Skip to main content

Gióp 21

·1565 words·8 mins·
Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God

[1] וַיַּעַן אִיּוֹב וַיֹּאמַר ׃
#

[1] Gióp đáp rằng:
[1] Then Job answered:

[2] שִׁמְעוּ שָׁמוֹעַ מִלָּתִי וּתְהִי־זֹאת תַּנְחוּמֹתֵיכֶם ׃
#

[2] Hãy nghe kỹ càng lời giảng luận tôi; Thì điều đó sẽ thế cho sự an ủy của các bạn.
[2] “Listen carefully to my words; let this be the consolation you offer me.

[3] שָׂאוּנִי וְאָנֹכִי אֲדַבֵּר וְאַחַר דַּבְּרִי תַלְעִיג ׃
#

[3] Hãy nhịn nhục tôi, để tôi nói: Sau khi tôi đã nói, các bạn hãy cứ nhạo báng đi.
[3] Bear with me and I will speak, and after I have spoken you may mock.

[4] הֶאָנֹכִי לְאָדָם שִׂיחִי וְאִם־מַדּוּעַ לֹא־תִקְצַר רוּחִי ׃
#

[4] Còn về phần tôi, than van tôi há hướng về loài người sao? Nhơn sao trí tôi không hết nhịn nhục?
[4] Is my complaint against a man? If so, why should I not be impatient?

[5] פְּנוּ־אֵלַי וְהָשַׁמּוּ וְשִׂימוּ יָד עַל־פֶּה ׃
#

[5] Hãy xem xét tôi, và lấy làm lạ; Khá lấy tay bụm miệng mình.
[5] Look at me and be appalled; put your hands over your mouths.

[6] וְאִם־זָכַרְתִּי וְנִבְהָלְתִּי וְאָחַז בְּשָׂרִי פַּלָּצוּת ׃
#

[6] Khi nào tôi nhớ lại, tôi bèn bị kinh hoảng, Rởn óc cả và thịt tôi.
[6] For, when I think about this, I am terrified and my body feels a shudder.

[7] מַדּוּעַ רְשָׁעִים יִחְיוּ עָתְקוּ גַּם־גָּבְרוּ חָיִל ׃
#

[7] Cớ sao kẻ gian ác sống, Trở nên già cả và quyền thế cường thạnh?
[7] “Why do the wicked go on living, grow old, even increase in power?

[8] זַרְעָם נָכוֹן לִפְנֵיהֶם עִמָּם וְצֶאֱצָאֵיהֶם לְעֵינֵיהֶם ׃
#

[8] Dòng dõi chúng nó thành lập có mắt chúng nó thấy, Và con cháu họ ở trước mặt họ.
[8] Their children are firmly established in their presence, their offspring before their eyes.

[9] בָּתֵּיהֶם שָׁלוֹם מִפָּחַד וְלֹא שֵׁבֶט אֱלוֹהַּ עֲלֵיהֶם ׃
#

[9] Nhà của chúng nó được bình yên, không sợ gì, Roi của Ðức Chúa trời chẳng đánh mình chúng nó.
[9] Their houses are safe and without fear; and no rod of punishment from God is upon them.

[10] שׁוֹרוֹ עִבַּר וְלֹא יַגְעִל תְּפַלֵּט פָּרָתוֹ וְלֹא תְשַׁכֵּל ׃
#

[10] Bò đực chúng nó sanh sảnh không hề thiếu kém, Bò cái họ sanh đẻ không có sảo.
[10] Their bulls breed without fail; their cows calve and do not miscarry.

[11] יְשַׁלְּחוּ כַצֹּאן עֲוִילֵיהֶם וְיַלְדֵיהֶם יְרַקֵּדוּן ׃
#

[11] Chúng nó cho các đứa trẻ mình đi ra như một bầy chiên, Và con cái họ giỡn chơi nhau.
[11] They allow their children to run like a flock; their little ones dance about.

[12] יִשְׂאוּ כְּתֹף וְכִנּוֹר וְיִשְׂמְחוּ לְקוֹל עוּגָב ׃
#

[12] Hát múa theo tiếng trống nhỏ và đờn cầm, Và vui mừng theo tiếng kèn sáo.
[12] They sing to the accompaniment of tambourine and harp, and make merry to the sound of the flute.

