Skip to main content

Gióp 7

·1100 words·6 mins·
Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God

[1] הֲלֹא־צָבָא לֶאֱנוֹשׁ עֲלֵ־אָרֶץ וְכִימֵי שָׂכִיר יָמָיו ׃
#

[1] Người ở thế gian há chẳng có sự chiến trận sao? Niên nhựt người há không phải như đời của người làm mướn ư?
[1] “Does not humanity have hard service on earth? Are not their days also like the days of a hired man?

[2] כְּעֶבֶד יִשְׁאַף־צֵל וּכְשָׂכִיר יְקַוֶּה פָעֳלוֹ ׃
#

[2] Như kẻ nô lệ ước ao bóng tối, Như người làm thuê trông đợi tiền lương,
[2] Like a servant longing for the evening shadow, and like a hired man looking for his wages,

[3] כֵּן הָנְחַלְתִּי לִי יַרְחֵי־שָׁוְא וְלֵילוֹת עָמָל מִנּוּ־לִי ׃
#

[3] Như vậy tôi đã được các tháng khốn khó, Và những đêm lao khổ làm phần định cho tôi.
[3] thus I have been made to inherit months of futility, and nights of sorrow have been appointed to me.

[4] אִם־שָׁכַבְתִּי וְאָמַרְתִּי מָתַי אָקוּם וּמִדַּד־עָרֶב וְשָׂבַעְתִּי נְדֻדִים עֲדֵי־נָשֶׁף ׃
#

[4] Khi tôi nằm ngủ thì tôi nói rằng: Chừng nào tôi sẽ thức dậy? Bao giờ sẽ hết tối tăm? Tôi quá trăn trở cho đến rạng ngày.
[4] If I lie down, I say, ‘When will I arise?’, and the night stretches on and I toss and turn restlessly until the day dawns.

[5] לָבַשׁ בְּשָׂרִי רִמָּה וְגִישׁ עָפָר עוֹרִי רָגַע וַיִּמָּאֵס ׃
#

[5] Thịt tôi bị bao phủ giòi tửa và lấp đất; Da tôi nứt nẻ và chảy mủ ra!
[5] My body is clothed with worms and dirty scabs; my skin is broken and festering.

[6] יָמַי קַלּוּ מִנִּי־אָרֶג וַיִּכְלוּ בְּאֶפֶס תִּקְוָה ׃
#

[6] Các ngày tôi qua mau hơn thoi dệt cửi, Tiêu đi, chẳng có trông cậy gì.
[6] My days are swifter than a weaver’s shuttle and they come to an end without hope.

[7] זְכֹר כִּי־רוּחַ חַיָּי לֹא־תָשׁוּב עֵינִי לִרְאוֹת טוֹב ׃
#

[7] Ôi! Xin hãy nhớ mạng sống tôi chỉ bằng hơi thở; Mắt tôi sẽ chẳng còn thấy điều phước hạnh nữa.
[7] Remember that my life is but a breath, that my eyes will never again see happiness.

[8] לֹא־תְשׁוּרֵנִי עֵין רֹאִי עֵינֶיךָ בִּי וְאֵינֶנִּי ׃
#

[8] Mắt đã thấy tôi sẽ chẳng thấy tôi nữa, Mắt Chúa đoái đến tôi, nhưng tôi sẽ không còn,
[8] The eye of him who sees me now will see me no more; your eyes will look for me, but I will be gone.

[9] כָּלָה עָנָן וַיֵּלַךְ כֵּן יוֹרֵד שְׁאוֹל לֹא יַעֲלֶה ׃
#

[9] Mây tan ra và mất thể nào, Kẻ xuống âm phủ không hề trở lên, cũng thể ấy.
[9] As a cloud is dispersed and then disappears, so the one who goes down to the grave does not come up again.

[10] לֹא־יָשׁוּב עוֹד לְבֵיתוֹ וְלֹא־יַכִּירֶנּוּ עוֹד מְקֹמוֹ ׃
#

[10] Họ không hề trở về nhà mình nữa, Và xứ sở người chẳng còn biết người.
[10] He returns no more to his house, nor does his place of residence know him any more.

[11] גַּם־אֲנִי לֹא אֶחֱשָׂךְ פִּי אֲדַבְּרָה בְּצַר רוּחִי אָשִׂיחָה בְּמַר נַפְשִׁי ׃
#

[11] Bởi cớ ấy, tôi chẳng cầm miệng tôi; Trong cơn hoạn nạn của lòng tôi, tôi sẽ nói ra; Trong cay đắng của linh hồn tôi, tôi sẽ phàn nàn.
[11] “Therefore, I will not refrain my mouth; I will speak in the anguish of my spirit; I will complain in the bitterness of my soul.

