Skip to main content

Lu-ca 15

·2104 words·10 mins·
Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God

[1] Ἦσαν δὲ αὐτῷ ἐγγίζοντες πάντες οἱ τελῶναι καὶ οἱ ἁμαρτωλοὶ ἀκούειν αὐτοῦ.
[1] Hết thảy các người thâu thuế và người có tội đến gần Ðức Chúa Jêsus đặng nghe Ngài giảng.
[1] Now all the tax collectors and sinners were coming to hear him.

[2] καὶ διεγόγγυζον οἵ τε Φαρισαῖοι καὶ οἱ γραμματεῖς λέγοντες ὅτι Οὗτος ἁμαρτωλοὺς προσδέχεται καὶ συνεσθίει αὐτοῖς.
[2] Các người Pha-ri-si và các thầy thông giáo lằm bằm mà nói rằng: Người nầy tiếp những kẻ tội lỗi, và cùng ăn với họ!
[2] But the Pharisees and the experts in the law were complaining, “This man welcomes sinners and eats with them.”

[3] εἶπεν δὲ πρὸς αὐτοὺς τὴν παραβολὴν ταύτην λέγων·
[3] Ngài bèn phán cho họ lời thí dụ nầy:
[3] So Jesus told them this parable:

[4] Τίς ἄνθρωπος ἐξ ὑμῶν ἔχων ἑκατὸν πρόβατα καὶ ἀπολέσας ἐξ αὐτῶν ἓν οὐ καταλείπει τὰ ἐνενήκοντα ἐννέα ἐν τῇ ἐρήμῳ καὶ πορεύεται ἐπὶ τὸ ἀπολωλὸς ἕως εὕρῃ αὐτό;
[4] Trong các ngươi ai là người có một trăm con chiên, nếu mất một con, mà không để chín mươi chín con nơi đồng vắng, đặng đi tìm con đã mất cho kỳ được sao?
[4] “Which one of you, if he has a hundred sheep and loses one of them, would not leave the ninety-nine in the open pasture and go look for the one that is lost until he finds it?

[5] καὶ εὑρὼν ἐπιτίθησιν ἐπὶ τοὺς ὤμους αὐτοῦ χαίρων,
[5] Khi đã kiếm được, thì vui mừng vác nó lên vai;
[5] Then when he has found it, he places it on his shoulders, rejoicing.

[6] καὶ ἐλθὼν εἰς τὸν οἶκον συγκαλεῖ τοὺς φίλους καὶ τοὺς γείτονας, λέγων αὐτοῖς · Συγχάρητέ μοι ὅτι εὗρον τὸ πρόβατόν μου τὸ ἀπολωλός.
[6] đoạn, về đến nhà, kêu bạn hữu và kẻ lân cận, mà rằng: Hãy chung vui với ta, vì ta đã tìm được con chiên bị mất.
[6] Returning home, he calls together his friends and neighbors, telling them, ‘Rejoice with me, because I have found my sheep that was lost.’

[7] λέγω ὑμῖν ὅτι οὕτως χαρὰ ἐν τῷ οὐρανῷ ἔσται ἐπὶ ἑνὶ ἁμαρτωλῷ μετανοοῦντι ἢ ἐπὶ ἐνενήκοντα ἐννέα δικαίοις οἵτινες οὐ χρείαν ἔχουσιν μετανοίας.
[7] Ta nói cùng các ngươi, trên trời cũng như vậy, sẽ vui mừng cho một kẻ có tội ăn năn hơn là chín mươi chín kẻ công bình không cần phải ăn năn.
[7] I tell you, in the same way there will be more joy in heaven over one sinner who repents than over ninety-nine righteous people who have no need to repent.

[8] Ἢ τίς γυνὴ δραχμὰς ἔχουσα δέκα, ἐὰν ἀπολέσῃ δραχμὴν μίαν, οὐχὶ ἅπτει λύχνον καὶ σαροῖ τὴν οἰκίαν καὶ ζητεῖ ἐπιμελῶς ἕως οὗ εὕρῃ;
[8] Hay là, có người đờn bà nào có mười đồng bạc, mất một đồng, mà không thắp đèn, quét nhà, kiếm kỹ càng cho kỳ được sao?
[8] “Or what woman, if she has ten silver coins and loses one of them, does not light a lamp, sweep the house, and search thoroughly until she finds it?

