Skip to main content

Câu 4: Quan Điểm Mới Về Khái Niệm Luật Pháp của Phao-lô Là Gì, và Chúng Ta Nên Đánh Giá Nó Như Thế Nào?

·2773 words·14 mins·
Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God

Quan điểm Mới về Khái niệm Luật Pháp của Phao-lô bắt nguồn từ cuốn sách quan trọng được xuất bản năm 1977, Phao-lô và Do Thái giáo Palestine: Một So sánh về Các Khuôn Mẫu Tôn Giáo do E. P. Sanders làm tác giả, người đã nghỉ hưu giảng dạy tại Đại học Duke vào năm 2005. Cuốn sách của ông đã gây chấn động trong lĩnh vực nghiên cứu Tân Ước, và những ảnh hưởng của nó vẫn còn vang vọng đến ngày nay. Điều này không có nghĩa là Sanders là người đầu tiên đề xuất luận điểm của mình. Khi nhìn lại, chúng ta thấy những lập luận tương tự ở hai học giả về Do Thái giáo, Claude Montefiore (1858–1938) và George Foote Moore (1851–1931). Tuy nhiên, khi Sanders viết, thời điểm đó đã chín muồi để các học giả lắng nghe.

Paul and Palestinian Judaism

Ông viết khoảng ba mươi năm sau thảm họa Holocaust, khi các học giả vẫn đang choáng váng trước vụ sát hại sáu triệu người Do Thái ở nước Đức “Cơ Đốc giáo.” Chủ nghĩa bài Do Thái không chỉ giới hạn trong chính trị; nó còn được hỗ trợ bởi các nghiên cứu Cơ Đốc giáo, và do đó, phần nào chịu trách nhiệm cho cuộc thảm sát hàng triệu người Do Thái. Quan trọng nhất, Sanders đã cẩn thận trình bày lập luận của mình dựa trên các tài liệu của người Do Thái, bao gồm văn học Talmud, các sách Ngụy kinh, Pseudepigrapha, và các bản thảo Qumran.

Cuốn sách của ông là một tác phẩm xuất sắc, xây dựng luận điểm bằng cách giải thích cẩn thận các văn bản Do Thái liên quan. Bất kỳ ai nghi ngờ luận điểm của Sanders đều cần chứng minh rằng cách giải thích của ông là sai lầm. Ông không thể bị bác bỏ chỉ bằng những tuyên bố đơn thuần được.

Sanders lập luận rằng chủ nghĩa pháp lý mà Do Thái giáo bị cáo buộc là một huyền thoại học thuật do các học giả Cơ Đốc áp đặt lên các bằng chứng, là những người đã nhìn Do Thái giáo qua lăng kính của sự thành kiến. Đặc biệt, những người theo đạo Tin Lành thường có xu hướng đọc các cuộc luận chiến chống lại Do Thái giáo trong Tân Ước qua lăng kính của cuộc xung đột giữa họ với Giáo hội Công giáo La Mã vào thế kỷ XVI. Họ đã áp đặt quan điểm sai lầm về ân điển trong Công giáo La Mã lên các nguồn tài liệu Do Thái giáo. Tuy nhiên, một cách đọc khách quan các nguồn tài liệu Do Thái giáo thời kỳ Đền Thờ Thứ Hai cho thấy rằng Do Thái giáo sở hữu một giáo lý vững chắc về ân điển của Đức Chúa Trời.

Sanders lập luận rằng có một mẫu tôn giáo chung trong Do Thái giáo thời kỳ Đền Thờ Thứ Hai, mà ông gọi là “chủ nghĩa luật pháp giao ước” (covenantal nomism). Đức Chúa Trời đã thiết lập giao ước với dân Ngài bởi ân điển của Ngài. Việc dân Y-sơ-ra-ên tuân giữ luật pháp không phải là điều đưa họ vào mối quan hệ giao ước với Đức Chúa Trời. Họ được đưa vào mối quan hệ với Ngài nhờ vào lòng thương xót của Chúa. Mệnh lệnh giữ luật pháp là một phản ứng đối với ân điển của Đức Chúa Trời. Do đó, nomism không thể bị đồng nhất với chủ nghĩa pháp lý (legalism). Dân Y-sơ-ra-ên không tin rằng Đức Chúa Trời cân nhắc công đức của một người để quyết định liệu họ có nhận được phần thưởng cuối cùng hay không. Họ cũng không dạy rằng con người có thể đạt được hoặc xứng đáng với sự ưu ái của Đức Chúa Trời để được cứu rỗi. Dân Y-sơ-ra-ên duy trì mối quan hệ ân điển với Chúa qua việc tuân giữ luật pháp, nhưng họ bước vào mối quan hệ ban ban đầu với Ngài nhờ ân điển của Ngài.

