Skip to main content

Gióp 30

·1486 words·7 mins·
Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God

[1] וְעַתָּה שָׂחֲקוּ עָלַי צְעִירִים מִמֶּנִּי לְיָמִים אֲשֶׁר־מָאַסְתִּי אֲבוֹתָם לָשִׁית עִם־כַּלְבֵי צֹאנִי ׃
#

[1] Song bây giờ, kẻ trẻ tuổi hơn tôi nhạo báng tôi, Mà cha họ tôi đã khinh, chẳng khứng để Chung với chó của bầy chiên tôi.
[1] “But now they mock me, those who are younger than I, whose fathers I disdained too much to put with my sheep dogs.

[2] גַּם־כֹּחַ יְדֵיהֶם לָמָּה לִּי עָלֵימוֹ אָבַד כָּלַח ׃
#

[2] Sức mạnh của họ đã hư hại rồi; Vậy, sức lực tay họ dùng làm ích gì cho tôi?
[2] Moreover, the strength of their hands — what use was it to me? Men whose strength had perished;

[3] בְּחֶסֶר וּבְכָפָן גַּלְמוּד הַעֹרְקִים צִיָּה אֶמֶשׁ שׁוֹאָה וּמְשֹׁאָה ׃
#

[3] Chúng ốm tong vì bị đói kém thiếu thốn, đi gậm cạp đất khô hóc, Từ lâu đã bỏ hoang vắng vẻ.
[3] gaunt with want and hunger, they would gnaw the parched land, in former time desolate and waste.

[4] הַקֹּטְפִים מַלּוּחַ עֲלֵי־שִׂיחַ וְשֹׁרֶשׁ רְתָמִים לַחְמָם ׃
#

[4] Chúng hái rau sam biển trong bụi cây, Rễ cây giêng giếng làm vật thực cho họ.
[4] By the brush they would gather herbs from the salt marshes, and the root of the broom tree was their food.

[5] מִן־גֵּו יְגֹרָשׁוּ יָרִיעוּ עָלֵימוֹ כַּגַּנָּב ׃
#

[5] Chúng bị đuổi đi khỏi giữa loài người; Người ta kêu la chúng như kêu la kẻ trộm.
[5] They were banished from the community — people shouted at them like they would shout at thieves —

[6] בַּעֲרוּץ נְחָלִים לִשְׁכֹּן חֹרֵי עָפָר וְכֵפִים ׃
#

[6] Chúng phải ở trong trũng gớm ghê, Trong hang đất và giữa các hòn đá.
[6] so that they had to live in the dry stream beds, in the holes of the ground, and among the rocks.

[7] בֵּין־שִׂיחִים יִנְהָקוּ תַּחַת חָרוּל יְסֻפָּחוּ ׃
#

[7] Chúng tru thét giữa bụi cây, Nằm lộn lạo nhau dưới các lùm gai.
[7] They brayed like animals among the bushes and were huddled together under the nettles.

[8] בְּנֵי־נָבָל גַּם־בְּנֵי בְלִי־שֵׁם נִכְּאוּ מִן־הָאָרֶץ ׃
#

[8] Chúng là con cái kẻ ngu xuẩn, cha họ chẳng tuổi tên, Họ bị đuổi ra khỏi xứ.
[8] Sons of senseless and nameless people, they were driven out of the land with whips.

[9] וְעַתָּה נְגִינָתָם הָיִיתִי וָאֱהִי לָהֶם לְמִלָּה ׃
#

[9] Còn bây giờ, tôi trở nên lời ca hát của họ, Làm đề cho chuyện trò của họ.
[9] “And now I have become their taunt song; I have become a byword among them.

[10] תִּעֲבוּנִי רָחֲקוּ מֶנִּי וּמִפָּנַי לֹא־חָשְׂכוּ רֹק ׃
#

[10] Họ gớm ghiếc tôi, xa lánh tôi, Không kiêng nhổ khạc nơi mặt tôi.
[10] They detest me and maintain their distance; they do not hesitate to spit in my face.

