Skip to main content

Câu 3: Cựu Ước Có Dạy Về Sự Cứu Rỗi Bởi Việc Làm Hay Không?

·1136 words·6 mins·
Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God

Thỉnh thoảng, đặc biệt là giữa vòng các nhóm học giả phổ biến, người ta gặp phải ý tưởng rằng Cựu Ước dạy về sự cứu rỗi một cách khác; ví dụ, sự cứu rỗi đạt được qua việc làm trong Cựu Ước nhưng là qua đức tin trong Tân Ước. Hầu hết các học giả đều đồng ý rằng không có cơ sở nào cho ý tưởng này. Khi Phao-lô muốn chứng minh rằng sự công bình được thực hiện qua đức tin, ông đã viện dẫn cuộc đời của Áp-ra-ham (Rô-ma 4:1–25; Ga-la-ti 3:6–9) và Đa-vít (Rô-ma 4:6–8), trưng dẫn trong Sáng-thế Ký 15:6 chân lý rằng chính đức tin của Áp-ra-ham được kể là sự công chính cho ông. Áp-ra-ham từng là một người thờ hình tượng (Giô-suê 24:2) và không kính Chúa (Rô-ma 4:5) trước khi ông được cứu, do đó ông đặt lòng tin vào Đức Chúa Trời để cứu mình. Điều rất đáng chú ý là cả Áp-ra-ham và Đa-vít đều được nhắc đến trong Rô-ma 4. Rõ ràng, sự cứu rỗi đã đến với Áp-ra-ham nhờ đức tin, người đã sống trước khi luật pháp được ban hành. Một số người có thể nghĩ rằng sự cứu rỗi được đạt bằng một cách khác đối với Đa-vít, người sống dưới luật pháp. Nhưng Phao-lô đã nói rõ ràng rằng Đa-vít cũng được kể là công chính nhờ đức tin chứ không phải vì đời sống đạo đức của ông.

Vì Phao-lô lập luận từ chính Cựu Ước để chứng minh rằng sự cứu rỗi là nhờ đức tin, nên không có cơ sở nào để nghĩ rằng sự cứu rỗi có thể được đạt bằng bất kỳ cách nào khác trong Cựu Ước. Việc đề cập đến Đa-vít có lẽ đặc biệt quan trọng vì ông sống dưới thời luật pháp. Luật pháp không giới thiệu một thời kỳ mới, trong đó sự cứu rỗi được đạt theo một cách khác so với thời của Áp-ra-ham. Ngược lại, cả Áp-ra-ham và Đa-vít đều được cứu theo cùng một cách. Đó là, họ tin cậy rằng Chúa sẽ cứu họ bất chấp tội lỗi của họ.

Cũng cần lưu ý rằng cả Phao-lô và tác giả của thư Hê-bơ-rơ đều trích dẫn Ha-ba-cúc 2:4 để ủng hộ ý tưởng rằng sự công chính đến nhờ đức tin (Rô-ma 1:17; Ga-la-ti 3:11; Hê-bơ-rơ 10:38). Ha-ba-cúc cảnh báo về sự phán xét dành cho Giu-đa, nơi đã trắng trợn vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời. Chúa hứa rằng Ngài sẽ sử dụng người Ba-by-lôn để thực hiện cơn thịnh nộ của Ngài trên dân sự của mình. Tuy nhiên, ngay giữa sự phán xét sắp đến, những người đặt đức tin vào Chúa và tin cậy nơi Ngài sẽ được sống (Ha-ba-cúc 2:4).

