh Báo về Sự Bội Đạo (3:7-19)

IV. Sự Trổi Hơn của Đấng Christ trên Giô-suê (4:1-10) và Lời Cảnh Báo về Sự Bội Đạo (4:11-16)

V. Sự Trổi Hơn của Đấng Christ trên Dòng Dõi A-rôn (A-rôn và Các Hậu Duệ Thầy Tế Lễ dòng A-rôn) cùng Những Lời Cảnh Báo về Sự Bội Đạo (5:1-12:29)

  1. Sự cảm thông của Đấng Christ với loài người và sự bổ nhiệm thiên thượng vào chức tế lễ (5:1-10)
  2. Lời cảnh báo về sự bội đạo cùng lời khuyên giục phải trưởng thành (5:11-6:20)
  3. Hình mẫu Mên-chi-xê-đéc trong chức tế lễ của Đấng Christ (7:1-10)
  4. Tính tạm thời của chức tế lễ dòng A-rôn (7:11-28)
  5. Thực tại trên trời về chức tế lễ của Đấng Christ (8:1-10:18)
  6. Lời cảnh báo về sự bội đạo (10:19-39)
  7. Sự khích lệ từ các anh hùng đức tin trong Cựu Ước (11:1-40)
  8. Sự khích lệ từ gương mẫu của Đấng Christ (12:1-11)
  9. Lời cảnh báo về sự bội đạo với gương của Ê-sau (12:12-29)

VI. Những Lời Khuyên Thực Hành (13:1-19)

Phần Kết: Lời chào thăm, tin tức về việc Ti-mô-thê được thả, và lời chúc phước (13:20-25)

III. ĐỌC THƯ HÊ-BƠ-RƠ VỚI SỰ GIẢI THÍCH
#

3.1. Sự Trổi Hơn Các Tiên Tri
#

Đọc Hê-bơ-rơ 1:1-2:18.

Đấng Christ trổi hơn các tiên tri trong Cựu Ước vì Ngài là Con Đức Chúa Trời, là Đấng kế tự muôn vật, là Đấng Sáng Tạo, là hình ảnh chính xác của bản thể Đức Chúa Trời, là Đấng duy trì thế giới, là Đấng thanh tẩy tội lỗi, là Đấng được tôn cao - và vì thế, Ngài là lời cuối cùng và tốt nhất của Đức Chúa Trời cho nhân loại (Hê-bơ-rơ 1:1-3a).

3.2. Sự Trổi Hơn Các Thiên Sứ
#

Đấng Christ cũng trổi hơn các thiên sứ, là những đấng mà người Do Thái coi là các trung gian qua đó Đức Chúa Trời đã ban luật pháp Môi-se trên núi Si-na-i; vì Đấng Christ là Con của Đức Chúa Trời và là Đấng Tạo Hóa đời đời, còn các thiên sứ chỉ là tôi tớ và là những tạo vật (Hê-bơ-rơ 1:3b-2:18). Ngay cả việc Đấng Christ trở nên kém hơn các thiên sứ một chút qua sự nhập thể và sự chết cũng chỉ là tạm thời. Ngài đã phải trở nên một con người để hội đủ điều kiện làm Đấng mà qua cái chết của mình, có thể nâng nhân loại sa ngã lên phẩm giá mà Đức Chúa Trời đã tạo dựng cho họ ngay từ ban đầu. Vì hành động hy sinh đó, Đấng Christ đã nhận được vinh hiển lớn lao. Ở giữa phần thảo luận này có một lời khuyên giục đừng để mình bị trôi dạt khỏi đức tin Cơ Đốc (Hê-bơ-rơ 2:1-4).

"… luật pháp truyền bởi các thiên sứ …" (Công-vụ 7:53).

"… luật pháp được ban ra bởi mấy thiên sứ …" (Ga-la-ti 3:19).

3.3. Sự Trổi Hơn Môi-se
#

Đọc Hê-bơ-rơ 3:1-4:16.

Với tư cách là Con Đức Chúa Trời quản trị nhà của Ngài, Đấng Christ trổi hơn Môi-se, vốn chỉ là một tôi tớ trong nhà Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 3:1-6). Vì vậy, lời khuyên là hãy tránh chuốc lấy sự phán xét của Đức Chúa Trời do kết quả của lòng vô tín. Một tấm gương cảnh báo chính là thế hệ dân Y-sơ-ra-ên đã ra khỏi Ai Cập dưới thời Môi-se nhưng chết trong đồng vắng vì cơn giận của Đức Chúa Trời đối với sự phản nghịch của họ (3:7-19).