[11] כִּי־יִתְרוֹ פִתַּח וַיְעַנֵּנִי וְרֶסֶן מִפָּנַי שִׁלֵּחוּ ׃
#

[11] Bởi vì Ðức Chúa Trời đã làm dùn cây cung tôi, và sỉ nhục tôi. Chúng ném hàm khớp khỏi trước mặt tôi.
[11] Because God has untied my tent cord and afflicted me, people throw off all restraint in my presence.

[12] עַל־יָמִין פִּרְחַח יָקוּמוּ רַגְלַי שִׁלֵּחוּ וַיָּסֹלּוּ עָלַי אָרְחוֹת אֵידָם ׃
#

[12] Cái hố lu la nầy dấy lên nơi tay hữu tôi; Chúng xô đẩy chơn tôi, Sửa soạn cho tôi con đường hiểm độc của chúng.
[12] On my right the young rabble rise up; they drive me from place to place, and build up siege ramps against me.

[13] נָתְסוּ נְתִיבָתִי לְהַוָּתִי יֹעִילוּ לֹא עֹזֵר לָמוֹ ׃
#

[13] Chúng phá hủy đường lối tôi, Giúp vào việc tàn hại tôi; Song chẳng có ai đến tiếp cứu chúng.
[13] They destroy my path; they succeed in destroying me without anyone assisting them.

[14] כְּפֶרֶץ רָחָב יֶאֱתָיוּ תַּחַת שֹׁאָה הִתְגַּלְגָּלוּ ׃
#

[14] Chúng do nơi hư lũng lớn mà đến, Xông vào tôi giữa sự đồi tàn.
[14] They come in as through a wide breach; amid the crash they come rolling in.

[15] הָהְפַּךְ עָלַי בַּלָּהוֹת תִּרְדֹּף כָּרוּחַ נְדִבָתִי וּכְעָב עָבְרָה יְשֻׁעָתִי ׃
#

[15] Các sự kinh khủng hãm áp tôi, Ðuổi theo sự sang trọng tôi khác nào gió mạnh, Và sự phước hạnh tôi đã qua như đám mây.
[15] Terrors are turned loose on me; they drive away my honor like the wind, and like a cloud my deliverance has passed away.

[16] וְעַתָּה עָלַי תִּשְׁתַּפֵּךְ נַפְשִׁי יֹאחֲזוּנִי יְמֵי־עֹנִי ׃
#

[16] Bây giờ, linh hồn tôi tan ra trong mình tôi; Các ngày gian nan đã hãm bắt tôi,
[16] “And now my soul pours itself out within me; days of suffering take hold of me.

[17] לַיְלָה עֲצָמַי נִקַּר מֵעָלָי וְעֹרְקַי לֹא יִשְׁכָּבוּן ׃
#

[17] Ðêm soi xương cốt tôi làm nó rời ra khỏi tôi, Ðau đớn vẫn cắn rỉa tôi, không ngưng nghỉ chút nào.
[17] Night pierces my bones; my gnawing pains never cease.

[18] בְּרָב־כֹּחַ יִתְחַפֵּשׂ לְבוּשִׁי כְּפִי כֻתָּנְתִּי יַאַזְרֵנִי ׃
#

[18] Vì cớ năng lực lớn của Ðức Chúa Trời, áo ngoài tôi hư nát; Năng lực ấy riết khí tôi lại như cổ áo tôi.
[18] With great power God grasps my clothing; he binds me like the collar of my tunic.

[19] הֹרָנִי לַחֹמֶר וָאֶתְמַשֵּׁל כֶּעָפָר וָאֵפֶר ׃
#

[19] Ðức Chúa Trời có ném tôi xuống bùn, Tôi trở nên giống như bụi và tro.
[19] He has flung me into the mud, and I have come to resemble dust and ashes.

[20] אֲשַׁוַּע אֵלֶיךָ וְלֹא תַעֲנֵנִי עָמַדְתִּי וַתִּתְבֹּנֶן בִּי ׃
#

[20] Tôi kêu la cùng Chúa, song Chúa chẳng đáp lời; Tôi đứng tại đó, và Chúa chỉ ngó xem tôi.
[20] I cry out to you, but you do not answer me; I stand up, and you only look at me.

