Skip to main content

Câu 6: Phao-lô Có Chỉ Trích Chủ Nghĩa Luật Pháp Trong Các Thư Tín của Ông Hay Không?

·3592 words·17 mins·
Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God

Chúng ta đã thấy trong các câu hỏi trước rằng, Quan điểm Mới về Phao-lô (New Perspective on Paul) cho rằng Do Thái giáo trong thời Phao-lô không mang tính chất pháp lý. Một số học giả ủng hộ Quan điểm Mới cũng đã lập luận rằng không có sự tranh luận chống lại chủ nghĩa luật pháp trong các bức thư của Phao-lô. Họ khẳng định rằng người Do Thái bị lên án vì chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa độc tôn và chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, chứ không phải vì chủ nghĩa luật pháp hay công chính qua việc làm. Tôi sử dụng các thuật ngữ “chủ nghĩa luật pháp” và “công bình qua việc làm” ở đây để chỉ quan niệm rằng các việc làm của chúng ta đem lại công trạng cho sự cứu rỗi hoặc sự xưng công bình.

Trong câu hỏi số 4, sự chặt chẽ trong cách Quan điểm Mới đọc và giải thích các tài liệu văn bản Do Thái giáo đã được nêu lên. Chúng ta đã thấy rằng có những vấn đề nghiêm trọng với cách giải thích của Quan điểm Mới về văn học Do Thái thời kỳ Đền Thờ thứ hai. Nhưng ngay cả khi những người ủng hộ Quan điểm Mới đã đọc và hiểu đúng các nguồn tài liệu Do Thái giáo, thì chúng ta nên hiểu thế nào về các phát biểu của Phao-lô liên quan đến luật pháp? Điều nào là hợp lý nhất về mặt giải nghĩa khi chúng ta đọc các tác phẩm của Phao-lô? Việc giải thích Phao-lô không nên bị tác động bởi các nguồn tài liệu bên ngoài. Các phát biểu của ông cần được đọc và hiểu một cách toàn vẹn theo đúng bối cảnh của chúng.

Chúng ta cần sẵn sàng với bối cảnh lịch sử rằng Phao-lô đã phê phán người Do Thái trong thời của ông về chủ nghĩa luật pháp dựa trên Tin Lành mà ông rao giảng. Tin Lành đó là một điều mới mẻ và độc đáo vừa xuất hiện trong lịch sử. Một số người trong một nền văn hóa có thể có quan điểm rất khác biệt về những gì đang xảy ra trong nền văn hóa của họ. Bất kể chúng ta hiểu các nguồn tài liệu văn học Do Thái giáo như thế nào, thì cũng cần lập luận rằng có bằng chứng xác đáng cho thấy rằng Phao-lô đã tham gia vào một cuộc tranh luận chống lại chủ nghĩa luật pháp của người Do Thái.

Trong tám trường hợp, Phao-lô lập luận rằng không ai là người công bình hoặc được nhận lãnh Thánh Linh qua các việc làm của luật pháp (Ga-la-ti 2:16 [3 lần]; 3:2, 5, 10; Rô-ma 3:20, 28). Tôi đã tranh luận trong câu hỏi số 5 rằng, “các việc làm của luật pháp” không chỉ nói riêng về chủ nghĩa luật pháp mà còn ám chỉ các hành động hoặc việc làm mà luật pháp yêu cầu. Việc hiểu rõ ranh giới này là điều rất quan trọng. Về mặt ngữ nghĩa, cụm từ “các việc làm của luật pháp” không trực tiếp đề cập đến chủ nghĩa luật pháp. Nhưng khi chúng ta xem xét bối cảnh hoặc sự mạch lạc của các phân đoạn mà trong đó cụm từ “các việc làm của luật pháp” xuất hiện, thì khái niệm về chủ nghĩa luật pháp lại hiện hữu.

Theo Phao-lô, một số người Do Thái dường như tin rằng họ có thể trở nên công bình trước mặt Đức Chúa Trời hoặc được nhận lãnh ân tứ của Thánh Linh nhờ việc tuân giữ các việc làm của luật pháp. Quan điểm này về luật pháp chính là chủ nghĩa luật pháp, vì nó đặt sự xưng công bình trên sự vâng phục của con người thay vì trên đức tin. Trong mọi bối cảnh mà cụm từ “các việc làm của luật pháp” được đề cập, thì luôn có sự đối lập giữa việc xưng công bình/nhận lãnh Thánh Linh qua việc làm của luật pháp và qua đức tin (xem Ga-la-ti 2:16; 3:2, 5, 10–12; Rô-ma 3:20–22, 28). Đức tin không dựa vào những gì con người đã làm để đạt được sự cứu rỗi; nó hướng ra bên ngoài, đến với Đấng Christ và sự công bình của Ngài để người tin nhận Ngài được xưng công bình. Còn Thánh Linh được ban cho là nhờ sự đón nhận khiêm nhường thông điệp của Tin Lành, chứ không phải dựa trên sự thực hiện của con người đối với những điều luật pháp yêu cầu. Chính khao khát thực hiện các việc làm của luật pháp để được xưng công bình đã chỉ ra xu hướng dựa vào thành tựu của con người thay vì vào ân điển của Đức Chúa Trời.