Nếu bức tranh về Do Thái giáo mà Sanders vẽ nên là chính xác, thì làm thế nào chúng ta lý giải sự phê phán của Phao-lô đối với luật pháp? Theo chính giải pháp của Sanders, Phao-lô đã bác bỏ luật pháp vì lý do giáo lý. Phao-lô đã đi đến niềm tin xác tín rằng Đấng Christ là câu trả lời cho vấn đề của con người; sự cứu rỗi chỉ có thể đến qua Ngài. Nhưng nếu sự cứu rỗi chỉ qua Đấng Christ, thì luật pháp phải được giải thích như thế nào? Theo Sanders, Phao-lô thực sự không nhìn thấy bất kỳ vấn đề cố hữu nào với luật pháp. Sự thấp kém của luật pháp không thể được gán cho sự bất lực của con người trong việc tuân giữ nó hoặc cho tư duy mang tính pháp lý đối với luật pháp. Thay vào đó, Phao-lô lập luận từ giải pháp đến vấn đề. Bởi vì Đấng Christ đại diện cho câu trả lời cho nan đề của con người (giải pháp), thì luật pháp phải là một vấn đề (nan đề). Tuy nhiên, Phao-lô không thực sự nhận thấy bất kỳ khuyết điểm nội tại nào trong luật pháp. Sanders khẳng định rằng đôi khi lập luận của Phao-lô về luật pháp rất quanh co và gần như thiếu mạch lạc, nhưng điều đó được giải thích bởi tiền đề thần học của ông rằng Đấng Christ là giải pháp cho nan đề của con người. Vậy tại sao luật pháp không thể cứu theo quan điểm của Phao-lô? Sanders trả lời rằng luật pháp không thể cứu vì chỉ có Đấng Christ mới cứu được. Vậy vấn đề của luật pháp là gì? Vấn đề của luật pháp là nó không phải là Đấng Christ.

Một học giả khác đồng tình với cách đọc về Do Thái giáo của Sanders là Heikki Räisänen, người đã nghỉ hưu tại Đại học Helsinki vào năm 2006. Räisänen đã đưa ra một giải pháp cấp tiến hơn so với Sanders. Nếu bức tranh về Do Thái giáo thời Đền Thờ Thứ Hai của Sanders là đúng, thì làm thế nào chúng ta giải thích về Phao-lô? Räisänen lập luận rằng quan niệm cho rằng Phao-lô là một nhà tư tưởng nhất quán và logic là một sai lầm. Nói cách khác, thần học của Phao-lô về luật pháp đầy mâu thuẫn và về cơ bản là không mạch lạc. Các học giả đã cố gắng giải thích thần học của Phao-lô về luật pháp như thể nó đại diện cho một hệ thống tư tưởng nhất quán. Tuy nhiên, theo Räisänen, họ thường không nhận ra rằng Phao-lô vận hành dựa trên hai tiền đề cơ bản mâu thuẫn với nhau. Một mặt, Phao-lô khẳng định rằng luật pháp trong Cựu Ước là lời đầy thẩm quyền của Đức Chúa Trời. Mặt khác, ông lại nhấn mạnh rằng dân ngoại không bị yêu cầu tuân giữ luật pháp Cựu Ước. Theo Räisänen, rõ ràng Phao-lô không thể dung hòa hai quan điểm này, bởi vì chúng loại trừ lẫn nhau.

Tuy nhiên, nhiều học giả vẫn không hài lòng với cách giải thích về Phao-lô của Räisänen và Sanders. Trái ngược với Räisänen, họ bị thuyết phục rằng Phao-lô là một nhà tư tưởng nhất quán. Dường như Räisänen đã đọc Phao-lô với một thái độ thiếu thiện cảm, đến nỗi các mâu thuẫn xuất hiện hầu như ở khắp mọi nơi. Cách giải thích của Sanders về Phao-lô thì thân thiện hơn so với Räisänen. Tuy nhiên, như James Dunn đã nhận xét, cách giải thích của Sanders về Phao-lô khá độc đáo và mang tính tùy ý. Theo Sanders, vấn đề duy nhất của Do Thái giáo là nó không phải là Cơ Đốc giáo. Luật pháp bị bác bỏ như một giải pháp và được xem như một vấn đề vì Đấng Christ là câu trả lời duy nhất cho nhân loại. Dunn đã phản biện một cách hợp lý rằng thần học của Phao-lô về luật pháp sâu sắc hơn thế. Phao-lô không bác bỏ luật pháp một cách “theo phản xạ” chỉ vì lý do luật pháp mang tính chất giáo lý (dogmatic); sự bác bỏ luật pháp của ông dựa trên một nền tảng sâu sắc và vững chắc hơn.