[13] יְבַלּוּ בַטּוֹב יְמֵיהֶם וּבְרֶגַע שְׁאוֹל יֵחָתּוּ ׃
#

[13] Chúng nó may mắn trải qua các ngày đời mình, Rồi bỗng chốc sa xuống âm phủ.
[13] They live out their years in prosperity and go down to the grave in peace.

[14] וַיֹּאמְרוּ לָאֵל סוּר מִמֶּנּוּ וְדַעַת דְּרָכֶיךָ לֹא חָפָצְנוּ ׃
#

[14] Chúng nó nói với Ðức Chúa Trời rằng: “Ngài hãy lìa xa chúng tôi, Vì chúng tôi không muốn biết đạo của Ngài.”
[14] So they say to God, ‘Turn away from us! We do not want to know your ways.

[15] מַה־שַׁדַּי כִּי־נַעַבְדֶנּוּ וּמַה־נּוֹעִיל כִּי נִפְגַּע־בּוֹ ׃
#

[15] Ðấng Toàn năng là chi, mà chúng tôi phải phục sự Ngài? Nếu chúng tôi cầu khẩn Ngài thì được ích gì?
[15] Who is the Almighty, that we should serve him? What would we gain if we were to pray to him?’

[16] הֵן לֹא בְיָדָם טוּבָם עֲצַת רְשָׁעִים רָחֲקָה מֶנִּי ׃
#

[16] Kìa sự may mắn chúng nó chẳng ở nơi tay chúng nó: Các mưu chước kẻ ác cách xa tôi.
[16] But their prosperity is not their own doing. The counsel of the wicked is far from me!

[17] כַּמָּה נֵר־רְשָׁעִים יִדְעָךְ וְיָבֹא עָלֵימוֹ אֵידָם חֲבָלִים יְחַלֵּק בְּאַפּוֹ ׃
#

[17] Cái đèn kẻ ác tắt, Tai họa giáng trên chúng nó, Và trong cơn thạnh nộ, Ðức Chúa Trời phân phát đau đớn cho chúng nó, Ðiều đó há có thường xảy đến sao?
[17] “How often is the lamp of the wicked extinguished? How often does their misfortune come upon them? How often does God apportion pain to them in his anger?

[18] יִהְיוּ כְּתֶבֶן לִפְנֵי־רוּחַ וּכְמֹץ גְּנָבַתּוּ סוּפָה ׃
#

[18] Há năng xảy ra chúng nó phải như rơm trước gió, Như trấu bị bão cất đi sao?
[18] How often are they like straw before the wind, and like chaff swept away by a whirlwind?

[19] אֱלוֹהַּ יִצְפֹּן־לְבָנָיו אוֹנוֹ יְשַׁלֵּם אֵלָיו וְיֵדָע ׃
#

[19] Các bạn nói rằng: Ðức Chúa Trời dành sự hình phạt về hung ác nó cho con cái nó. Ðức Chúa Trời khá báo cho chính mình nó, để nó biết:
[19] You may say, ‘God stores up a man’s punishment for his children!’ Instead let him repay the man himself so that he may know it!

[20] יִרְאוּ עֵינוֹ כִּידוֹ וּמֵחֲמַת שַׁדַּי יִשְׁתֶּה ׃
#

[20] Khá chính con mắt hắn xem thấy điều hư hoại mình, Và uống được sự thạnh nộ của Ðấng Toàn năng.
[20] Let his own eyes see his destruction; let him drink of the anger of the Almighty.

[21] כִּי מַה־חֶפְצוֹ בְּבֵיתוֹ אַחֲרָיו וּמִסְפַּר חֳדָשָׁיו חֻצָּצוּ ׃
#

[21] Vì khi số ngày định cho nó đã hết rồi, Nó nào kể chi đến gia quyến sau nó?
[21] For what is his interest in his home after his death, when the number of his months has been broken off?

[22] הַלְאֵל יְלַמֶּד־דָּעַת וְהוּא רָמִים יִשְׁפּוֹט ׃
#

[22] Ðức Chúa Trời xét đoán những người cao vị; Vậy, người ta há sẽ dạy tri thức cho Ngài sao?
[22] Can anyone teach God knowledge, since he judges those that are on high?

