Skip to main content

Gióp 37

·1191 words·6 mins·
Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God

[1] אַף־לְזֹאת יֶחֱרַד לִבִּי וְיִתַּר מִמְּקוֹמוֹ ׃
#

[1] Phải, trái tim tôi run sợ vì sự đó, Nó nhảy động dời khỏi chỗ nó.
[1] At this also my heart pounds and leaps from its place.

[2] שִׁמְעוּ שָׁמוֹעַ בְּרֹגֶז קֹלוֹ וְהֶגֶה מִפִּיו יֵצֵא ׃
#

[2] Khá nghe, khá nghe giọng vang dầy của tiếng Ngài, Và tiếng ầm ầm ra khỏi miệng Ngài!
[2] Listen carefully to the thunder of his voice, to the rumbling that proceeds from his mouth.

[3] תַּחַת־כָּל־הַשָּׁמַיִם יִשְׁרֵהוּ וְאוֹרוֹ עַל־כַּנְפוֹת הָאָרֶץ ׃
#

[3] Ngài khiến nó dội dưới các từng trời, Và chớp nhoáng Ngài chiếu đến cùng trái đất.
[3] Under the whole heaven he lets it go, even his lightning to the far corners of the earth.

[4] אַחֲרָיו יִשְׁאַג־קוֹל יַרְעֵם בְּקוֹל גְּאוֹנוֹ וְלֹא יְעַקְּבֵם כִּי־יִשָּׁמַע קוֹלוֹ ׃
#

[4] Kế liền có tiếng ầm ầm, Ngài phát tiếng oai nghi và sấm rền ra, Và khi nổi tiếng Ngài lên, thì không cầm giữ chớp nhoáng lại.
[4] After that a voice roars; he thunders with an exalted voice, and he does not hold back his lightning bolts when his voice is heard.

[5] יַרְעֵם אֵל בְּקוֹלוֹ נִפְלָאוֹת עֹשֶׂה גְדֹלוֹת וְלֹא נֵדָע ׃
#

[5] Ðức Chúa Trời phát tiếng và sấm rền ra lạ kỳ; Ngài là những công việc lớn lao mà chúng ta hiểu không nổi?
[5] God thunders with his voice in marvelous ways; he does great things beyond our understanding.

[6] כִּי לַשֶּׁלַג יֹאמַר הֱוֵא אָרֶץ וְגֶשֶׁם מָטָר וְגֶשֶׁם מִטְרוֹת עֻזּוֹ ׃
#

[6] Vì Ngài phán với tuyết rằng: Hãy sa xuống đất! Và cũng phán vậy cho trận mưa mây và mưa lớn.
[6] For to the snow he says, ‘Fall to earth,’ and to the torrential rains, ‘Pour down.’

[7] בְּיַד־כָּל־אָדָם יַחְתּוֹם לָדַעַת כָּל־אַנְשֵׁי מַעֲשֵׂהוּ ׃
#

[7] Ngài niêm phong tay của mọi người, Ðể mọi người Ngài đã dựng nên biết được công việc của Ngài.
[7] He causes everyone to stop working, so that all people may know his work.

[8] וַתָּבֹא חַיָּה בְמוֹ־אָרֶב וּבִמְעוֹנֹתֶיהָ תִשְׁכֹּן ׃
#

[8] Khi ấy các thú vật rừng rút trong hang nó, Và ở trong hầm của chúng nó.
[8] The wild animals go to their lairs, and in their dens they remain.

[9] מִן־הַחֶדֶר תָּבוֹא סוּפָה וּמִמְּזָרִים קָרָה ׃
#

[9] Từ các lầu các phương nam bão tuôn tới, Và gió bắc dẫn lạnh lẽo đến.
[9] A tempest blows out from its chamber, icy cold from the driving winds.

[10] מִנִּשְׁמַת־אֵל יִתֶּן־קָרַח וְרֹחַב מַיִם בְּמוּצָק ׃
#

[10] Nước đá thành ra bởi hơi thở của Ðức Chúa Trời; Bề rộng của nước đông đặc lại.
[10] The breath of God produces ice, and the breadth of the waters freeze solid.

[11] אַף־בְּרִי יַטְרִיחַ עָב יָפִיץ עֲנַן אוֹרוֹ ׃
#

[11] Ngài chứa nước trong mây, Và giăng ra các mây chớp nhoáng của Ngài;
[11] He loads the clouds with moisture; he scatters his lightning through the clouds.

[12] וְהוּא מְסִבּוֹת מִתְהַפֵּךְ בְּתַחְבּוּלָתוֹ לְפָעֳלָם כֹּל אֲשֶׁר יְצַוֵּם עַל־פְּנֵי תֵבֵל אָרְצָה ׃
#

[12] Nhờ Ngài dẫn dắt, nó bay vận khắp tứ phương, Ðặng làm xong công việc mà Ngài phán biểu nó làm trên khắp trái đất.
[12] The clouds go round in circles, wheeling about according to his plans, to carry out all that he commands them over the face of the whole inhabited world.

