Skip to main content

Gióp 6

·1389 words·7 mins·
Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God

[1] וַיַּעַן אִיּוֹב וַיֹּאמַר ׃
#

[1] Gióp đáp lại rằng:
[1] Then Job responded:

[2] לוּ שָׁקוֹל יִשָּׁקֵל כַּעְשִׂי וְהַיָּתִי בְּמֹאזְנַיִם יִשְׂאוּ־יָחַד ׃
#

[2] Ôi! Chớ gì nỗi buồn tôi nhắc cân cho đúng, Và các tai nạn tôi để trên cân thăng bằng!
[2] “Oh, if only my grief could be weighed, and my misfortune laid on the scales too!

[3] כִּי־עַתָּה מֵחוֹל יַמִּים יִכְבָּד עַל־כֵּן דְּבָרַי לָעוּ ׃
#

[3] Vì hiện giờ nó nặng hơn cát biển; Nên tại cớ ấy các lời nói đại ra.
[3] But because it is heavier than the sand of the sea, that is why my words have been wild.

[4] כִּי חִצֵּי שַׁדַּי עִמָּדִי אֲשֶׁר חֲמָתָם שֹׁתָה רוּחִי בִּעוּתֵי אֱלוֹהַּ יַעַרְכוּנִי ׃
#

[4] Bởi vì các tên của Ðấng Toàn năng trúng nhằm tôi; Tâm hồn tôi uống nọc độc của tên ấy; Sự kinh khiếp của Ðức Chúa Trời dàn trận nghịch cùng tôi.
[4] For the arrows of the Almighty are within me; my spirit drinks their poison; God’s sudden terrors are arrayed against me.

[5] הֲיִנְהַק־פֶּרֶא עֲלֵי־דֶשֶׁא אִם יִגְעֶה־שּׁוֹר עַל־בְּלִילוֹ ׃
#

[5] Chớ thì con lừa rừng nào kêu la khi có cỏ? Còn bò nào rống khi có lương thảo?
[5] “Does the wild donkey bray when it is near grass? Or does the ox low near its fodder?

[6] הֲיֵאָכֵל תָּפֵל מִבְּלִי־מֶלַח אִם־יֶשׁ־טַעַם בְּרִיר חַלָּמוּת ׃
#

[6] Vật chi lạt lẽo, người ta nào ăn chẳng bỏ muối? Còn trong lòng trắng trứng gà, đâu có mùi lai gì?
[6] Can food that is tasteless be eaten without salt? Or is there any taste in the white of an egg?

[7] מֵאֲנָה לִנְגּוֹעַ נַפְשִׁי הֵמָּה כִּדְוֵי לַחְמִי ׃
#

[7] Vật gì linh hồn tôi từ chối đá đến, Lại trở nên vật thực gớm ghê của tôi.
[7] I have refused to touch such things; they are like loathsome food to me.

[8] מִי־יִתֵּן תָּבוֹא שֶׁאֱלָתִי וְתִקְוָתִי יִתֵּן אֱלוֹהַּ ׃
#

[8] Ôi! Chớ gì lời sở cầu tôi được thành, Và Ðức Chúa Trời ban cho tôi điều tôi ao ước!
[8] “Oh that my request would be realized, and that God would grant me what I long for!

[9] וְיֹאֵל אֱלוֹהַּ וִידַכְּאֵנִי יַתֵּר יָדוֹ וִיבַצְּעֵנִי ׃
#

[9] Chớ chi Ðức Chúa Trời đẹp lòng cà tán tôi, Buông tay Ngài ra trừ diệt tôi!
[9] And that God would be willing to crush me, that he would let loose his hand and kill me.

[10] וּתְהִי עוֹד נֶחָמָתִי וַאֲסַלְּדָה בְחִילָה לֹא יַחְמוֹל כִּי־לֹא כִחַדְתִּי אִמְרֵי קָדוֹשׁ ׃
#

[10] Vậy, tôi sẽ còn được an ủy, Và trong cơn đau đớn chẳng giản, Tôi sẽ vui mừng, bởi vì không có từ chối lời phán của Ðấng Thánh.
[10] Then I would yet have my comfort, then I would rejoice, in spite of pitiless pain, for I have not concealed the words of the Holy One.