[23] זֶה יָמוּת בְּעֶצֶם תֻּמּוֹ כֻּלּוֹ שַׁלְאֲנַן וְשָׁלֵיו ׃
#

[23] Kẻ nầy thác giữa chừng mạnh mẽ, Ðược thanh nhàn và bình an mọi bề;
[23] “One man dies in his full vigor, completely secure and prosperous,

[24] עֲטִינָיו מָלְאוּ חָלָב וּמֹחַ עַצְמוֹתָיו יְשֻׁקֶּה ׃
#

[24] Hai bình người đầy sữa, Và tủy xương người nhuần đượm.
[24] his body well nourished, and the marrow of his bones moist.

[25] וְזֶה יָמוּת בְּנֶפֶשׁ מָרָה וְלֹא־אָכַל בַּטּוֹבָה ׃
#

[25] Kẻ khác lại chết giữa chừng cay đắng linh hồn, Chẳng hề được nếm điều phước hạnh gì hết.
[25] And another man dies in bitterness of soul, never having tasted anything good.

[26] יַחַד עַל־עָפָר יִשְׁכָּבוּ וְרִמָּה תְּכַסֶּה עֲלֵיהֶם ׃
#

[26] Cả hai đều nằm chung trong bụi đất, Giòi sâu che lấp họ.
[26] Together they lie down in the dust, and worms cover over them both.

[27] הֵן יָדַעְתִּי מַחְשְׁבוֹתֵיכֶם וּמְזִמּוֹת עָלַי תַּחְמֹסוּ ׃
#

[27] Nầy, tôi biết ý tưởng các bạn toan dùng đặng làm tàn hại tôi.
[27] “Yes, I know what you are thinking, the schemes by which you would wrong me.

[28] כִּי תֹאמְרוּ אַיֵּה בֵית־נָדִיב וְאַיֵּה אֹהֶל מִשְׁכְּנוֹת רְשָׁעִים ׃
#

[28] Vì các bạn nói rằng: “Nhà kẻ cường bạo ở đâu? Trại kẻ ác ở nơi nào?”
[28] For you say, ‘Where now is the nobleman’s house, and where are the tents in which the wicked lived?’

[29] הֲלֹא שְׁאֶלְתֶּם עוֹבְרֵי דָרֶךְ וְאֹתֹתָם לֹא תְנַכֵּרוּ ׃
#

[29] Chớ thì các bạn chẳng hề hỏi khách qua đường sao? Há chẳng nhờ chứng cớ của họ mà nhìn biết rằng,
[29] Have you never questioned those who travel the roads? Do you not recognize their accounts —

[30] כִּי לְיוֹם אֵיד יֵחָשֶׂךְ רָע לְיוֹם עֲבָרוֹת יוּבָלוּ ׃
#

[30] Trong ngày tai họa, kẻ hung ác được khỏi, Và trong ngày thạnh nộ, nó được thoát?
[30] that the evil man is spared from the day of his misfortune, that he is delivered from the day of God’s wrath?

[31] מִי־יַגִּיד עַל־פָּנָיו דַּרְכּוֹ וְהוּא־עָשָׂה מִי יְשַׁלֶּם־לוֹ ׃
#

[31] Tại trước mặt hắn, ai dám trách hắn vì tánh hạnh hắn? Ai sẽ báo ứng điều hắn đã làm?
[31] No one denounces his conduct to his face; no one repays him for what he has done.

[32] וְהוּא לִקְבָרוֹת יוּבָל וְעַל־גָּדִישׁ יִשְׁקוֹד ׃
#

[32] Nó sẽ được đưa đến huyệt mả, Và người ta sẽ canh giữ phần mộ nó.
[32] And when he is carried to the tombs, and watch is kept over the funeral mound,

[33] מָתְקוּ־לוֹ רִגְבֵי נָחַל וְאַחֲרָיו כָּל־אָדָם יִמְשׁוֹךְ וּלְפָנָיו אֵין מִסְפָּר ׃
#

[33] Các cục đất của trũng lấy làm êm dịu cho nó; Mọi người đều đi noi theo, Và kẻ đi trước thì vô số.
[33] The clods of the torrent valley are sweet to him; behind him everybody follows in procession, and before him goes a countless throng.

[34] וְאֵיךְ תְּנַחֲמוּנִי הָבֶל וּתְשׁוּבֹתֵיכֶם נִשְׁאַר־מָעַל ׃ ס
#

[34] Vậy, sao các bạn an ủy tôi vô ích dường ấy? Vì những câu đáp của các bạn chỉ còn sự bất trung mà thôi.
[34] So how can you console me with your futile words? Nothing is left of your answers but deception!”