Các Thư Tín Chung (Catholic Espitles)
Thuật ngữ “catholic” (nghĩa là “chung, phổ quát”) đã được Hội Thánh thời ban đầu dùng để gọi nhóm các thư Gia-cơ, 1-2 Phi-e-rơ, 1-3 Giăng và Giu-đe. Lý do là vì những lá thư này (ngoại trừ 2-3 Giăng) không có dấu hiệu giới hạn đối tượng nhận thư trong một địa phương duy nhất. Theo truyền thống, các bức thư này có tựa đề được đặt theo tên tác giả của chúng (giống như các sách Phúc âm), thay vì đặt theo tên người nhận như các thư của Phao-lô hay thư Hê-bơ-rơ.
I. THƯ GIA-CƠ: SỰ CỨU RỖI BỞI VIỆC LÀM#
1.1. Các Vấn Đề Dẫn Nhập#
Thư Gia-cơ là sách ít mang tính giáo lý nhất nhưng lại mang tính thực hành cao nhất trong Tân Ước. Vậy nên, chúng ta đang tìm hiểu về một cuốn cẩm nang về lối sống Cơ Đốc được xây dựng trên nền tảng của đức tin.
a. Tác Giả#
Bức thư này mang tên của tác giả, Gia-cơ (tiếng Hy Lạp của tên Hê-bơ-rơ “Gia-cốp”), là một lãnh đạo trong Hội Thánh đầu tiên tại Giê-ru-sa-lem (Công-vụ 15:12-21; 21:18; Ga-la-ti 2:9, 12) và thường được xác định là em trai của Chúa Jesus, nhưng chỉ là em cùng mẹ sinh ra vì Chúa Jesus giáng sinh bởi nữ đồng trinh. Tuy nhiên, có khả năng Gia-cơ là anh trai của Chúa Jesus, vì có thể Gia-cơ là con riêng của Giô-sép từ một cuộc hôn nhân giả định đã có trước khi Giô-sép kết hôn với Ma-ri. Quan điểm này, loại trừ mọi mối quan hệ huyết thống với Chúa Jesus, có thể giải thích rõ hơn lý do tại sao các anh em của Chúa Jesus không tin Ngài khi Ngài còn sống (Mác 3:21; Giăng 7:2-8). Theo giả thuyết đó, việc các anh em của Chúa Jesus thiếu quan tâm đến Ma-ri, vì bà chỉ là mẹ kế của họ, cũng có thể giải thích rõ hơn tại sao Chúa Jesus, khi đang bị treo trên thập tự giá, lại giao phó mẹ mình cho môn đồ yêu dấu (Giăng 19:25-27). Nhưng lý do cũng có thể là vì việc tin theo Chúa Jesus của Ma-ri đã khiến bà bị những đứa con khác, là những người vẫn chưa tin Chúa Jesus, xa lánh.
Để bảo vệ giáo lý về sự đồng trinh trọn đời của bà Ma-ri, quan điểm truyền thống của Công giáo La Mã cho rằng “anh em” ở đây có nghĩa là “anh em họ”. Tuy nhiên, mối liên hệ giữa Chúa Jesus và các anh em của Ngài trong Ma-thi-ơ 13:55; Mác 6:3; và Giăng 2:12; 7:2-10 ngụ ý một mối quan hệ gần gũi hơn là anh em họ, và có lẽ cũng gần gũi hơn là anh em cùng cha khác mẹ. Do đó, quan điểm cho rằng Gia-cơ - người viết bức thư này - là em cùng mẹ của Chúa Jesus vẫn là điều có khả năng cao nhất.
Dù không phải là người tin Chúa Jesus trong suốt thời gian Ngài thi hành mục vụ công khai, Gia-cơ đã nhìn thấy Đấng Christ Phục sinh (1 Cô-rinh-tô 15:7) và nằm trong số những người chờ đợi Đức Thánh Linh giáng lâm trong ngày Lễ Ngũ Tuần (Công-vụ 1:14). Vì vậy, Gia-cơ (và các em khác của Chúa Jesus) hẳn đã tin nhận Chúa vào giai đoạn cuối cùng khi Ngài còn ở thế gian. Mặc dù bản thân Gia-cơ tuân thủ luật pháp Môi-se rất cẩn thận (Công-vụ 21:17-26; Ga-la-ti 2:12), tại Hội nghị Giê-ru-sa-lem, ông đã ủng hộ quan điểm của Phao-lô rằng những người ngoại bang mới cải đạo không bắt buộc phải tuân giữ luật pháp (Công-vụ 15:12-21; so sánh Ga-la-ti 2:1-10).
Đọc thêm: NHỮNG NGƯỜI TÊN GIA-CƠ TRONG TÂN ƯỚC
- Gia-cơ em Chúa Jesus
- Gia-cơ, là con trai của Xê-bê-đê, một trong mười hai sứ đồ, anh của sứ đồ Giăng, và đã tử đạo rất sớm (vào năm 44; Công-vụ 12:2) đến nỗi không có khả năng ông viết thư Gia-cơ.
- Gia-cơ, là con trai của A-phê và là một trong mười hai sứ đồ.
- Gia-cơ, là cha của Giu-đa (không phải Giu-đa Ích-ca-ri-ốt).
Một số người còn thêm vào một Gia-cơ khác, là con trai của một bà Ma-ri khác với mẹ Chúa Jesus. Giọng điệu đầy thẩm quyền trong thư Gia-cơ khiến cho việc tác giả nếu là một trong những người có tên Gia-cơ nhưng ít được biết đến hơn (chẳng hạn như con trai của A-phê hoặc cha của Giu-đa) trở nên khó khả thi.
“Gia-cơ, em trai của Chúa, … đã được mọi người gọi là Người Công Chính từ thời Đấng Cứu Thế của chúng ta cho đến ngày nay; vì có nhiều người mang tên Gia-cơ. Ông đã nên thánh từ trong lòng mẹ; ông không uống rượu nho hay thức uống say; ông cũng không ăn thịt. Dao cạo không hề chạm đến đầu ông. Ông không xức dầu cho mình, và ông cũng không dùng phòng tắm… Và ông có thói quen vào đền thờ một mình, và thường được thấy đang quỳ gối cầu xin sự tha thứ cho dân chúng, đến nỗi đầu gối ông trở nên chai cứng như đầu gối lạc đà.”
(Hegesippus theo Eusebius, Church History 2.23.4-6).
b. Tính Do Thái#
Nội dung của thư Gia-cơ và âm hưởng Do Thái của nó, đặc biệt là sự nhấn mạnh vào luật pháp của Đức Chúa Trời, rất hài hòa với những gì chúng ta biết về Gia-cơ, em của Chúa Jesus, từ sách Công-vụ, Ga-la-ti và các nguồn khác.
Mặc dù thường bị che khuất bởi các bản dịch tiếng Việt khác nhau, vẫn có những điểm tương đồng đáng kể về từ vựng giữa thư Gia-cơ và lời nói của Gia-cơ trong Công-vụ 15, chẳng hạn như:
- Thuật ngữ “chào thăm” (tiếng Hy Lạp: chairein, chỉ được dùng ở đầu thư trong Gia-cơ 1:1 và Công-vụ 15:23 - sắc lệnh được soạn thảo dưới sự lãnh đạo của Gia-cơ).
- Thuật ngữ “thăm viếng” (tiếng Hy Lạp: episkepsesthai, được dùng trong Gia-cơ 1:27 và Công-vụ 15:14 - bài phát biểu của Gia-cơ trước Hội Nghị Giê-ru-sa-lem).
- Và các từ ngữ khác (so sánh Gia-cơ 2:5, 7 với Công vụ 15:13, 17).
Những người coi bức thư này là một tác phẩm giả danh vào cuối thế kỷ thứ nhất hoặc đầu thế kỷ thứ hai lập luận rằng một người xuất thân từ Ga-li-lê bình dân như Gia-cơ không thể viết được thứ tiếng Hy Lạp trau chuốt như vậy. Tuy nhiên, sự phản đối này đã đánh giá quá cao chất lượng văn học của văn phong Hy Lạp trong thư Gia-cơ, và quan trọng hơn, đã không xem xét các bằng chứng ngày càng gia tăng cho thấy người Do Thái ở Palestine thời đó biết và sử dụng tiếng Hy Lạp song song với tiếng A-ram và tiếng Hê-bơ-rơ.
c. Tính Quy Điển#
Thư Gia-cơ đã gặp một số khó khăn trong việc được công nhận vào quy điển Kinh Thánh. Một số yếu tố giải thích sự do dự của Hội Thánh đầu tiên: sự ngắn gọn của bức thư; có tính thực hành chiếm ưu thế hơn là giáo lý; và đối tượng nhận thư bị giới hạn cho các Cơ Đốc nhân người Do Thái - tất cả những điều này chắc chắn đã làm chậm lại quá trình lưu hành rộng rãi của nó. Sự không chắc chắn về danh tính của Gia-cơ trong 1:1 (vì có nhiều người mang tên Gia-cơ trong Tân Ước) cũng gây ra nghi ngờ ban đầu về tính quy điển của bức thư.
Theo những gì chúng ta biết, ấn tượng sai lầm (như Martin Luther và một số người khác từng nêu ra) cho rằng giáo lý về việc làm trong thư Gia-cơ mâu thuẫn với giáo lý về đức tin của Phao-lô dường như không gây ra sự xáo trộn nghiêm trọng nào cho Hội Thánh thời ban đầu. Khi người ta nhận ra rằng tác giả gần như chắc chắn là Gia-cơ - em của Chúa Jesus, kết luận cuối cùng đã ủng hộ việc công nhận thư này là một phần của Tân Ước.
“Phúc Âm theo Thánh Giăng và bức thư thứ nhất của Ngài, các thư tín của Thánh Phao-lô, đặc biệt là những thư gửi cho người Rô-ma, Ga-la-ti, Ê-phê-sô, và bức thư thứ nhất của Thánh Phi-e-rơ - đây là những sách bày tỏ Đấng Christ cho bạn và dạy bạn mọi điều cần thiết và phước hạnh để bạn biết, ngay cả khi bạn không bao giờ thấy hay nghe bất kỳ sách hay giáo lý nào khác. Do đó, bức thư của Thánh Gia-cơ thực sự là một bức thư rơm rác so với chúng, vì nó không có đặc tính phúc âm nào trong đó. Vì vậy, tôi sẽ không xếp nó vào số những sách chính yếu trong Kinh Thánh của tôi, nhưng tôi không có ý ngăn cấm bất kỳ ai đặt để và tôn cao nó theo ý họ, vì trong đó có nhiều lời dạy tốt lành.”