[9] καὶ εὑροῦσα συγκαλεῖ τὰς φίλας καὶ γείτονας λέγουσα · Συγχάρητέ μοι ὅτι εὗρον τὴν δραχμὴν ἣν ἀπώλεσα.
[9] Khi tìm được rồi, gọi bầu bạn và người lân cận mình, mà rằng: Hãy chung vui với ta, vì ta đã tìm được đồng bạc bị mất.
[9] Then when she has found it, she calls together her friends and neighbors, saying, ‘Rejoice with me, for I have found the coin that I had lost.’

[10] οὕτως, λέγω ὑμῖν, γίνεται χαρὰ ἐνώπιον τῶν ἀγγέλων τοῦ θεοῦ ἐπὶ ἑνὶ ἁμαρτωλῷ μετανοοῦντι.
[10] Ta nói cùng các ngươi, trước mặt thiên sứ của Ðức Chúa Trời cũng như vậy, sẽ mừng rỡ cho một kẻ có tội ăn năn.
[10] In the same way, I tell you, there is joy in the presence of God’s angels over one sinner who repents.”

[11] Εἶπεν δέ · Ἄνθρωπός τις εἶχεν δύο υἱούς.
[11] Ngài lại phán rằng: Một người kia có hai con trai.
[11] Then Jesus said, “A man had two sons.

[12] καὶ εἶπεν ὁ νεώτερος αὐτῶν τῷ πατρί · Πάτερ, δός μοι τὸ ἐπιβάλλον μέρος τῆς οὐσίας · ὁ δὲ διεῖλεν αὐτοῖς τὸν βίον.
[12] Người em nói với cha rằng: Thưa cha, xin chia cho tôi phần của mà tôi sẽ được. Người cha liền chia của mình cho hai con.
[12] The younger of them said to his father, ‘Father, give me the share of the estate that will belong to me.’ So he divided his assets between them.

[13] καὶ μετʼ οὐ πολλὰς ἡμέρας συναγαγὼν πάντα ὁ νεώτερος υἱὸς ἀπεδήμησεν εἰς χώραν μακράν, καὶ ἐκεῖ διεσκόρπισεν τὴν οὐσίαν αὐτοῦ ζῶν ἀσώτως.
[13] Cách ít ngày, người em tóm thâu hết, đi phương xa, ở đó, ăn chơi hoang đàng, tiêu sạch gia tài mình.
[13] After a few days, the younger son gathered together all he had and left on a journey to a distant country, and there he squandered his wealth with a wild lifestyle.

[14] δαπανήσαντος δὲ αὐτοῦ πάντα ἐγένετο λιμὸς ἰσχυρὰ κατὰ τὴν χώραν ἐκείνην, καὶ αὐτὸς ἤρξατο ὑστερεῖσθαι.
[14] Khi đã xài hết của rồi, trong xứ xảy có cơn đói lớn; nó mới bị nghèo thiếu,
[14] Then after he had spent everything, a severe famine took place in that country, and he began to be in need.

[15] καὶ πορευθεὶς ἐκολλήθη ἑνὶ τῶν πολιτῶν τῆς χώρας ἐκείνης, καὶ ἔπεμψεν αὐτὸν εἰς τοὺς ἀγροὺς αὐτοῦ βόσκειν χοίρους·
[15] bèn đi làm mướn cho một người bổn xứ, thì họ sai ra đồng chăn heo.
[15] So he went and worked for one of the citizens of that country, who sent him to his fields to feed pigs.

[16] καὶ ἐπεθύμει γεμίσαι τὴν κοιλίαν αὐτοῦ ἀπὸ τῶν κερατίων ὧν ἤσθιον οἱ χοῖροι, καὶ οὐδεὶς ἐδίδου αὐτῷ.
[16] Nó muốn lấy vỏ đậu của heo ăn mà ăn cho no, nhưng chẳng ai cho.
[16] He was longing to eat the carob pods the pigs were eating, but no one gave him anything.

