Skip to main content

Câu 8: Chúng Ta Nên Hiểu Câu Kinh Thánh ở Lê-vi Ký 18:5 Như Thế Nào Trong Các Trưng Dẫn Trong Tân Ước?

·3235 words·16 mins·
Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God

Lê-vi Ký 18:5 là một câu quan trọng trong Kinh Thánh, vì sứ đồ Phao-lô đã trích dẫn nó hai lần trong bối cảnh của hai lập luận rất quan trọng về sự xưng công bình, cụ thể là trong Ga-la-ti 3:12 và Rô-ma 10:5. Ga-la-ti 3:12 nói rằng: “Vả, luật pháp không phải đồng một thứ với đức tin, nhưng luật pháp có chép rằng, ‘Người nào vâng giữ các điều răn, thì sẽ nhờ đó mà sống.’” Và Rô-ma 10:5 chép: “Vả, Môi-se luận sự công bình đến bởi luật pháp cách này, ‘Hễ ai làm theo điều đó, thì nhờ đó mà sống.’” Cả ý nghĩa của câu Kinh Thánh trong Cựu Ước lẫn cách Phao-lô sử dụng nó đã gây ra nhiều tranh cãi. Mục tiêu của tôi ở đây là giải thích ngắn gọn ý nghĩa của câu này trong Cựu Ước và trong cách Phao-lô dùng.

Trong bối cảnh Cựu Ước, câu này được chép: “Vậy, hãy giữ luật pháp và mạng lệnh Ta, người nào làm theo, thì sẽ nhờ đó mà được sống: Ta là Đức Giê-hô-va.” (Lê-vi Ký 18:5). Chúng ta cần lưu ý rằng câu này được dành cho những người thuộc về Chúa. Dân Y-sơ-ra-ên đã được cứu chuộc khỏi Ai Cập và được giải phóng nhờ ân điển của Đức Chúa Trời. Vì thế, trong bối cảnh này, câu Kinh Thánh này không nên được hiểu theo cách pháp lý hay như một lời đề nghị về sự cứu rỗi dựa trên việc làm. Sự vâng lời của dân Y-sơ-ra-ên là một đáp ứng đối với sự can thiệp đầy ân điển của Đức Chúa Trời vì lợi ích của họ.

“Vậy, hãy giữ luật pháp và mạng lịnh ta, người nào làm theo, thì sẽ nhờ nó mà được sống: Ta là Đức Giê-hô-va.” (Lê-vi Ký 18:5)

Vậy bản chất của “sự sống” được hứa trong Lê-vi Ký 18:5 là gì? Môi-se gần như chắc chắn đang nói đến sự sống trong Đất Hứa Ca-na-an, vì các luật pháp được ban cho dân Y-sơ-ra-ên để họ không đi theo những tập tục của dân Ca-na-an và bị đuổi ra khỏi xứ (xem Lê-vi Ký 18:3, 24–28). Nếu chúng ta xem xét câu chuyện trong phần còn lại của Cựu Ước, cách giải thích này hoàn toàn phù hợp. Dân Y-sơ-ra-ên đã bị lưu đày vì họ không làm theo ý muốn của Chúa. Họ bị “mửa ra khỏi xứ” vì sự không vâng lời của mình (Lê-vi Ký 18:28).

