Skip to main content

Câu 14: Sứ Đồ Phao-lô Có Phân Biệt Giữa Luật Đạo Đức, Luật Nghi Lễ, và Luật Dân Sự Hay Không?

·3436 words·17 mins·
Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God

Sự phân biệt giữa luật đạo đức, luật nghi lễluật dân sự đã khá phổ biến trong thần học Cơ Đốc. Một tuyên bố chi tiết nêu rõ các sự phân biệt này được tìm thấy trong Bài Tín Điều Westminster (19:3–5):

Ngoài luật pháp này, thường được gọi là luật đạo đức, Đức Chúa Trời đã vui lòng ban cho dân Y-sơ-ra-ên, như một Hội Thánh còn non trẻ, các luật nghi lễ, bao gồm nhiều quy định mẫu mực, một phần về sự thờ phượng, tượng trưng cho Đấng Christ, ân điển của Ngài, hành động của Ngài, sự chịu khổ của Ngài, và phước hạnh của Ngài; và cũng có một phần truyền đạt nhiều chỉ dẫn về các bổn phận đạo đức. Tất cả các luật nghi lễ này hiện đã bị bãi bỏ dưới Tân Ước.

Ngài cũng ban cho dân Y-sơ-ra-ên, như một quốc gia chính trị, nhiều luật tư pháp, là những luật đã hết hiệu lực cùng với sự kết thúc của dân tộc này. Những luật này không ràng buộc bất kỳ ai khác hiện nay, ngoài các yêu cầu về sự công bình chung của chúng.

Luật đạo đức luôn ràng buộc tất cả mọi người, cả những người đã được xưng công chính lẫn những người khác, phải tuân theo nó; không chỉ vì nội dung chứa đựng trong đó, mà còn vì thẩm quyền của Đức Chúa Trời, Đấng Tạo Hóa, đã ban luật pháp này. Đức Chúa Jêsus Christ trong Phúc Âm không những không hủy bỏ những luật pháp này, mà còn tăng cường nghĩa vụ phải tuân giữ chúng nhiều hơn.

Sự phân biệt giữa luật đạo đức, luật nghi lễluật dân sự là rất hấp dẫn và cuốn hút. Mặc dù nó có một số yếu tố đúng, nhưng nó không đủ để thể hiện rõ quan điểm của Phao-lô về luật pháp. Như đã nói trước đó, Phao-lô lập luận rằng toàn bộ luật pháp đã bị bãi bỏ khi Đấng Christ đã đến. Việc một người nói rằng các yếu tố “đạo đức” của luật pháp vẫn tiếp tục có thẩm quyền sẽ làm giảm đi cái lẽ thật rằng toàn bộ giao ước Môi-se đã không còn hiệu lực đối với các tín hữu thời Tân Ước. Thật vậy, rất khó để phân biệt giữa điều gì là “đạo đức”“nghi lễ” trong luật pháp. Ví dụ, luật cấm lấy lãi rõ ràng là một điều răn đạo đức (Xuất Ê-díp-tô Ký 22:25), nhưng luật này được áp dụng cho dân Y-sơ-ra-ên như một xã hội nông nghiệp ở Cận Đông cổ đại. Như các luật khác trong giao ước Môi-se, luật này đã bị bãi bỏ khi Đấng Christ đã đến. Điều này không có nghĩa rằng luật này không còn ý nghĩa gì đối với Hội Thánh của Đức Chúa Jêsus Christ ngày nay. Như Dorsey đã nói, nó vẫn có chức năng “mặc khải và giáo huấn.”