3.4. Sự Trổi Hơn Giô-suê
#

Đấng Christ trổi hơn Giô-suê; vì mặc dù Giô-suê đã đưa dân Y-sơ-ra-ên vào xứ Ca-na-an, nhưng Đấng Christ sẽ đưa những người tin Ngài vào nơi yên nghỉ đời đời trên trời, là nơi Đức Chúa Trời yên nghỉ khỏi công việc sáng tạo của Ngài (Hê-bơ-rơ 4:1-10). Rõ ràng là Giô-suê không đưa dân Y-sơ-ra-ên vào sự yên nghỉ thiên thượng này, vì rất lâu sau khi Giô-suê sống và qua đời, Đa-vít vẫn nói về nơi yên nghỉ của dân Y-sơ-ra-ên như là điều chưa đạt được (Thi-thiên 95:7-11).

Sự so sánh giữa Chúa Jesus và Giô-suê càng trở nên rõ nét hơn trong bản văn tiếng Hy Lạp vì tên Giô-suê trong tiếng Hê-bơ-rơ có dạng tiếng Hy Lạp tương ứng là Jesus. Nói cách khác, bản văn tiếng Hy Lạp không có sự phân biệt giữa tên của Giô-suê trong Cựu Ước và Chúa Jesus trong Tân Ước.

Tác giả giờ đây khuyên nhủ độc giả hãy vào sự yên nghỉ trên trời bằng cách giữ vững đức tin Cơ Đốc của mình (Hê-bơ-rơ 4:11-16). Sự nhấn mạnh sau đó về tính trọn vẹn đầy đủ của sự hy sinh của Chúa Jesus đã loại bỏ bất kỳ hàm ý nào cho rằng việc tiếp tục làm việc lành trong đời sống Cơ Đốc là để kiếm được sự cứu rỗi. Tuy nhiên, các việc lành và việc tránh sự bội đạo là cần thiết để chứng minh tính xác thực của sự xưng nhận đức tin Cơ Đốc. Chúng ta thấy trong 4:12 sự so sánh nổi tiếng về lời Đức Chúa Trời với thanh gươm hai lưỡi xuyên thấu và phơi bày phần sâu kín nhất của con người. Do đó, các Cơ Đốc nhân phải chứng minh rằng lời xưng nhận bề ngoài của họ bắt nguồn từ thực tại bên trong.

Đọc thêm: “SỰ YÊN NGHỈ”

Theo một cách giải thích khác, “sự yên nghỉ” mà Chúa Jesus dẫn các Cơ Đốc nhân vào không phải là sự yên nghỉ trên trời trong tương lai khỏi các việc lành của đời sống Cơ Đốc, mà là sự yên nghỉ thuộc linh hiện tại hoặc sự chấm dứt các công việc tự xưng công bình theo luật pháp, vì Đấng Christ đã hoàn tất sự cứu chuộc.

Tuy nhiên, lời cảnh báo liên quan chặt chẽ chống lại sự bội giáo, với những hậu quả nghiêm trọng của nó, và sự tương đồng giữa việc Đức Chúa Trời nghỉ ngơi khỏi công việc sáng tạo tốt lành của Ngài với việc chúng ta nghỉ ngơi khỏi công việc, cả hai đều ủng hộ cách giải thích đã đưa ra ở trên.

Theo một quan điểm khác nữa, sự yên nghỉ không phải là chính sự cứu rỗi (dù là hiện tại hay tương lai), mà là đời sống Cơ Đốc đắc thắng được điển hình hóa (typified) bởi cuộc chinh phục xứ Ca-na-an dưới thời Giô-suê. Nhưng cách giải thích này cũng có xu hướng làm đứt gãy mối liên hệ với sự tương đồng giữa sự nghỉ ngơi của Đức Chúa Trời và sự nghỉ ngơi của chúng ta.

3.5. Sự Trổi Hơn A-rôn
#

Đọc Hê-bơ-rơ 5:1-6:20.