Sự xưng công bình qua việc làm của luật pháp thì phải dựa trên hành động của con người, trong khi sự xưng công bình bởi đức tin thì được đặt nền tảng trên những gì Đức Chúa Trời đã làm (Ga-la-ti 3:12). Ga-la-ti 3:18 khẳng định: “Vì nếu cơ nghiệp được ban cho bởi luật pháp, thì không bởi lời hứa nữa; nhưng Đức Chúa Trời đã dùng lời hứa mà ban cơ nghiệp cho Áp-ra-ham.” Những ai tin cậy vào lời hứa của Đức Chúa Trời thì dựa vào công việc của Ngài, trong khi những người cố gắng được xưng công bình bởi luật pháp lại tìm cách đạt được cơ nghiệp dựa trên công lao của con người. Như Rô-ma 4:14 tuyên bố:“Vì nếu bởi luật pháp mà được hưởng gia nghiệp, thì đức tin ra vô ích, lời hứa cũng bỏ rồi.”

Rõ ràng Phao-lô dạy rằng, trong một ý nghĩa nào đó, đức tin và luật pháp đối lập nhau. Đức tin hướng về những lời hứa của Đức Chúa Trời và công việc siêu nhiên của Ngài, nhưng luật pháp tìm kiếm phước hạnh qua những gì con người đạt được. Đức tin không tập trung vào con người hay các thành tựu của họ để đảm bảo cơ nghiệp cuối cùng; nhưng nó hoàn toàn dựa trên lời hứa tự nguyện và chắc chắn của Đức Chúa Trời. Cơ nghiệp cuối cùng được đảm bảo, vì nó phụ thuộc vào lời hứa và công việc của Đức Chúa Trời, điều mà con người nhận được bằng cách tin cậy Ngài.

Luật pháp đại diện cho một con đường hoàn toàn khác để đạt được cơ nghiệp, vì nó đưa ra điều kiện về sự vâng phục của con người, mà sự vâng phục này không đủ để nhận lãnh phước lành. Như Phao-lô nói: “Luật pháp chỉ đem đến cơn thịnh nộ” (Rô-ma 4:15). Ngược lại, cơ nghiệp “được ban cho bởi đức tin, để lời hứa được dựa trên ân điển và được bảo đảm” (Rô-ma 4:16). Một lần nữa, dường như Phao-lô tham gia vào cuộc tranh luận này vì một số người nghĩ rằng họ có thể đạt được cơ nghiệp qua sự vâng phục của mình, điều này thể hiện chủ nghĩa luật pháp như đã được định nghĩa ở trên.

Các phân đoạn khác cũng chỉ ra rằng Phao-lô đã tranh luận chống lại chủ nghĩa luật pháp của người Do Thái. Trong Rô-ma 3:27, sự khoe khoang bị loại trừ trên cơ sở đức tin. Nhận xét này ngụ ý rằng sự khoe khoang sẽ thích hợp nếu sự xưng công bình có thể đạt được qua việc làm (Rô-ma 3:28). Tuy nhiên, Phao-lô hoàn toàn bác bỏ khả năng này vì tất cả mọi người đều là tội nhân (Rô-ma 3:23). Dẫu vậy, ông nhắc nhở các độc giả của mình rằng sự khoe khoang đã bị loại trừ, có lẽ bởi vì một số người bị cám dỗ để khoe khoang về những gì họ đã đạt được. Việc khoe khoang như vậy là đỉnh điểm của sự dại dột. Bởi vì mọi con người đều vi phạm tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời, nên việc nghĩ rằng các việc làm của con người có thể đảm bảo được sự ưa chuộng của Đức Chúa Trời là phi lý.