(Martin Luther trong lời giới thiệu ấn bản đầu tiên của Tân Ước tiếng Đức, tháng 9 năm 1522).
d. Đối Tượng Nhận Thư#
Gia-cơ viết cho “mười hai chi phái đang tan lạc” (Gia-cơ 1:1). Cách gọi này có thể được hiểu theo nghĩa bóng, như trong 1 Phi-e-rơ 1:1, để chỉ Hội Thánh với đa số là người ngoại bang tản lạc khắp Đế quốc La Mã. Tuy nhiên, trong thư Gia-cơ, danh xưng này có khả năng cao là chỉ về các Cơ Đốc nhân người Do Thái sống bên ngoài xứ Palestine, được củng cố bởi các chi tiết sau:
- Sự cụ thể khi nhắc đến “mười hai chi phái”
- Việc sử dụng từ Hy Lạp chỉ “nhà hội” trong 2:2, thường được dịch theo nghĩa thông thường là “buổi nhóm” hoặc “hội chúng”.
- Năm lần trích dẫn và nhiều lần ám chỉ đến Cựu Ước
- Các thành ngữ Do Thái, chẳng hạn như “Chúa các cơ binh” (5:4)
- Sự nhấn mạnh vào một số nguyên tắc vĩnh viễn của luật pháp Do Thái (2:8-13; 4:11-12) và vào giáo lý độc thần (2:19)
- Không có bất kỳ sự luận chiến nào chống lại việc thờ thần tượng, vì việc thờ thần tượng không phải là đặc điểm của người Do Thái trong thế kỷ thứ nhất (đã không còn là đặc điểm của họ kể từ sau cuộc lưu đày Ba-by-lôn), nhưng lại được thực hành phổ biến bởi dân ngoại.
Đọc thêm: MỘT ĐOẠN THƠ TỪ BÀI THÁNH CA CỦA MARTIN LUTHER, “CHÚA LÀ THÀNH LŨY KIÊN CỐ CỦA CHÚNG TÔI”
Ví bằng ta cậy sức mình, Ắt nỗ lực sẽ thất bại, Nếu không có Đấng Công Chính ở bên ta, Là Người được chính Đức Chúa Trời lựa chọn. Bạn hỏi ai là Đấng đó chăng? Ấy là Chúa Jesus Christ, chính Ngài - Danh Ngài là Chúa Vạn Quân [Sabaoth], Từ đời nọ đến đời kia vẫn vậy, Và Ngài chắc chắn đắc thắng trong cuộc chiến.
Ghi chú: “Sabaoth” là tiếng Hê-bơ-rơ có nghĩa là “vạn quân”, và trong ngữ cảnh này chỉ về đạo quân thiên sứ của Chúa. Vì vậy, cả Luther và Gia-cơ (trong Gia-cơ 5:4) đều sử dụng thuật ngữ này để đảm bảo với dân sự bị bách hại của Đức Chúa Trời rằng Ngài sẽ chiến thắng những kẻ áp bức họ bằng đội quân thiên đàng.
e. Niên Đại#
Sử gia Josephus xác định sự tử đạo của Gia-cơ là vào năm 62; vì vậy, thư Gia-cơ phải được viết trước thời điểm đó. Một số học giả đưa ra các lập luận cho rằng thư có niên đại rất sớm (khoảng năm 45-50), đến nỗi bức thư có thể được coi là sách Tân Ước đầu tiên được viết.
Ví dụ, việc không có bất kỳ đề cập nào đến cuộc tranh luận về vấn đề Do Thái hóa (Judaizing controversy) cho thấy bức thư ra đời trước khi cuộc tranh luận đó nổ ra (ngay trước Hội nghị Giê-ru-sa-lem vào năm 49); và giọng điệu đậm chất Do Thái của bức thư được cho là ngụ ý nó ra đời trước khi Cơ Đốc giáo mở rộng sang dân ngoại. Tuy nhiên, việc giới hạn đối tượng nhận thư là Cơ Đốc nhân người Do Thái và quan điểm Do Thái mạnh mẽ của chính Gia-cơ có thể giải thích cho cả hai hiện tượng này. Do đó, chúng ta nên hài lòng với một niên đại không xác định trước năm Gia-cơ tử đạo.
Đọc thêm: VỀ SỰ TỬ ĐẠO CỦA GIA-CƠ, EM CỦA CHÚA
“Và vì vậy, ông ta [Ananus - thầy tế lễ thượng phẩm] triệu tập các thẩm phán của Tòa Công Luận và đem ra trước mặt họ một người tên là Gia-cơ, là em của Chúa Jesus - người được gọi là Đấng Christ, và một số người khác. Ông ta buộc tội họ đã vi phạm luật pháp và giao họ để bị ném đá. Những cư dân trong thành [Giê-ru-sa-lem], là những người được coi là công tâm nhất và nghiêm ngặt trong việc tuân giữ luật pháp, đã phẫn nộ vì điều này.”
(Josephus, Jewish Antiquities 20.9.1 §200-201).
“Vậy, họ đi lên và ném [từ ’nóc đền thờ’] người công chính đó xuống và nói với nhau, ‘Chúng ta hãy ném đá Gia-cơ Người Công Chính.’ Và họ bắt đầu ném đá ông, vì cú ngã không giết chết được ông … Và một người trong số họ, một thợ giặt, đã cầm cái vồ mà ông ta dùng để đập quần áo và đánh vào đầu người công chính. Và như vậy, ông đã tử đạo.”
(Hegesippus theo Eusebius, Church History 2.23.16-18).
f. Những Ám Chỉ Đến Lời Phán của Chúa Jesus#
Đáng chú ý, thư Gia-cơ chứa đựng nhiều ám chỉ đến những câu nói của Chúa Jesus được ghi lại trong các sách Phúc âm, đặc biệt là các nội dung liên quan đến Bài Giảng Trên Núi. Ví dụ, sự tương phản trong Gia-cơ 1:22 giữa người nghe và người làm theo lời gợi nhắc đến ẩn dụ về người khôn ngoan, xây nhà trên nền đá vững chắc bằng cách nghe và làm theo lời Chúa Jesus, và người dại dột, xây nhà trên cát khi chỉ nghe mà không làm theo lời Ngài (Ma-thi-ơ 7:24-27; Lu-ca 6:47-49).
1.2. Đọc Thư Gia-cơ với Sự Giải Thích#
CÁC CHỦ ĐỀ
Rất khó để lập một bố cục chi tiết cho thư Gia-cơ. Một mặt, lá thư có phong cách tản mạn và giáo huấn đạo đức giống như sách Châm-ngôn và các văn chương khôn ngoan khác. Mặt khác, các lời huấn thị của nó lại được truyền tải với ngọn lửa và sự nhiệt thành của một bài giảng mang tính tiên tri. Sau lời chào ban đầu (Gia-cơ 1:1), chúng ta chỉ có thể liệt kê một loạt các lời khuyên bảo thực tế về nhiều chủ đề khác nhau liên quan đến cách cư xử của Cơ Đốc nhân trong các buổi nhóm họp của Hội Thánh và đời sống thường nhật:
Vui mừng trong thử thách (1:2-4).
Cầu xin Đức Chúa Trời ban sự khôn ngoan với sự tin cậy (1:5-8).
Đừng ham muốn sự giàu sang (1:9-11).
Phân biệt giữa thử thách (đến từ Đức Chúa Trời) và cám dỗ (đến từ tư dục của con người), vì Đức Chúa Trời chỉ ban cho của tốt lành (1:12-18).
Hãy là người làm theo lời Chúa trong lời nói và hành động, chứ không chỉ nghe suông (1:19-27).
Đừng thiên vị người giàu, nhưng hãy yêu thương mọi người bình đẳng và như chính mình (2:1-13). Giống như trong Cựu Ước, sự nhấn mạnh vào “người giàu” ở đây nhắm vào sự ngược đãi độc ác của họ đối với người công chính, cũng như vào tài sản của họ. Tương tự, “người nghèo” thường có nghĩa là “người tin kính và bị bắt bớ” cũng như “người túng ngặt”.
Chứng minh sự chân thật của đức tin bằng những việc làm tốt lành (2:14-26). Gia-cơ viết về sự xưng công bình bởi việc làm trước mặt con người, là những người cần bằng chứng bên ngoài, vì họ không thể nhìn thấy trong lòng. Ông không mâu thuẫn với Phao-lô, là người viết về sự xưng công bình bởi đức tin trước mặt Đức Chúa Trời - Đấng không cần bằng chứng bên ngoài, vì Ngài có thể nhìn thấy trong lòng. Một số học giả cho rằng Gia-cơ viết thư này vào lúc cuối đời, lập luận rằng ông đang sửa chữa sự xuyên tạc giáo lý về sự xưng công bình bởi đức tin của Phao-lô theo hướng sống buông thả và chống luật pháp (antinomianism). Những người khác, do không nhận thấy rằng Gia-cơ và Phao-lô bổ sung cho nhau (Phao-lô cũng nhấn mạnh việc làm tốt lành là kết quả của đức tin thật), cho rằng Gia-cơ hoặc một người giả danh sau này đang tấn công, không chỉ sự xuyên tạc giáo lý của Phao-lô, mà chính giáo lý của Phao-lô.
Thể hiện những đặc điểm của sự khôn ngoan thật cần có ở các giáo sư Cơ Đốc: kiểm soát lưỡi (lời nói); nhu mì (tránh gây gổ); và tinh sạch (tránh thế tục) (3:1-4:10).
Đừng nói xấu lẫn nhau (4:11-12).
Đừng lập kế hoạch cách quá tự tin mà không tính đến ý muốn của Đức Chúa Trời và khả năng phải chết (4:13-17).
Hãy kiên nhẫn cho đến khi Chúa Jesus trở lại, vì lúc đó Đức Chúa Trời sẽ trừng phạt những kẻ giàu có và quyền thế đã bắt bớ bạn (5:1-11).
Đừng thề thốt, nhưng hãy nói cách thẳng thắn và trung thực (5:12).