Đấng Christ trổi hơn A-rôn và những người kế vị ông trong chức tế lễ (Hê-bơ-rơ 5:1-12:29). Trước tiên, tác giả thư Hê-bơ-rơ chỉ ra hai điểm tương đồng giữa các thầy tế lễ thuộc dòng dõi A-rôn và Đấng Christ:

  1. Giống như A-rôn, Đấng Christ được Đức Chúa Trời chỉ định vào chức tế lễ; và
  2. Bằng cách chia sẻ những kinh nghiệm làm người với nhân loại, Đấng Christ có một sự cảm thông đối với chúng ta ít nhất cũng bằng với A-rôn (5:1-10). Ví dụ nổi bật về cảm xúc con người của Chúa Jesus là sự tránh né cái chết theo bản năng của Ngài khi cầu nguyện tại vườn Ghết-sê-ma-nê.

Tiếp theo là một lời khuyên dài (5:11-6:20) kêu gọi các độc giả nguyên thủy hãy thoát khỏi tình trạng ấu trĩ về thuộc linh để tiến tới sự trưởng thành, bằng cách vượt lên trên những giáo lý sơ đẳng của đức tin Do Thái - vốn là nền tảng cho niềm tin Cơ Đốc, nhưng có được ý nghĩa mới trong bối cảnh Cơ Đốc của chúng. Thất bại trong sự tăng trưởng làm tăng nguy cơ bội đạo; và nếu một Cơ Đốc nhân bội đạo - nghĩa là cố ý và hoàn toàn chối bỏ Đấng Christ - thì mọi khả năng được cứu rỗi sẽ vĩnh viễn không còn nữa.

Tác giả mô tả độc giả của mình là những Cơ Đốc nhân dựa trên sự xưng nhận hiện tại của họ (ông không biết rõ lòng họ, nên còn cách nào khác để mô tả?), nhưng ông tiếp tục chỉ ra rằng sự bội đạo sẽ vừa chứng minh sự giả dối của lời xưng nhận đó, vừa chuốc lấy một sự phán xét không thể đảo ngược. Cần lưu ý rằng, sự bội đạo mang một ý nghĩa mạnh mẽ hơn nhiều so với sự không vâng lời tạm thời.

Dưới đây là các điểm về sự trổi hơn của Đấng Christ so với A-rôn:

  1. Đấng Christ trở nên thầy tế lễ bằng một lời thề của Đức Chúa Trời, nhưng dòng A-rôn thì không.
  2. Đấng Christ là đời đời, trong khi dòng A-rôn phải chết và cần có người kế vị.
  3. Đấng Christ vô tội, nhưng dòng A-rôn thì không.
  4. Các chức năng tế lễ của Đấng Christ liên quan đến các thực tại trên trời, còn chức năng của dòng A-rôn chỉ liên quan đến các biểu tượng trên đất.
  5. Đấng Christ tự nguyện dâng chính mình làm sinh tế không cần phải lặp lại, trong khi việc lặp lại các của lễ bằng động vật phơi bày sự bất lực của chúng trong việc cất tội lỗi.
  6. Chính Cựu Ước, được viết trong thời kỳ của chức tế lễ dòng A-rôn, đã báo trước một giao ước mới sẽ làm cho giao ước cũ (mà trong giao ước cũ đó, những người dòng A-rôn phục vụ) trở nên lỗi thời (Giê-rê-mi 31:31-34).

“Bấy giờ Chúa sẽ dấy lên một thầy tế lễ mới, là người mà mọi lời của Chúa sẽ được bày tỏ. … Và ngôi sao của Ngài sẽ mọc lên trên trời, như một vị vua [trỗi lên]… Và Ngài sẽ không có người kế vị trong suốt muôn đời. … Trong chức tế lễ của Ngài, mọi tội lỗi sẽ chấm dứt; và kẻ vô luật pháp sẽ ngừng làm điều ác. Nhưng người công chính sẽ yên nghỉ trong Ngài”

(Trích đoạn Testaments of the Twelve Patriarchs, “Levi” 18:1-14).

3.6. CHUYÊN KHẢO: Cuộc Tranh Luận Thần Học về Hê-bơ-rơ 6:1-12
#

Sự tranh luận về giải kinh đã diễn ra quyết liệt xung quanh lời cảnh báo trong Hê-bơ-rơ 6:1-12:

  1. Quan điểm cho rằng phân đoạn này dạy về khả năng kinh khiếp của việc một Cơ Đốc nhân chân chính có thể rơi trở lại tình trạng hư mất, thì phải đối diện với sự khó khăn trước lời khẳng định về sự không thể phục hồi (6:4), cũng như đi ngược lại với những phân đoạn Tân Ước đảm bảo cho các tín hữu, tức những người được chọn, về sự bảo đảm đời đời (Giăng 6:39-40; 10:27-29; Rô-ma 11:29; Phi-líp 1:6; 1 Phi-e-rơ 1:5; 1 Giăng 2:1), và chống lại toàn bộ giáo lý về sự tái sinh, theo đó một tín hữu đã trở nên một tạo vật mới trong Đấng Christ.