[17] εἰς ἑαυτὸν δὲ ἐλθὼν ἔφη · Πόσοι μίσθιοι τοῦ πατρός μου περισσεύονται ἄρτων, ἐγὼ δὲ λιμῷ ὧδε ἀπόλλυμαι·
[17] Vậy nó mới tỉnh ngộ, mà rằng: Tại nhà cha ta, biết bao người làm mướn được bánh ăn dư dật, mà ta đây phải chết đói!
[17] But when he came to his senses he said, ‘How many of my father’s hired workers have food enough to spare, but here I am dying from hunger!

[18] ἀναστὰς πορεύσομαι πρὸς τὸν πατέρα μου καὶ ἐρῶ αὐτῷ · Πάτερ, ἥμαρτον εἰς τὸν οὐρανὸν καὶ ἐνώπιόν σου,
[18] Ta sẽ đứng dậy trở về cùng cha, mà rằng: Thưa cha, tôi đã đặng tội với trời và với cha,
[18] I will get up and go to my father and say to him, “Father, I have sinned against heaven and against you.

[19] οὐκέτι εἰμὶ ἄξιος κληθῆναι υἱός σου · ποίησόν με ὡς ἕνα τῶν μισθίων σου.
[19] không đáng gọi là con của cha nữa; xin cha đãi tôi như đứa làm mướn của cha vậy.
[19] I am no longer worthy to be called your son; treat me like one of your hired workers.”’

[20] καὶ ἀναστὰς ἦλθεν πρὸς τὸν πατέρα ἑαυτοῦ. ἔτι δὲ αὐτοῦ μακρὰν ἀπέχοντος εἶδεν αὐτὸν ὁ πατὴρ αὐτοῦ καὶ ἐσπλαγχνίσθη καὶ δραμὼν ἐπέπεσεν ἐπὶ τὸν τράχηλον αὐτοῦ καὶ κατεφίλησεν αὐτόν.
[20] Nó bèn đứng dậy mà về cùng cha mình. Khi còn ở đàng xa, cho nó thấy thì động lòng thương xót, chạy ra ôm lấy cổ mà hôn.
[20] So he got up and went to his father. But while he was still a long way from home his father saw him, and his heart went out to him; he ran and hugged his son and kissed him.

[21] εἶπεν δὲ ὁ υἱὸς αὐτῷ · Πάτερ, ἥμαρτον εἰς τὸν οὐρανὸν καὶ ἐνώπιόν σου, οὐκέτι εἰμὶ ἄξιος κληθῆναι υἱός σου.
[21] Con thưa cùng cha rằng: Cha ơi, tôi đã đặng tội với trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con của cha nữa.
[21] Then his son said to him, ‘Father, I have sinned against heaven and against you; I am no longer worthy to be called your son.’

[22] εἶπεν δὲ ὁ πατὴρ πρὸς τοὺς δούλους αὐτοῦ · Ταχὺ ἐξενέγκατε στολὴν τὴν πρώτην καὶ ἐνδύσατε αὐτόν, καὶ δότε δακτύλιον εἰς τὴν χεῖρα αὐτοῦ καὶ ὑποδήματα εἰς τοὺς πόδας,
[22] nhưng người cha bảo đầy tớ rằng: Hãy mau mau lấy áo tốt nhứt mặc cho nó; đeo nhẫn vào ngón tay, mang giày vào chơn.
[22] But the father said to his slaves, ‘Hurry! Bring the best robe, and put it on him! Put a ring on his finger and sandals on his feet!

[23] καὶ φέρετε τὸν μόσχον τὸν σιτευτόν, θύσατε, καὶ φαγόντες εὐφρανθῶμεν,
[23] Hãy bắt bò con mập làm thịt đi. Chúng ta hãy ăn mừng,
[23] Bring the fattened calf and kill it! Let us eat and celebrate,

[24] ὅτι οὗτος ὁ υἱός μου νεκρὸς ἦν καὶ ἀνέζησεν, ἦν ἀπολωλὼς καὶ εὑρέθη. καὶ ἤρξαντο εὐφραίνεσθαι.
[24] vì con ta đây đã chết mà bây giờ lại sống, đã mất mà bây giờ lại thấy được. Ðoạn, họ khởi sự vui mừng.
[24] because this son of mine was dead, and is alive again — he was lost and is found!’ So they began to celebrate.