Chia sẻ nỗi lo và niềm vui với nhau (5:13-18). Đặc biệt, hãy để các trưởng lão Hội Thánh cầu nguyện bằng đức tin cho sự chữa lành người bệnh và xức dầu cho người bệnh nhân danh Chúa. Nếu một người bệnh đã phạm tội và xưng nhận, sự chữa lành sẽ chứng tỏ rằng Đức Chúa Trời đã tha thứ. (Điều ngược lại - rằng bệnh tật luôn là sự sửa phạt trực tiếp cho tội lỗi và việc không bình phục luôn ngụ ý Đức Chúa Trời không tha thứ - là suy luận không hợp lý). Dầu ô-liu là một phương thuốc gia đình phổ biến thời đó. Ví dụ, người Sa-ma-ri nhân lành đã đổ “dầu và rượu” lên vết thương của một lữ khách bị cướp dọc đường (Lu-ca 10:34). Vì vậy, Gia-cơ có thể đã nghĩ đến các đặc tính y học của dầu ô-liu, như thể nói rằng, “Hãy chữa trị bằng thuốc men và cầu nguyện cho sự bình phục.” Mệnh lệnh xức dầu là cơ sở cho bí tích Xức Dầu Người Bệnh (Extreme Unction) của Công Giáo La Mã, trong đó một linh mục xức dầu trên mắt, tai, mũi, tay, và chân của một người sắp chết như một phương tiện để người đó được tha tội, nếu người đó không còn có thể xưng tội một cách có ý thức để nhận lời xá giải từ linh mục. Nhưng Gia-cơ nói về “các trưởng lão”, không phải linh mục. Ông cũng không nói đến những người đang trong cơn hấp hối. Tương tự, mệnh lệnh, “Hãy xưng tội cùng nhau” (5:16), là một câu Kinh Thánh bị sử dụng làm cho bí tích Giải Tội (Auricular Confession) của Công Giáo La Mã. Nhưng Gia-cơ viết “cùng nhau” và có thể đang đề cập đến việc giải quyết những bất hòa giữa các Cơ Đốc nhân, hơn là phơi bày những tội lỗi riêng tư của một người cho linh mục hoặc cho toàn thể Hội Thánh.
Giữ cho những người đã tuyên xưng đức tin Cơ Đốc khỏi sự bội đạo và gánh lấy sự phán xét đời đời (5:19-20). Những tội nhân cần được đưa trở lại từ con đường lầm lạc là những Cơ Đốc nhân đang có xu hướng bội đạo. Sự chết của linh hồn họ có nghĩa là sự chết đời đời, nếu họ bội đạo (xem phần giải thích liên quan đến sự bội đạo trong thư Hê-bơ-rơ, chương 16). Và “che đậy vô số tội lỗi” có nghĩa là sự tha thứ của Đức Chúa Trời dành cho tội lỗi của những người lầm lạc, khi những người khác đã giúp họ ăn năn.
“Áp-ra-ham đã chẳng được thấy là trung tín khi bị thử thách, và điều đó đã được kể là công bình cho ông sao?” (1 Maccabees 2:52).
II. THƯ 1 PHI-E-RƠ: SỰ CỨU RỖI VÀ SỰ CHỊU KHỔ#
2.1. Các Vấn Đề Dẫn Nhập#
a. Chủ Đề#
Đối tượng mà bức thư này hướng tới ban đầu là những người đang phải chịu đựng sự bách hại. Do đó, trọng tâm của thư nhấn mạnh vào cách ứng xử đúng đắn của Cơ Đốc nhân khi đối mặt với sự thù địch chống lại Cơ Đốc giáo, và về món quà đền bù là sự cứu rỗi sẽ được hoàn tất trong tương lai.
b. Tác Giả#
Tác giả tự giới thiệu mình là Phi-e-rơ (1 Phi-e-rơ 1:1). Sự xác nhận này phù hợp một cách đáng chú ý với hai hiện tượng:
- Một số cụm từ trong 1 Phi-e-rơ gợi nhắc đến cách dùng từ trong các bài giảng của Phi-e-rơ được ghi lại trong sách Công-vụ.
- Những ám chỉ đến lời dạy và việc làm của Chúa Jesus trong các sách Phúc âm thường đến từ những câu chuyện mà Phi-e-rơ đóng vai trò đặc biệt, hoặc từ những lời dạy mà ông sẽ đặc biệt quan tâm.
Vì vậy, mặc dù một số học giả hiện đại đưa ra giả thuyết rằng thư 1 Phi-e-rơ vốn là một bài giảng cho nghi thức Báp-têm hoặc phụng vụ (1:3-4:11) được chuyển đổi thành dạng thư bằng cách thêm vào các đoạn 1:1-2 và 4:12-5:14 (và do đó có thể không phải do Phi-e-rơ viết), chúng ta nên đồng ý với tuyên bố của chính bức thư rằng nó được viết bởi sứ đồ Phi-e-rơ - một khẳng định được ủng hộ bởi truyền thống Hội thánh thời ban đầu.
Đọc thêm: VÍ DỤ VỀ CÁCH DÙNG TỪ TƯƠNG TỰ TRONG THƯ 1 PHI-E-RƠ VÀ CÁC BÀI GIẢNG CỦA PHI-E-RƠ TRONG SÁCH CÔNG VỤ
| 1 Phi-e-rơ | Công Vụ Các Sứ Đồ |
|---|---|
| “… anh em đã được chuộc … bởi huyết báu của Đấng Christ … đã định sẵn trước buổi sáng thế” (1 Phi-e-rơ 1:18-20). | “Người đó [Chúa Jesus] bị nộp theo ý định trước và sự biết trước của Đức Chúa Trời; và các ngươi … đã giết đi” (Công-vụ 2:23). |
| “Ngài gánh tội lỗi chúng ta trong thân thể Ngài trên cây gỗ” (1 Phi-e-rơ 2:24). | “… là Đấng mà các ông đã treo trên cây gỗ và giết đi” (Công-vụ 5:30; tương tự 10:39). |
| “… họ sẽ khai trình với Đấng đã sẵn sàng xét đoán kẻ sống và kẻ chết” (1 Phi-e-rơ 4:5). | “… Ngài là Đấng được Đức Chúa Trời cđã lập lên để đoán xét kẻ sống và kẻ chết” (Công-vụ 10:42). |
Đọc thêm: VÍ DỤ VỀ SỰ ÁM CHỈ ĐẾN LỜI DẠY CỦA CHÚA JESUS LIÊN QUAN ĐẾN PHI-E-RƠ
“Vì cớ Chúa, hãy phục theo mọi phép tắc loài người lập lên, hoặc vua, như đấng rất cao, hoặc các quan, như người vua sai ra để phạt kẻ làm dữ và khen người làm lành. Vì anh em làm điều lành để ngăn miệng những kẻ ngu muội dại dột, ấy là ý muốn của Đức Chúa Trời. Hãy ăn ở như người tự do, nhưng chớ dùng tự do làm cái màn che sự hung ác, song phải coi mình là tôi mọi Đức Chúa Trời. Hãy kính mọi người; yêu anh em; kính sợ Đức Chúa Trời; tôn trọng vua.” (1 Phi-e-rơ 2:13-17)
So sánh với:
“Phi-e-rơ trả lời rằng: Có. Và khi Phi-e-rơ vào nhà, thì Đức Chúa Jêsus hỏi đón trước rằng: Hỡi Si-môn, ngươi nghĩ sao? Các vua thế gian thâu lương lấy thuế ai? Thâu của con trai mình hay là của người ngoài? Phi-e-rơ thưa rằng: Người ngoài. Ngài phán rằng: Vậy thì các con trai được miễn thuế! Song le, để chúng ta khỏi làm gương xấu cho họ, thì ngươi hãy ra biển câu cá, bắt lấy con cá nào dính câu trước hết, banh miệng nó ra, sẽ thấy một đồng bạc ở trong. Hãy lấy đồng bạc đó, và đem nộp thuế cho ta với ngươi.” (Ma-thi-ơ 17:25-27).
c. Niên Đại#
Sau năm 63, xứ Bông (Pontus), nằm ở phía bắc Tiểu Á, không còn tồn tại với tư cách là một vương quốc chư hầu của La Mã. Tuy nhiên, Phi-e-rơ lại liệt kê xứ Bông đầu tiên trong phần địa chỉ của bức thư (1 Phi-e-rơ 1:1). Hơn nữa, yếu tố bách hại bao trùm khắp bức thư gợi ý rằng Phi-e-rơ đã viết nó vào năm 63 hoặc sớm hơn một chút, tức là không lâu trước khi ông tử đạo tại La Mã dưới thời hoàng đế Nero khoảng năm 65.
Nhưng sự bắt bớ đằng sau thư 1 Phi-e-rơ dường như không bắt nguồn từ một lệnh cấm Cơ Đốc giáo trên toàn đế quốc, vì Phi-e-rơ vẫn nói về chính quyền như một bên bảo vệ (2:13-17; 3:13). Lệnh cấm trên toàn đế quốc chỉ xuất hiện sau này. Cuộc bách hại hiện tại chủ yếu mang hình thức vu khống, tẩy chay xã hội, bạo động đám đông, và các hành động quân lính bảo vệ địa phương.
Các học giả phủ nhận quyền tác giả của Phi-e-rơ thường xác định niên đại của bức thư vào thời kỳ bách hại dưới triều đại Domitian (khoảng năm 81-96) hoặc Trajan (khoảng năm 98-117). Tuy nhiên, trong những cuộc bắt bớ sau này, vấn đề nổi bật là việc các Cơ Đốc nhân từ chối dâng tế lễ cho hoàng đế. Vì vấn đề này không xuất hiện trong thư 1 Phi-e-rơ, nên một niên đại sớm với quyền tác giả thuộc về Phi-e-rơ là phương án đáng tin cậy hơn.
d. Vai Trò của Sin-vanh (Silvanus)#
Câu “tôi cậy Sin-vanh … viết mấy chữ nầy đặng khuyên anh em” (1 Phi-e-rơ 5:12) đã khiến một số người cho rằng Sin-vanh đóng vai trò là người chép thư (amanuensis) của Phi-e-rơ và đã trau chuốt văn phong tiếng Hy Lạp của bức thư này. Có thể là vậy, nhưng Phi-e-rơ cũng có thể đã có một người chép thư khác.