Thật vậy, có thể nói rằng, theo Phao-lô, luật pháp vừa bị bãi bỏ vừa được hoàn thành trong Đấng Christ (xem Rô-ma 3:31). Ví dụ, phép cắt bì không còn là yêu cầu để thuộc về dân giao ước. Thật vậy, những ai chịu cắt bì để được cứu thì bị cắt đứt khỏi Đấng Christ (Rô-ma 4:9–12; Ga-la-ti 2:3–5; 5:2–4; Phi-líp 3:2–3; Cô-lô-se 2:11–12). Bản chất của phép cắt bì tự nó là không quan trọng (Ga-la-ti 5:6; 6:15; 1 Cô-rinh-tô 7:19). Mặc dù phép cắt bì, như một yêu cầu của giao ước cũ, đã qua đi, ý nghĩa của phép cắt bì cũng được hoàn thành trong Đấng Christ. Các tín hữu được hưởng phép cắt bì của tấm lòng qua sự chuộc tội của Đấng Christ và công việc của Đức Thánh Linh (Phi-líp 3:3; Cô-lô-se 2:11–12). Người Cơ Đốc không có nghĩa vụ phải tuân giữ Lễ Vượt Qua vì đó là một lễ hội trong Cựu Ước. Thật vậy, việc tuân giữ các ngày lễ và lễ hội là điều của quá khứ (Rô-ma 14:5–6; Ga-la-ti 4:10; Cô-lô-se 2:16–17). Tuy nhiên, Lễ Vượt Qua cũng ám chỉ một cách hình bóng về Đấng Christ, vì vậy Đấng Christ hiện là sinh tế Lễ Vượt Qua của người Cơ Đốc (1 Cô-rinh-tô 5:7). Nguyên tắc tương tự cũng rõ ràng khi suy nghĩ về các sinh tế được dâng theo giao ước cũ. Rõ ràng, các sinh tế này đã lỗi thời khi giao ước mới được khởi đầu trong Đức Chúa Jêsus Christ. Tuy nhiên, các sinh tế này tìm thấy sự hoàn tất của chúng trong Đấng Christ và do đó đóng vai trò hình bóng, có chức năng như những ám chỉ về vai trò làm sinh tế của Đấng Christ (xem Rô-ma 3:25–26; 2 Cô-rinh-tô 5:21; Ga-la-ti 3:13).

Nếu các sinh tế đóng vai trò như một khuôn mẫu hoặc hình mẫu cho sự hy sinh của Đấng Christ, thì chúng ta cũng có thể kỳ vọng rằng đền thờ Giê-ru-sa-lem cũng có vai trò tương tự. Phao-lô không trực tiếp lập luận rằng đền thờ và các sinh tế của nó đã lỗi thời đối với các tín hữu. Rõ ràng, đền thờ là một phần của giao ước cũ và do đó không còn hiệu lực nữa, cùng với các điều khoản khác trong giao ước cũ. Lời của Phao-lô về cách đền thờ liên quan đến các tín hữu chỉ ra cả việc bãi bỏ và việc hoàn tất của nó. Hội Thánh của Đức Chúa Jêsus Christ hiện là đền thờ của Đức Chúa Trời — nơi ngự của Đức Chúa Trời hằng sống (xem 1 Cô-rinh-tô 3:16–17; 2 Cô-rinh-tô 6:16; Ê-phê-sô 2:21). Ngoài ra, bởi vì Đức Thánh Linh ngự trong các tín hữu, thân thể của họ là “đền thờ của Đức Thánh Linh” (1 Cô-rinh-tô 6:19). Vì đền thờ tại Giê-ru-sa-lem cùng với sự thờ phượng hiến tế là một phần của giao ước cũ, các tín hữu không có nghĩa vụ phải thờ phượng tại đền thờ hoặc dâng của tế lễ. Đền thờ vật lý tại Giê-ru-sa-lem dường như không còn quan trọng đối với Phao-lô, điều này khá đáng kinh ngạc vì nó từng là một trong ba trụ cột của Do Thái giáo. Tuy nhiên, những gì giao ước cũ nói về đền thờ đã được hoàn thành trong Đấng Christ — đó là, trong Đấng Christ và Đức Thánh Linh ngự trong Hội Thánh và cá nhân các tín hữu.