[21] תֵּהָפֵךְ לְאַכְזָר לִי בְּעֹצֶם יָדְךָ תִשְׂטְמֵנִי ׃
#

[21] Chúa trở nên dữ tợn đối với tôi, Lấy năng lực tay Chúa mà rượt đuổi tôi.
[21] You have become cruel to me; with the strength of your hand you attack me.

[22] תִּשָּׂאֵנִי אֶל־רוּחַ תַּרְכִּיבֵנִי וּתְמֹגְגֵנִי תְּשֻׁוָּה ׃
#

[22] Chúa cất tôi lên trên cánh gió, Khiến nó đem tôi đi, và tiêu diệt tôi giữa trận bão.
[22] You pick me up on the wind and make me ride on it; you toss me about in the storm.

[23] כִּי־יָדַעְתִּי מָוֶת תְּשִׁיבֵנִי וּבֵית מוֹעֵד לְכָל־חָי ׃
#

[23] Vì tôi biết rằng Chúa sẽ dẫn tôi đến chốn sự chết, Là nơi hò hẹn của các người sống.
[23] I know that you are bringing me to death, to the meeting place for all the living.

[24] אַךְ לֹא־בְעִי יִשְׁלַח־יָד אִם־בְּפִידוֹ לָהֶן שׁוּעַ ׃
#

[24] Song trong khi người nào bị tàn hại, họ há chẳng giơ tay ra sao? Hoặc đương cơn tai nạn, họ há không cất tiếng kêu la ư?
[24] “Surely one does not stretch out his hand against a broken man when he cries for help in his distress.

[25] אִם־לֹא בָכִיתִי לִקְשֵׁה־יוֹם עָגְמָה נַפְשִׁי לָאֶבְיוֹן ׃
#

[25] Chớ thì tôi không khóc kẻ bị thời thế khó khăn sao? Lòng tôi há chẳng buồn thảm vì kẻ nghèo khổ sao?
[25] Have I not wept for the unfortunate? Was not my soul grieved for the poor?

[26] כִּי טוֹב קִוִּיתִי וַיָּבֹא רָע וַאֲיַחֲלָה לְאוֹר וַיָּבֹא אֹפֶל ׃
#

[26] Tôi đợi chờ phước hạnh, tai họa bèn xảy đến; Tôi trông cậy ánh sáng, tăm tối lại tới cho.
[26] But when I hoped for good, trouble came; when I expected light, then darkness came.

[27] מֵעַי רֻתְּחוּ וְלֹא־דָמּוּ קִדְּמֻנִי יְמֵי־עֹנִי ׃
#

[27] Lòng tôi trằn trọc không an nghỉ; Các ngày gian nan xông áp vào tôi.
[27] My heart is in turmoil unceasingly; the days of my affliction confront me.

[28] קֹדֵר הִלַּכְתִּי בְּלֹא חַמָּה קַמְתִּי בַקָּהָל אֲשַׁוֵּעַ ׃
#

[28] Tôi đi mình mảy bằm đen, nhưng chẳng phải bị nắng ăn; Tôi chổi dậy giữa hội chúng và kêu cầu tiếp cứu.
[28] I go about blackened, but not by the sun; in the assembly I stand up and cry for help.

[29] אָח הָיִיתִי לְתַנִּים וְרֵעַ לִבְנוֹת יַעֲנָה ׃
#

[29] Tôi bèn trở thành anh em của chó rừng, Và bầu bạn của con đà điểu.
[29] I have become a brother to jackals and a companion of ostriches.

[30] עוֹרִי שָׁחַר מֵעָלָי וְעַצְמִי־חָרָה מִנִּי־חֹרֶב ׃
#

[30] Da tôi thành đen và rơi ra khỏi mình, Xương cốt tôi bị nóng cháy đi.
[30] My skin has turned dark on me; my body is hot with fever.

[31] וַיְהִי לְאֵבֶל כִּנֹּרִי וְעֻגָבִי לְקוֹל בֹּכִים ׃
#

[31] Vì cớ ấy, tiếng đờn cầm tôi trở nên tiếng ai bi, Và đờn sắt tôi chỉ ra tiếng thảm sầu.
[31] My harp is used for mourning and my flute for the sound of weeping.