Thật hữu ích khi chúng ta xem xét tiếp những nơi mà Lê-vi Ký 18:5 được trích dẫn trong phần còn lại của Cựu Ước. Ê-xê-chi-ên sử dụng lại những lời của Lê-vi Ký 18:5 trong chương 20 khi ông nhắc lại lịch sử của dân Y-sơ-ra-ên. Ông nhấn mạnh đến ân điển của Đức Chúa Trời đối với thế hệ được giải thoát khỏi Ai Cập (Ê-xê-chi-ên 20:6–11). Mặc dù họ là những kẻ phản nghịch và quay về với những điều gớm ghiếc, Đức Giê-hô-va vẫn hành động vì danh Ngài (câu 9) và giải cứu họ khỏi Ai Cập. Sau đó, Ngài ban cho họ các “luật lệ, nhờ đó, nếu ai làm theo thì sẽ được sống” (câu 11). Một lần nữa, chúng ta thấy rằng luật pháp được ban trong bối cảnh giao ước, sau khi Đức Chúa Trời đã cứu dân Ngài khỏi Ai Cập. Tuy nhiên, ngay sau đó, Ê-xê-chi-ên chuyển sang nói về sự phản nghịch của dân Y-sơ-ra-ên. Họ “khinh bỏ mạng lệnh Ta, là điều nếu người ta làm theo thì được sống bởi nó” (câu 13). Trong bối cảnh này, rõ ràng rằng Ê-xê-chi-ên đang nói đến thế hệ trong đồng vắng, và ông nhắc đến tội lỗi với con bò vàng cùng nhiều tội lỗi khác là những đặc điểm đặc trưng cho thế hệ này. Dẫu vậy, Đức Giê-hô-va không hoàn toàn tiêu diệt dân Y-sơ-ra-ên vì danh Ngài (câu 14–17), dù Ngài đã trừng phạt thế hệ trong đồng vắng bằng cách không cho họ vào Đất Hứa.

Ê-xê-chi-ên, cho đến lúc này, đã lặp lại hai lần rằng những ai giữ luật pháp của Đức Chúa Trời thì sẽ được sống (Ê-xê-chi-ên 20:11, 13), ngụ ý rằng dân Y-sơ-ra-ên đã không thể tuân giữ các điều răn của Đức Chúa Trời. Cách hiểu này được xác nhận khi câu chuyện tiếp tục. Ê-xê-chi-ên một lần nữa nhắc lại lời của Lê-vi Ký 18:5. Thế hệ con cái của những người trong đồng vắng cũng đã không vâng giữ luật pháp, dù luật pháp hứa ban sự sống nếu được tuân giữ (Ê-xê-chi-ên 20:21). Tuy nhiên, Chúa lại thương xót khi không hoàn toàn tiêu diệt họ, dù Ngài đã đe dọa sẽ lưu đày nếu họ tiếp tục bất tuân (Ê-xê-chi-ên 20:22–24). Lời nhắc đến sự lưu đày khẳng định cách giải thích đã đề xuất về Lê-vi Ký 18:5. Việc không giữ luật pháp sẽ dẫn đến việc dân Y-sơ-ra-ên bị trục xuất khỏi xứ.

Ê-xê-chi-ên kết luận việc ông sử dụng lại Lê-vi Ký 18:5 bằng một tuyên bố đáng chú ý: “Ta cũng đã ban cho chúng nó những luật lệ chẳng lành, và mạng lệnh mà bởi đó chúng nó không được sống”(Ê-xê-chi-ên 20:25). Ê-xê-chi-ên không có ý rằng nội dung của luật pháp không tốt. Ý của ông là luật pháp trở nên “không tốt” đối với dân Y-sơ-ra-ên vì họ không thể tuân giữ nó để nhận được sự sống. Nếu dân Y-sơ-ra-ên từ bỏ sự gian ác và theo đuổi điều lành, họ sẽ nhận được sự sống, như Ê-xê-chi-ên 18 đã nhiều lần nhấn mạnh (Ê-xê-chi-ên 18:9, 13, 17, 19, 21, 22, 23, 24, 27, 28, 32). Nhưng sự bất tuân liên tục của họ khiến họ không làm theo mệnh lệnh của Đức Chúa Trời đã bày tỏ một vấn đề sâu xa trong lòng của họ, điều mà chỉ có ân điển của Đức Chúa Trời mới có thể chữa lành. Hy vọng duy nhất của dân Y-sơ-ra-ên nằm ở lời hứa về Thánh Linh ngự trong lòng, là điều giúp họ có thể vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời (Ê-xê-chi-ên 11:19–20; 36:26–27). Vì vậy, Ê-xê-chi-ên 20 khẳng định lời dạy của Lê-vi Ký 18:5. Bởi vì dân Y-sơ-ra-ên không thể giữ luật pháp của Đức Chúa Trời, họ đã phải chịu cảnh lưu đày.