[11] מַה־כֹּחִי כִי־אֲיַחֵל וּמַה־קִּצִּי כִּי־אַאֲרִיךְ נַפְשִׁי ׃
#

[11] Sức lực tôi nào đủ đợi cho nỗi, Cuối cùng tôi sẽ ra sao, mà tôi lại nhẫn nhịn được?
[11] What is my strength, that I should wait? and what is my end, that I should prolong my life?

[12] אִם־כֹּחַ אֲבָנִים כֹּחִי אִם־בְּשָׂרִי נָחוּשׁ ׃
#

[12] Sức tôi há là sức đá sao? Thịt tôi há dễ là đồng?
[12] Is my strength like that of stones? or is my flesh made of bronze?

[13] הַאִם אֵין עֶזְרָתִי בִי וְתֻשִׁיָּה נִדְּחָה מִמֶּנִּי ׃
#

[13] Trong mình tôi chẳng có sự tiếp cứu, sự khôn ngoan bị cất khỏi tôi, Ấy há chẳng phải như vậy sao?
[13] Is not my power to help myself nothing, and has not every resource been driven from me?

[14] לַמָּס מֵרֵעֵהוּ חָסֶד וְיִרְאַת שַׁדַּי יַעֲזוֹב ׃
#

[14] Kẻ gần xui té, đáng được bạn bầu thương xót đến, E kẻo người bỏ sự kính sợ Ðấng Toàn năng.
[14] “To the one in despair, kindness should come from his friend even if he forsakes the fear of the Almighty.

[15] אַחַי בָּגְדוּ כְמוֹ־נָחַל כַּאֲפִיק נְחָלִים יַעֲבֹרוּ ׃
#

[15] Anh em tôi dối gạt tôi như dòng khe cạn nước, Như lòng khe chảy khô.
[15] My brothers have been as treacherous as a seasonal stream, and as the riverbeds of the intermittent streams that flow away.

[16] הַקֹּדְרִים מִנִּי־קָרַח עָלֵימוֹ יִתְעַלֶּם־שָׁלֶג ׃
#

[16] Nó bị đục vì cớ nước đá, Có giá tuyết ẩn ở trong.
[16] They are dark because of ice; snow is piled up over them.

[17] בְּעֵת יְזֹרְבוּ נִצְמָתוּ בְּחֻמּוֹ נִדְעֲכוּ מִמְּקוֹמָם ׃
#

[17] Nhưng trong khi giựt xuống, khe bèn khô cạn, Lúc nắng giọi, nó lại biến khỏi chỗ nó.
[17] When they are scorched, they dry up, when it is hot, they vanish from their place.

[18] יִלָּפְתוּ אָרְחוֹת דַּרְכָּם יַעֲלוּ בַתֹּהוּ וְיֹאבֵדוּ ׃
#

[18] Ðoàn khách đi ngang qua nó bèn tẻ tách đường, Ði vào trong Sa mạc, rồi chết mất.
[18] Caravans turn aside from their routes; they go into the wasteland and perish.

[19] הִבִּיטוּ אָרְחוֹת תֵּמָא הֲלִיכֹת שְׁבָא קִוּוּ־לָמוֹ ׃
#

[19] Ðoàn khách ở Thê-ma tìm kiếm nước nó, Các kẻ bộ hành Sê-ba nhờ cậy nó;
[19] The caravans of Tema looked intently for these streams; the traveling merchants of Sheba hoped for them.

[20] בֹּשׁוּ כִּי־בָטָח בָּאוּ עָדֶיהָ וַיֶּחְפָּרוּ ׃
#

[20] Nhưng chúng bị mắc cỡ vì nhờ cậy nơi nó; Khi đến tại khe, bèn phải hổ thẹn.
[20] They were distressed, because each one had been so confident; they arrived there, but were disappointed.