Các quy định về thực phẩm và sự thanh sạch, yêu cầu theo giao ước Môi-se, cũng đã qua đi. Trong sự thảo luận của Phao-lô về tình trạng của các thực phẩm tinh sạch và không tinh sạch trong Rô-ma 14, rõ ràng ông dạy rằng mọi thực phẩm đều là tinh sạch (Rô-ma 14:14, 20), điều này hoàn toàn trái ngược với những gì Cựu Ước dạy (Lê-vi Ký 11:1–44; Phục Truyền Luật Lệ Ký 14:3–21; cũng xem 1 Cô-rinh-tô 8:1–11:1). Khi Phi-e-rơ ngừng ăn chung với các tín hữu ngoại bang ở An-ti-ốt, có lẽ vì họ không tuân thủ các quy định về sự thanh sạch, Phao-lô đã khiển trách ông một cách nghiêm khắc (Ga-la-ti 2:11–14). Chúng ta không có bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy rằng Phao-lô đã đấu tranh với ý tưởng rằng Phi-e-rơ có thể đúng. Tương tự, trong Cô-lô-se 2:16–17, 20–23, Phao-lô hoàn toàn bác bỏ quan niệm rằng các tín hữu phải kiêng cữ một số loại thực phẩm. Những quy định như vậy được xem như bóng dáng thuộc về giao ước cũ và không còn bắt buộc nữa khi “thực chất,” tức Đấng Christ, đã đến. Tất cả thực phẩm phải được tận hưởng như món quà từ Đấng Tạo Hóa (1 Ti-mô-thê 4:3). Tuy nhiên, Phao-lô cũng nhìn thấy sự hoàn tất trong vấn đề về thực phẩm. Đó là, việc dọn bỏ men, được yêu cầu trong Lễ Bánh Không Men (Xuất Ê-díp-tô Ký 12:15–20), biểu trưng rằng các tín hữu không nên để sự gian ác lây nhiễm vào Hội Thánh (1 Cô-rinh-tô 5:6–8; Ga-la-ti 5:9).

Khi thảo luận về Lễ Vượt Qua, tôi đã lưu ý rằng các tín hữu thời Tân ước không bị bắt buộc phải tuân giữ các lễ hội, ngày lễ và các ngày đặc biệt của lịch Cựu Ước. Điều này bao gồm cả ngày Sa-bát, mặc dù ngày Sa-bát là một phần của Mười Điều Răn (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:8–11). Cách nhìn như vậy gây ngạc nhiên cho một số người, nhưng cần phải nhận ra rằng toàn bộ luật pháp Cựu Ước đã được bãi bỏ trong Đấng Christ. Rõ ràng Phao-lô đã dạy rằng các Cơ Đốc nhân được tự do trong việc tuân giữ các ngày. Không có ngày nào, theo nguyên tắc, được đặt trên một vị trí cao hơn ngày khác (Rô-ma 14:5). Rõ ràng, ngày Sa-bát được bao gồm ở đây; vì ngày này được tuân giữ hàng tuần, đó là ngày sẽ tự nhiên được độc giả nghĩ đến. Cô-lô-se 2:16–17 làm rõ điều này hơn nữa. Ngày Sa-bát thuộc về bóng dáng của giao ước cũ và bây giờ không còn quan trọng khi Đấng Christ đã đến. Từ “bóng dáng” (skia) là cùng thuật ngữ mà thư Hê-bơ-rơ sử dụng để ám chỉ các sinh tế của Cựu Ước đã lỗi thời (Hê-bơ-rơ 10:1; xem 8:5). Phao-lô không thảo luận về cách ngày Sa-bát được hoàn tất cho các Cơ Đốc nhân, nhưng trong thư Hê-bơ-rơ, ngày Sa-bát tìm thấy sự hoàn tất của nó trong sự yên nghỉ được ban bởi Đức Chúa Jêsus Christ (xem Hê-bơ-rơ 3:12–4:13).