Theology of Paul

Nếu cách giải thích về Phao-lô của Sanders và Räisänen nên bị bác bỏ, thì theo Dunn, ông nên được đánh giá như thế nào? Dunn thừa nhận rằng Sanders đã đúng ở một điểm cơ bản: Do Thái giáo thời Đền Thờ Thứ Hai không mang tính pháp lý, vì vậy cách đọc hiểu theo tiêu chuẩn của đạo Tin Lành, trong đó luật pháp không thể cứu vì con người không thể tuân giữ nó hoặc vì chủ nghĩa pháp lý, cần được gạt sang một bên. Tại điểm này, cả Dunn và N. T. Wright đề xuất một cách đọc mới về Phao-lô (một “Quan điểm Mới”!), điều này đã có ảnh hưởng to lớn. Khi đọc Phao-lô trong bối cảnh lịch sử của ông, chúng ta thấy rằng sự phản đối của Phao-lô với các đối thủ Do Thái của ông tập trung vào tính độc quyền, chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa vị chủng của họ. Người Do Thái khăng khăng cho rằng dân ngoại phải trở thành một phần của dân tộc Do Thái để trở thành dân của Đức Chúa Trời. Vì vậy, họ nhấn mạnh các đặc điểm và dấu hiệu ranh giới riêng của Do Thái giáo, chẳng hạn như phép cắt bì, luật ăn uống và ngày Sa-bát. Do đó, cuộc luận chiến của Phao-lô chống lại luật pháp không tập trung vào chủ nghĩa pháp lý hay sự bất tuân của con người.

NT Wright - Paul

Khẳng định của Sanders rằng Do Thái giáo thời Đền Thờ Thứ Hai không mang tính pháp lý cũng được chứng minh trong các bài viết của Phao-lô! Điều khiến Phao-lô phẫn nộ là sự khăng khăng cho rằng dân ngoại phải chịu phép cắt bì và có các dấu hiệu khác của Do Thái giáo để được bao gồm trong dân Đức Chúa Trời. Các đối thủ Do Thái của Phao-lô không sẵn lòng mở rộng cửa hoàn toàn cho dân ngoại, vì đối với họ, việc cho phép dân ngoại trở thành một phần của dân Đức Chúa Trời mà không áp dụng dấu hiệu giao ước được yêu cầu bởi Cựu Ước là điều không thể chấp nhận được. Họ lập luận rằng phép cắt bì là bắt buộc đối với dân ngoại, từ đó giữ vững vị thế ưu việt dân tộc của họ như là người Do Thái. Họ không muốn hội thánh của Đức Chúa Jêsus Christ bao gồm nhiều nhóm sắc tộc và văn hóa khác nhau. Thay vào đó, họ muốn duy trì sự vượt trội về văn hóa và sắc tộc của mình như là người Do Thái.

Chúng ta nên hiểu thế nào về “Quan điểm Mới về Phao-lô”? Trong khuôn khổ ngắn gọn, chúng ta không thể giải quyết toàn bộ các vấn đề, và tôi khuyến khích độc giả tham khảo các tác phẩm dài hơn để xem xét phong trào này chi tiết hơn. Tuy nhiên, cần phải nói rằng cách giải thích của Sanders về Do Thái giáo thời kỳ Đền Thờ Thứ Hai đã được nghiên cứu kỹ lưỡng kể từ khi cuốn sách của ông được xuất bản. Một số bằng chứng trong các văn bản Do Thái giáo thời kỳ Đền Thờ Thứ Hai ủng hộ mô hình “chủ nghĩa luật pháp giao ước” (covenantal nomism) mà Sanders bảo vệ. Tuy nhiên, bằng chứng không hẳn mang tính thuyết phục như Sanders đã tuyên bố.