Nê-hê-mi nhắc lại lịch sử của dân Y-sơ-ra-ên trong chương 9 của sách Nê-hê-mi, khi ông nhớ lại cách Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa đã chọn Áp-ra-ham và hứa ban cho ông vùng Đất Hứa (câu 6–8), cũng như cách Ngài đã giải cứu dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập và duy trì họ trong đồng vắng (câu 9–15). Ông nhận xét rằng luật pháp được ban trên núi Si-na-i chứa đựng “các luật lệ ngay thẳng, pháp luật chân thật, các luật lệ và điều răn tốt lành” (câu 13). Thật đáng kinh ngạc, dân Y-sơ-ra-ên đã phản nghịch trong đồng vắng khi họ muốn quay trở lại Ai Cập và đúc tượng bò vàng (câu 16–18). Tuy nhiên, Đức Giê-hô-va đã ban đầy lòng thương xót trên họ, vì Ngài đã bảo vệ họ trong đồng vắng (câu 19–21) và dẫn họ vào xứ hứa cách nhân từ (câu 22–25). Mặc dù vậy, dân Y-sơ-ra-ên vẫn tiếp tục phản nghịch trong xứ, đặc biệt trong thời các quan xét (câu 26–28). Đức Chúa Trời đã phó họ vào tay kẻ thù khi “họ ném bỏ luật pháp của Ngài ra sau lưng” (câu 26), nhưng Ngài cũng giải cứu họ khi họ kêu cầu sự thương xót.

Lời ám chỉ đến Lê-vi Ký 18:5 xuất hiện trong Nê-hê-mi 9:29, nơi nhắc lại những lời cảnh báo lặp đi lặp lại của Đức Chúa Trời dành cho dân Y-sơ-ra-ên: “Chúa cảnh cáo họ để khiến họ trở về với luật pháp Ngài, nhưng họ vẫn tỏ thái độ kiêu ngạo và không vâng giữ các điều răn Ngài, mà phạm tội nghịch cùng các luật lệ của Ngài, là luật lệ mà nếu ai làm theo, người ấy sẽ nhờ đó mà sống.” Điều mà Nê-hê-mi nhấn mạnh khi trích dẫn Lê-vi Ký 18:5 là sự thất bại của dân Y-sơ-ra-ên trong việc tuân giữ luật pháp của Đức Chúa Trời, và hậu quả là họ đã bị lưu đày (Nê-hê-mi 9:30). Vì vậy, tôi kết luận rằng cách Nê-hê-mi sử dụng Lê-vi Ký 18:5 hoàn toàn phù hợp với ý nghĩa nguyên bản của câu này trong sách Lê-vi Ký.

Các trích dẫn về Lê-vi Ký 18:5 trong Cựu Ước thường mang tính chất giáo huấn, vì chúng nhấn mạnh sự thất bại của dân Y-sơ-ra-ên trong việc tuân giữ luật pháp, thậm chí còn gợi ý đến sự bất lực về mặt đạo đức để làm điều đẹp lòng Đức Chúa Trời. Sự sống được đề cập trong ngữ cảnh này liên quan đến sự sống trong Đất Hứa Ca-na-an. Nhưng cũng có gợi ý rằng, sự thất bại của Y-sơ-ra-ên trong việc vâng lời cho thấy họ không thực sự biết Đức Chúa Trời. Họ cần Thánh Linh và giao ước mới để thực hiện ý muốn của Đức Chúa Trời (Ê-xê-chi-ên 36:26–27; Giê-rê-mi 31:31–34). Sự phản nghịch không ngừng và thất bại trong việc tuân giữ luật pháp của dân Y-sơ-ra-ên đã dẫn đến việc họ bị lưu đày, như Ê-xê-chi-ên và Nê-hê-mi đã khẳng định khi trích dẫn Lê-vi Ký 18:5.

