Dân ngoại cần được phân biệt với người Do Thái ở chỗ họ “không có luật pháp” (Rô-ma 2:14). Vì vậy, dân ngoại được gọi là “không có luật pháp” (Rô-ma 2:12). Khi Phao-lô nghĩ đến những người có luật pháp (người Do Thái) và những người không có luật pháp (dân ngoại), ông phân biệt giữa tội lỗi (“sin”) và sự vi phạm (“transgression”). Dân ngoại, mặc dù họ không sở hữu luật pháp, vẫn phạm tội. “Tất cả những ai đã phạm tội mà không có luật pháp thì cũng sẽ bị hư mất mà không có luật pháp” (Rô-ma 2:12). Sự vi phạm có thể được phân biệt với tội lỗi, vì “ở đâu không có luật pháp, thì đó cũng không có sự phạm luật pháp” (Rô-ma 4:15). Nếu chúng ta chấp nhận sự phân biệt này, dân ngoại không vi phạm luật pháp, vì họ không có luật pháp đã được ghi chép. Nhưng mặc dù họ không vi phạm một luật pháp đã được viết, họ vẫn phạm tội, vì họ vi phạm ý muốn của Đức Chúa Trời. Tương tự, Phao-lô lập luận rằng những người sống giữa thời kỳ của A-đam và thời kỳ của Môi-se đã phạm tội, ngay cả khi họ không vi phạm một điều răn được mặc khải rõ ràng như A-đam hoặc như dân Y-sơ-ra-ên đã làm dưới giao ước Môi-se (Rô-ma 5:14).
Tại sao dân ngoại lại bị kết án là đã phạm tội nếu họ không biết về luật pháp của Đức Chúa Trời? Mặc dù họ không có một luật pháp đã được ghi chép từ Đức Chúa Trời để truyền đạt những gì đúng hay sai, nhưng họ vẫn biết về “mạng lệnh Đức Chúa Trời tỏ ra những người phạm tội dường ấy là chết” (Rô-ma 1:32). “Mạng lệnh” hay “điều khoản” (dikaiōma) của Đức Chúa Trời rằng những ai làm điều ác xứng đáng bị chết đời đời không phải là điều ẩn giấu với họ. Họ biết một cách bản năng, có lẽ vì Đức Chúa Trời đã gieo sự hiểu biết này vào trong lòng họ, rằng những ai làm điều ác xứng đáng bị chết.

Cuộc thảo luận của Phao-lô trong Rô-ma 2:14–16 rất rõ ràng khi chúng ta xem xét liệu dân ngoại có ở dưới luật pháp hay không. Chúng ta đã ghi nhận rằng Phao-lô nói họ không có luật pháp và không sở hữu luật pháp. Mặt khác, Phao-lô tuyên bố rằng họ “tự nên luật pháp cho chính mình” (Rô-ma 2:14). Do đó, đôi khi họ giữ những điều được quy định trong luật pháp đã được viết. Dân ngoại thiếu luật pháp đã được viết, nhưng các chuẩn mực đạo đức của luật pháp được khắc trong lòng họ (Rô-ma 2:15). Lương tâm của họ hoặc lên án hoặc biện hộ cho hành vi của họ phù hợp với luật pháp được khắc trong lòng họ. Phao-lô không có ý định cung cấp một bài luận về luật tự nhiên ở đây, vì vậy chúng ta không nên mong đợi tất cả các câu hỏi của mình sẽ được trả lời. Mục đích của Phao-lô khá hạn chế. Ông muốn chỉ ra rằng dân ngoại không thiếu các chuẩn mực đạo đức, vì những yêu cầu của Đức Chúa Trời đã được in sâu vào trong lòng họ.
Một số học giả cho rằng Phao-lô đề cập đến những dân ngoại là những tín hữu ở đây, và vì vậy những câu này không nói về vấn đề liệu dân ngoại không tin có biết các yêu cầu đạo đức của Đức Chúa Trời hay không. Việc đề cập đến dân ngoại tín hữu trong Rô-ma 2:12–16 dù có thể là đúng, nhưng điều đó là không có khả năng vì một số lý do. Thứ nhất, câu chủ đề của đoạn văn đề cập đến những người sẽ diệt vong mà không sở hữu luật pháp, chứ không phải những người sẽ được xưng công bình (Rô-ma 2:12). Thứ hai, sự vâng lời được mô tả trong Rô-ma 2:14 là thỉnh thoảng và rời rạc, không phải là kết quả của công việc của Thánh Linh trong lòng họ. Thứ ba, Rô-ma 2:15 nhấn mạnh vai trò lên án của suy nghĩ, trong khi thừa nhận rằng trong một số trường hợp (“thậm chí,” kai) luật pháp được tuân giữ. Nhưng sự vâng lời như vậy được xem là ngoại lệ và hiếm hoi; nó không đạt đến mức độ mà sự xưng công bình có thể đạt được (Rô-ma 2:13). Thứ tư, sự chắc chắn của sự phán xét được nhấn mạnh bởi lập luận trong phần kết luận - đó là, sự nhận thức rằng Đức Chúa Trời sẽ phán xét “những bí mật của loài người bởi Đấng Christ” (Rô-ma 2:16). Vì vậy, mặc dù dân ngoại không tin là những người không có luật pháp đã được viết của Đức Chúa Trời, nhưng luật pháp của Đức Chúa Trời - đó là, các điều răn đạo đức của luật pháp - được khắc trong lòng họ. Đức Chúa Trời là công bình khi phán xét họ vào ngày cuối cùng, vì họ biết điều gì là đáng khen ngợi về mặt đạo đức nhưng lại không thực hiện nó.
Rất khó để xác định liệu Phao-lô có bao gồm dân ngoại trong Rô-ma 3:19, “Vả, chúng ta biết rằng những điều mà luật pháp nói, là nói cho mọi kẻ ở dưới luật pháp.” Nhiều học giả nghĩ rằng chỉ có người Do Thái được ám chỉ ở đây. Phao-lô đã lập luận trước đó trong thư, như đã đề cập ở trên, rằng dân ngoại không có luật pháp (Rô-ma 2:12–14). Vì vậy, có vẻ lạ khi Phao-lô bây giờ lại nói rằng họ đang ở trong phạm vi của luật pháp, vì Phao-lô đã đặt họ ra ngoài phạm vi của luật pháp. Nếu chúng ta chấp nhận cách hiểu này, thì lập luận của Phao-lô sẽ như sau: Nếu những người Do Thái, những người có rất nhiều đặc quyền của giao ước mà vẫn không giữ được luật pháp của Đức Chúa Trời (Rô-ma 2:17–29), thì chắc chắn dân ngoại cũng không thể tuân giữ luật pháp đó. Dựa trên sự giải thích này, Phao-lô chuyển từ việc nói với người Do Thái trong Rô-ma 3:19a sang việc kết luận “mọi miệng” và tội lỗi của “cả thiên hạ” trước mặt Đức Chúa Trời (Rô-ma 3:19b).