Một số học giả, đặc biệt là những người theo trường phái tái thiết (Reconstructionism), tuyên bố rằng luật dân sự chưa bị bãi bỏ đối với các tín hữu. Rõ ràng, Phao-lô không tin rằng luật dân sự của Cựu Ước nên là tiêu chuẩn của luật pháp cho Đế quốc La Mã. Giao ước Môi-se đã qua đi, do đó các yêu cầu tư pháp không còn ràng buộc các cơ quan chính quyền nữa (xem câu hỏi 39). Cần lưu ý rằng sự phân biệt giữa luật “đạo đức”luật “dân sự” khá mơ hồ. Nhiều luật lệ và hình phạt trong bộ luật dân sự của Cựu Ước mang tính chất đạo đức. Tuy nhiên, khi Đấng Christ đã đến, tình trạng của Y-sơ-ra-ên như một thực thể chính trị đặc biệt — một kiểu hợp nhất giữa Hội Thánh và nhà nước — không còn ý nghĩa nữa. Trong Đấng Christ, người Do Thái và người ngoại bang là một (Ga-la-ti 3:28). Thập giá của Đức Chúa Jêsus Christ đã phá đổ rào cản giữa người Do Thái và người ngoại bang, và họ đều là thành viên của dân Đức Chúa Trời (Ê-phê-sô 2:11–22; 3:4–6). Vai trò của Y-sơ-ra-ên như một thực thể chính trị và quốc gia đã kết thúc, và bây giờ các tín hữu từ mọi chi phái, ngôn ngữ, dân tộc và quốc gia thuộc về một dân của Đức Chúa Trời.

Tôi không ám chỉ từ những nhận xét trên rằng các luật “dân sự” trong Cựu Ước không có sự liên quan gì đến các quốc gia hiện nay. Thay vào đó, cách và liệu những luật đó có áp dụng hay không đòi hỏi sự thảo luận thần học cẩn thận. Người ta không thể đơn giản tuyên bố rằng những luật này áp dụng cho các quốc gia hiện đại chỉ vì chúng nằm trong Kinh Thánh. Nỗ lực của những người tái thiết Cơ Đốc nhằm áp đặt các luật “dân sự” của Cựu Ước là không thuyết phục, vì họ không nhận ra đủ sự khác biệt giữa giao ước cũ và giao ước mới.

Một mặt, các luật “dân sự” của Cựu Ước không còn hiệu lực, nhưng chúng ta cũng có dấu hiệu cho thấy Phao-lô thấy những luật này được hoàn thành trong Đấng Christ. Trong 1 Cô-rinh-tô 5, Phao-lô yêu cầu Hội Thánh trục xuất người đàn ông phạm tội loạn luân ra khỏi Hội Thánh. Lệnh trục xuất được diễn đạt trong những lời cuối cùng của 1 Cô-rinh-tô 5:13, “Hãy loại bỏ kẻ gian ác ra khỏi anh em.” Phao-lô ở đây sử dụng ngôn ngữ trong Phục Truyền Luật Lệ Ký, nơi sử dụng cùng ngôn ngữ để chỉ án tử hình mà cộng đồng Y-sơ-ra-ên phải áp dụng đối với những người phạm các tội lỗi rõ ràng. Do đó, kẻ thờ thần tượng phải bị xử tử, “như vậy ngươi sẽ loại bỏ kẻ gian ác khỏi giữa vòng các ngươi” (Phục Truyền 17:7). Sự so sánh tiếng Hy Lạp rõ ràng cho thấy rằng Phao-lô dựa vào Phục Truyền Luật Lệ Ký. Thật vậy, cụm từ này hoặc một cụm tương tự xuất hiện nhiều lần trong Phục Truyền (theo bản LXX) để chỉ những người phải bị xử tử (xem thêm Phục Truyền 17:12; 19:19; 21:21; 22:21, 22, 24; 24:7). Tuy nhiên, có một sự khác biệt đáng chú ý được tìm thấy giữa Cựu Ước và Tân Ước. Trong Cựu Ước, kẻ gian ác bị xử tử, vì Y-sơ-ra-ên vừa là một thực thể chính trị vừa là một dân thuộc linh. Tuy nhiên, trong Tân Ước kẻ gian ác không bị xử tử mà bị loại ra khỏi Hội Thánh của Đức Chúa Jêsus Christ. Luật pháp vừa bị bãi bỏ vừa được hoàn thành. Nó bị bãi bỏ vì các tín hữu không còn được kêu gọi để hành quyết những người phạm các tội được chỉ định trong Phục Truyền, nhưng điều đó không có nghĩa rằng mệnh lệnh loại bỏ kẻ gian ác khỏi cộng đồng trong Cựu ước không còn liên quan đến Hội Thánh trong Tân ước nữa. Nó tìm thấy sự hoàn tất của nó trong việc trục xuất kẻ gian ác ra khỏi Hội Thánh của Đức Chúa Jêsus Christ.