[21] כִּי־עַתָּה הֱיִיתֶם לֹא תִּרְאוּ חֲתַת וַתִּירָאוּ ׃
#

[21] Hiện nay các bạn cũng không ra gì hết; Các bạn thấy sự đáng kinh khiếp, bèn run sợ.
[21] For now you have become like these streams that are no help; you see a terror, and are afraid.

[22] הֲכִי־אָמַרְתִּי הָבוּ לִי וּמִכֹּחֲכֶם שִׁחֲדוּ בַעֲדִי ׃
#

[22] Tôi há có nói rằng: Xin cung cấp cho tôi, Trong tài sản của các bạn, xin hãy lấy lễ vật dâng cho tôi, sao?
[22] “Have I ever said, ‘Give me something, and from your fortune make gifts in my favor’?

[23] וּמַלְּטוּנִי מִיַּד־צָר וּמִיַּד עָרִיצִים תִּפְדּוּנִי ׃
#

[23] Hoặc cầu rằng: Xin hãy giải cứu tôi khỏi tay kẻ cừu địch, Và chuộc tôi khỏi tay kẻ hà hiếp ư?
[23] Or ‘Deliver me from the enemy’s power, and from the hand of tyrants ransom me’?

[24] הוֹרוּנִי וַאֲנִי אַחֲרִישׁ וּמַה־שָּׁגִיתִי הָבִינוּ לִי ׃
#

[24] Hãy dạy dỗ tôi, tôi sẽ nín lặng; Xin chỉ cho tôi hiểu tôi đã lầm lỗi nơi nào.
[24] “Teach me and I, for my part, will be silent; explain to me how I have been mistaken.

[25] מַה־נִּמְרְצוּ אִמְרֵי־יֹשֶׁר וּמַה־יּוֹכִיחַ הוֹכֵחַ מִכֶּם ׃
#

[25] Lời chánh trực có sức lực dường bao! Còn lời trách móc của các bạn nào có trách được gì?
[25] How painful are honest words! But what does your reproof prove?

[26] הַלְהוֹכַח מִלִּים תַּחְשֹׁבוּ וּלְרוּחַ אִמְרֵי נֹאָשׁ ׃
#

[26] Các bạn muốn trách móc tiếng nói sao? Song lời của một người ngã lòng chỉ như luồng gió.
[26] Do you intend to criticize mere words, and treat the words of a despairing man as wind?

[27] אַף־עַל־יָתוֹם תַּפִּילוּ וְתִכְרוּ עַל־רֵיעֲכֶם ׃
#

[27] Quả thật, các bạn xông hãm kẻ mồ côi, Và đào hầm gài bạn hữu mình.
[27] Yes, you would gamble for the fatherless, and auction off your friend.

[28] וְעַתָּה הוֹאִילוּ פְנוּ־בִי וְעַל־פְּנֵיכֶם אִם־אֲכַזֵּב ׃
#

[28] Vậy bây giờ, nếu các bạn muốn, hãy ngó tôi, Tôi nào dám nói dối trước mặt các bạn đâu.
[28] “Now then, be good enough to look at me; and I will not lie to your face!

[29] שֻׁבוּ־נָא אַל־תְּהִי עַוְלָה וְשֻׁבִי עוֹד צִדְקִי־בָהּ ׃
#

[29] Xin khá xét lại; chớ có sự bất công; Phải, hãy xét lại, vì duyên cớ tôi là công bình.
[29] Relent, let there be no falsehood; reconsider, for my righteousness is intact!

[30] הֲיֵשׁ־בִּלְשׁוֹנִי עַוְלָה אִם־חִכִּי לֹא־יָבִין הַוּוֹת ׃
#

[30] Có điều bất công nơi lưỡi tôi chăng? ổ gà tôi há chẳng phân biệt điều ác sao?
[30] Is there any falsehood on my lips? Can my mouth not discern evil things?