Một số văn bản truyền thống Do Thái sau thời Tân Ước hiểu Lê-vi Ký 18:5 như lời hứa về sự sống đời đời cho những ai giữ luật pháp:

  • “Ngươi sẽ giữ các luật lệ và các phán quyết của ta, mà nếu một người làm theo, người ấy sẽ sống bởi đó một sự sống đời đời” (Targum Onqelos).
  • “Ngươi sẽ giữ các luật lệ và trật tự của các phán quyết của ta, mà nếu một người làm theo, người ấy sẽ sống trong chúng, trong sự sống đời đời, và vị trí của người ấy là sẽ được ở cùng những người công bình” (Targum Pseudo-Jonathan).

Trong một nghiên cứu kỹ lưỡng về Lê-vi Ký 18:5 trong Cựu Ước và thời kỳ Do Thái Đền Thờ Thứ Hai, Preston Sprinkle chỉ ra rằng trong một số văn bản, câu này được hiểu như một yêu cầu về sự vâng lời để đạt được sự sống đời đời (xem CD III, 15–16; 4Q266 11, I–II, 12; Thi Thiên của Sa-lô-môn 14:1–5; xem thêm 4Q504; Philo, Prelim. Studies 86–87). Simon Gathercole cũng lập luận rằng, cách hiểu mang tính cánh chung về Lê-vi Ký 18:5 được thể hiện cả trong Tân Ước và trong các văn bản Do Thái Đền Thờ Thứ Hai. Ông nhận xét chính xác rằng: “Có một sự ‘đời đời hóa’ của sự sống, mà trong ngữ cảnh ban đầu của Lê-vi Ký, sẽ được hiểu theo nghĩa kéo dài tuổi thọ và sự thịnh vượng của dòng dõi và toàn bộ quốc gia.”

Cách giải thích Lê-vi Ký 18:5 trong các văn bản Do Thái thời kỳ Đền Thờ Thứ Hai rất hữu ích trong việc hiểu rõ quan điểm của Phao-lô, vì Phao-lô rõ ràng đề cập đến sự sống đời đời, chứ không chỉ là sự sống trong xứ. Vì vậy, ông hiểu lời hứa trong Lê-vi Ký 18:5 theo cách hình bóng (typological). Như thường thấy trong Tân Ước, lời hứa về vùng đất trở thành hình bóng của sự sống đời đời trong thế giới mai sau. Trong Ga-la-ti 3:12, Phao-lô phản đối bất kỳ sự kết hợp nào giữa luật pháp và Phúc âm, như thể một người được cứu bởi cả việc làm theo luật pháp và tin vào Phúc âm. Sự sống chỉ đạt được qua đức tin, không phải qua luật pháp, vì không ai có thể giữ trọn các yêu cầu của luật pháp (Ga-la-ti 3:10). Chúng ta cũng cần hiểu lời của Phao-lô theo bối cảnh lịch sử cứu chuộc. Giờ đây, khi Đấng Christ đã đến, sự tha thứ chỉ được ban cho qua sự hy sinh chuộc tội của Ngài, và vì vậy không còn chỗ cho sự tha thứ qua việc tuân giữ luật pháp. Một số học giả cho rằng câu này liên quan đến sự vâng phục của Đấng Christ, nhưng điều này khó có khả năng, vì không có dấu hiệu nào cho thấy Phao-lô đang đề cập đến Đấng Christ trong ngữ cảnh này.