Chúng ta đã thấy rằng việc đơn giản nói rằng luật nghi lễluật dân sự đã qua đi, trong khi luật đạo đức vẫn còn hiệu lực, là quá sơ lược. Thay vào đó, luật pháp và giao ước Môi-se không còn là quy tắc chuẩn mực đối với các tín hữu. Tuy nhiên, cùng lúc đó, luật pháp tìm thấy sự hoàn tất của nó trong Đấng Christ. Hơn nữa, mặc dù sự phân chia giữa luật nghi lễ, luật dân sựluật đạo đức có phần hợp lý, nhưng chúng không được trình bày rõ ràng trong Tân Ước, và sự phân biệt giữa những gì là đạo đức, dân sự hoặc nghi lễ không phải lúc nào cũng rõ ràng.

Tuy nhiên, sự phân biệt này vẫn có một số hữu ích, vì một số điều răn của luật pháp được Phao-lô chuyển trực tiếp sang Tân Ước và áp dụng cho cuộc sống của các tín hữu. Có vẻ hợp lý khi gọi những điều răn như vậy là các tiêu chuẩn đạo đức. Ví dụ, lệnh truyền tôn kính cha mẹ vẫn áp dụng cho các tín hữu (Ê-phê-sô 6:2). Phao-lô dạy rằng tình yêu thương làm trọn luật pháp (Rô-ma 13:8–10), nhưng ông làm rõ rằng những người yêu thương sẽ không phạm tội ngoại tình, giết người, trộm cắp hoặc tham lam (xem Rô-ma 2:21–22; 7:7–8). Những người sống theo Thánh Linh làm trọn yêu cầu của luật pháp (Rô-ma 8:4). Lệnh cấm thờ thần tượng vẫn còn hiệu lực, mặc dù Phao-lô không trích dẫn luật pháp Cựu Ước để làm cơ sở (1 Cô-rinh-tô 5:10–11; 6:9; 10:7, 14; 2 Cô-rinh-tô 6:16; Ga-la-ti 5:20; Ê-phê-sô 5:5; Cô-lô-se 3:5). Các điều răn và lệnh cấm khác phản ánh Mười Điều Răn cũng được tìm thấy trong lời dạy của Phao-lô như minh họa dưới đây:

  • Tôn kính và vâng phục cha mẹ: Rô-ma 1:30; Ê-phê-sô 6:1–3; Cô-lô-se 3:20; 1 Ti-mô-thê 1:9; 2 Ti-mô-thê 3:2.
  • Chớ giết người: Rô-ma 1:29; 13:9; 1 Ti-mô-thê 1:9.
  • Chớ phạm tội tà dâm: Rô-ma 2:22; 7:3; 13:9; 1 Cô-rinh-tô 6:9; xem thêm 1 Ti-mô-thê 1:10.
  • Chớ trộm cắp: Rô-ma 1:29–30; 1 Cô-rinh-tô 6:9–10; Ê-phê-sô 4:28.
  • Chớ nói dối: Cô-lô-se 3:9; 1 Ti-mô-thê 1:10; 4:2; Tít 1:12.
  • Chớ tham lam: Rô-ma 1:29; 7:7–8; Ê-phê-sô 5:3, 5; Col. 3:5

Thế thì, chúng ta nên hiểu tình trạng này như thế nào? Làm sao Phao-lô có thể dạy rằng luật pháp Môi-se đã bị bãi bỏ nhưng lại trích dẫn một số điều răn của nó như là có thẩm quyền? Có lẽ điều đáng chú ý là trong hầu hết các trường hợp, Phao-lô không lập luận rằng các tiêu chuẩn đạo đức từ Cựu Ước có thẩm quyền chỉ dựa trên việc chúng xuất hiện trong Cựu Ước, mặc dù trong một số trường hợp, ông có trích dẫn các điều răn trong Cựu Ước (ví dụ, Rô-ma 13:9; Ê-phê-sô 6:2–3). Chúng ta đã thấy trước đó rằng luật pháp vừa bị bãi bỏ vừa được hoàn thành. Ít nhất là ở một mức độ nào đó, những gì chúng ta thường gọi là các tiêu chuẩn đạo đức của luật pháp thì đã được hoàn thành trong cuộc sống của các tín hữu.

