Skip to main content

Gióp 10

·1116 words·6 mins·
Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God

[1] נָקְטָה נַפְשִׁי בְּחַיָּי אֶעֶזְבָה עָלַי שִׂיחִי אֲדַבְּרָה בְּמַר נַפְשִׁי ׃
#

[1] Linh hồn tôi đã chán ngán sự sống tôi; Tôi sẽ buông thả lời than thở của tôi, Tôi sẽ nói vì cơn cay đắng của lòng tôi.
[1] “I am weary of my life; I will complain without restraint; I will speak in the bitterness of my soul.

[2] אֹמַר אֶל־אֱלוֹהַּ אַל־תַּרְשִׁיעֵנִי הוֹדִיעֵנִי עַל מַה־תְּרִיבֵנִי ׃
#

[2] Tôi sẽ thưa với Ðức Chúa Trời rằng: Xin chớ đoán phạt tôi; Hãy tỏ cho tôi biết nhân sao Chúa tranh luận với tôi.
[2] I will say to God, ‘Do not condemn me; tell me why you are contending with me.’

[3] הֲטוֹב לְךָ כִּי־תַעֲשֹׁק כִּי־תִמְאַס יְגִיעַ כַּפֶּיךָ וְעַל־עֲצַת רְשָׁעִים הוֹפָעְתָּ ׃
#

[3] Chúa há đẹp lòng đè ép, Khinh bỉ công việc của tay Ngài, Và chiếu sáng trên mưu chước của kẻ ác sao?
[3] Is it good for you to oppress, to despise the work of your hands, while you smile on the schemes of the wicked?

[4] הַעֵינֵי בָשָׂר לָךְ אִם־כִּרְאוֹת אֱנוֹשׁ תִּרְאֶה ׃
#

[4] Chúa có mắt xác thịt ư? Chúa thấy như người phàm thấy sao?
[4] “Do you have eyes of flesh, or do you see as a human being sees?

[5] הֲכִימֵי אֱנוֹשׁ יָמֶיךָ אִם־שְׁנוֹתֶיךָ כִּימֵי גָבֶר ׃
#

[5] Các ngày của Chúa há như ngày loài người ư? Các năm của Chúa há như năm loài người sao?
[5] Are your days like the days of a mortal, or your years like the years of a mortal,

[6] כִּי־תְבַקֵּשׁ לַעֲוֹנִי וּלְחַטָּאתִי תִדְרוֹשׁ ׃
#

[6] Sao Chúa tra hạch gian ác tôi, Tìm kiếm tội lỗi tôi,
[6] that you must search out my iniquity, and inquire about my sin,

[7] עַל־דַּעְתְּךָ כִּי־לֹא אֶרְשָׁע וְאֵין מִיָּדְךָ מַצִּיל ׃
#

[7] Dầu Chúa biết tôi chẳng phải gian ác, Và không ai giải thoát khỏi tay Chúa?
[7] although you know that I am not guilty, and that there is no one who can deliver out of your hand?

[8] יָדֶיךָ עִצְּבוּנִי וַיַּעֲשׂוּנִי יַחַד סָבִיב וַתְּבַלְּעֵנִי ׃
#

[8] Tay Chúa đã dựng nên tôi, nắn giọt trót mình tôi; Nhưng nay Chúa lại hủy diệt tôi!
[8] “Your hands have shaped me and made me, but now you destroy me completely.

[9] זְכָר־נָא כִּי־כַחֹמֶר עֲשִׂיתָנִי וְאֶל־עָפָר תְּשִׁיבֵנִי ׃
#

[9] Xin Chúa nhớ rằng Chúa đã nắn hình tôi như đồ gốm; Mà Chúa lại lại muốn khiến tôi trở vào tro bụi sao?
[9] Remember that you have made me as with the clay; will you return me to dust?

[10] הֲלֹא כֶחָלָב תַּתִּיכֵנִי וְכַגְּבִנָּה תַּקְפִּיאֵנִי ׃
#

[10] Chúa há chẳng có rót tôi chảy như sữa, Làm tôi ra đặc như bánh sữa ư?
[10] Did you not pour me out like milk, and curdle me like cheese?

[11] עוֹר וּבָשָׂר תַּלְבִּישֵׁנִי וּבַעֲצָמוֹת וְגִידִים תְּסֹכְכֵנִי ׃
#

[11] Chúa đã mặc cho tôi da và thịt, Lấy xương và gân đương tréo tôi.
[11] You clothed me with skin and flesh and knit me together with bones and sinews.

[12] חַיִּים וָחֶסֶד עָשִׂיתָ עִמָּדִי וּפְקֻדָּתְךָ שָׁמְרָה רוּחִי ׃
#

[12] Chúa đã ban cho tôi mạng sống và điều nhân từ; Sự Chúa đoái hoài tôi đã gìn giữ tâm hồn tôi.
[12] You gave me life and favor, and your intervention watched over my spirit.