  2. Quan điểm muốn làm nhẹ đi sự không thể phục hồi bằng cách nói rằng sự không thể này chỉ kéo dài chừng nào kẻ bội đạo còn tiếp tục trong sự bội đạo, thì lại vấp phải lời khẳng định sau đó rằng Ê-sau “không tìm được cơ hội ăn năn dù ông khóc lóc tìm kiếm điều đó [phước lành]” (12:17).

  3. Quan điểm cho rằng tác giả thư Hê-bơ-rơ chỉ đặt ra một khả năng giả định hơn là thực tế sẽ cảm thấy bối rối trước sự lặp lại, tính nghiêm trọng, và sự khẩn thiết của lời cảnh báo này ở đây cũng như ở những chỗ khác trong thư Hê-bơ-rơ (đặc biệt là 10:26-31).

  4. Quan điểm làm giảm nhẹ mức độ nghiêm trọng của sự phán xét (từ việc mất sự cứu rỗi xuống thành việc mất phần thưởng, nhưng vẫn giữ được sự cứu rỗi tối thiểu, như trong 1 Cô-rinh-tô 3:12-15) đã đi ngược lại hàm ý của 6:9 rằng sự phán xét này là ngược lại với sự cứu rỗi: “Hỡi những kẻ yêu dấu, dầu chúng tôi nói như vậy, nhưng về phần anh em, chúng tôi trông đợi những điều tốt hơn, là những điều thuộc về sự cứu rỗi” (so sánh với 10:27: “chỉ có sự đợi chờ kinh khiếp về sự phán xét, và lửa hừng sẽ đốt cháy kẻ bội nghịch mà thôi”).

  5. Quan điểm coi lời cảnh báo này là dành cho những người gần như là Cơ Đốc nhân hơn là Cơ Đốc nhân thực thụ, thì phải tìm cách giảm thiểu sức mạnh của các cụm từ: “những kẻ đã được soi sáng một lần (so sánh 10:32; 2 Cô-rinh-tô 4:4, 6; 1 Phi-e-rơ 2:9 và nhiều chỗ khác), đã nếm sự ban cho từ trên trời (so sánh việc Đấng Christ nếm sự chết vì mọi người, Hê-bơ-rơ 2:9, chắc chắn là một kinh nghiệm trọn vẹn về cái chết), và dự phần về Đức Thánh Linh (so sánh việc Đấng Christ dự phần vào bản tính nhân loại, 2:14, chắc chắn không phải là một sự nhập thể một phần, mà là sự nhập thể trọn vẹn), nếm đạo lành của Đức Chúa Trời, và quyền năng của đời sau (so sánh 1 Phi-e-rơ 2:3]”. Quan điểm này cũng không giải thích được lời kêu gọi hướng tới sự trưởng thành thay vì sự quy đạo, lời cảnh báo chống lại sự bội đạo (6:6) thay vì thất bại trong bước đầu xưng nhận Đấng Christ, và cách xưng hô Cơ Đốc đặc trưng là “Hỡi những kẻ yêu dấu” (6:9; so sánh 10:30: “Chúa sẽ xét đoán dân Ngài”).

Có lẽ cách giải thích hứa hẹn nhất là coi lời cảnh báo này hướng trực tiếp đến các Cơ Đốc nhân đã tuyên xưng đức tin, với hàm ý rằng họ phải thể hiện sự xác thực của lời tuyên xưng bằng cách chịu đựng áp lực để không bội đạo. Trong khi những lời đảm bảo về sự an ninh đời đời giả định một sự tuyên xưng đức tin chân chính mà trong đó các thánh đồ bền đỗ giữ vững đức tin, thì những lời cảnh báo như thế này lại tính đến hiện tượng tuyên xưng đức tin giả tạo và thực tế rằng chỉ có Đức Chúa Trời mới biết trước sự khác biệt giữa lời tuyên xưng đức tin chân thật và giả tạo.