Tuy nhiên, các tiêu chuẩn đạo đức này không mang tính quy chuẩn chỉ vì chúng xuất hiện trong giao ước Môi-se. Lý do là vì giao ước đó đã qua đi. Dường như chúng mang tính quy chuẩn vì chúng thể hiện tính cách của Đức Chúa Trời. Chúng ta biết rằng chúng vẫn thể hiện ý muốn của Đức Chúa Trời cho các tín hữu vì chúng được nhắc lại như những tiêu chuẩn đạo đức trong Tân Ước. Không có gì ngạc nhiên khi trong số hàng loạt luật pháp được tìm thấy trong Cựu Ước (theo các thầy dạy luật Do Thái là 613 luật) có một số luật thể hiện các nguyên tắc đạo đức vượt thời gian. Tuy nhiên, sai lầm mà chúng ta thường mắc phải là cố gắng phân chia một cách gọn gàng luật pháp thành các hạng mục đạo đức và không đạo đức. Nhiều luật được gọi là “nghi lễ” có một khía cạnh đạo đức không thể bỏ qua. Chúng không áp dụng cho các tín hữu ngày nay vì chúng ta sống trong một bối cảnh văn hóa hoàn toàn khác. Đặc biệt, Dorsey đã chứng minh rằng bối cảnh văn hóa và địa lý của dân Y-sơ-ra-ên trong Cựu Ước khác biệt một cách đáng kể so với nền tảng văn hóa và địa lý của hầu hết các tín hữu ngày nay. Lý do cơ bản khiến các luật của Y-sơ-ra-ên không còn ràng buộc các tín hữu là vì các Cơ Đốc nhân không sống dưới giao ước dành cho dân Y-sơ-ra-ên.

TÓM TẮT

Sự phân chia luật pháp thành các hạng mục đạo đức, nghi lễ và dân sự có một số tính hữu ích. Tuy nhiên, Phao-lô hay bất kỳ tác giả nào trong Tân Ước không giải thích vai trò của luật pháp bằng cách dựa vào các hạng mục như vậy. Thay vào đó, Phao-lô lập luận rằng luật pháp vừa bị bãi bỏ vừa được hoàn thành trong Đấng Christ. David Dorsey diễn đạt như sau: toàn bộ luật pháp Môi-se đã bị bãi bỏ, nhưng nó vẫn tiếp tục “ràng buộc… theo nghĩa mặc khải và giáo huấn.” Cách mà sự bãi bỏ và sự hoàn thành này được thực hiện phải được nhận biết bằng cách tham khảo tất cả những gì Phao-lô dạy về luật pháp.

Câu Hỏi Thảo Luận:

  1. Tại sao các tín hữu trong suốt lịch sử thường thấy hữu ích khi phân biệt giữa luật đạo đức, luật dân sự và luật nghi lễ?
  2. Vấn đề chính khi phân chia luật pháp thành các hạng mục đạo đức, dân sự và nghi lễ là gì?
  3. Tại sao việc suy nghĩ về luật pháp như hoàn toàn bị bãi bỏ nhưng cũng được hoàn thành trong Đấng Christ lại hữu ích hơn?
  4. David Dorsey có ý nghĩa gì khi nói rằng luật pháp là “ràng buộc… theo nghĩa mặc khải và giáo huấn”?
  5. Quan điểm của bạn về việc phân chia luật pháp thành các hạng mục đạo đức, nghi lễ và dân sự là gì?

40 CÂU HỎI VỀ CƠ ĐỐC NHÂN VÀ LUẬT PHÁP CỰU ƯỚC