Trước đây, cách giải thích này có vẻ thuyết phục đối với tôi, nhưng giờ đây tôi nghiêng về quan điểm cho rằng dân ngoại được bao gồm trong những người ở trong phạm vi của luật pháp vì những lý do sau. Nói một cách chính xác, tất nhiên, dân ngoại không sở hữu luật pháp Môi-se, như Rô-ma 2:12–14 đã xác nhận. Tuy nhiên, Phao-lô lập luận trong chính văn bản đó rằng các chuẩn mực đạo đức của luật pháp đã được khắc vào trong lòng họ. Danh sách tội lỗi được liệt kê trong Rô-ma 3:9–18 tập trung vào những vi phạm đạo đức mà tất cả mọi người đều phạm phải, bao gồm cả dân ngoại. Vì vậy, trong tuyên bố kết luận của Phao-lô trong Rô-ma 3:19, ông có thể đang đặt dân ngoại vào trong phạm vi của luật pháp bởi vì họ hoàn toàn nhận thức được các chuẩn mực đạo đức đã được nêu trong luật pháp. Cách hiểu này làm cho những lời tiếp theo trở nên hợp lý hơn, khi tuyên bố rằng “mọi miệng” sẽ ngậm lại và “cả thiên hạ” đều có tội trước mặt Đức Chúa Trời. Cuối cùng, trong Rô-ma 3:20, Phao-lô nhấn mạnh rằng “không một con người nào” (pasa sarx) được xưng công bình bởi công việc của luật pháp, điều này lại gợi ý rằng cả người Do Thái và dân ngoại đều được nhắc đến. Xét về tổng thể, có vẻ như việc Phao-lô bao gồm dân ngoại trong phạm vi của luật pháp là hợp lý hơn một chút.