Việc ca ngợi Sin-vanh là một “người anh em trung tín”, và sự tương phản giữa lời chào từ Mác (5:13) với việc không có lời chào từ Sin-vanh, ủng hộ ý kiến rằng “cậy Sin-vanh” có nghĩa là Sin-vanh là người vận chuyển thư. Ông cần một lời giới thiệu để được người nhận chào đón, và có thể trực tiếp chào thăm họ khi đến nơi. Tên của ông, một cái tên tiếng La-tinh, nghe giống như tên “Si-la” trong tiếng A-ram và có lẽ ám chỉ đến Si-la, là người đã đồng hành cùng Phao-lô trong hành trình truyền giáo thứ hai. Vì Phao-lô cũng có nhắc đến một người tên “Sin-vanh” là bạn đồng hành trong hành trình đó (2 Cô-rinh-tô 1:19; 1 Tê-sa-lô-ni-ca 1:1; 2 Tê-sa-lô-ni-ca 1:1), và tường thuật của Lu-ca về cùng hành trình đó lại sử dụng cái tên “Si-la” (9 lần trong Công-vụ 15:40–18:5).
Sự tương đồng giữa các lời khuyên đạo đức của Phi-e-rơ với các thư tín của Phao-lô gợi ý rằng Phi-e-rơ có thể bị ảnh hưởng bởi các thư của Phao-lô (có lẽ được ông biết đến qua Sin-vanh), hoặc cả hai sứ đồ đều sử dụng chung một nguồn những chỉ dẫn giáo lý đã được khuôn mẫu hóa phần nào - có thể là truyền khẩu hoặc văn bản, dùng cho người chuẩn bị nhận hoặc sau khi nhận Báp-têm.
e. Nguồn Gốc từ Rô-ma#
Phi-e-rơ viết từ “Ba-by-lôn” (1 Phi-e-rơ 5:13), nhưng gần như chắc chắn đây không phải là thành phố mang tên ở vùng Lưỡng Hà (Mesopotamia), mà là Rô-ma. Bởi lẽ, thành Ba-by-lôn ở Lưỡng Hà đã mất gần hết cư dân vào đầu kỷ nguyên Cơ Đốc.
Bên cạnh đó, cái tên “Ba-by-lôn” xuất hiện như một danh xưng tượng trưng cho Rô-ma trong Khải-huyền 17:4-6, 9, 18. Trong sách Khải-huyền, Rô-ma được mô tả là thành phố cai trị trong thời kỳ Tân Ước (17:18), thành phố của bảy ngọn đồi (17:9; trong khi Ba-by-lôn ở Lưỡng Hà nằm trên một đồng bằng - di tích của nó vẫn còn thấy được ngày nay), và là kẻ bách hại Hội Thánh (17:6). Rô-ma được gọi là “Ba-by-lôn” vì nó là thủ đô của sự thờ thần tượng trên thế giới, một vị thế mà thành phố vùng Lưỡng Hà từng nắm giữ (so sánh với việc gọi Giê-ru-sa-lem là “Sô-đôm và Ê-díp-tô” vì Chúa Jesus đã bị đóng đinh tại đó - Khải-huyền 11:8).
Các tài liệu ngoài Kinh Thánh cũng gọi Rô-ma là “Ba-by-lôn”, cho thấy đây là một cách gọi phổ biến, và các giáo phụ thời kỳ đầu đều hiểu “Ba-by-lôn” là ám chỉ Rô-ma. Truyền thống không ghi nhận có Hội Thánh nào ở Ba-by-lôn vùng Lưỡng Hà hay việc Phi-e-rơ từng đến đó, nhưng truyền thống xác nhận Phi-e-rơ đã tử đạo tại Rô-ma.
Khi kết nối sự hiện diện của Giăng Mác tại Rô-ma trong lúc Phao-lô bị cầm tù ở đó (Cô-lô-se 4:10) với sự hiện diện của ông bên cạnh Phi-e-rơ khi viết thư 1 Phi-e-rơ (1 Phi-e-rơ 5:13), chúng ta có thêm một lập luận mạnh mẽ cho nguồn gốc được viết từ Rô-ma của bức thư này.
f. Đối Tượng Nhận Thư#
Thoạt nhìn, các cụm từ “những kẻ kiều ngụ đang bị tản lạc” (1:1), “giữa vòng dân ngoại” (2:12), và “dân ngoại” (như một bên thứ ba, 4:3) dường như ngụ ý rằng độc giả nguyên thủy của bức thư là các Cơ Đốc nhân người Do Thái.
Tuy nhiên, việc đề cập đến sự thờ thần tượng của họ trước khi cải đạo (4:3), trong khi người Do Thái ở thế kỷ thứ nhất không thực hành việc thờ thần tượng, cộng với “sự dâm dục, là sự cai trị trong anh em ngày trước, về lúc anh em còn mê muội” và “cách ăn ở không ra chi” (1:14, 18; so sánh Ê-phê-sô 4:17, nơi cách dùng từ tương tự được áp dụng cho dân ngoại), rõ ràng chỉ ra đối tượng độc giả mục tiêu của bức thư chủ yếu có nguồn gốc ngoại bang.
Kết luận này được củng cố bởi 2:10: “Trước kia anh em không phải là một dân [điều này khó có thể nói về người Do Thái, là dân giao ước của Đức Chúa Trời], nhưng bây giờ anh em là dân của Đức Chúa Trời.” Giống như việc Phi-e-rơ dùng từ “Ba-by-lôn” theo nghĩa bóng để chỉ Rô-ma, ông cũng dùng từ “dân ngoại” theo nghĩa bóng để chỉ những người không tin Chúa, và cụm từ “những kẻ kiều ngụ đang bị tản lạc” để chỉ các Cơ Đốc nhân dân ngoại đang tản mác khắp thế giới. Vì Hội Thánh hiện tại đã thay thế vị trí của Y-sơ-ra-ên, nên các danh xưng dành người Do Thái có thể áp dụng cho Hội Thánh mà đa số thành viên là người ngoại bang.
2.2. Bố Cục Thư 1 Phi-e-rơ#
Click vào link để xem Bố cục thư 1 Phi-e-rơ
2.3. Đọc Thư 1 Phi-e-rơ với Sự Giải Thích#
a. Sự Chịu Khổ và Phần Thưởng#
Sau lời chào thăm, Phi-e-rơ ngợi khen Đức Chúa Trời về triển vọng cơ nghiệp vinh hiển trên trời - điều khiến cho sự bắt bớ hiện tại trở nên có thể chịu đựng được. Đấng Christ cũng đã phải chịu khổ trước khi được vinh hiển - đây là điều mà các tiên tri Cựu Ước đã không hiểu, vì họ không phân biệt được giữa sự giáng lâm lần thứ nhất của Chúa Jesus, để chịu chết, và sự giáng lâm lần thứ hai của Ngài, để cai trị.
b. Nếp Sống Tốt Lành#
Trước viễn cảnh vinh quang trong tương lai, các Cơ Đốc nhân nhất thiết phải có lối sống thánh khiết. Họ đã được giải phóng ("được chuộc") khỏi ách nô lệ của tội lỗi bằng huyết Chúa Jesus, là bằng chứng cho sự sống của Ngài đã hy sinh vì tội nhân. Các Cơ Đốc nhân cũng nhất thiết phải yêu thương lẫn nhau, vì tất cả đều đã được sinh lại vào trong gia đình của Đức Chúa Trời qua lời Ngài, và phải tăng trưởng như trẻ sơ sinh, được xây dựng như một đền thờ với Đấng Christ là đá góc nhà hoặc đá đỉnh vòm.
Hơn nữa, Cơ Đốc nhân cần tạo ấn tượng tốt đẹp cho thế giới không tin Chúa bằng hành vi tốt lành. Điều này bao gồm: nghĩa vụ công dân gương mẫu, sự vâng lời của tôi tớ đối với chủ mà không cãi lại, những người vợ Cơ Đốc nên trang điểm cho mình bằng sự vâng phục chồng thay vì những thời trang lòe loẹt, sự tôn trọng vợ của những người chồng, và một lần nữa, tình yêu thương lẫn nhau trong sự thông công Cơ Đốc.
c. Xuống Âm Phủ#
Việc Đấng Christ giảng cho các linh hồn bị tù (1 Phi-e-rơ 3:18-20) có khả năng cao nhất mang nghĩa là: trong khoảng thời gian giữa cái chết và sự phục sinh, Ngài đã xuống âm phủ trong thân thể không xác thịt để công bố sự chiến thắng của Ngài trên các ác thần mà Đức Chúa Trời đã giam giữ tại đó, là những kẻ đã làm bại hoại nhân loại vào thời Nô-ê ngay trước cơn hồng thủy. Một biến thể khác cho rằng “ngục tù” này không phải âm phủ, mà là bầu khí quyển của trái đất, nơi các ác quỷ hiện đang bị giới hạn (so sánh Ê-phê-sô 2:2; 6:12; nhưng ủng hộ quan điểm âm phủ, xem 2 Phi-e-rơ 2:4; Giu-đe 6). Sự “giảng” này không nhất thiết là một lời mời gọi cứu rỗi. Điểm mấu chốt của đoạn văn là: giống như Đức Chúa Trời đã minh xét cho Đấng Christ trước chính những ác thần từng cố gắng cản trở lịch sử cứu chuộc, thì một ngày nào đó Đức Chúa Trời cũng sẽ minh xét cho các Cơ Đốc nhân trước những kẻ bắt bớ họ.