[13] אִם־לְשֵׁבֶט אִם־לְאַרְצוֹ אִם־לְחֶסֶד יַמְצִאֵהוּ ׃
#

[13] Ngài sai mây hoặc để giáng họa, hoặc để tưới đất, Hoặc để làm ơn cho loài người.
[13] Whether it is for punishment for his land, or whether it is for mercy, he causes it to find its mark.

[14] הַאֲזִינָה זֹּאת אִיּוֹב עֲמֹד וְהִתְבּוֹנֵן נִפְלְאוֹת אֵל ׃
#

[14] Hỡi Gióp, hãy nghe lời nầy, Khá đứng yên, suy nghĩ về các việc diệu kỳ của Ðức Chúa Trời.
[14] “Pay attention to this, Job! Stand still and consider the wonders God works.

[15] הֲתֵדַע בְּשׂוּם־אֱלוֹהַּ עֲלֵיהֶם וְהוֹפִיעַ אוֹר עֲנָנוֹ ׃
#

[15] Ông có biết cách nào Ðức Chúa Trời sắp đặt các việc ấy chăng? Cách nào Ngài chiếu lòa chớp nhoáng của mây Ngài chăng?
[15] Do you know how God commands them, how he makes lightning flash in his storm cloud?

[16] הֲתֵדַע עַל־מִפְלְשֵׂי־עָב מִפְלְאוֹת תְּמִים דֵּעִים ׃
#

[16] Ông có biết mây cân bình sao chăng? Có hiểu công việc diệu kỳ của Ðấng có trí huệ trọn vẹn sao chăng?
[16] Do you know about the balancing of the clouds, that wondrous activity of him who is perfect in knowledge?

[17] אֲשֶׁר־בְּגָדֶיךָ חַמִּים בְּהַשְׁקִט אֶרֶץ מִדָּרוֹם ׃
#

[17] Có biết cớ sao quần áo ông nóng, Khi Ngài lấy gió nam mà làm cho trái đất được an tịnh?
[17] You, whose garments are hot when the earth is still because of the south wind,

[18] תַּרְקִיעַ עִמּוֹ לִשְׁחָקִים חֲזָקִים כִּרְאִי מוּצָק ׃
#

[18] Ông có thế trải bầu trời ra với Ðức Chúa Trời chăng? Nó vốn vững chắc như một tấm kính đúc.
[18] will you, with him, spread out the clouds, solid as a mirror of molten metal?

[19] הוֹדִיעֵנוּ מַה־נֹּאמַר לוֹ לֹא־נַעֲרֹךְ מִפְּנֵי־חֹשֶׁךְ ׃
#

[19] Hãy dạy cho chúng tôi biết điều chúng tôi phải thưa cùng Ngài; Vì tại sự dốt nát, chúng tôi chẳng biết bày lời gì với Ngài.
[19] Tell us what we should say to him. We cannot prepare a case because of the darkness.

[20] הַיְסֻפַּר־לוֹ כִּי אֲדַבֵּר אִם־אָמַר אִישׁ כִּי יְבֻלָּע ׃
#

[20] Người ta há sẽ thuật với Ðức Chúa Trời rằng tôi muốn thưa với Ngài sao? Nếu ai nói với Ngài, quả hẳn sẽ bị nuốt đi.
[20] Should he be informed that I want to speak? If a man speaks, surely he would be swallowed up!

[21] וְעַתָּה לֹא רָאוּ אוֹר בָּהִיר הוּא בַּשְּׁחָקִים וְרוּחַ עָבְרָה וַתְּטַהֲרֵם ׃
#

[21] Bây giờ, người ta không thấy sự sáng chói lòa, nó đã ẩn trong mây; Nhưng gió thổi qua xô mây đi và trời trong trẻo lại.
[21] But now, the sun cannot be looked at — it is bright in the skies — after a wind passed and swept the clouds away.

[22] מִצָּפוֹן זָהָב יֶאֱתֶה עַל־אֱלוֹהַּ נוֹרָא הוֹד ׃
#

[22] Ráng vàng từ phương Bắc đến; Nơi Ðức Chúa Trời có oai nghiêm đáng sợ thay!
[22] From the north he comes in golden splendor; around God is awesome majesty.

[23] שַׁדַּי לֹא־מְצָאנֻהוּ שַׂגִּיא־כֹחַ וּמִשְׁפָּט וְרֹב־צְדָקָה לֹא יְעַנֶּה ׃
#

[23] Luận về Ðấng Toàn năng, ta không tìm thấy đến Ngài được: Ngài vốn rất quyền năng, rất chánh trực và công bình cực điểm, không hề hà hiếp ai.
[23] As for the Almighty, we cannot attain to him! He is great in power, but justice and abundant righteousness he does not oppress.

[24] לָכֵן יְרֵאוּהוּ אֲנָשִׁים לֹא־יִרְאֶה כָּל־חַכְמֵי־לֵב ׃ פ
#

[24] Bởi cớ ấy nên loài người kính sợ Ngài; Ngài không đoái đến kẻ nào tưởng mình có lòng khôn ngoan.
[24] Therefore people fear him, for he does not regard all the wise in heart.”