Một số người lập luận rằng Phao-lô sửa chữa sự hiểu sai về Lê-vi Ký 18:5 trong cả Ga-la-ti 3:12 và Rô-ma 10:5, giống như các giáo sĩ Do Thái thường trích dẫn các câu khác để đáp lại một sự hiểu sai. Tuy nhiên, quan điểm về sự sửa chữa này gặp phải một vấn đề lớn: Ở các đoạn khác, Phao-lô luôn trích dẫn Kinh Thánh Cựu Ước một cách tích cực để hỗ trợ cho lập luận của mình. Không có bằng chứng rõ ràng nào cho thấy ông đang đáp lại một sự hiểu sai ở đây. Do đó, khả năng cao nhất là Phao-lô trích dẫn Cựu Ước để củng cố lập luận của mình, nhấn mạnh rằng sự sống đời đời không đạt được qua luật pháp, mà chỉ qua đức tin vào Đấng Christ.

Phao-lô đọc Lê-vi Ký 18:5 theo quan điểm lịch sử cứu chuộc (salvation history). Sự vâng phục trọn vẹn được yêu cầu từ những ai đặt mình dưới luật pháp, vì sự chuộc tội qua các lễ tế của Cựu Ước không còn hiệu lực khi Đấng Christ đã đến. Trong một khía cạnh dưới giao ước Si-nai, sự vâng phục trọn vẹn không được yêu cầu, vì luật pháp cung cấp sự tha thứ qua các lễ tế cho những người vi phạm. Tuy nhiên, theo quan điểm của Phao-lô (xem Ga-la-ti 3:15–4:7), giao ước Si-nai không còn hiệu lực nữa. Do đó, những người thực hành phép cắt bì và tuân giữ luật pháp để được xưng công bình (Ga-la-ti 5:2–4) đang quay ngược lại dòng lịch sử cứu chuộc. Sự nhập thể của Đấng Christ đánh dấu sự kết thúc của giao ước Si-nai (Ga-la-ti 3:15–4:7). Vì vậy, những người sống dưới luật pháp phải giữ trọn vẹn luật pháp để được cứu, bởi vì khi quay lại với luật pháp, họ đang từ bỏ sự chuộc tội được ban cho qua Đấng Christ (Ga-la-ti 2:21; 5:3). Tuy nhiên, việc quay trở lại luật pháp là vô ích, vì các lễ tế chuộc tội dưới giao ước Si-na-i chỉ là hình bóng, hướng về sự hy sinh của Đấng Christ. Do đó, các lễ tế động vật không còn cung cấp sự tha thứ, vì sự hy sinh dứt khoát của Đấng Christ đã được thực hiện (Ga-la-ti 3:13).

Một số học giả đã hiểu mối quan hệ giữa Rô-ma 10:5 và 10:6-8 như thể cả hai cùng mô tả đời sống đức tin. Theo cách hiểu này, việc trích dẫn Lê-vi Ký 18:5 trong Rô-ma 10:5 được xem là một mô tả tích cực về đời sống của những người tin Chúa. Do đó, những ai tin cậy nơi Đức Chúa Trời (Rô-ma 10:6–8) cũng cần phải tuân giữ luật pháp (Rô-ma 10:5). Tuy nhiên, cách hiểu này cần bị bác bỏ vì những lý do sau:

Thứ nhất , rất khó xảy ra việc Phao-lô sử dụng cùng một câu Kinh Thánh (Lê-vi Ký 18:5) một cách tiêu cực trong Ga-la-ti 3:12 nhưng lại tích cực trong Rô-ma 10:5, đặc biệt khi chủ đề được bàn luận trong cả hai ngữ cảnh là giống nhau (sự công bình bởi luật pháp và sự công bình bởi đức tin).

Thứ hai , không có khả năng Phao-lô nói một cách tích cực về sự công bình đến từ luật pháp (Rô-ma 10:5). Trong thần học của Phao-lô, sự công chính luôn đến bởi đức tin hoặc qua Đấng Christ, chứ không bao giờ đến từ luật pháp. Sự tương đồng trong Phi-líp 3 khẳng định điều này, khi Phao-lô bác bỏ sự công bình “đến từ luật pháp” của chính mình và hoàn toàn dựa vào sự công bình qua đức tin trong Đấng Christ.