[13] וְאֵלֶּה צָפַנְתָּ בִלְבָבֶךָ יָדַעְתִּי כִּי־זֹאת עִמָּךְ ׃
#

[13] Dầu vậy, Chúa giấu các điều nầy nơi lòng Chúa; Tôi biết điều ấy ở trong tư tưởng của Ngài.
[13] “But these things you have concealed in your heart; I know that this is with you:

[14] אִם־חָטָאתִי וּשְׁמַרְתָּנִי וּמֵעֲוֹנִי לֹא תְנַקֵּנִי ׃
#

[14] Nếu tôi phạm tội, Chúa sẽ xem xét tôi, Chẳng dung tha gian ác tôi.
[14] If I sinned, then you would watch me and you would not acquit me of my iniquity.

[15] אִם־רָשַׁעְתִּי אַלְלַי לִי וְצָדַקְתִּי לֹא־אֶשָּׂא רֹאשִׁי שְׂבַע קָלוֹן וּרְאֵה עָנְיִי ׃
#

[15] Nếu tôi làm hung ác, thì khốn cho tôi thay! Còn nếu tôi ăn ở công bình, tôi cũng chẳng dám ngước đầu lên, Vì đã bị đầy dẫy sỉ nhục, và thấy sự khổ nạn tôi.
[15] If I am guilty, woe to me, and if I am innocent, I cannot lift my head; I am full of shame, and satiated with my affliction.

[16] וְיִגְאֶה כַּשַּׁחַל תְּצוּדֵנִי וְתָשֹׁב תִּתְפַּלָּא־בִי ׃
#

[16] Ví bằng tôi ngước đầu lên, hẳn quả Chúa sẽ săn tôi như sư tử, và tỏ ra nơi tôi quyền diệu kỳ của Ngài.
[16] If I lift myself up, you hunt me as a fierce lion, and again you display your power against me.

[17] תְּחַדֵּשׁ עֵדֶיךָ נֶגְדִּי וְתֶרֶב כַּעַשְׂךָ עִמָּדִי חֲלִיפוֹת וְצָבָא עִמִּי ׃
#

[17] Chúa đặt chứng mới đối nghịch tôi, Và gia thêm sự giận cùng tôi: Ðau đớn liên tiếp, và thì khốn khó theo tôi.
[17] You bring new witnesses against me, and increase your anger against me; relief troops come against me.

[18] וְלָמָּה מֵרֶחֶם הֹצֵאתָנִי אֶגְוַע וְעַיִן לֹא־תִרְאֵנִי ׃
#

[18] Nhơn sao Chúa đem tôi ra khỏi lòng mẹ tôi? Phải chi đã tắt hơi, thì chẳng con mắt nào thấy tôi!
[18] “Why then did you bring me out from the womb? I should have died and no eye would have seen me!

[19] כַּאֲשֶׁר לֹא־הָיִיתִי אֶהְיֶה מִבֶּטֶן לַקֶּבֶר אוּבָל ׃
#

[19] Bằng vậy, tôi sẽ như đã không hề có; Vì mới lọt lòng mẹ, bèn bị đem đến mồ mã!
[19] I should have been as though I had never existed; I should have been carried right from the womb to the grave!

*_[20] הֲלֹא־מְעַט יָמַי יַחֲדָל וְשִׁית מִמֶּנִּי וְאַבְלִיגָה מְּעָט ׃_
#

[20] Các ngày tôi há chẳng phải ít ỏi sao? Vậy, Chúa ôi, khá ngưng dứt đi, Hãy dời khỏi tôi đi, để tôi được an ủy một chút,
[20] Are not my days few? Cease, then, and leave me alone, that I may find a little comfort,

[21] בְּטֶרֶם אֵלֵךְ וְלֹא אָשׁוּב אֶל־אֶרֶץ חֹשֶׁךְ וְצַלְמָוֶת ׃
#

[21] Trước khi tôi đi đến xứ tối tăm và bóng sự chết, không hề trở lại;
[21] before I depart, never to return, to the land of darkness and the deepest shadow,

[22] אֶרֶץ עֵיפָתָה כְּמוֹ אֹפֶל צַלְמָוֶת וְלֹא סְדָרִים וַתֹּפַע כְּמוֹ־אֹפֶל ׃ פ
#

[22] Tức đất tối đen như mực, Là miền có bóng sự chết, chỉ có sự hỗn độn tại đó, Và ánh sáng không khác hơn tối tăm.
[22] to the land of utter darkness, like the deepest darkness, and the deepest shadow and disorder, where even the light is like darkness.”