[25] Ἦν δὲ ὁ υἱὸς αὐτοῦ ὁ πρεσβύτερος ἐν ἀγρῷ · καὶ ὡς ἐρχόμενος ἤγγισεν τῇ οἰκίᾳ, ἤκουσεν συμφωνίας καὶ χορῶν,
[25] Vả, con trai cả đương ở ngoài đồng. Khi trở về gần đến nhà, nghe tiếng đờn ca nhảy múa,
[25] “Now his older son was in the field. As he came and approached the house, he heard music and dancing.

[26] καὶ προσκαλεσάμενος ἕνα τῶν παίδων ἐπυνθάνετο τί ἂν εἴη ταῦτα·
[26] bèn gọi một đầy tớ mà hỏi cớ gì.
[26] So he called one of the slaves and asked what was happening.

[27] ὁ δὲ εἶπεν αὐτῷ ὅτι Ὁ ἀδελφός σου ἥκει, καὶ ἔθυσεν ὁ πατήρ σου τὸν μόσχον τὸν σιτευτόν, ὅτι ὑγιαίνοντα αὐτὸν ἀπέλαβεν.
[27] Ðầy tớ thưa rằng: Em cậu bây giờ trở về, nên cha cậu đã làm thịt bò con mập, vì thấy em về được mạnh khỏe.
[27] The slave replied, ‘Your brother has returned, and your father has killed the fattened calf because he got his son back safe and sound.’

[28] ὠργίσθη δὲ καὶ οὐκ ἤθελεν εἰσελθεῖν. ὁ δὲ πατὴρ αὐτοῦ ἐξελθὼν παρεκάλει αὐτόν.
[28] Con cả liền nổi giận, không muốn vào nhà. Vậy cha nó ra khuyên nó vào.
[28] But the older son became angry and refused to go in. His father came out and appealed to him,

[29] ὁ δὲ ἀποκριθεὶς εἶπεν τῷ πατρὶ αὐτοῦ · Ἰδοὺ τοσαῦτα ἔτη δουλεύω σοι καὶ οὐδέποτε ἐντολήν σου παρῆλθον, καὶ ἐμοὶ οὐδέποτε ἔδωκας ἔριφον ἵνα μετὰ τῶν φίλων μου εὐφρανθῶ·
[29] Nhưng nó thưa cha rằng: Nầy, tôi giúp việc cha đã bấy nhiêu năm, chưa từng trái phép, mà cha chẳng hề cho tôi một con dê con đặng ăn chơi với bạn hữu tôi.
[29] but he answered his father, ‘Look! These many years I have worked like a slave for you, and I never disobeyed your commands. Yet you never gave me even a goat so that I could celebrate with my friends!

[30] ὅτε δὲ ὁ υἱός σου οὗτος ὁ καταφαγών σου τὸν βίον μετὰ πορνῶν ἦλθεν, ἔθυσας αὐτῷ τὸν σιτευτὸν μόσχον.
[30] Nhưng nay con của cha kia, là đứa đã ăn hết gia tài cha với phường điếm đĩ rồi trở về, thì cha vì nó làm thịt bò con mập!
[30] But when this son of yours came back, who has devoured your assets with prostitutes, you killed the fattened calf for him!’

[31] ὁ δὲ εἶπεν αὐτῷ · Τέκνον, σὺ πάντοτε μετʼ ἐμοῦ εἶ, καὶ πάντα τὰ ἐμὰ σά ἐστιν ·
[31] Người cha nói rằng: Con ơi, con ở cùng cha luôn, hết thảy của cha là của con.
[31] Then the father said to him, ‘Son, you are always with me, and everything that belongs to me is yours.

[32] εὐφρανθῆναι δὲ καὶ χαρῆναι ἔδει, ὅτι ὁ ἀδελφός σου οὗτος νεκρὸς ἦν καὶ ἔζησεν, καὶ ἀπολωλὼς καὶ εὑρέθη.
[32] Nhưng thật nên dọn tiệc và vui mừng, vì em con đây đã chết mà lại sống, đã mất mà lại thấy được.
[32] It was appropriate to celebrate and be glad, for your brother was dead, and is alive; he was lost and is found.’”