[12] הֲיָם־אָנִי אִם־תַּנִּין כִּי־תָשִׂים עָלַי מִשְׁמָר ׃
#

[12] Tôi nói cùng Ðức Chúa Trời rằng: Tôi há là một cái biển, một kỳ vật trong biển, Nên Ngài đặt kẻ cầm giữ tôi bốn bên?
[12] Am I the sea, or the creature of the deep, that you must put me under guard?

[13] כִּי־אָמַרְתִּי תְּנַחֲמֵנִי עַרְשִׂי יִשָּׂא בְשִׂיחִי מִשְׁכָּבִי ׃
#

[13] Khi tôi nói: Giường tôi sẽ an ủy tôi, Nệm tôi sẽ làm hoạn nạn tôi nhẹ bớt,
[13] If I say, “My bed will comfort me, my couch will ease my complaint,”

[14] וְחִתַּתַּנִי בַחֲלֹמוֹת וּמֵחֶזְיֹנוֹת תְּבַעֲתַנִּי ׃
#

[14] Bấy giờ Chúa dùng chiêm bao làm cho tôi hoảng kinh, Lấy dị tượng khiến cho tôi sợ hãi.
[14] then you scare me with dreams and terrify me with visions,

[15] וַתִּבְחַר מַחֲנָק נַפְשִׁי מָוֶת מֵעַצְמוֹתָי ׃
#

[15] Ðến đỗi linh hồn tôi chọn sự ngột hơi, Và chết hơn là còn sống nơi xương cốt nầy.
[15] so that I would prefer strangling, and death more than life.

[16] מָאַסְתִּי לֹא־לְעֹלָם אֶחְיֶה חֲדַל מִמֶּנִּי כִּי־הֶבֶל יָמָי ׃
#

[16] Tôi chán sự sống. Tôi sẽ chẳng sống hoài. Xin Chúa để tôi ở một mình; vì các ngày tôi chỉ là hư không.
[16] I loathe it; I do not want to live forever; leave me alone, for my days are a vapor!

[17] מָה־אֱנוֹשׁ כִּי תְגַדְּלֶנּוּ וְכִי־תָשִׁית אֵלָיו לִבֶּךָ ׃
#

[17] Loài người là gì mà Chúa kể là cao trọng? Nhân sao Chúa lưu ý đến người.
[17] “What is mankind that you make so much of them, and that you pay attention to them?

[18] וַתִּפְקְדֶנּוּ לִבְקָרִים לִרְגָעִים תִּבְחָנֶנּוּ ׃
#

[18] Viếng thăm người mỗi buổi sớm, Và thử thách người mỗi lúc mỗi khi?
[18] And that you visit them every morning, and try them every moment?

[19] כַּמָּה לֹא־תִשְׁעֶה מִמֶּנִּי לֹא־תַרְפֵּנִי עַד־בִּלְעִי רֻקִּי ׃
#

[19] Nhơn sao Chúa không xây mắt khỏi tôi, Chẳng để cho tôi bằng tịnh cho đến khi nuốt nước miếng tôi?
[19] Will you never look away from me, will you not let me alone long enough to swallow my spittle?

[20] חָטָאתִי מָה אֶפְעַל לָךְ נֹצֵר הָאָדָם לָמָה שַׂמְתַּנִי לְמִפְגָּע לָךְ וָאֶהְיֶה עָלַי לְמַשָּׂא ׃
#

[20] Hỡi Ðấng gìn giữ loài người! nếu tôi đã phạm tội, có làm gì nghịch Chúa? Nhân sao Chúa đặt tôi làm một tấm bia, Ðến đỗi mình trở thánh gánh nặng cho mình?
[20] If I have sinned — what have I done to you, O watcher of men? Why have you set me as your target? Have I become a burden to you?

[21] וּמֶה לֹא־תִשָּׂא פִשְׁעִי וְתַעֲבִיר אֶת־עֲוֹנִי כִּי־עַתָּה לֶעָפָר אֶשְׁכָּב וְשִׁחֲרְתַּנִי וְאֵינֶנִּי ׃ פ
#

[21] Cớ sao Chúa không tha tội cho tôi, Cất lấy gian ác khỏi tôi đi? Vì bây giờ tôi sẽ nằm trong bụi đất; Chúa sẽ tìm kiếm tôi, song tôi không còn nữa.
[21] And why do you not pardon my transgression, and take away my iniquity? For now I will lie down in the dust, and you will seek me diligently, but I will be gone.”