Skip to main content

Ma-thi-ơ 14

·2079 words·10 mins·
Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God

[1] Ἐν ἐκείνῳ τῷ καιρῷ ἤκουσεν Ἡρῴδης ὁ τετραάρχης τὴν ἀκοὴν Ἰησοῦ,
[1] Lúc ấy, Hê-rốt là vua chư hầu, nghe tiếng đồn Ðức Chúa Jêsus,
[1] At that time Herod the tetrarch heard reports about Jesus,

[2] καὶ εἶπεν τοῖς παισὶν αὐτοῦ · Οὗτός ἐστιν Ἰωάννης ὁ βαπτιστής · αὐτὸς ἠγέρθη ἀπὸ τῶν νεκρῶν, καὶ διὰ τοῦτο αἱ δυνάμεις ἐνεργοῦσιν ἐν αὐτῷ.
[2] thì phán cùng bầy tôi rằng: Ðây là Giăng Báp-tít. Người chết đi sống lại, nhơn đó mới làm được mấy phép lạ như vậy.
[2] and he said to his servants, “This is John the Baptist. He has been raised from the dead! And because of this, miraculous powers are at work in him.”

[3] Ὁ γὰρ Ἡρῴδης κρατήσας τὸν Ἰωάννην ἔδησεν αὐτὸν καὶ ἐν φυλακῇ ἀπέθετο διὰ Ἡρῳδιάδα τὴν γυναῖκα Φιλίππου τοῦ ἀδελφοῦ αὐτοῦ,
[3] Số là, bởi cớ Hê-rô-đia, vợ Phi-líp, là em mình, nên vua Hê-rốt đã truyền bắt trói Giăng và bỏ tù.
[3] For Herod had arrested John, bound him, and put him in prison on account of Herodias, his brother Philip’s wife,

[4] ἔλεγεν γὰρ αὐτῷ ὁ Ἰωάννης · Οὐκ ἔξεστίν σοι ἔχειν αὐτήν ·
[4] Vì Giăng có can vua rằng: Vua không có phép được lấy người đó làm vợ.
[4] because John had repeatedly told him, “It is not lawful for you to have her.”

[5] καὶ θέλων αὐτὸν ἀποκτεῖναι ἐφοβήθη τὸν ὄχλον, ὅτι ὡς προφήτην αὐτὸν εἶχον.
[5] Vua muốn giết Giăng, song sợ dân chúng, vì họ đều tôn Giăng là đấng tiên tri.
[5] Although Herod wanted to kill John, he feared the crowd because they accepted John as a prophet.

[6] γενεσίοις δὲ γενομένοις τοῦ Ἡρῴδου ὠρχήσατο ἡ θυγάτηρ τῆς Ἡρῳδιάδος ἐν τῷ μέσῳ καὶ ἤρεσεν τῷ Ἡρῴδῃ,
[6] Vừa đến ngày ăn mừng sanh nhựt vua Hê-rốt, con gái của Hê-rô-đia nhảy múa ở giữa người dự đám, vua lấy làm thích lắm,
[6] But on Herod’s birthday, the daughter of Herodias danced before them and pleased Herod,

[7] ὅθεν μετὰ ὅρκου ὡμολόγησεν αὐτῇ δοῦναι ὃ ἐὰν αἰτήσηται.
[7] đến nỗi lấy lời thề mà hứa cho con gái ấy điều chi nàng muốn xin.
[7] so much that he promised with an oath to give her whatever she asked.

[8] ἡ δὲ προβιβασθεῖσα ὑπὸ τῆς μητρὸς αὐτῆς · Δός μοι, φησίν, ὧδε ἐπὶ πίνακι τὴν κεφαλὴν Ἰωάννου τοῦ βαπτιστοῦ.
[8] Vậy, nàng bị mẹ xui giục, bèn tâu rằng: Xin lấy cái đầu Giăng Báp-tít để trên mâm mà cho tôi đây.
[8] Instructed by her mother, she said, “Give me the head of John the Baptist here on a platter.”

[9] καὶ λυπηθεὶς ὁ βασιλεὺς διὰ τοὺς ὅρκους καὶ τοὺς συνανακειμένους ἐκέλευσεν δοθῆναι,
[9] Vua lấy làm buồn rầu; song vì đã thề lỡ rồi và có những người dự yến ở đó, nên truyền cho nàng như lời.
[9] Although it grieved the king, because of his oath and the dinner guests he commanded it to be given.