3.7. Sự Trổi Hơn Mên-chi-xê-đéc
#

Đọc Hê-bơ-rơ 7:1-10:18.

Dựa trên câu trong Thi-thiên 110:4 rằng vị vua Đấng Mê-si sẽ là thầy tế lễ theo hình mẫu Mên-chi-xê-đéc, tác giả thư Hê-bơ-rơ đã đưa ra một số điểm tương đồng giữa Đấng Christ và nhân vật đầy bí ẩn trong Cựu Ước này, là người mà Áp-ra-ham đã dâng một phần mười chiến lợi phẩm sau khi giải cứu Lót (Sáng-thế Ký 14:1-24):

  • Mên-chi-xê-đéc là thầy tế lễ của Đức Chúa Trời; Đấng Christ cũng vậy.

  • Tên Mên-chi-xê-đéc có nghĩa là “vua của sự công chính” (theo nghĩa đen, “vua tôi là công chính”); người mang tên đó là vua của “Sa-lem” (có lẽ là dạng rút gọn của “Giê-ru-sa-lem”), có nghĩa là “bình an” (theo nghĩa là phước hạnh thiên thượng đầy trọn); và sự công chính cùng bình an là những đặc điểm và kết quả từ chức vụ tế lễ của Đấng Christ.

  • Việc Cựu Ước không ghi chép gia phả của Mên-chi-xê-đéc, cũng như không có ký thuật về sự sinh ra hay sự chết của ông, đã điển hình hóa (typifies) cho sự đời đời của Đấng Christ với tư cách là Con Đức Chúa Trời, trái ngược với sự qua đời của tất cả các thầy tế lễ dòng A-rôn.

  • Sự trổi hơn của Đấng Christ trên A-rôn còn được biểu tượng hóa qua việc Mên-chi-xê-đéc nhận một phần mười chiến lợi phẩm từ Áp-ra-ham, là tổ phụ của A-rôn. Sự liên đới với tổ tiên được mặc nhiên thừa nhận ở đây.

  • Sự trổi hơn tương tự lại xuất hiện trong việc Mên-chi-xê-đéc chúc phước cho Áp-ra-ham, chứ không phải ngược lại; vì người cao trọng hơn chúc phước cho người thấp hơn.

Đọc thêm: HAI ĐOẠN CỰU ƯỚC NHẮC ĐẾN MÊN-CHI-XÊ-ĐÉC

“Mên-chi-xê-đéc, vua Sa-lem, sai đem bánh và rượu ra. Vả, vua nầy là thầy tế lễ của Đức Chúa Trời Chí Cao, chúc phước cho Áp-ram … Đoạn, Áp-ram lấy một phần mười tất cả chiến lợi phẩm mà dâng cho vua đó.”

(Sáng-thế Ký 14:18-20)

“Đức Giê-hô-va đã thề, không hề đổi ý, rằng:
Ngươi là thầy tế lễ đời đời,
Tùy theo ban Mên-chi-xê-đéc’”

(Thi-thiên 110:4).

Đọc thêm: MỘT ĐOẠN TRONG CUỘN BIỂN CHẾT NHẮC ĐẾN MÊN-CHI-XÊ-ĐÉC

“Như Ê-sai đã nói: ‘Để rao sự tự do cho kẻ bị giam cầm’ [Ê-sai 61:1]. … Mên-chi-xê-đéc … sẽ khiến họ trở về. Người sẽ rao sự tự do cho họ để giải thoát họ khỏi món nợ của mọi tội lỗi họ. … Và sau năm hân hỉ thứ mười sẽ là Ngày Lễ Chuộc Tội, khi sự chuộc tội sẽ được thực hiện cho tất cả các Con Trai của Sự Sáng, tức là cho dân đã được tiền định cho Mên-chi-xê-đéc. … Vì đây sẽ là thời điểm cho ’năm ân huệ của Mên-chi-xê-đéc’ … Nhưng [chống lại kẻ ác] Mên-chi-xê-đéc sẽ thi hành sự báo thù theo sự phán xét của Đức Chúa Trời đòi hỏi”

(Trích đoạn Melchizedek Text 1-26).

3.8. Các Lời Khuyên Bảo và Chào Thăm
#

Đọc Hê-bơ-rơ 10:19-13:25.