Phao-lô tiếp tục khai thác chủ đề khoe khoang khi ông nhắc đến Áp-ra-ham trong Rô-ma 4:2–5. Quan điểm cho rằng Phao-lô chủ yếu nói về các dấu hiệu ranh giới (boundary markers) là sai lầm, bởi vì ở đây ông nói về “các việc làm” (erga), chứ không phải “các việc làm của luật pháp” (erga nomou). Thật vậy, Phao-lô nhấn mạnh rằng Áp-ra-ham không sống dưới luật pháp (xem Rô-ma 5:12–14; Ga-la-ti 3:15–18). Theo Phao-lô, Áp-ra-ham có thể khoe khoang một cách hợp lý nếu ông đã làm được những việc cần thiết. Tuy nhiên, Áp-ra-ham không có cơ sở nào để khoe khoang trước mặt Đức Chúa Trời, vì ông là người không tin kính (Rô-ma 4:2, 5). Ông thuộc về những người thờ thần tượng khi Chúa kêu gọi ông theo Ngài (Giô-suê 24:2–3). Áp-ra-ham được xưng công bình, như Sáng-thế Ký 15:6 làm chứng, qua đức tin chứ không phải qua việc làm.

Rô-ma 4:4–5 giải thích sâu hơn nội dung của Rô-ma 4:2–3. Câu 4 đặc biệt quan trọng: “Đối với kẻ nào làm việc, thì tiền công không kể là ơn, nhưng kể là nợ.” Lời tuyên bố này gần như nắm bắt được bản chất của chủ nghĩa luật pháp, ít nhất là theo định nghĩa của tôi. Phao-lô sử dụng hình ảnh một người lao động. Nếu người lao động hoàn thành hợp đồng và làm đúng công việc được yêu cầu, thì người ấy xứng đáng nhận tiền lương. Họ có được tiền lương dựa trên công lao, và do đó họ không xem tiền lương của mình như một món quà ân điển. Nhưng sự xưng công bình không đạt được trên nền tảng đó:“Còn kẻ chẳng làm việc chi hết, nhưng tin Đấng xưng người có tội là công bình, thì đức tin của kẻ ấy kể là công bình cho mình.”(Rô-ma 4:5).

Không ai có thể đạt được sự xưng công bình qua những công việc mà họ làm cho Đức Chúa Trời, bởi vì tất cả đều là những kẻ không tin kính. Sự công bình được ban cho nhờ đức tin thay vì nhờ việc làm. Một số học giả đánh giá thấp nội dung của Rô-ma 4:4, nhưng điều này lại rất nổi bật trong lập luận của Phao-lô, bởi ông dành nhiều công sức để chứng minh rằng không ai được xưng công bình dựa trên những gì mình làm. Rõ ràng, Phao-lô loại trừ sự công bình qua việc làm trong câu Kinh Thánh này, vì con người dễ có xu hướng đặt niềm tin vào công lao của chính mình. Phao-lô không phải là một nhà thần học hàn lâm chỉ bàn luận những vấn đề không liên quan đến cuộc sống của người nghe. Ông đối lập giữa sự công bình qua việc làm và sự công chính qua đức tin để nhắc nhở các độc giả rằng họ không nên tin cậy vào công lao của bản thân (xem Rô-ma 4:6–8).

Rô-ma 9:30–10:8 cũng cho thấy rằng dân Y-sơ-ra-ên đã gặp khó khăn với chủ nghĩa luật pháp. Một lần nữa, một số người cho rằng các dấu hiệu ranh giới (boundary markers) là vấn đề chính trong đoạn này, nhưng điều đó không hợp lý. Hoàn toàn không có bất kỳ đề cập nào đến các dấu hiệu ranh giới trong bối cảnh này. Không có tham chiếu nào về phép cắt bì, luật ăn uống, hay ngày Sa-bát. Cụm từ “các việc làm của luật pháp” (erga nomou) cũng không được sử dụng. Thay vào đó, Phao-lô sử dụng thuật ngữ “các việc làm” (erga), ám chỉ các hành động của con người theo nghĩa rộng và tổng quát.

Y-sơ-ra-ên “đã theo đuổi một luật pháp để đạt đến sự công bình” (Rô-ma 9:31) nhưng lại không đạt được mục tiêu mong muốn. Phao-lô đặt câu hỏi quan trọng trong Rô-ma 9:32: Tại sao Y-sơ-ra-ên không đạt được sự công bình qua luật pháp? Ông trả lời: “Vì họ đã không tìm kiếm điều đó bởi đức tin, nhưng như thể sự công bình ấy là nhờ vào việc làm.” Y-sơ-ra-ên bị chỉ trích vì thái độ chủ quan của họ. Họ dường như tin rằng họ có thể đặt Đức Chúa Trời vào vị trí mắc nợ mình, nhờ vào việc làm của họ. Thái độ như vậy chính là cốt lõi của sự công bình qua việc làm, bởi vì dù Y-sơ-ra-ên đã phạm tội với Đức Chúa Trời, họ vẫn tin rằng mình có thể đạt được sự công bình trước mặt Đức Chúa Trời dựa trên thành tựu của mình. Do đó, họ đã vấp ngã trước trọng tâm của Tin Lành, đó là tin cậy vào Đấng Christ để nhận lãnh cơ nghiệp cuối cùng (Rô-ma 9:33).