Friedrich Avemarie đã chỉ ra rằng hai chủ đề tuyển chọn (của Đức Chúa Trời) và việc làm (của dân Do Thái) tồn tại trong một sự căng thẳng không dễ dàng hòa giải trong văn học rabbinic (tài liệu văn học do các Rabi Do Thái viết), vì vậy không thể chỉ đơn giản nói rằng việc làm luôn bị đặt dưới sự tuyển chọn. Tương tự, Mark Elliott cho rằng Do Thái giáo trong thời kỳ Đền Thờ Thứ Hai thường không hình dung rằng toàn bộ dân Israel sẽ được cứu, mà chỉ những người giữ luật pháp (torah) mới được cứu. Andrew Das cũng khẳng định rằng việc cân nhắc công đức (merits) xuất hiện khá nổi bật trong văn học rabbinic. Dù lòng thương xót và ân điển của Đức Chúa Trời không bị lãng quên, nhưng vẫn có sự nhấn mạnh đáng kể đến việc làm của con người. Simon Gathercole lập luận rằng các kết luận của Sanders cần được xem xét cẩn thận hơn, vì có nhiều bằng chứng trong văn học thời Đền Thờ Thứ Hai chỉ ra rằng việc làm đóng vai trò trong việc đạt được sự cứu rỗi cuối cùng.

Hơn nữa, một nghiên cứu cẩn thận về văn học trong thời kỳ Đền Thờ Thứ Hai đưa ra một kết luận tinh tế hơn. Trong một số trường hợp, nhận định của Sanders về chủ nghĩa luật pháp giao ước (covenantal nomism) có vẻ đúng, nhưng ở những trường hợp khác, cách đọc của ông về bằng chứng lại sai lầm, và ông đã áp đặt mô hình của mình lên văn học này. Sanders thừa nhận rằng sách 4 Ezra là một ngoại lệ đối với mô hình của ông, nhưng rõ ràng có nhiều ngoại lệ hơn thế. Do đó, khẳng định của Sanders rằng Do Thái giáo thời kỳ Đền Thờ Thứ Hai không nhấn mạnh vai trò của việc làm trong việc đạt được sự cứu rỗi là cường điệu. Các nguồn Do Thái không hoàn toàn hỗ trợ luận điểm của ông rằng Do Thái giáo thời kỳ Đền Thờ Thứ Hai là một tôn giáo của ân điển. Ít nhất, một số phân đoạn của Do Thái giáo đã tập trung vào sự vâng phục của con người và rơi vào một loại chủ nghĩa pháp lý. Điều này có nghĩa là chúng ta không nên giả định khi đến với Phao-lô rằng, sự việc đã được chứng minh rõ ràng rằng không có khái niệm chủ nghĩa pháp lý hay sự công chính qua việc làm trong Do Thái giáo thời kỳ Đền Thờ Thứ Hai.

TÓM TẮT

Nền tảng của “Quan điểm Mới về Phao-lô”, được cho là đã được Sanders chứng minh, không hẳn vững chắc như một số người khẳng định. Chúng ta có nhiều bằng chứng đáng kể cho thấy Phao-lô bác bỏ luật pháp vì con người không có khả năng tuân giữ nó, và rằng một số đối thủ của ông đã rơi vào chủ nghĩa pháp lý. Ngay cả khi “Quan điểm Mới” không đủ sức đưa ra một lời giải thích thỏa đáng về quan điểm của Phao-lô đối với luật pháp, nó đúng khi nhận định rằng việc bao gồm dân ngoại vào dân sự của Đức Chúa Trời là một chủ đề quan trọng trong thần học của Phao-lô. Tuy nhiên, điều mà các nhà ủng hộ “Quan điểm Mới” không giải thích một cách thuyết phục đó là: Cách mà dân ngoại được bao gồm vào trong dân sự của Đức Chúa Trời nên được kết hợp với thần học về luật pháp của Phao-lô khi giải thích về quan điểm luật pháp của Phao-lô. Cuối cùng, như đã chỉ ra ở đây, các học giả đã chứng minh rằng cách đọc của Sanders về các nguồn Do Thái giáo là quá đơn giản. Một cách đọc cẩn thận các nguồn Do Thái giáo cho thấy rằng một số người Do Thái đã nhấn mạnh vai trò của sự vâng phục trong việc đạt được sự cứu rỗi trong thời kỳ sau rốt.

Câu Hỏi Thảo Luận

  • Covenantal nomism là gì?
  • E. P. Sanders đã giải thích sự bác bỏ luật pháp của Phao-lô như thế nào?
  • James Dunn và N. T. Wright đã đóng góp gì vào cuộc tranh luận?
  • Một số nghiên cứu gần đây đã đặt nghi vấn như thế nào về cách đọc của Sanders đối với Do Thái giáo?
  • Bạn có nghĩ rằng “Quan điểm Mới về Phao-lô” là thuyết phục không?

40 CÂU HỎI VỀ CƠ ĐỐC NHÂN VÀ LUẬT PHÁP CỰU ƯỚC