Thứ ba , cách hiểu này phù hợp với lẽ thường trong thần học của Phao-lô, như được trình bày ở nhiều chỗ trong thư tín của ông, là nơi đức tin trong Đấng Christ được đặt đối lập với “việc làm” như một con đường dẫn đến mối quan hệ đúng đắn với Đức Chúa Trời.

Thứ tư , cách giải thích được bảo vệ ở đây phù hợp với ngữ cảnh của Rô-ma 9:30–10:4. Dân Y-sơ-ra-ên đã không đạt được sự công bình khi tìm cách đạt được điều đó qua luật pháp, bởi vì Y-sơ-ra-ên cố gắng thiết lập sự công bình của riêng mình qua việc làm (Rô-ma 9:31–32). Họ không hiểu biết về sự công bình của Đức Chúa Trời và tìm cách “thiết lập sự công bình của mình” qua sự vâng phục luật pháp (Rô-ma 10:3–4).

Vì vậy, Phao-lô trích dẫn Lê-vi Ký 18:5 trong Rô-ma 10:5 không phải để mô tả sự công bình của người tin Chúa, mà để làm nổi bật sự tương phản giữa sự công bình của luật pháp và sự công bình bởi đức tin.

TÓM TẮT

Lê-vi Ký 18:5 trong bối cảnh Cựu Ước yêu cầu sự vâng phục như một hành động biết ơn đối với Chúa vì Ngài đã giải cứu dân Ngài khỏi Ai Cập. Nếu Y-sơ-ra-ên vâng lời, họ sẽ được ở lại trong đất hứa; nhưng nếu không vâng lời, họ sẽ bị đày khỏi đất.

Cả Ê-xê-chi-ên và Nê-hê-mi đều trích dẫn Lê-vi Ký 18:5 để nhắc nhở Y-sơ-ra-ên rằng sự lưu đày của họ là hậu quả của sự bất tuân. Do đó, câu chuyện trong Cựu Ước cho thấy rõ rằng Y-sơ-ra-ên không thể giữ luật pháp một cách trọn vẹn.

Một số phân đoạn trong các văn bản Do Thái giáo thời kỳ Đền Thờ thứ hai đã hiểu Lê-vi Ký 18:5 liên quan đến sự sống đời đời. Phao-lô cũng sử dụng câu này theo cách tương tự, áp dụng theo ý nghĩa hình bóng (typology), và đối lập sự sống qua luật pháp với sự sống qua đức tin. Rõ ràng, Phao-lô tin rằng đạt được sự sống qua luật pháp là điều không thể do bản tính bất tuân của con người. Sự sống đời đời chỉ có thể đạt được bởi đức tin, khi các tín hữu đặt lòng tin nơi sự hy sinh chuộc tội của Đấng Christ.

Câu Hỏi Thảo Luận

  • Ý nghĩa của Lê-vi Ký 18:5 trong bối cảnh lịch sử là gì?
  • Ê-xê-chi-ên và Nê-hê-mi áp dụng Lê-vi Ký 18:5 cho độc giả của họ như thế nào?
  • Lê-vi Ký 18:5 được sử dụng như thế nào trong các tài liệu văn học Do Thái ngoài Kinh Thánh?
  • Giải thích cách Phao-lô sử dụng Lê-vi Ký 18:5 trong Ga-la-ti 3:12 và Rô-ma 10:5.
  • Chúng ta nên sử dụng Lê-vi Ký 18:5 trong việc giảng dạy ngày nay như thế nào?

40 CÂU HỎI VỀ CƠ ĐỐC NHÂN VÀ LUẬT PHÁP CỰU ƯỚC