Ha-ba-cúc 3 gợi lại các chủ đề về cuộc xuất hành khi mô tả sự phán xét và sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, nhưng ngay cả giữa sự phán xét sắp đến, khi cây vả không đâm chồi và cây nho không kết trái, những người tin cậy nơi Đức Giê-hô-va sẽ tìm thấy niềm vui nơi Ngài. Họ sẽ nhìn lên Chúa như là sức mạnh của mình. Nhìn lên Chúa để tìm sức mạnh và niềm vui cũng chính là cách khác để chứng minh rằng một người đang tin cậy nơi Chúa. Ha-ba-cúc thừa nhận rằng dân Y-sơ-ra-ên đã thất bại trong việc tuân giữ luật pháp (Ha-ba-cúc 1:4), và do đó, hy vọng duy nhất của họ là một cuộc xuất hành mới, là nơi Chúa sẽ cứu dân sự của Ngài. Những người đặt niềm tin nơi Chúa sẽ hưởng được công cuộc cứu rỗi của Ngài.

Tôi đã lập luận trong câu hỏi trước rằng giao ước Môi-se không phải là một giao ước mang tính pháp lý, và do đó, việc hiểu nó như một sự khuyến khích sự cứu rỗi qua việc làm thay vì qua đức tin là một sự bóp méo hoàn toàn. Luật pháp được ban hành sau khi Chúa đã cứu chuộc dân sự của Ngài khỏi Ai Cập, và do đó, sự vâng phục của họ là một đáp ứng của tình yêu đối với ân điển của Đức Chúa Trời. Vì vậy, chúng ta có thêm bằng chứng rằng chính giao ước Môi-se không đại diện cho một cách cứu rỗi khác.

Hê-bơ-rơ chương 11 xác nhận sự hiểu biết của chúng ta về sự cứu rỗi trong Cựu Ước, nhấn mạnh qua danh sách dài các thánh đồ thời Cựu Ước đã nhận được phần thưởng từ Đức Chúa Trời vì họ làm đẹp lòng Ngài qua đức tin của mình (câu 6). Ví dụ, lễ tế của A-bên, thay vì của Ca-in, được chấp nhận vì đức tin của A-bên (câu 4). Nô-ê cũng trở thành người thừa kế sự công chính nhờ đức tin vào lời hứa của Đức Chúa Trời, điều được thể hiện qua việc ông đóng tàu (câu 7). Tương tự, sự vâng lời của Áp-ra-ham xuất phát từ đức tin của ông (câu 8).

Cũng vậy, Môi-se và dân Y-sơ-ra-ên đã thể hiện đức tin khi rời Ai Cập và khi dâng con chiên lễ Vượt Qua (câu 23–29), nhận biết rằng Đức Chúa Trời là Đấng cứu rỗi. Cuộc đời của Ra-háp cho thấy rằng sự cứu rỗi là nhờ đức tin chứ không phải việc làm, vì cuộc đời làm gái mại dâm của bà rõ ràng không đủ điều kiện để được cứu trên cơ sở việc làm của mình (câu 31). Thật vậy, tất cả những người đã làm đẹp lòng Đức Chúa Trời trong dân Y-sơ-ra-ên đều làm được điều đó nhờ đức tin (câu 5–6, 33–38).

TÓM TẮT

Lời chứng của Kinh Thánh về vấn đề này rất rõ ràng. Sự cứu rỗi trong cả Cựu Ước và Tân Ước đều nhờ đức tin. Việc làm không được xem là cơ sở hay nền tảng cho sự cứu rỗi của một người, dù trong Cựu Ước hay Tân Ước. Chỉ có một con đường cứu rỗi trong cả hai Giao Ước: Đức tin vào Đức Chúa Trời, Đấng hứa sẽ cứu dân Ngài.

Câu Hỏi Thảo Luận:

  • Cựu Ước có dạy rằng sự cứu rỗi đến từ việc làm không?
  • Có bằng chứng nào trong cuộc đời của Áp-ra-ham và Đa-vít cho thấy sự cứu rỗi luôn đến từ đức tin không?
  • Cả sách Ha-ba-cúc hỗ trợ ý tưởng rằng sự cứu rỗi là nhờ đức tin như thế nào?
  • Vai trò của đức tin và sự vâng lời trong Hê-bơ-rơ chương 11 là gì?
  • Đức tin thật có luôn dẫn đến sự vâng lời không?

40 CÂU HỎI VỀ CƠ ĐỐC NHÂN VÀ LUẬT PHÁP CỰU ƯỚC