Một cách giải thích khác là Đấng Christ trước khi nhập thể đã ban lời mời gọi đến với sự cứu rỗi qua lời rao giảng của Nô-ê cho những người thuộc thế hệ trước cơn đại hồng thủy, là những người hiện đang bị giam trong âm phủ vì họ đã khước từ sứ điệp. Trong cách giải thích này, điểm chính của đoạn Kinh Thánh này nằm ở sự song hành giữa sự minh oan trong quá khứ của Đức Chúa Trời cho Nô-ê (thay vì cho Đấng Christ) và sự minh oan trong tương lai của Ngài cho Cơ Đốc nhân. Nhưng khi không có từ bổ nghĩa, thuật ngữ linh hồn trong Kinh Thánh thường chỉ về những thực thể siêu nhiên, không phải về linh hồn người đã qua đời; và chuỗi các cụm động từ chủ yếu về Đấng Christ - “chịu chết,” “làm cho sống phần linh hồn,” “đã đi,” “đã giảng,” “sự sống lại của Chúa Jesus Christ,” “đã lên trời,” “đang ở bên hữu Đức Chúa Trời” - khiến cho việc suy luận ngược về hoạt động của Đấng Christ từ hàng thiên niên kỷ trước khi Ngài nhập thể trở nên rất khiên cưỡng.
d. Báp-têm#
Khi so sánh phép Báp-têm với cơn hồng thủy, Phi-e-rơ đã cẩn thận chỉ ra rằng việc tiếp xúc với nước Báp-têm không tẩy sạch tội lỗi ("chẳng phải sự làm sạch ô uế của thân thể"); thay vào đó, thái độ ăn năn và đức tin bên trong, được thể hiện qua việc vâng phục nghi thức Báp-têm ("lời cầu xin cùng Đức Chúa Trời về một lương tâm tốt lành", 3:21), mới dẫn đến sự tha tội.
e. Các Lời Khuyên Bảo#
Phần tiếp theo bắt đầu với lời khuyên tóm tắt đừng phạm tội. “Chịu khổ trong xác thịt” (1 Phi-e-rơ 4:1) chỉ về sự bắt bớ về mặt thể xác. Vì Đấng Christ đã chịu sự bắt bớ như vậy, nên những người theo Ngài cũng phải sẵn sàng chịu như vậy. Sự chịu khổ này không khiến một người ngừng phạm tội; đúng hơn, chính việc ngừng phạm tội mới gây ra sự bắt bớ. Ngừng phạm tội có nghĩa là không theo đuổi “sự phóng đãng, tư dục, say sưa, chè chén trác táng, chơi bời, và sự thờ thần tượng đáng ghê tởm” (4:3). Sự ngạc nhiên của những người không tin Chúa khi Cơ Đốc nhân không còn tham gia với họ trong những hoạt động như vậy chuyển thành sự khó chịu. Kết quả là sự bắt bớ: sự vu khống ác ý dẫn đến sự đau đớn về thể xác.
“Những người chết” mà Tin Lành đã được giảng cho (4:6) không phải là “các linh hồn bị tù” trong 3:18-20. Họ là những Cơ Đốc nhân đã tử đạo (“chịu xét đoán theo loài người về phần xác [những kẻ bắt bớ họ]”) và do đó đang vui hưởng sự sống thiên thượng như những linh hồn không xác thịt ("sống theo Đức Chúa Trời về phần linh hồn").
Những lời khuyên cuối cùng là hãy vui mừng khi chịu khổ vì Đấng Christ, hãy chắc chắn rằng sự chịu khổ là do việc làm chứng cho Đấng Christ chứ không phải do hành vi xấu, hãy thể hiện sự khiêm nhường, và hãy can đảm chống lại sự bắt bớ do Sa-tan xúi giục.
III. THƯ 2 PHI-E-RƠ: SỰ BẢO VỆ ĐỨC TIN CHÍNH THỐNG#
3.1. Các Vấn Đề Dẫn Nhập#
a. Chủ Đề#
Những giáo sư tà giáo, là những kẻ gieo rắc giáo lý sai lạc và thực hành lối sống đồi bại, đang bắt đầu xâm nhập mạnh mẽ vào Hội Thánh. Thư 2 Phi-e-rơ công kích mạnh mẽ họ, đặc biệt chống lại việc họ phủ nhận sự trở lại của Chúa Jesus, đồng thời khẳng định sự hiểu biết đúng đắn của niềm tin Cơ Đốc để chống lại những dạy dỗ tà giáo đó.
b. Tính Xác Thực và Quy Điển#
Nhiều học giả hiện đại nghi ngờ rằng sứ đồ Phi-e-rơ đã viết bức thư này. Hội Thánh thời ban đầu cũng từng thể hiện một số do dự trong việc chấp nhận nó vào quy điển. Tuy nhiên, sự do dự này có thể được giải thích bởi độ ngắn của bức thư; và sự ngắn gọn đó có thể đã hạn chế việc phổ biến cũng như khiến mọi người ít quen thuộc với nó. Cuối cùng, Hội Thánh thời ban đầu đã chấp nhận bức thư như một tác phẩm chân chính và thuộc quy điển của Phi-e-rơ.
Hơn nữa, chúng ta nên lưu ý rằng hai sách ngoại kinh Tân Ước là Phúc âm Chân lý (Gospel of Truth) và Ngụy kinh Giăng (Apocryphon of John) có chứa các trích dẫn hoặc lời ám chỉ có thể và rất có khả năng xuất phát từ thư 2 Phi-e-rơ. Điều này cho thấy thư 2 Phi-e-rơ đã được chấp nhận như một văn bản có thẩm quyền ngay từ thế kỷ thứ hai. Tương tự, bản giấy cói Bodmer có từ thế kỷ thứ ba, được ký hiệu là P72, cũng cho thấy thư 2 Phi-e-rơ được coi là một tác phẩm quy điển; bởi vì trong bản đó, thư 2 Phi-e-rơ chia sẻ với thư 1 Phi-e-rơ và thư Giu-đe một chúc phước dành cho những người đọc các sách thánh này và thậm chí còn được trang trí công phu hơn so với hai thư kia.
Văn phong của thư 2 Phi-e-rơ khác với 1 Phi-e-rơ, nhưng việc Phi-e-rơ sử dụng những người chép thư (amanuenses) khác nhau có thể nguyên nhân. Những điểm tương đồng đáng chú ý về cách dùng từ giữa thư 2 Phi-e-rơ và 1 Phi-e-rơ và các bài giảng của Phi-e-rơ trong sách Công-vụ cho thấy chúng xuất phát từ một nguồn chung, chính là sứ đồ Phi-e-rơ.
Đọc thêm: NHỮNG PHẢN ÁNH CÓ THỂ CÓ VÀ RẤT CÓ KHẢ NĂNG CỦA THƯ 2 PHI-E-RƠ TRONG CÁC TÁC PHẨM TRI HUỆ GIÁO THỜI KỲ ĐẦU
| 2 Phi-e-rơ | Tác Phẩm của Tri Huệ Giáo |
|---|---|
| 2 Phi-e-rơ 1:16-18 “Vả, khi chúng tôi đã làm cho anh em biết quyền phép và sự đến của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, thì chẳng phải là theo những chuyện khéo đặt để, bèn là chính mắt chúng tôi đã ngó thấy sự oai nghiêm Ngài. Vì Ngài đã nhận lãnh sự tôn trọng vinh hiển từ nơi Đức Chúa Trời, Cha Ngài, khi Đấng tôn nghiêm rất cao phán cùng Ngài rằng: “Nầy là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đường.” Chính chúng tôi cũng từng nghe tiếng ấy đến từ trời, lúc chúng tôi ở với Ngài trên hòn núi thánh.” | Gospel of Truth 30:24-32 “Ngài ban cho họ phương tiện để biết sự hiểu biết về Cha và sự mặc khải về Con Ngài. Vì khi họ đã thấy Ngài và đã nghe Ngài, Ngài cho phép họ nếm Ngài, ngửi Ngài và chạm đến Con yêu dấu.” |
| 2 Phi-e-rơ 2:2 “… con đường chân lý sẽ bị phỉ báng.” | Gospel of Truth 18:19-21 “Ngài đã chỉ cho (họ) một con đường; và con đường ấy là chân lý mà Ngài đã dạy họ.” |
| 2 Phi-e-rơ 2:4-5 “Vả, nếu Đức Chúa Trời chẳng tiếc các thiên sứ đã phạm tội, nhưng quăng vào trong vực sâu, tại đó họ bị trói buộc bằng xiềng nơi tối tăm để chờ sự phán xét; nếu Ngài chẳng tiếc thế gian xưa, trong khi sai nước lụt phạt đời gian ác nầy, chỉ gìn giữ Nô-ê là thầy giảng đạo công bình, với bảy người khác mà thôi.” | Apocryphon of John 27:24-30; 29:1-4 “Họ sẽ bị đem đến nơi mà các thiên sứ của sự nghèo khó đi đến, nơi không có sự ăn năn. Và họ sẽ bị giam giữ cho đến ngày mà những kẻ đã phạm thượng đến tâm linh sẽ bị hành hạ, và họ sẽ bị trừng phạt bằng sự trừng phạt đời đời. … Nhưng sự vĩ đại của ánh sáng của sự biết trước đã báo cho Nô-ê, và ông đã rao giảng (điều đó) cho tất cả dòng dõi là con cái loài người.” |
Đọc thêm: VÍ DỤ VỀ SỰ TƯƠNG ĐỒNG TRONG CÁCH DÙNG TỪ GIỮA THƯ 2 PHI-E-RƠ VÀ 1 PHI-E-RƠ
| 2 Phi-e-rơ | 1 Phi-e-rơ |
|---|---|
| 1:1: “đức tin quý báu như nhau” | 1:7: “đức tin đã được thử nghiệm, quý hơn vàng” |
| 1:16: “trở nên những người chứng kiến” | 2:12; 3:2: “là / trở nên những người chứng kiến” |
| 2:7; 3:17: “những kẻ phóng đãng” | 4:3: “sự thờ thần tượng phóng đãng” |
| 2:14: “không ngừng phạm tội” | 4:1: “đã ngừng phạm tội” |
| 3:14: “không tì vít và không chỗ trách được” (xem thêm 2:13: “đốm nhơ và tì vít”) | 1:19: “không chỗ trách được và không tì vít” |
| 3:17: “sự vững vàng của chính anh em” (xem thêm 2:14: “những linh hồn không vững vàng”) | 5:10: “sẽ làm cho anh em vững vàng” |
d. Mối Liên Hệ với Thư Giu-đe#
Người ta cũng lập luận rằng thư 2 Phi-e-rơ vay mượn từ thư Giu-đe, đặc biệt là trong phần mô tả các giáo sư giả, và rằng một người có tầm vóc sứ đồ như Phi-e-rơ sẽ không vay mượn từ một tác giả tương đối không quan trọng như Giu-đe. Nhưng chúng ta có thể nghi ngờ phần sau của lập luận này, vì lịch sử văn học đầy dẫy những ví dụ về các tác giả nổi tiếng vay mượn từ những tác giả ít tên tuổi hơn. Shakespeare đã làm vậy, và thực hành này đặc biệt phổ biến trong thế giới cổ đại. Hơn nữa, một số học giả đã lập luận ngược lại: rằng Giu-đe viết bức thư của mình sau đó và vay mượn từ thư 2 Phi-e-rơ. Cũng có khả năng là cách dùng từ tương tự của họ đến từ một nguồn chung nào đó mà chúng ta chưa biết đến.
e. Việc Ám Chỉ đến Các Thư Tín của Phao-lô#
Một phản bác khác đối với quyền tác giả của Phi-e-rơ là việc nhắc đến các bức thư của Phao-lô trong 2 Phi-e-rơ 3:15-16 được cho là ngụ ý rằng tất cả các thư đó đã được viết, thu thập và xuất bản; thế nhưng, những điều này chỉ có thể xảy ra sau khi Phi-e-rơ và Phao-lô đã tử đạo, vì Phao-lô vẫn viết thư cho đến tận cuối đời.