Thư Hê-bơ-rơ kết thúc với một phần khuyên bảo dài và những lời chào thăm cuối cùng (Hê-bơ-rơ 10:19-13:25). Tác giả thúc giục độc giả hãy sử dụng phương cách ưu việt hơn để đến gần Đức Chúa Trời qua Đấng Christ, thay vì phương cách Cựu Ước đã lỗi thời, đặc biệt là trong việc nhóm lại thờ phượng chung mà họ đang chểnh mảng (10:19-25). Ông cảnh báo họ một lần nữa, như trong chương 6, về sự phán xét khủng khiếp giáng trên những ai cố tình và hoàn toàn chối bỏ lời xưng nhận đức tin Cơ Đốc của mình; nhưng ông cũng bày tỏ sự tin cậy rằng, dựa trên sự chịu đựng bắt bớ trước đây của họ, rằng họ sẽ không sa vào sự bội đạo (10:23-31).

Sau đó, ông khích lệ họ tiếp tục giữ lòng bền đỗ bằng cách trưng dẫn các tấm gương là các anh hùng đức tin trong Cựu Ước, bằng cách kết nối độc giả với những nhân vật đó, và cuối cùng bằng cách nêu Chúa Jesus như là gương mẫu kiệt xuất nhất về sự nhịn nhục chịu khổ và cuối cùng nhận được phần thưởng (10:32-12:3). Sự đau khổ là sự rèn tập tốt lành và là dấu hiệu của địa vị làm con (12:4-13). Ê-sau trở thành một tấm gương cảnh báo về kẻ bội đạo vô tín (12:14-17).

Cuối cùng, tác giả nhấn mạnh lại sự trổi hơn của giao ước mới dựa trên huyết của Đấng Christ (12:18-29), và khuyên giục độc giả hãy giữ lòng yêu thương anh em, sự tiếp khách (đặc biệt cần thiết vào thời đó cho những nhà truyền đạo lưu động), sự cảm thông, tình dục lành mạnh và đạo đức trong hôn nhân, tránh sự tham lam, noi gương các lãnh đạo tin kính trong Hội Thánh, tránh giáo lý sai lạc, chấp nhận sự bắt bớ, sự tạ ơn, lòng rộng rãi, vâng phục các lãnh đạo thuộc linh, và sự cầu nguyện.

Chương 11 đôi khi được coi là chương vĩ đại về đức tin trong Tân Ước, cũng như 1 Cô-rinh-tô 13 được coi là chương vĩ đại về tình yêu thương và 1 Cô-rinh-tô 15 là chương vĩ đại về sự sống lại.

TÓM LƯỢC
#

Chúng ta không biết ai đã viết thư Hê-bơ-rơ. Tác giả viết ẩn danh nhưng thể hiện ảnh hưởng thần học từ Phao-lô. Bức thư dường như được viết cho các Cơ Đốc nhân người Do Thái tại Ý, có lẽ là ở thành Rô-ma, là những người đã phải chịu bắt bớ nhưng đang sao lãng việc nhóm họp với các tín hữu Cơ Đốc khác, có lẽ để che giấu danh tính là Cơ Đốc nhân của mình.

Tác giả thư Hê-bơ-rơ lo sợ họ sẽ bội đạo để quay trở lại đức tin Do Thái trước đây của họ; vì vậy, ông cảnh báo rằng sự bội đạo sẽ chuốc lấy sự đoán phạt của Đức Chúa Trời và nhấn mạnh sự trổi hơn của Chúa Jesus trên các tiên tri trong Cựu Ước, trên các thiên sứ mà người Do Thái tin rằng qua họ Đức Chúa Trời đã ban luật pháp Môi-se, trên chính Môi-se, trên Giô-suê, và trên A-rôn cùng dòng dõi thầy tế lễ của ông. Sự nhấn mạnh đặc biệt đặt vào sự cảm thông với nhân loại, sự chỉ định của Đức Chúa Trời, tính đời đời, địa điểm trên trời, và sự tương đồng với Mên-chi-xê-đéc của Đấng Christ - tất cả nằm trong bức chân dung về Đấng Christ là thầy tế lễ thượng phẩm vĩ đại của chúng ta.

“Và họ bắt Ê-sai, là con trai A-mốt, và cưa ông ra làm hai bằng một cái cưa gỗ. … Và trong khi Ê-sai đang bị cưa làm đôi, ông không kêu la hay khóc lóc; nhưng miệng ông nói bởi Đức Thánh Linh cho đến khi ông bị cưa làm hai”

(Trích đoạn Martyrdom and Ascension of Isaiah 5:1-16).