Những lập luận tiếp theo trong Rô-ma 10:1–8 đưa đến cùng một kết luận. Dân Y-sơ-ra-ên có lòng sốt sắng đối với Đức Chúa Trời, nhưng lòng sốt sắng đó không theo tri thức. Họ tìm cách “thiết lập sự công bình của chính mình” và do đó “không phục dưới sự công bình của Đức Chúa Trời” (Rô-ma 10:3). Việc thiết lập sự công bình của riêng họ phản ánh chủ nghĩa luật pháp. Như chúng ta đã biết, không có bất kỳ dấu hiệu nào trong bối cảnh này cho thấy có sự tranh cãi về các dấu hiệu ranh giới. Vì vậy, cụm từ “sự công bình của chính mình” là một cách khác để nói về sự công bình nhờ việc làm.

Những ai không tìm thấy sự công bình của mình trong Đấng Christ sẽ lập tức đề cao sự công bình và lòng tốt của chính mình. Do đó, Phao-lô một lần nữa đối lập khái niệm “tin” và “làm” (Rô-ma 10:4–8). Hoặc chúng ta tin cậy vào sự công bình được ban cho như một món quà, hoặc chúng ta dựa vào sự công bình mà mình tự tạo ra. Việc theo đuổi sự công bình dựa trên việc làm là vô ích, bởi vì sự công bình theo luật pháp chỉ đạt được nếu người ta làm đúng theo những gì luật pháp đòi hỏi (Rô-ma 10:5). Nhưng tất cả mọi người đều đều thiếu sót và không thể giữ luật pháp cách trọn vẹn được. Vì vậy, việc dựa vào sự công bình của chính mình vốn dĩ là tự thất bại, nhưng các tội nhân trong sự ảo tưởng của mình thường nghĩ rằng họ có thể xứng đáng nhận được sự chấp nhận từ Đức Chúa Trời.

Lời tranh luận chống lại chủ nghĩa luật pháp cũng được củng cố trong Phi-líp 3:2–11. Ở đây, một số dấu hiệu ranh giới xuất hiện trong lập luận. Phao-lô nhắc đến những thành tích của chính mình khi so sánh với các giáo sư giả, và lập luận rằng ông vượt xa họ. “Sự trông cậy nơi xác thịt” của Phao-lô (Phi-líp 3:3–4) không thể bị giới hạn trong sự độc tôn hoặc chủ nghĩa dân tộc. Ông tự hào về dòng dõi dân tộc của mình và phép cắt bì. Nhưng niềm tự hào của ông không chỉ dừng lại ở đó, vì ông cũng cảm thấy tự hào bởi sự tận tâm với luật pháp của mình.

Sự tận tụy với luật pháp theo kiểu Pha-ri-si của Phao-lô (Phi-líp 3:5) cho thấy ông tự hào về những gì mình đã đạt được, về sự vâng lời của bản thân đối với những yêu cầu của Torah. Tương tự, việc ông bắt bớ Hội Thánh cũng bộc lộ sự tận tâm, dù là sai lầm, với luật pháp (Phi-líp 3:6). Thật vậy, Phao-lô thậm chí tuyên bố rằng sự vâng lời của ông đối với luật pháp là không chỗ trách được.

Quan điểm Mới (New Perspective) đã đúng khi nhận ra rằng, có một số phân đoạn Kinh Thánh quan tâm đến vấn đề các dấu hiệu ranh giới, nhưng các phân đoạn như Phi-líp 3:2–11 không dừng lại ở đó. Sự công bình qua việc làm cũng được thể hiện rõ ràng. Điều này không đáng ngạc nhiên, bởi vì thật khó tưởng tượng bất kỳ nhóm dân tộc nào nghĩ rằng họ vượt trội hơn những dân tộc khác, mà lại không đồng thời nghĩ rằng họ cũng vượt trội các dân tộc khác về mặt đạo đức.