[10] καὶ πέμψας ἀπεκεφάλισεν τὸν Ἰωάννην ἐν τῇ φυλακῇ·
[10] Vua bèn sai người chém Giăng trong ngục,
[10] So he sent and had John beheaded in the prison.

[11] καὶ ἠνέχθη ἡ κεφαλὴ αὐτοῦ ἐπὶ πίνακι καὶ ἐδόθη τῷ κορασίῳ, καὶ ἤνεγκεν τῇ μητρὶ αὐτῆς.
[11] rồi họ để đầu người trên mâm mà đem cho con gái ấy, nàng bèn đem cho mẹ mình.
[11] His head was brought on a platter and given to the girl, and she brought it to her mother.

[12] καὶ προσελθόντες οἱ μαθηταὶ αὐτοῦ ἦραν τὸ πτῶμα καὶ ἔθαψαν αὐτόν, καὶ ἐλθόντες ἀπήγγειλαν τῷ Ἰησοῦ.
[12] Ðoạn, các môn đồ của Giăng đến, lấy xác mà chôn, rồi đi báo tin cho Ðức Chúa Jêsus.
[12] Then John’s disciples came and took the body and buried it and went and told Jesus.

[13] Ἀκούσας δὲ ὁ Ἰησοῦς ἀνεχώρησεν ἐκεῖθεν ἐν πλοίῳ εἰς ἔρημον τόπον κατʼ ἰδίαν · καὶ ἀκούσαντες οἱ ὄχλοι ἠκολούθησαν αὐτῷ πεζῇ ἀπὸ τῶν πόλεων.
[13] Ðức Chúa Jêsus vừa nghe tin ấy liền bỏ đó xuống thuyền, đi tẻ ra nơi đồng vắng. Khi đoàn dân biết vậy, thì từ các thành đi bộ mà theo Ngài.
[13] Now when Jesus heard this he went away from there privately in a boat to an isolated place. But when the crowd heard about it, they followed him on foot from the towns.

[14] καὶ ἐξελθὼν εἶδεν πολὺν ὄχλον, καὶ ἐσπλαγχνίσθη ἐπʼ αὐτοῖς καὶ ἐθεράπευσεν τοὺς ἀρρώστους αὐτῶν.
[14] Ngài ở thuyền bước lên, thấy đoàn dân đông đúc, động lòng thương xót, mà chữa cho kẻ bịnh được lành.
[14] As he got out he saw the large crowd, and he had compassion on them and healed their sick.

[15] ὀψίας δὲ γενομένης προσῆλθον αὐτῷ οἱ μαθηταὶ λέγοντες · Ἔρημός ἐστιν ὁ τόπος καὶ ἡ ὥρα ἤδη παρῆλθεν · ἀπόλυσον τοὺς ὄχλους, ἵνα ἀπελθόντες εἰς τὰς κώμας ἀγοράσωσιν ἑαυτοῖς βρώματα.
[15] Ðến chiều tối, môn đồ tới gần Ngài mà thưa rằng: Ở đây vắng vẻ, và trời tối rồi, xin thầy cho dân chúng về, để họ đi vào các làng đặng mua đồ ăn.
[15] When evening arrived, his disciples came to him saying, “This is an isolated place and the hour is already late. Send the crowds away so that they can go into the villages and buy food for themselves.”

[16] ὁ δὲ Ἰησοῦς εἶπεν αὐτοῖς · Οὐ χρείαν ἔχουσιν ἀπελθεῖν · δότε αὐτοῖς ὑμεῖς φαγεῖν.
[16] Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Không cần họ phải đi; chính các ngươi hãy cho họ ăn.
[16] But he replied, “They don’t need to go. You give them something to eat.”

[17] οἱ δὲ λέγουσιν αὐτῷ · Οὐκ ἔχομεν ὧδε εἰ μὴ πέντε ἄρτους καὶ δύο ἰχθύας.
[17] Môn đồ thưa rằng: Chúng tôi có đây năm cái bánh và hai con cá mà thôi.
[17] They said to him, “We have here only five loaves and two fish.”

[18] ὁ δὲ εἶπεν · Φέρετέ μοι ὧδε αὐτούς.
[18] Ngài phán rằng: Hãy đem đây cho ta.
[18] “Bring them here to me,” he replied.