Khi chúng ta xem xét sách Ga-la-ti, có vẻ như Phao-lô cũng đặt dân ngoại dưới luật pháp. Hai đoạn văn quan trọng nhất để giải quyết câu hỏi này là Ga-la-ti 3:23–25 và 4:1–11. Ban đầu, có vẻ như chỉ có người Do Thái dưới luật pháp, vì Phao-lô lập luận theo lịch sử cứu chuộc trong Ga-la-ti 3:23–25, tuyên bố rằng “chúng ta đã bị nhốt dưới sự canh giữ của luật pháp” (câu 23), “luật pháp là người giám hộ chúng ta cho đến khi Đấng Christ đến” (câu 24), và “chúng ta không còn dưới sự giám hộ nữa” (câu 25). Chắc chắn người Do Thái phải là đối tượng mà Phao-lô nói đến ở đây. Chúng ta đã thấy trước đây trong Rô-ma rằng Phao-lô phân biệt giữa người Do Thái và dân ngoại về luật pháp, khẳng định rằng dân ngoại không dưới luật pháp. Chúng ta cũng thấy sự phân biệt tương tự trong Ga-la-ti 2:15, nơi người Do Thái được phân biệt với những kẻ tội lỗi dân ngoại. Tuy nhiên, cũng có vẻ như Phao-lô, theo một nghĩa nào đó, cũng đặt dân ngoại dưới luật pháp. Ví dụ, Đức Chúa Trời đã sai Con Ngài “để chuộc những kẻ ở dưới luật pháp, và cho chúng ta được làm con nuôi Ngài” (Ga-la-ti 4:5). Một số nhà bình luận cho rằng những người dưới luật pháp ở đây chỉ ám chỉ người Do Thái, nhưng có lẽ chữ “chúng ta” nhận sự nhận làm con nuôi trong Ga-la-ti 4:5 ám chỉ cả người Do Thái và dân ngoại. Nếu không, Phao-lô sẽ làm suy yếu một trong những chủ đề trung tâm của sách Ga-la-ti—rằng cả người Do Thái và dân ngoại đều được nhận làm con. Vì vậy, trong một nghĩa nào đó thì Phao-lô đặt dân ngoại dưới luật pháp ở đây, có thể là vì họ cũng sống dưới quyền thống trị của tội lỗi.

Giải thích này được xác nhận bởi Ga-la-ti 4:8–10. Phao-lô trách mắng người Ga-la-ti vì đã quay lại với những yếu tố yếu đuối sau khi họ đã được cứu. Phao-lô có chỉ trích họ vì tái phạm vào chủ nghĩa ngoại giáo không? Hoàn toàn không. Có vẻ như người Ga-la-ti đang bắt đầu quan sát “những ngày, những tháng, những mùa và những năm” (Ga-la-ti 4:10). Vì người Ga-la-ti bị cám dỗ để chịu cắt bì (Ga-la-ti 5:2–4) và muốn trở lại với luật pháp Cựu ước (Ga-la-ti 4:21), có khả năng rằng việc quan sát những ngày ở đây ám chỉ đến lịch Cựu ước (xem Sáng Thế 1:14). Do đó, các lễ hội ngoại giáo không phải là điều được nói đến ở đây. Điều thú vị là Phao-lô mô tả việc tuân thủ luật pháp Cựu ước như một sự trở lại với lối sống cũ của dân ngoại. Nhưng dân ngoại không phải đang quay lại với các phong tục ngoại giáo. Vì vậy, có vẻ như Phao-lô kết hợp việc tuân thủ luật pháp Cựu ước với thờ hình tượng ngoại giáo. Mặc dù dân ngoại không chính thức ở dưới luật pháp, nhưng đời sống của người Do Thái dưới luật pháp và đời sống của những người ngoại giáo trong thờ thần tượng lại hòa hợp với nhau trong cái nhìn của Phao-lô. Do đó, theo một nghĩa nào đó, dân ngoại có thể được hiểu là đang ở dưới luật pháp.

TÓM TẮT
Mặc dù dân ngoại không sống dưới luật Môi-se theo nghĩa chính thức, họ vẫn được coi là ở trong phạm vi của luật pháp, vì họ có luật pháp viết trong lòng và biết những gì Chúa mong đợi ở họ.
Quan điểm này dường như được phản ánh trong thư Ga-la-ti, nơi sự mong muốn của dân ngoại muốn tuân theo luật pháp được mô tả như là sự quay lại với chủ nghĩa ngoại giáo. Sự lên án như vậy sẽ là có lý nếu Phao-lô nhìn nhận dân ngoại theo một nghĩa nào đó là đang ở dưới luật pháp.
Câu Hỏi Thảo Luận
- Rô-ma 2:14-16 có đề cập đến dân ngoại Cơ đốc hay dân ngoại không tin?
- Dân ngoại làm thế nào để biết các chuẩn mực đạo đức của luật pháp khi họ không có luật pháp viết?
- Liệu những người không tin có thể được cứu bằng cách giữ các chuẩn mực đạo đức của luật pháp không?
- Làm thế nào để gải thích về việc đưa dân ngoại vào dưới luật pháp qua việc phân tích cách dùng đại từ nhân xưng số nhiều (ví dụ: “chúng ta”) trong Ga-la-ti?
- Vai trò của luật tự nhiên trong thần học Cơ đốc ngày nay là gì?