Hai phân đoạn khác của Phao-lô cũng bày tỏ sự tập trung vào sự công bình qua việc làm. Trong Ê-phê-sô 2:8–9, chúng ta thấy một trong những tuyên bố về sự cứu rỗi nổi tiếng nhất của Phao-lô:“Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình.” Một lần nữa, điều đáng chú ý là không có bất kỳ điều gì được đề cập đến các dấu hiệu ranh giới. Thật vậy, Phao-lô không nhắc đến “các việc làm của luật pháp” (erga nomou) mà chỉ nói đến “các việc làm” (erga). Đức tin và việc làm được đặt trong sự tương phản rõ ràng, và việc loại trừ các việc làm đồng nghĩa với việc ngăn chặn bất kỳ sự khoe khoang nào. Điều này cho thấy rõ ràng một lời tranh luận chống lại sự dựa dẫm vào các việc làm của con người.

Tít 3:5 cũng nằm trong cùng một khuôn mẫu. Ở đây, các việc làm của chúng ta được đối lập với lòng thương xót của Đức Chúa Trời, là điều dẫn đến sự cứu rỗi của chúng ta. Một lần nữa, Phao-lô nhắc đến “các việc làm,” không phải “các việc làm của luật pháp.” Ông không để lại bất kỳ manh mối nào để chúng ta nghĩ rằng ông đang đề cập đến các thành tựu của con người, khi ông nói về “các việc làm do chúng ta làm trong sự công bình.” Những từ ngữ sau đây là những từ ngữ Phao-lô dùng để nhấn mạnh vào những gì con người đạt được: “việc làm,” “chúng ta đã làm,” và “sự công bình.” Vấn đề không phải là các dấu hiệu ranh giới—mà là sự công bình của con người. Và Phao-lô nói rằng đó không phải là nền tảng cho một mối quan hệ đúng đắn với Đức Chúa Trời.

Phần lớn các học giả không theo truyền thống Tin Lành bác bỏ Ê-phê-sô và Tít, và cho rằng hai sách này là hậu Phao-lô (có nghĩa là chúng không phải do Phao-lô viết), mặc dù tôi sẽ bảo vệ quan điểm Phao-lô là tác giả. Ngay cả khi Ê-phê-sô và các Thư tín Mục Vụ là hậu Phao-lô đi chăng nữa, thì chúng vẫn phản ánh quan điểm của các môn đồ sớm nhất của Phao-lô, là những người có thể đã viết các thư tín này (nếu chúng ta chấp nhận quan điểm của những học giả không theo quan điểm truyền thống). Điều đáng chú ý là lời của Phao-lô phù hợp với các cách diễn giải được đề xuất bởi Martin Luther và John Calvin nhiều thế kỷ sau. Sau tất cả, không có gì được đề cập đến các dấu hiệu ranh giới. Có vẻ như các môn đồ sớm nhất của Phao-lô (nếu chúng ta chấp nhận quan điểm này) đã đọc các thư khác của Phao-lô theo hướng tranh luận chống lại sự công bình qua việc làm.

TÓM TẮT

Khi chúng ta giải thích các phân đoạn Thánh Kinh quan trọng của Phao-lô về luật pháp và sự công bình, thì các cách giải thích theo Quan Điểm Mới (New Perspective) thường thiếu thuyết phục.

Phao-lô chỉ trích Do Thái giáo trong thời kỳ Đền Thờ thứ Hai vì chủ nghĩa luật pháp của nó, và do đó ông không đồng ý với đánh giá của nhiều học giả hiện đại. Chắc chắn, đánh giá của Phao-lô đáng được ưu tiên, vì ông viết Kinh Thánh dưới sự hà hơi của Thánh Linh và ông hiểu Do Thái giáo thời kỳ Đền Thờ thứ Hai rõ hơn bất kỳ học giả hiện đại nào.

Câu Hỏi Thảo Luận:

  • Tại sao cụm từ “các việc làm của luật pháp” lại phản ánh một cuộc tranh luận chống lại chủ nghĩa luật pháp trong bối cảnh của các thư tín Phao-lô, mặc dù chính cụm từ này không chỉ rõ chủ nghĩa luật pháp?
  • Bằng chứng nào trong Rô-ma 4:2–5 cho thấy Phao-lô đáp trả chủ nghĩa luật pháp?
  • Liệu có hợp lý không khi Phao-lô sẽ buộc tội những người đồng hương Do Thái của ông về chủ nghĩa luật pháp, trái ngược với đánh giá của chính họ về bản thân?
  • Các thư Phao-lô sau này (Ê-phê-sô, Tít) có ủng hộ ý tưởng rằng, chủ nghĩa luật pháp là một vấn đề mà những đọc giả của ông phải đối mặt không?
  • Chúng ta nên giảng dạy chống lại chủ nghĩa luật pháp như thế nào ngày nay?

40 CÂU HỎI VỀ CƠ ĐỐC NHÂN VÀ LUẬT PHÁP CỰU ƯỚC