Tuy nhiên, việc thư 2 Phi-e-rơ nhắc đến các thư tín của Phao-lô chỉ có thể ngụ ý về sự tồn tại của những bức thư mà Phao-lô đã viết tính đến thời điểm Phi-e-rơ viết bức thư thứ hai của mình. Việc Phi-e-rơ biết về chúng có thể đến từ những chuyến đi của ông, từ việc các bức thư của Phao-lô được lưu hành trong các Hội Thánh, và từ Sin-vanh (hay Si-la) - người vừa là bạn đồng hành truyền giáo của Phao-lô vừa là người trợ giúp cho Phi-e-rơ (1 Phi-e-rơ 5:12).
Cách gọi Phao-lô là “người anh em yêu dấu của chúng ta” (2 Phi-e-rơ 3:15) là cách một sứ đồ cùng thời và có địa vị tương đương sẽ viết, chứ không phải là cách mà một tác giả mạo danh đời sau viết về một người hùng của Hội Thánh thuộc thế hệ trước. Do đó, bất chấp những nghi ngờ hiện đại, chúng ta vẫn có thể đồng ý với phán quyết cuối cùng của Hội Thánh thời ban đầu rằng: không lâu sau khi sứ đồ Phi-e-rơ viết bức thư thứ nhất và ngay trước khi ông tử đạo vào khoảng năm 65, ông đã viết bức thư thứ hai mang tên mình này.
3.2. Bố Cục Thư 2 Phi-e-rơ#
Click vào link để xem Bố cục thư 2 Phi-e-rơ
3.3. Đọc Thư 2 Phi-e-rơ với Sự Giải Thích#
a. Sự Đáng Tin Cậy của Đức Tin Chính Thống#
Thư 2 Phi-e-rơ khẳng định sự hiểu biết chân chính về niềm tin Cơ Đốc để chống lại sự dạy dỗ sai lạc. Sau lời chào thăm, Phi-e-rơ ca ngợi về sự vĩ đại của những lời hứa mà Đức Chúa Trời dành cho các tín hữu, nhờ đó họ được dự phần vào bản tính thiêng liêng; đồng thời ông cũng chỉ ra sự cần thiết tất yếu của việc nuôi dưỡng các đức hạnh Cơ Đốc. Cách ăn ở đúng đắn phải là nền tảng củng cố cho niềm tin đúng đắn.
Ông nhắc nhở độc giả về sự đáng tin cậy của đức tin Cơ Đốc, được hỗ trợ bởi lời chứng của những nhân chứng tận mắt về các sự kiện trong cuộc đời Chúa Jesus (Phi-e-rơ đặc biệt nhấn mạnh sự quan sát của chính mình về sự hóa hình của Chúa Jesus, 2 Phi-e-rơ 1:16-18) và được minh chứng bởi sự ứng nghiệm của những lời tiên tri được Đức Thánh Linh cảm thúc.
“Chẳng có lời tiên tri nào trong Kinh thánh lấy ý riêng giải nghĩa được” (1:20) có lẽ có nghĩa là những lời tiên tri trong Cựu Ước về các sự kiện liên quan đến Đấng Mê-si không phát xuất từ sự giải đoán riêng của các tiên tri về tương lai, mà đến từ ảnh hưởng của Đức Thánh Linh. So sánh 1:21: “Vì chẳng hề có lời tiên tri nào là bởi ý một người nào mà ra, nhưng ấy là bởi Đức Thánh Linh cảm động mà người ta đã nói bởi Đức Chúa Trời.” Các cách giải thích khác cho rằng:
- Những lời tiên tri không nên được giải thích tách rời khỏi các phần Kinh Thánh khác.
- Những lời tiên tri không chỉ dành riêng cho thế hệ sống cùng thời điểm lời tiên tri đó được đưa ra.
- Đức Thánh Linh vừa giải nghĩa lời tiên tri vừa cảm thúc nó.
- Tự bản thân các Cơ Đốc nhân không có khả năng hoặc quyền hạn để giải thích Kinh Thánh, mà cần có sự hướng dẫn của Hội Thánh.
b. Sự Phán Xét đối với Tà Giáo#
Việc đề cập đến lời tiên tri chân chính ở cuối chương 1 dẫn đến việc lên án các lời tiên tri giả. Các giáo sư giả hiện tại và tương lai nằm trong truyền thống của các tiên tri giả thời Cựu Ước và sẽ gánh chịu cùng một sự phán xét từ Đức Chúa Trời trên chính họ. Mặc dù họ hứa hẹn sự tự do, lối sống phóng túng của họ chứng tỏ sự sa đọa và tình trạng làm nô lệ cho tư dục của họ.
Tuy nhiên, các Cơ Đốc nhân chân chính nên nhớ lại những lời báo trước về sự phán xét trong sự hiện đến thứ hai của Đấng Christ - một sự phán xét theo khuôn mẫu của trận lụt thời xưa, nhưng bằng lửa thay vì bằng nước. Sự trì hoãn trong việc Chúa Jesus trở lại không nên bị hiểu sai là bị hủy bỏ. Đúng hơn, đó là do sự nhịn nhục của Đức Chúa Trời trong việc ban cho mỗi thế hệ thêm thời gian để ăn năn. Suy cho cùng, một ngàn năm là gì đối với một Đức Chúa Trời đời đời?
Vì trật tự hiện tại của vạn vật sẽ bị hủy diệt, Cơ Đốc nhân nên sống ngay thẳng, nghĩa là sống theo các giá trị đời đời được thúc đẩy bởi sự trông đợi Chúa Jesus trở lại. Việc xếp các thư của Phao-lô vào hàng ngũ “các phần Kinh Thánh khác” (2 Phi-e-rơ 3:15-16) cho thấy chúng đã được coi là những bản văn được Đức Chúa Trời hà hơi.
“Đức Chúa Trời … phân biệt xem liệu những đam mê của linh hồn bệnh tật mà Ngài thi hành công lý có bằng cách nào đó chịu khuất phục và nhường chỗ cho sự ăn năn hay không, và đối với những ai mà bản chất xấu xa không phải là không thể cứu chữa hay ngoan cố, Ngài ấn định một thời kỳ ân điển. … Đối với các vị thần, bất kỳ khoảng thời gian nào của đời người cũng chỉ là hư không.”
(Plutarch, Moralia, “Về Sự Trì Hoãn của Sự Báo Ứng Thiêng Liêng” 6, 9).
IV. THƯ GIU-ĐE: CẢNH BÁO! CÁC GIÁO SƯ GIẢ!#
4.1. Các Vấn Đề Dẫn Nhập#
a. Chủ Đề#
Giống như thư 2 Phi-e-rơ, thư Giu-đe công kích mạnh mẽ các giáo sư giả đã xâm nhập vào Hội Thánh, với số lượng có vẻ đông đảo hơn so với thời điểm thư 2 Phi-e-rơ được viết (tuy nhiên quan điểm này vẫn còn đang được tranh luận). Các tà giáo cụ thể không được mô tả hay bác bỏ một cách chi tiết, nhưng chính những kẻ tà giáo đó bị lên án gay gắt.
b. Tác Giả#
Tác giả của bức thư này tự giới thiệu mình là Giu-đe, “em của Gia-cơ” (câu 1). Có lẽ ông không ám chỉ đến sứ đồ Gia-cơ trong bộ ba nổi tiếng Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng. Vua Hê-rốt Ạc-ríp-ba I (Herod Agrippa I) đã ra lệnh giết sứ đồ Gia-cơ từ rất sớm (Công-vụ 12:1-2). Thay vào đó, tác giả ám chỉ đến Gia-cơ, là lãnh đạo của Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem (Công-vụ 15:12-21; 21:18; Ga-la-ti 1:18–2:13) và là em cùng mẹ của Chúa Jesus.
Vì vậy, Giu-đe cũng là một người em cùng mẹ của Chúa Jesus, nhưng ông đã khiêm tốn tự mô tả mình là “tôi tớ của Chúa Jesus Christ” (câu 1). Niên đại của lá thư này không chắc chắn, nhưng nó đủ muộn để các kẻ theo tà giáo đã kịp xâm nhập nghiêm trọng vào Hội Thánh.
4.2. Bố Cục Thư Giu-đe#
Click vào link để xem Bố cục thư Giu-đe
4.3. Đọc Thư Giu-đe với Sự Giải Thích#
a. Các Giáo Sư Giả#
Giu-đe dự định viết một luận thuyết giáo lý, nhưng sự xâm nhập của các giáo sư giả vào Hội Thánh đã buộc ông phải đổi bức thư của mình thành một lời khuyên giục chiến đấu mạnh mẽ cho lẽ thật của Tin Lành. Bằng những ngôn từ sống động, ông mô tả cả sự gian ác của các giáo sư giả lẫn sự diệt vong của họ bằng cách trưng dẫn các ví dụ trong quá khứ về sự phán xét của Đức Chúa Trời: thế hệ dân Y-sơ-ra-ên đã chết trong đồng vắng vì đường lối vô tín của họ, các thiên sứ sa ngã (có lẽ là những ác thần đã làm bại hoại loài người ngay trước cơn hồng thủy, Sáng-thế Ký 6:1-4; 1 Phi-e-rơ 3:18-20), và thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ.
Sự thiếu tôn kính của các giáo sư giả đối với những điều thuộc linh và đối với các hữu thể siêu nhiên tương phản với sự cẩn trọng mà thiên sứ trưởng Mi-chen (Michael) đã thể hiện khi tranh luận với Sa-tan về xác Môi-se. Bức thư kết thúc bằng một lời tôn vinh đầy khích lệ.
b. Những Tham Khảo đến Ngoại Kinh#
Trong các câu 14-15, Giu-đe trích dẫn sách ngoại kinh khải huyền 1 Enoch (“Hê-nóc … đã nói tiên tri rằng: ‘Nầy, Chúa đến với muôn vàn thánh đồ của Ngài…’”, 1 Enoch 1:9). Trong một ám chỉ đến cuộc tranh luận giữa Mi-chen và Sa-tan (câu 9), Giu-đe dường như đang đề cập đến một sách ngoại kinh khác, Sự thăng thiên của Môi-se (Assumption of Moses). Mặc dù sách đó, hoặc ít nhất là phần liên quan, đã không còn tồn tại, nhưng có khả năng cao là Giu-đe đã rút ra dẫn chứng từ đó.