[19] καὶ κελεύσας τοὺς ὄχλους ἀνακλιθῆναι ἐπὶ τοῦ χόρτου, λαβὼν τοὺς πέντε ἄρτους καὶ τοὺς δύο ἰχθύας, ἀναβλέψας εἰς τὸν οὐρανὸν εὐλόγησεν καὶ κλάσας ἔδωκεν τοῖς μαθηταῖς τοὺς ἄρτους οἱ δὲ μαθηταὶ τοῖς ὄχλοις.
[19] Ngài bèn truyền cho chúng ngồi xuống trên cỏ, đoạn, lấy năm cái bánh và hai con cá đó, ngửa mặt lên trời mà tạ ơn; rồi bẻ bánh ra đưa cho môn đồ, môn đồ phát cho dân chúng.
[19] Then he instructed the crowds to sit down on the grass. He took the five loaves and two fish, and looking up to heaven he gave thanks and broke the loaves. He gave them to the disciples, who in turn gave them to the crowds.

[20] καὶ ἔφαγον πάντες καὶ ἐχορτάσθησαν, καὶ ἦραν τὸ περισσεῦον τῶν κλασμάτων δώδεκα κοφίνους πλήρεις.
[20] Ai nấy đều ăn no, còn bánh thừa lại thâu được đầy mười hai giỏ.
[20] They all ate and were satisfied, and they picked up the broken pieces left over, twelve baskets full.

[21] οἱ δὲ ἐσθίοντες ἦσαν ἄνδρες ὡσεὶ πεντακισχίλιοι χωρὶς γυναικῶν καὶ παιδίων.
[21] Số người ăn ước chừng năm ngàn, không kể đờn bà con nít.
[21] Not counting women and children, there were about five thousand men who ate.

[22] Καὶ εὐθέως ἠνάγκασεν τοὺς μαθητὰς ἐμβῆναι εἰς πλοῖον καὶ προάγειν αὐτὸν εἰς τὸ πέραν, ἕως οὗ ἀπολύσῃ τοὺς ὄχλους.
[22] Kế đó, Ngài liền hối môn đồ xuống thuyền, qua trước bờ bên kia, trong khi Ngài đang truyền cho dân chúng tan đi.
[22] Immediately Jesus made the disciples get into the boat and go ahead of him to the other side, while he dispersed the crowds.

[23] καὶ ἀπολύσας τοὺς ὄχλους ἀνέβη εἰς τὸ ὄρος κατʼ ἰδίαν προσεύξασθαι. ὀψίας δὲ γενομένης μόνος ἦν ἐκεῖ.
[23] Xong rồi, Ngài lên núi để cầu nguyện riêng; đến chiều tối, Ngài ở đó một mình.
[23] And after he sent the crowds away, he went up the mountain by himself to pray. When evening came, he was there alone.

[24] τὸ δὲ πλοῖον ἤδη σταδίους πολλοὺς ἀπὸ τῆς γῆς ἀπεῖχεν, βασανιζόμενον ὑπὸ τῶν κυμάτων, ἦν γὰρ ἐναντίος ὁ ἄνεμος.
[24] Bấy giờ, thuyền đã ra giữa biển rồi, vì gió ngược, nên bị sóng vỗ.
[24] Meanwhile the boat, already far from land, was taking a beating from the waves because the wind was against it.

[25] τετάρτῃ δὲ φυλακῇ τῆς νυκτὸς ἦλθεν πρὸς αὐτοὺς περιπατῶν ἐπὶ τὴν θάλασσαν.
[25] Song đến canh tư đêm ấy, Ðức Chúa Jêsus đi bộ trên mặt biển mà đến cùng môn đồ.
[25] As the night was ending, Jesus came to them walking on the sea.

[26] οἱ δὲ μαθηταὶ ἰδόντες αὐτὸν ἐπὶ τῆς θαλάσσης περιπατοῦντα ἐταράχθησαν λέγοντες ὅτι Φάντασμά ἐστιν, καὶ ἀπὸ τοῦ φόβου ἔκραξαν.
[26] Khi thấy Ngài đi bộ trên mặt biển, thì môn đồ bối rối mà nói rằng: Ấy là một con ma; rồi sợ hãi mà la lên.
[26] When the disciples saw him walking on the water they were terrified and said, “It’s a ghost!” and cried out with fear.

[27] εὐθὺς δὲ ἐλάλησεν αὐτοῖς ὁ Ἰησοῦς λέγων · Θαρσεῖτε, ἐγώ εἰμι · μὴ φοβεῖσθε.
[27] Nhưng Ðức Chúa Jêsus liền phán rằng: Các ngươi hãy yên lòng; ấy là ta đây, đừng sợ!
[27] But immediately Jesus spoke to them: “Have courage! It is I. Do not be afraid.”