Chúng ta không nên ngạc nhiên khi một tác giả quy điển trích dẫn các bản văn không thuộc quy điển. Phao-lô từng nhắc đến một midrash (sự giải nghĩa) của các rabbi về tảng đá ban nước “đi theo” dân Y-sơ-ra-ên trong đồng vắng (1 Cô-rinh-tô 10:4), trích dẫn các thi sĩ ngoại giáo trong bài giảng tại A-thên (Công-vụ 17:28), và rõ ràng đã trích tên của các thuật sĩ Pha-ra-ôn từng chống đối Môi-se (Gian-nét và Giam-be) từ một nguồn ngoài quy điển nào đó (2 Ti-mô-thê 3:8).
Việc trích dẫn từ những tư liệu như vậy không ngụ ý rằng tác giả tin chúng được Đức Chúa Trời hà hơi. Điều đó cũng không nhất thiết ngụ ý tính xác thực về mặt lịch sử của tư liệu đó; vì các tác giả Tân Ước có thể chỉ đơn giản là đang minh họa một quan điểm, giống như cách John Milton (lấy một trong nhiều ví dụ có thể) sử dụng các thần thoại Hy Lạp mà không hề ngụ ý niềm tin vào tính lịch sử của nội dung của những thần thoại đó.
V. THƯ 1 GIĂNG: LỜI DẠY DỖ CỦA NGƯỜI CHA GỬI “CÁC CON BÉ NHỎ”#
5.1. Các Vấn Đề Dẫn Nhập#
a. Chủ Đề#
Đối với các Cơ Đốc nhân thời ban đầu, sự xuất hiện của tà giáo trong Hội Thánh đã đặt ra vấn đề làm sao để phân biệt giữa đức tin chính thống và tà thuyết, giữa những người rao giảng Lời Chúa một cách trung tín với các giáo sư giả. Thư 1 Giăng đưa ra một số tiêu chí để kiểm chứng lời tuyên xưng Cơ Đốc của các giáo sư và của chính bạn.
b. Hình Thức Văn Chương, Đối Tượng và Mục Đích#
Có lẽ được viết vào cuối thế kỷ thứ nhất bởi sứ đồ Giăng, thư 1 Giăng không có phần giới thiệu, lời chào thăm của tác giả, hay lời chào kết thúc. Tuy nhiên, những câu như “Ta viết cho các con” (1 Giăng 2:1) và “Ta viết cho các con những điều này” (2:26) cho thấy ban đầu 1 Giăng không phải là một bài giảng truyền khẩu, mà là một tác phẩm viết. Bức thư có thể là một luận văn tổng quát cho toàn thể Hội Thánh. Nhưng cách gọi trìu mến “các con cái yêu dấu của ta,” mà tác giả liên tục dùng để gọi độc giả của mình, ngụ ý một nhóm Cơ Đốc nhân giới hạn mà ông quen biết gần gũi.
Theo truyền thống Hội Thánh thời ban đầu, Giăng sống tại Ê-phê-sô khi về già. Do đó, thư 1 Giăng có lẽ là một bức thư chung được viết theo văn phong giảng luận gửi cho các Cơ Đốc nhân mà ông đã quen biết ở Tiểu Á trong vùng lân cận Ê-phê-sô (so sánh với bức thư lưu hành lần lượt giữa các Hội Thánh của Phao-lô có tiêu đề là gửi cho “người Ê-phê-sô” và văn phong giảng luận của thư Hê-bơ-rơ). Cũng có khả năng thư 1 Giăng đại diện cho một hình thức thư tín của vùng Tây Á không có phần mở đầu nêu địa chỉ nhận thư và lời chào kết thúc.
Giăng nêu rõ mục đích viết của mình là để củng cố sự hiểu biết, niềm vui và sự đảm bảo trong đức tin Cơ Đốc của độc giả (1:3-4; 5:13) để chống lại sự dạy dỗ sai lạc (2:1-29; 4:1-21).
c. Luận Chiến Chống Tri Huệ Giáo (Antignostic Polemic)#
THUYẾT CERINTHUS (CERINTHIANISM)
Tà giáo Tri Huệ giáo có lẽ đang phát triển mạnh trong cộng đồng Cơ Đốc vào thời điểm Giăng viết thư. Theo truyền thống sơ khai, Giăng đã vội vã rời khỏi một nhà tắm công cộng ở Ê-phê-sô khi biết lãnh đạo nhóm Tri Huệ giáo là Cerinthus đã bước vào:
“Cũng có những người đã nghe từ ông [Polycarp] rằng Giăng, môn đồ của Chúa, khi đi tắm ở Ê-phê-sô và nhận ra Cerinthus ở bên trong, đã lao ra khỏi nhà tắm mà không tắm [và] kêu lên: ‘Chúng ta hãy trốn đi, kẻo nhà tắm sụp đổ mất, vì Cerinthus, kẻ thù của lẽ thật, đang ở bên trong’”
(Irenaeus, Against Heresies 3.34).
Dựa trên quan điểm cho rằng vật chất về bản chất là xấu xa, Cerinthus đã phân biệt giữa một thần linh - Đấng Christ thiêng liêng, phi vật chất, và một con người - Jesus, với thân thể vật lý. Ông ta nói rằng thần linh - Đấng Christ đã giáng trên con người - Jesus ngay sau khi Ngài chịu Báp-têm và rời đi ngay trước khi bị đóng đinh.
Chống lại giáo lý của Cerinthus, Giăng nhấn mạnh rằng chỉ có duy nhất một thân vị “Chúa Jesus Christ” đã bị đóng đinh: “Ấy chính Đức Chúa Jêsus Christ đã lấy nước và huyết mà đến, chẳng những lấy nước [phép Báp-têm] mà thôi, bèn là lấy nước và huyết [dòng huyết chảy ra từ sườn bị đâm của Ngài]” (1 Giăng 5:6; Giăng 19:34).
THUYẾT ẢO HÌNH (DOCETISM)
Cũng dựa trên cùng giả định rằng bất cứ thứ gì thuộc về vật chất và thể xác đều nhất thiết phải là xấu xa, những người theo Tri Huệ giáo khác đã cố gắng phủ nhận sự nhập thể và cái chết về phần xác của Chúa Jesus Christ bằng cách nói rằng Ngài chỉ có vẻ là con người (gọi là thuyết ảo hình, từ động từ Hy Lạp dokein, nghĩa là “có vẻ
Do đó, Giăng nhấn mạnh vào tính xác thực của sự nhập thể: “Điều chúng tôi đã nghe, điều mắt chúng tôi đã thấy, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng và tay chúng tôi đã chạm đến … và chúng tôi đã thấy” (1 Giăng 1:1-2). Trớ trêu thay (nếu nhìn từ quan điểm hiện đại), tà giáo đầu tiên về Đấng Christ học lại tấn công vào nhân tính của Chúa Jesus hơn là thần tính của Ngài.
d. Các Tiêu Chí của Lời Tuyên Xưng Cơ Đốc Chân Chính#
Để thực hiện mục đích củng cố niềm tin cho độc giả bằng cách dùng lẽ thật chống lại tà giáo, Giăng thảo luận về ba tiêu chí để xác định lời tuyên xưng Cơ Đốc chân chính:
- Nếp sống công chính.
- Tình yêu thương đối với các anh em tín hữu khác.
- Đức tin nơi Chúa Jesus là Đấng Christ nhập thể.
Giống như tiêu chí đức tin nơi Chúa Jesus là Đấng Christ nhập thể nhằm chống lại những sai lầm về Đấng Christ học của Tri Huệ giáo, tiêu chí về cách ăn ở công chính nhắm vào sự buông thả đạo đức của Tri Huệ giáo, và tiêu chí về tình yêu thương anh em nhằm chống lại chủ nghĩa độc tôn kiêu ngạo của những người theo tà giáo này.
5.2. Bố Cục Thư 1 Giăng#
Click vào link để xem Bố cục thư 1 Giăng
5.3. Đọc Thư 1 Giăng với Sự Giải Thích#
Sau khi khẳng định mình có sự hiểu biết trực tiếp về cuộc đời Chúa Jesus (1:1-4), Giăng nhấn mạnh rằng Cơ Đốc nhân chân chính - dù không phải là không có tội - vẫn sống cách công chính (1 Giăng 1:5-2:6), yêu thương lẫn nhau thay vì yêu thế gian (2:7-17), và tin vào lẽ thật về Chúa Jesus Christ. Do đó, họ khước từ các giáo sư giả, là những kẻ được gọi là “kẻ địch lại Đấng Christ” (antichrists), vì họ là tiền thân của Kẻ Địch Lại Đấng Christ (the Antichrist) - nhân vật sẽ xuất hiện trong kỳ đại nạn, ngay trước khi kết thúc thời đại này (2:18-28). Sau đó, GGiăng lặp đi lặp lại việc thảo luận về các tiêu chí này thêm nhiều lần nữa.
- 1 Giăng 2:18: “các con đã nghe nói rằng Kẻ địch lại Đấng Christ phải đến”
- 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:8: “Bấy giờ kẻ nghịch cùng luật pháp kia sẽ hiện ra”
- Khải huyền 13:1, 4: “Và tôi thấy một con thú từ dưới biển đi lên … Người ta thờ lạy con thú ấy.”
- Didache 16:4: “Bấy giờ kẻ lừa dối thế gian sẽ xuất hiện như một con trai của Đức Chúa Trời.”
a. Sự Vô Tội?#
Những ngôn ngữ mạnh mẽ trong chương 3 về việc Cơ Đốc nhân không phạm tội không thể mang nghĩa là sự hoàn hảo không tì vết, vì 1 Giăng 1:8 chép rằng: “Ví bằng chúng ta nói mình không có tội chi hết, ấy là chính chúng ta lừa dối mình, và lẽ thật không ở trong chúng ta.” (so sánh 1:10; 2:1).
Thì hiện tại trong tiếng Hy Lạp ở đây có thể chỉ ra rằng lối sống của Cơ Đốc nhân chân chính không chủ yếu là tội lỗi. Hoặc Giăng có ý muốn nói rằng Cơ Đốc nhân không thể phạm tội với tư cách là một Cơ Đốc nhân. Khi họ phạm tội, họ tạm thời chối bỏ bản sắc Cơ Đốc của mình. Không phải là họ ngừng là Cơ Đốc nhân, mà là họ ngừng hành động đúng với bản chất Cơ Đốc nhân của mình. Những người theo Tri Huệ giáo tự hào về “sự tự do Cơ Đốc” để làm bất cứ điều gì họ muốn, bao gồm cả sự tự do phạm tội.
b. Tội Dẫn Đến Sự Chết#
Sự đề cập đầy bí ẩn về một loại tội dẫn đến sự chết - một loại tội không đáng được cầu thay (1 Giăng 5:16-17) - có lẽ ám chỉ đến sự bội đạo đã được cảnh báo trong thư Hê-bơ-rơ. Đây là điều được thể hiện qua những kẻ tà giáo Tri Huệ giáo và dẫn đến sự kết án không thể đảo ngược.
Một cách giải thích khác là Giăng đang ám chỉ đến cái chết về mặt thể xác (không phải sự chết đời đời) như một hình phạt kỷ luật dành cho những Cơ Đốc nhân không vâng lời (so sánh 1 Cô-rinh-tô 5:5; 11:27-34).
VI. THƯ 2 GIĂNG VÀ 3 GIĂNG: LỜI DẠY DỖ CỦA NGƯỜI CHA GỬI CƠ ĐỐC NHÂN#
6.1. Các Vấn Đề Dẫn Nhập#
TÍNH QUY ĐIỂN VÀ TÁC GIẢ
Sự xác thực của thư 2 và 3 Giăng trong các tác phẩm của giáo phụ có phần hơi yếu, chắc chắn là do sự ngắn gọn của những bức thư này. Tuy nhiên, các giáo phụ Hội Thánh thời kỳ đầu không hề nghi ngờ việc sứ đồ Giăng đã viết chúng. Trong cả hai thư, Giăng tự xưng mình là “trưởng lão”, không phải theo nghĩa là một giáo phẩm trong một Hội Thánh địa phương, mà theo nghĩa là một vị trưởng lão của toàn thể Hội Thánh, tức là một sứ đồ (so sánh thư 1 Phi-e-rơ 5:1). Thuật ngữ này đứng ở vị trí tương phản với cách gọi yêu thích của Giăng dành cho độc giả của mình là “các con cái yêu dấu của ta”.
6.2. Bố Cục Thư 2 Giăng#
Click vào link để xem Bố cục thư 2 Giăng
6.3. Đọc Thư Thứ Hai của Giăng với Sự Giải Thích#
CHỦ ĐỀ, MỤC ĐÍCH, VÀ ĐỐI TƯỢNG
Chủ đề về tình yêu thương và lẽ thật Cơ Đốc chiếm ưu thế trong thư 2 Giăng. Mục đích là để cảnh báo chống lại việc bày tỏ lòng hiếu khách với bất kỳ giáo sư giả nào ("Đừng rước họ vào nhà và cũng đừng chào hỏi họ,” câu 10).
Đối tượng nhận thư là “bà được chọn và con cái bà” (câu 1). Một số nhà giải kinh coi họ là những người quen cá nhân của vị sứ đồ hoặc thậm chí coi các từ “được chọn” và “bà” là tên riêng của một người phụ nữ, như “Electa” hoặc “Kyria” hoặc cả hai. Nhưng “được chọn” khó có thể là tên riêng, vì chị/em của bà cũng được gọi là “là bà được chọn kia” (câu 13). Hai chị em thường sẽ không có cùng một tên.
Có khả năng cao hơn là “bà được chọn” là hình ảnh nhân cách hóa của một Hội Thánh địa phương và “con cái bà” đại diện cho các thành viên riêng lẻ của Hội Thánh đó; vì người phụ nữ và con cái bà được yêu mến bởi “tất cả những ai biết lẽ thật” (câu 1). Khó có thể tin rằng một gia đình lại có danh tiếng rộng rãi như vậy trong thế giới Cơ Đốc, nhưng một Hội Thánh nổi bật thì hoàn toàn có thể.
Hơn nữa, cả con cái của bà lẫn các con của chị em bà (câu 13) đều không được gọi bằng tên riêng; và đại từ “các ngươi” trong các câu 8, 10 và 12 là ở số nhiều. Những dữ kiện này, cộng với lời cảnh báo chống lại giáo sư giả và mệnh lệnh yêu thương lẫn nhau, phù hợp với một Hội Thánh hơn là một gia đình (so sánh 1 Giăng). Chúng ta không biết Hội Thánh này nằm ở đâu.
6.4. Bố Cục Thư 3 Giăng#
Click vào link để xem Bố cục thư 3 Giăng
6.5. Đọc Thư Thứ Ba của Giăng với Sự Giải Thích#
CHỦ ĐỀ, ĐỐI TƯỢNG, VÀ MỤC ĐÍCH
Thư thứ ba của Giăng tập trung vào một cuộc tranh chấp trong Hội Thánh. Nơi người nhận sống vẫn chưa được biết rõ, nhưng rất có thể là vùng lân cận Ê-phê-sô. Giăng gửi thư cho Gai-út nhằm:
- Khen ngợi Gai-út vì lòng hiếu khách của ông đối với “các anh em” (có lẽ là các giáo sư lưu động được Giăng phái đi).
- Quở trách Đi-ô-trép, là một lãnh đạo tự phụ trong Hội Thánh, vì ông ta thiếu lòng hiếu khách đối với “các anh em”, vì cách hành xử độc đoán của ông ta, và vì sự chống đối của ông ta đối với thẩm quyền sứ đồ của Giăng.
- Tiến cử Đê-mê-triu, là người có lẽ mang bức thư này đi.
Đê-mê-triu có thể cần một lời giới thiệu vì ông đang chuyển từ Hội Thánh ở Ê-phê-sô, là nơi Giăng đang sống, sang Hội Thánh nơi Gai-út sinh sống (so sánh với lời giới thiệu Phê-bê trong Rô-ma 16:1-2), hoặc vì ông là một trong những giáo sư lưu động thuộc nhóm người mà Đi-ô-trép đã từ chối tiếp đón. Thật vậy, Đi-ô-trép đã đuổi khỏi Hội Thánh những ai dám cung cấp thức ăn và chỗ ở cho họ. Giăng cho biết ông đã viết một bức thư khác cho toàn thể Hội Thánh mà Gai-út là thành viên (câu 9). Bức thư khác này có thể là thư 2 Giăng, bức thư lưu hành luân lưu giữa các Hội Thánh - tức thư 1 Giăng, hoặc một bức thư khác đã bị thất lạc. Câu 10 chứa đựng lời đe dọa về một chuyến viếng thăm cá nhân của Giăng để trực tiếp đối chất với Đi-ô-trép.
TÓM LƯỢC#
Được đặt tên theo tác giả của chúng, các thư của Gia-cơ, Phi-e-rơ, Giăng và Giu-đe phần lớn không có địa chỉ người nhận cụ thể, và do đó được gọi là các thư “catholic” theo nghĩa là “chung”. Thư Gia-cơ và thư Giu-đe được viết bởi những người em cùng mẹ của Chúa Jesus.
Thư Gia-cơ: Được gửi đến các Cơ Đốc nhân người Do Thái đang tản lạc (the Diaspora), chứa đựng ít giáo lý nhưng lại có nhiều chỉ dẫn thực tế về cách cư xử đúng đắn trong các buổi nhóm họp của Hội Thánh và trong đời sống hằng ngày. Đáng chú ý nhất là những nhận định của Gia-cơ về sự cần thiết phải chứng minh đức tin bên trong bằng việc làm tốt lành bên ngoài và việc kiểm soát cái lưỡi, tức là lời nói của bạn.
Thư Phi-e-rơ thứ nhất: Khắc họa các Cơ Đốc nhân ngoại bang như một cộng đồng tản lạc mới đang chịu đựng sự bắt bớ, nhưng được bảo đảm về sự cứu rỗi và được khuyên hãy sống sao cho phơi bày sự bất công của việc họ bị bắt bớ đó. Nói cách khác, hãy bắt chước Đấng Christ trong lối sống công chính của Ngài, và bạn sẽ được minh xét giống như Ngài. Phi-e-rơ viết bức thư này từ Rô-ma, là nơi ông gọi theo cách biểu tượng là “Ba-by-lôn”, và nhờ Sin-vanh làm người chuyển thư.
Thư Phi-e-rơ thứ hai và Thư Giu-đe: Cả hai thừ cùng tấn công tà giáo và bảo vệ đức tin chính thống bằng những ngôn từ gần như tương tự nhau, đồng thời nhấn mạnh vào sự đồi bại đạo đức của các giáo sư giả. Việc thư 2 Phi-e-rơ vay mượn từ thư Giu-đe, hay ngược lại, hoặc cả hai cùng vay mượn từ một nguồn chung vẫn còn là một câu hỏi. Quyền tác giả của sứ đồ Phi-e-rơ đối với thư 2 Phi-e-rơ thường bị phủ nhận, mặc dù vẫn có những lý do để nghi ngờ các lập luận của sự phủ nhận đó.
Thư Giăng thứ nhất: Trong khi những kẻ tà giáo bị tấn công trong thư 2 Phi-e-rơ phủ nhận sự tái lâm của Chúa Jesus, thì những kẻ bị tấn công trong thư 1 Giăng lại phủ nhận sự nhập thể trong một thân vị là Chúa Jesus Christ. Họ là những người theo Tri Huệ giáo. Để chống lại tà giáo, sự buông thả đạo đức và chủ nghĩa độc tôn của họ, Giăng đã trình bày sự hiểu biết về Đấng Christ học đúng đắn, cách ăn ở công chính, và tình yêu thương lẫn nhau của các Cơ Đốc nhân chân chính.
Thư Giăng thứ hai và thứ ba: Thư 2 Giăng cảnh báo một Hội Thánh địa phương không được tiếp đãi những kẻ tà giáo, còn thư 3 Giăng khen ngợi một người tên là Gai-út vì đã tiếp đón những người rao giảng Tin Lành chân chính. Thư 3 Giăng cũng lên án một người tên là Đi-ô-trép vì đã từ chối tiếp đãi họ, đồng thời tiến cử sứ giả của Giăng và là người có khả năng đã chuyển lá thư này - một người tên là Đê-mê-triu.