[28] Ἀποκριθεὶς δὲ αὐτῷ ὁ Πέτρος εἶπεν · Κύριε, εἰ σὺ εἶ, κέλευσόν με ἐλθεῖν πρὸς σὲ ἐπὶ τὰ ὕδατα·
[28] Phi-e-rơ bèn thưa rằng: Lạy Chúa, nếu phải Chúa, xin khiến tôi đi trên mặt nước mà đến cùng Chúa.
[28] Peter said to him, “Lord, if it is you, order me to come to you on the water.”

[29] ὁ δὲ εἶπεν · Ἐλθέ. καὶ καταβὰς ἀπὸ τοῦ πλοίου Πέτρος περιεπάτησεν ἐπὶ τὰ ὕδατα καὶ ἦλθεν πρὸς τὸν Ἰησοῦν.
[29] Ngài phán rằng: Hãy lại đây! Phi-e-rơ ở trên thuyền bước xuống, đi bộ trên mặt nước mà đến cùng Ðức Chúa Jêsus.
[29] So he said, “Come.” Peter got out of the boat, walked on the water, and came toward Jesus.

[30] βλέπων δὲ τὸν ἄνεμον ἰσχυρὸν ἐφοβήθη, καὶ ἀρξάμενος καταποντίζεσθαι ἔκραξεν λέγων · Κύριε, σῶσόν με.
[30] Song khi thấy gió thổi, thì Phi-e-rơ sợ hãi, hòng sụp xuống nước, bèn la lên rằng: Chúa ơn, xin cứu lấy tôi!
[30] But when he saw the strong wind he became afraid. And starting to sink, he cried out, “Lord, save me!”

[31] εὐθέως δὲ ὁ Ἰησοῦς ἐκτείνας τὴν χεῖρα ἐπελάβετο αὐτοῦ καὶ λέγει αὐτῷ · Ὀλιγόπιστε, εἰς τί ἐδίστασας;
[31] Tức thì Ðức Chúa Jêsus giơ tay ra nắm lấy người, mà nói rằng: Hỡi người ít đức tin, sao ngươi hồ nghi làm vậy?
[31] Immediately Jesus reached out his hand and caught him, saying to him, “You of little faith, why did you doubt?”

[32] καὶ ἀναβάντων αὐτῶν εἰς τὸ πλοῖον ἐκόπασεν ὁ ἄνεμος.
[32] Ngài cùng Phi-e-rơ lên thuyền rồi, thì gió yên lặng.
[32] When they went up into the boat, the wind ceased.

[33] οἱ δὲ ἐν τῷ πλοίῳ προσεκύνησαν αὐτῷ λέγοντες · Ἀληθῶς θεοῦ υἱὸς εἶ.
[33] Các người trong thuyền bèn đến quì lạy Ngài mà nói rằng: Thầy thật là Con Ðức Chúa Trời!
[33] Then those who were in the boat worshiped him, saying, “Truly you are the Son of God.”

[34] Καὶ διαπεράσαντες ἦλθον ἐπὶ τὴν γῆν εἰς Γεννησαρέτ.
[34] Khi qua biển rồi, Ngài và môn đồ đến xứ Ghê-nê-xa-rết.
[34] After they had crossed over, they came to land at Gennesaret.

[35] καὶ ἐπιγνόντες αὐτὸν οἱ ἄνδρες τοῦ τόπου ἐκείνου ἀπέστειλαν εἰς ὅλην τὴν περίχωρον ἐκείνην, καὶ προσήνεγκαν αὐτῷ πάντας τοὺς κακῶς ἔχοντας,
[35] Người xứ đó nhận biết Ngài, thì sai người báo tin cho khắp các miền xung quanh, và họ đem các kẻ bịnh đến cùng Ngài,
[35] When the people there recognized him, they sent word into all the surrounding area, and they brought all their sick to him.

[36] καὶ παρεκάλουν αὐτὸν ἵνα μόνον ἅψωνται τοῦ κρασπέδου τοῦ ἱματίου αὐτοῦ · καὶ ὅσοι ἥψαντο διεσώθησαν.
[36] xin chỉ cho rờ đến viền áo mà thôi; vậy ai rờ đến cũng đều được lành bịnh cả.
[36] They begged him if they could only touch the edge of his cloak, and all who touched it were healed.